Thuyền Cập Trong Đêm
Gió đêm rít từng hồi qua khe cửa vách nứa khi tiếng then gỗ bật mở, để lộ Hà Thu ướt sũng từ đầu đến chân, sau lưng là bảy nạn dân rách rưới đang run bần bật giữa mưa phùn.
Hơi lạnh từ lòng thung lũng thốc thẳng vào gian tiền sảnh vừa được quét dọn, mang theo mùi bùn non tanh tưởi, hơi ẩm mục của cỏ rác thối rữa và mùi tanh nồng của xác súc vật trôi dạt dọc dòng sông ngập úng dưới chân núi Đoạn Phong. Bùi Hạ đứng sát cánh cửa gỗ táu nặng trịch, tay trái nàng vẫn giữ chặt then cài bằng gỗ sồi thô mộc, các đốt ngón tay ghì chặt đến trắng bệch, còn tay phải—nơi dải băng vải ố vàng vừa phủ kín những đường kinh mạch sưng tấy sau khi nàng vận chuyển linh lực cưỡng ép kích hoạt ngọn đèn trên gác chuông—giấu kín trong ống tay áo rộng thõng thượt. Mỗi nhịp đập của mạch máu dưới lớp vải xô đều truyền lên một cơn nhức buốt âm ỉ, tựa như có đàn kiến lửa đang bò dọc theo đường kinh lạc từ cổ tay lên tận bả vai, nhắc nhở nàng về giới hạn cạn kiệt của một tu sĩ Luyện Khí tầng ba vừa trải qua cơn biến động lớn.
Phía sau nàng chừng nửa bước, Lâm Tự đã bước tới từ lúc nào. Thân hình vạm vỡ của người thợ mộc đổ một cái bóng sẫm màu, vững chãi như một cột gỗ lim trên nền đất nện ẩm ướt. Trên tay gã, chiếc rìu đẽo sắc lẹm buông thõng bên hông, lưỡi thép xám lạnh loang loáng ánh nước mưa hắt vào từ cửa. Đôi mắt trũng sâu vì nhiều đêm liền thiếu ngủ quét qua từng gương mặt lạ lẫm đứng ngoài ngưỡng cửa, cơ bắp cánh tay gã khẽ cuộn lên dưới lớp áo vải gai sờn vai, cảnh giác nhưng không lộ vẻ hung hãn.
Bên ngoài, màn mưa dầm vẫn bủa vây đỉnh Đoạn Phong thành một bức màn xám xịt, dập dồn xé rách bóng đêm. Hà Thu thở dốc từng cơn đứt quãng, chiếc nón mê rách tơi tả sụp xuống tận trán, mép nón tua tủa những sợi nan gãy đâm chĩa ra ngoài, nước mưa tích tụ trên vành nón chảy ròng ròng từ chóp mũi xuống cằm nàng, tạo thành những giọt dài buốt lạnh. Vạt áo tơi bện bằng xơ dừa của nàng đã tả tơi sau chặng đường trèo đèo lội suối trong đêm tối, đất đỏ bết đặc từ gót chân trần nứt nẻ lên đến tận bắp đùi, hòa lẫn với những vệt máu bầm do gai cào đá chém dọc đường dốc đứng.
"Bùi cô nương... may quá, ngọn đèn trên gác chuông... các người vẫn còn ở đây," giọng Hà Thu khản đặc, nghẹn lại nơi cuống họng khô rát, hơi thở phả ra thành từng luồng khói trắng mỏng manh rồi tan biến ngay tức khắc giữa cái lạnh cắt da cắt thịt. Nàng run rẩy đưa bàn tay tím tái vì ngâm nước phù sa gạt những lọn tóc bết chặt vào má, rồi quay đầu nhìn về phía bảy bóng người đang lảo đảo tựa vào vách đá phía sau. "Thuyền nan của Hội Đồng Châu... bị thủng đáy rồi. Đá ngầm dưới Bến Bạch Sa do lũ cuộn về va nát mạn thuyền, đáy mắc kẹt giữa bãi bùn lún. Nước sông đang dâng ngược dòng, bến thuyền tan hoang cả. Ta không còn cách nào khác... không thể để họ chết chìm dưới chân núi được."
Sau lưng Hà Thu, bảy con người rách rưới nép chặt vào nhau như đàn gà ướt sau trận giông bão. Một người đàn bà trẻ trạc ngoài đôi mươi ôm chặt bọc vải chàm trước ngực, bên trong là một đứa trẻ chừng hai tuổi đang thở khò khè từng cơn nặng nhọc, manh áo tã ướt sũng nước mưa dán chặt vào da thịt tím tái. Hai thiếu niên gầy giơ xương, sườn nhô lên từng dải như nan quạt dưới manh áo rách bươm, ống chân trần đầy những vết cào rách tướm máu đen sì do gai góc cào phải lúc trèo dốc trong đêm tối. Một lão già tóc bạc trắng xơ xác, hai hốc mắt sâu hoắm vì đói lả nhiều ngày, bàn tay khô quắt run rẩy bám chặt lấy vai người đàn ông trung niên đi bên cạnh để khỏi quỵ xuống sàn đá bậc tam quan. Người đàn ông trung niên kia cũng chẳng khá hơn, lưng còng rạp xuống, chiếc áo cộc rách nát để lộ bờ vai trầy trụa những vết xước dài đóng vảy đỏ lòm, lồng ngực phập phồng dữ dội theo từng nhịp thở dốc.
"Vào đi, đứng ngoài đó gió quất trúng hàn khí là mất mạng cả lũ," Lâm Tự trầm giọng lên tiếng, bước chân hơi dịch sang một bên nhường lối, chiếc rìu đẽo khẽ hạ thấp xuống đầu gối.
Nhưng khi bước chân đầu tiên của người đàn ông trung niên vừa chạm vào gờ đá ngạch cửa, một bóng người từ phía hành lang tây đã lao vụt ra ngoài tiền sảnh.
"Đứng lại đó!"
Tiếng quát lanh lảnh cắt ngang tiếng gió rít gào qua khe nứa.
Phạm Sương xuất hiện, chiếc áo nâu ngắn cũ kỹ xắn cao ống tay để lộ đôi cẳng tay gầy guộc nhưng gân guốc, hằn rõ những vết chai sạn của năm tháng bươn chải nơi bến chợ. Tay trái nàng kẹp chặt cuốn sổ kho bằng giấy bổi viền chỉ gai thô ráp, các góc giấy đã quăn queo và sờn mép vì lật giở quá nhiều lần. Tay phải nàng cầm một cây đèn dầu hạt mù u, ngọn lửa vàng vọt lập lòe tỏa ra làn khói đen khét lẹt nồng nặc mùi hăng. Nàng không nhìn những gương mặt tái mét vì lạnh ngoài cửa, mà bước thẳng tới, dang rộng hai tay chặn ngang lối đi hẹp dẫn từ tiền sảnh vào dãy hành lang trong dẫn tới chính điện.
"Sương tỷ, bên ngoài lạnh lắm, để họ bước qua cửa đã..." Bùi Hạ khẽ nói, ánh mắt nàng dừng lại ở đứa trẻ đang thoi thóp trong bọc vải ướt trên tay người mẹ trẻ. Tiếng khò khè của đứa nhỏ như nghẹn lại ở cổ họng, từng thớ thịt non nớt co giật nhẹ theo từng cơn gió buốt lùa qua ngạch cửa.
"Không được bước thêm nửa bước!" Phạm Sương lạnh lùng ngắt lời, ngọn đèn dầu trên tay nàng chao đảo dữ dội theo từng cơn gió luồn, hắt bóng chiếc cằm nhọn hoắt và đôi gò má hốc hác của nàng lên vách nứa thành một vệt đen lay lắt. Nàng giơ cuốn sổ kho lên ngang mặt, giọng nói đanh lại như đá cuội va vào nhau giữa dòng suối cạn: "Hà Thu, muội biết trên núi này hiện có bao nhiêu miệng ăn không? Ba mươi hai người! Tính cả Bùi cô nương, tính cả đứa bé nhà thợ mộc Lâm, tính cả ba mươi mốt mạng người chạy lũ từ bến lên đây hôm qua!"
Hà Thu ngơ ngác chớp mắt, nước mưa đọng trên rèm mi rơi xuống má, hòa vào những giọt mồ hôi lạnh toát: "Ta biết... nhưng đây là đạo quán công ích. Bia đá ngoài sân ghi rõ là nơi tiếp tế cho bá tánh nạn dân..."
"Bia đá không sinh ra gạo!" Phạm Sương quát lên, giọng nàng run lên vì một nỗi căm phẫn lẫn tuyệt vọng bị kìm nén bấy lâu trong lồng ngực. Nàng lật phắt những trang giấy bổi cáu bẩn, ngón tay trỏ gầy guộc chỉ thẳng vào những dòng mực nho còn chưa ráo hẳn: "Mười bốn bao ngũ cốc mang lên đây, chiều nay kiểm kho thì sao? Một bao gạo đáy thối rữa hoàn toàn vì thanh hủ độc, hai bao thóc ngấm nước lũ nảy mầm chua lòm, một phần ba bao muối đã chảy thành nước mặn chát thấm vào sàn đất! Số ngũ cốc an toàn còn lại, nếu mỗi ngày nấu cháo loãng cầm hơi cho ba mươi hai người, chúng ta chỉ còn đủ ăn trong sáu ngày! Đúng sáu ngày nữa thôi!"
Không khí trong gian tiền sảnh bỗng chốc đông cứng lại, nặng nề như thể một khối đá tảng vừa rơi xuống từ trần nhà. Âm thanh duy nhất còn sót lại giữa bốn bức vách nứa xiêu vẹo là tiếng mưa gõ lộp độp trên những mảnh ngói sứt mẻ và tiếng thở khò khè yếu ớt, đứt quãng của đứa trẻ trên tay người mẹ.
Phạm Sương bước thêm nửa bước về phía Hà Thu, cây đèn dầu mù u dí sát vào gương mặt ướt đẫm của người chèo thuyền, ánh lửa leo lét soi rõ từng tia máu đỏ ngầu trong mắt nàng: "Sáu ngày, muội có hiểu sáu ngày nghĩa là gì không? Con đường vận chuyển độc đạo xuống chân núi bị sạt lở mất ba đoạn dốc, điếm canh ven sông bị nha sai của huyện thành chiếm giữ, củi khô tích trữ chỉ đủ đun nước Thạch Nhãn trong ba ngày để khử độc. Nếu bây giờ nhận thêm bảy người này, số lương thực đó sẽ cạn sạch trong chưa đầy bốn ngày rưỡi! Hết bốn ngày rưỡi thì lấy gì ăn? Cạp đất Đoạn Phong mà nhai à? Hay là cắt thịt của ba mươi hai con người đang nằm co ro trong kia để chia cho người của muội?"
Gương mặt Hà Thu thoắt cái trắng bệch ra, rồi nhanh chóng đỏ bừng lên vì một ngọn lửa tức giận và uất ức bùng phát từ tận đáy lòng. Nàng siết chặt hai nắm tay buốt lạnh, bước sấn tới trước mặt Phạm Sương, chiếc áo tơi rách tơi tả run lên bần bật theo từng nhịp thở dồn dập:
"Phạm Sương, tỷ từng mở quán cơm ở Bến Bạch Sa, tỷ tính từng đồng xu bát gạo ta không trách! Nhưng tỷ mở mắt ra mà nhìn xem! Đây là đồng bào của chúng ta, là những người chèo đò, những phu khuân vác cùng làng với tỷ ở bến sông! Họ vừa thoát chết khỏi sóng lũ cuốn trôi nhà cửa, thuyền bè chìm nghỉm, dưới chân núi không còn một tấc đất khô ráo nào để đặt chân. Tỷ bảo họ đi đâu bây giờ? Quay xuống núi để nhảy xuống dòng nước lũ đầy bùn độc tự vẫn à?"
"Đó không phải việc của cái kho này!" Phạm Sương nghiến răng trèo trẹo, khóe mắt đỏ hoe nhưng không hề lùi bước dù chỉ nửa tấc. "Trách nhiệm của ta là giữ cho ba mươi hai người đã ký tên cam kết sống sót qua mười ngày đầu! Lòng tốt bột phát của muội rất đẹp đẽ, nhưng lòng tốt ấy không bỏ vào nồi nấu thành cháo được! Muội đưa người lên đây để thỏa mãn cái tâm từ bi của muội, rồi phủi tay để mặc chúng ta chết đói cùng nhau sao?"
"Tỷ..." Hà Thu nghẹn ngào, lồng ngực phập phồng dữ dội dưới lớp áo tơi sũng nước. Nàng chỉ tay vào gian chính điện sâu hun hút phía sau lưng Phạm Sương, nơi ánh lửa le lói hắt ra bóng lưng của những người tị nạn đang nằm quấn chiếu rách trên nền gạch ẩm: "Đạo quán rộng lớn thế này, mái ngói vẫn còn che được gió mưa! Các người trốn lên đây lập môn phái gì đó, thắp ngọn đèn dẫn đường trên gác chuông rực rỡ thế kia, rốt cuộc là để làm gì? Để khoe khoang với thế gian rằng mình sống sót à? Các người thấy người chết đuối mà không kéo lên, có chỗ trú mà đóng chặt then cài, thì khác gì lũ trưởng lão, hộ pháp của Thanh Huyền Môn trên đỉnh núi cao kia không? Lúc lũ quét tràn về, bọn chúng cuốn gói đưa đệ tử ruột lên linh thuyền phi thiên, bỏ mặc hàng ngàn người dân gào khóc chết chìm dưới bùn lầy! Giờ các người cũng muốn học theo bọn chúng, giẫm đạp lên mạng sống của kẻ yếu hơn để giữ lấy mạng mình sao?"
Lời nói của Hà Thu như một nhát dao chém toạc bầu không khí ngột ngạt.
Từ phía sau bức vách ngăn bằng ván táu, vài bóng người bắt đầu nhổm dậy sau tấm chiếu manh rách nát. Tiếng gậy gỗ gõ lộc cộc trên sàn đá báo hiệu Nguyễn Mộc đang chống gậy bước ra cửa hông, ánh mắt người cựu chấp sự già nua trầm ngâm nhìn về phía ngọn đèn dầu mù u, hàng chân mày bạc nhíu chặt lại. Cách đó không xa, Vũ Liên và Lâm An đứng nép sát vào góc cột sau lưng thợ mộc Lâm Tự. Đôi mắt cô bé mười một tuổi mở to tròn đầy vẻ kinh hãi khi nhìn những người lạ lẫm rách rưới, bùn đất lem luốc đang đứng co ro ngoài ngưỡng cửa.
Phạm Sương tái mét mặt mày, bờ môi mỏng run rẩy kịch liệt nhưng ánh mắt nàng vẫn sắc lẹm như mũi dao chọc tiết: "Muội dám so sánh ta với lũ chó săn tiên môn đó sao? Nếu ta có cả một kho linh đan và vựa thóc đầy ắp như Thanh Huyền Môn mà đóng cửa, muội chửi ta là súc sinh ta cũng nhận! Nhưng ở đây ta chỉ có mười mấy bao ngũ cốc ẩm mốc ngấm độc! Mở cửa nhận người vô tội vạ khi không nuôi nổi họ, đó không phải là từ bi, đó là ngu xuẩn! Đó là kéo tất cả xuống hố chôn chung!"
"Đủ rồi."
Một giọng nói trầm tĩnh, dứt khoát vang lên, cắt đứt hoàn toàn cuộc khẩu chiến đang bùng nổ dữ dội.
Bùi Hạ bước lên. Nàng đứng vào khoảng trống chật hẹp giữa Phạm Sương và Hà Thu. Dáng người nàng không cao lớn, chiếc áo vải thô màu xám đã sờn rách ở mép gấu áo sau những ngày vật lộn với gạch đá và ngói vỡ, nhưng khi nàng đứng thẳng dậy, một luồng uy áp mơ hồ của tu sĩ Luyện Khí tầng ba khẽ lan tỏa trong không gian chật hẹp. Không khí xung quanh dường như hơi đặc lại, khiến cơn gió lạnh lùa qua khe cửa nứa cũng phải chùn lại đôi phần.
Hà Thu ngậm chặt miệng, lồng ngực vẫn phập phồng uất ức, những giọt nước mưa trên trán nàng tí tách rơi xuống đất. Phạm Sương mím chặt môi, siết chặt cuốn sổ kho vào trước ngực, ánh mắt bướng bỉnh nhìn Bùi Hạ như muốn nói: *Dù cô là tu sĩ, ta cũng sẽ không nhượng bộ nửa hạt gạo.*
Bùi Hạ không nhìn hai người họ ngay. Nàng bước qua ngạch cửa gỗ táu, tiến thẳng đến trước mặt người đàn bà đang ôm bọc vải chàm. Nàng cúi người xuống, ngón tay khẽ vén mép vải ướt sũng ra. Đứa trẻ bên trong mặt mày tím tái, đôi môi nứt nẻ trắng bệch, da thịt lạnh ngắt như một tảng đá vừa vớt lên từ đáy suối ngầm. Tiếng thở của nó rít qua kẽ răng như tiếng gió lùa qua kẽ lá khô.
Nàng quay lại nhìn Đỗ Nghi, người vừa từ phía sau gian bếp vội vã đi tới, trên tay mang theo một túi vải đựng kim châm và vài mảnh thảo dược khô thơm mùi quế chi.
"Đỗ tỷ, xem cho đứa nhỏ trước. Nó bị nhiễm hàn tà nặng rồi, chậm chút nữa là đứt mạch."
Đỗ Nghi khẽ gật đầu, nét mặt nghiêm nghị không nói một lời thừa thãi. Nàng cẩn trọng đón lấy đứa bé từ tay người mẹ đang khóc nấc lên không thành tiếng, rồi nhẹ nhàng kéo nàng ta vào góc tường phía tây—nơi khuất gió nhất của gian tiền sảnh.
Bùi Hạ xoay người lại, ánh mắt bình thản nhưng kiên định lần lượt quét qua Phạm Sương rồi dừng lại ở gương mặt ướt đẫm của Hà Thu.
"Hà Thu, muội nói không sai. Đạo quán có mái che, có vách ngăn, người sắp chết rét trước cửa mà không mở là trái với đạo lý làm người. Ngọn đèn trên gác chuông thắp lên là để dẫn đường cho những ai còn sống tìm thấy lối đi trong đêm tối, không phải để làm vật trang trí cho sự ích kỷ hay để mua danh chuộc tiếng."
Hà Thu thở phào một hơi, khóe mắt nàng hoe đỏ, định mở miệng nói lời cảm tạ thì Bùi Hạ đã giơ tay lên, ngăn nàng lại.
"Nhưng," giọng Bùi Hạ đanh lại, từng từ rõ ràng rành mạch như tiếng búa nện trên đe sắt, "những lời Phạm Sương nói cũng không sai một chữ nào. Thậm chí tỷ ấy nói còn quá nhẹ. Vọng Đăng không phải là tiên môn, chúng ta không có bổng lộc triều đình, không có đan dược tích trữ, càng không có pháp lực vô biên để hô phong hoán vũ tạo ra lương thực từ hư không. Ba mươi hai con người ở đây không phải là những kẻ may mắn ngồi trên đống của cải. Tối nay, mỗi người trong số họ chỉ được húp đúng một bát cháo loãng nấu độn cám vụn để giữ mạng. Nếu tiếp nhận thêm bảy người này thành cư dân cố định, chúng ta sẽ chết đói trước khi đợt cứu viện hay rau rừng trên núi kịp cứu chúng ta."
"Bùi cô nương..." Hà Thu sững sờ, bàn tay đang buông thõng khẽ run lên.
"Nghe ta nói hết đã," Bùi Hạ nhìn thẳng vào mắt người chèo thuyền của Hội Đồng Châu, ánh mắt không hề né tránh. "Vọng Đăng có quy tắc của Vọng Đăng. Chúng ta muốn lập một nơi nương tựa có tôn ti trật tự, chứ không dựng lên một cái trại tị nạn hỗn loạn để rồi cùng nhau chết chìm trong tuyệt vọng. Ta quyết định thế này:"
Nàng quay sang Phạm Sương, người vẫn đang ôm chặt cuốn sổ kho: "Sương tỷ, xuất kho đúng nửa đấu kê, nấu một nồi cháo loãng thật nóng. Lấy nước Thạch Nhãn đã lọc qua than củi và đun sôi ba lần cho bảy người này uống cầm hơi. Mở gian tiền sảnh này ra, dọn rơm khô và ván kê sàn ở góc đông cho họ ngả lưng qua đêm nay. Đêm nay mưa to gió lớn, đường dốc trơn trượt, để họ xuống núi lúc này là bức tử họ. Nửa đấu kê này, ngày mai phần ăn của ta sẽ trừ bớt một nửa để bù vào kho."
"Bùi cô nương!" Phạm Sương biến sắc định phản đối, nhưng khi nhìn thấy ánh mắt kiên định không chút dao động của Bùi Hạ, lời nói nghẹn lại nơi cổ họng. Nàng cắn chặt môi dưới, nhìn cuốn sổ trong tay rồi nhìn sang đám người rách rưới đang run rẩy ngoài cửa, cuối cùng thở dài một tiếng thật nặng, bờ vai chùng xuống: "Một bữa cháo loãng đêm nay thôi đấy. Không thể có thêm hạt nào nữa đâu. Phần ăn của cô không được trừ, cô còn phải giữ sức để sửa mắt trận hộ sơn. Bảy bát cháo này... coi như cả ba mươi hai người chúng ta cùng nhịn bớt một ngụm."
Bùi Hạ gật đầu tạ ý, rồi quay lại nhìn Hà Thu:
"Hà Thu, muội nghe rõ đây. Bảy người này chỉ được phép lưu trú khẩn cấp tại gian tiền sảnh khô ráo này đúng một đêm. Sáng sớm ngày mai, ngay khi trời vừa hửng sáng và mưa ngớt bớt, muội phải đích thân đưa họ rời khỏi Đoạn Phong, chuyển trạm men theo đường gò đồi phía tây sang điểm tập kết cứu trợ của Hội Đồng Châu ở hạ lưu hoặc tìm về các trại dã chiến của thân nhân họ. Đạo quán Vọng Đăng tuyệt đối không thể nhận họ vào danh sách nhập tịch lâu dài, cũng không thể chia thêm bất kỳ một khẩu phần ăn nào sau bữa sáng mai. Đây là giới hạn cuối cùng. Nếu muội đồng ý với điều kiện này, hãy đưa họ vào sưởi ấm. Nếu muội không chấp nhận, ta chỉ có thể cấp cho muội một ít nước nóng và một bó đuốc khô, rồi mời các người rời đi ngay bây giờ."
Không gian chìm vào tĩnh lặng tuyệt đối. Tiếng gió rít qua mái ngói như tiếng thở dài não nề của màn đêm.
Hà Thu đứng chôn chân tại chỗ. Những lời của Bùi Hạ không hề có sự trốn tránh hay ngụy biện của những kẻ bề trên. Từng lời, từng chữ đều phơi bày trần trụi hiện thực tàn khốc mà cả hai bên đang phải gánh chịu: một bên là sinh mệnh trước mắt, một bên là sinh mạng của ba mươi hai con người phía sau. Lòng nhân ái nếu không đi kèm với năng lực thực tế thì chỉ là thứ thuốc độc ngọt ngào kéo tất cả cùng diệt vong.
Hà Thu quay đầu nhìn lại bảy người sau lưng mình. Người đàn ông trung niên đã quỳ sụp xuống ngạch cửa đá, hai bàn tay cáu bẩn chắp lại lạy như tế sao, trán chạm xuống nền đá hoa cương cũ kỹ: "Được... được trú một đêm là đội ơn các vị đại nhân, đội ơn tiên cô lắm rồi... Xin đừng đuổi chúng tôi đi trong đêm nay... đứa nhỏ không chịu nổi nữa đâu..."
Người mẹ trẻ ôm con trong góc tường cũng nghẹn ngào gật đầu, nước mắt giàn giụa trên đôi gò má tái xám.
Hà Thu thở ra một hơi dài, nỗi uất nghẹn trong lồng ngực dần chuyển thành một sự cay đắng xót xa, nhưng ánh mắt nàng nhìn Bùi Hạ đã có thêm vài phần kính trọng và thấu hiểu. Nàng cúi đầu, hai tay ôm quyền thi lễ thật sâu:
"Được. Ta chấp nhận quy tắc của Vọng Đăng. Cảm tạ Bùi cô nương, cảm tạ Sương tỷ đã nhường miếng ăn trong miệng để cứu người qua đêm nay. Sáng mai, vừa rạng mặt người, ta sẽ dẫn họ rời núi, tuyệt đối không để các người phải khó xử."
Phạm Sương khẽ hừ một tiếng trong mũi, nhưng nét mặt căng thẳng đã dịu đi nhiều. Nàng quay ngoắt người, giơ cao cây đèn dầu mù u bước nhanh về phía gian bếp: "Lâm thợ mộc, giúp ta mang nửa bao trấu khô ra đây un khói sưởi ấm cho họ, đừng để mùi ẩm mốc ám vào chính điện!"
Lâm Tự gật đầu, đặt chiếc rìu đẽo xuống bậc cửa gỗ rồi rảo bước đi theo bóng lưng gầy guộc của Phạm Sương.
Chỉ một lát sau, góc đông của gian tiền sảnh đã bốc lên hơi ấm dễ chịu. Những tấm ván gỗ táu thô ráp kê tạm trên nền đá xám ngăn được hơi lạnh thấu xương từ lòng đất ẩm bốc lên. Một chậu sành lớn chứa trấu khô được đốt âm ỉ, tỏa ra làn khói ấm nồng mang theo mùi rơm rạ đồng nội, xua đi cái rét buốt của sương đêm và mùi bùn non tanh tưởi. Bảy nạn dân ngồi quây quần bên chậu trấu, run rẩy đưa đôi bàn tay nứt nẻ đón lấy những bát nước sôi bốc khói nghi ngút từ tay Vũ Liên. Cô bé mười một tuổi cẩn thận bưng từng bát nước, đôi mắt to tròn nhìn họ với vẻ thương cảm vụng về.
Đỗ Nghi ngồi quỳ trên sàn ván, đôi bàn tay thoăn thoắt châm cứu hai huyệt Phong Trì và Hợp Cốc của đứa trẻ bằng những cây kim bạc mảnh dẻ. Sau đó, nàng dùng một mảnh gừng nướng xém cạnh, xoa nhẹ theo đường xoắn ốc lên lồng ngực non nớt của nó. Tiếng thở khò khè của đứa bé dần dần êm lại, sắc môi tím tái cũng chuyển sang màu hồng nhạt tự nhiên. Người mẹ trẻ ôm chặt lấy đứa con vào lòng, nước mắt rơi lã chã xuống nền ván gỗ, liên tục cúi đầu cảm tạ vị nữ y sĩ.
Trong lúc hỗn loạn di chuyển chỗ ngồi để nhường chỗ cho chậu than trấu, người đàn ông trung niên—kẻ vừa cõng lão già lên dốc núi—lảo đảo vấp phải mép bao tải rơm kê dưới chân cột. Cú va chạm khiến một bọc giẻ nhỏ giấu kỹ trong cạp quần rách rưới của ông ta trượt ra ngoài, rơi cộp xuống nền đá hoa cương cũ kỹ của tiền sảnh.
Từ trong bọc giẻ rách tơi tả, một vật nhỏ bằng gỗ mỏng văng ra, lăn vài vòng trên mặt đá rồi dừng lại ngay dưới mũi giày vải của Bùi Hạ.
Bùi Hạ khẽ cúi người, ngón tay nhặt vật đó lên.
Đó là một mảnh thẻ bài bằng gỗ liễu mỏng, chỉ bằng hai ngón tay ghép lại, mép gỗ phía trên bị cháy sém một góc đen nham nhở. Mặt trước thẻ bài có khắc ba chữ nhỏ nguệch ngoạc ghi họ tên và quê quán đã bị nước mưa làm nhòe mực nho. Nhưng điều khiến đồng tử của Bùi Hạ co rút lại là ở góc dưới bên phải của mảnh thẻ: nơi đó có in một con dấu triện màu đỏ chu sa hình ngọn lửa ba nhánh bao quanh một đóa tường vân cách điệu.
Đó là dấu triện nội bộ của Ty Vật Tư thuộc Thanh Huyền Môn—thứ mà chính tay nàng từng đóng lên hàng ngàn phiếu xuất kho vật liệu trận pháp suốt những năm tháng làm thợ sửa trận nơi sơn môn. Vết khắc triện này, từng nét uốn lượn của đóa tường vân, nàng đều quen thuộc đến mức dù nhắm mắt lại cũng có thể vẽ ra chuẩn xác từng ly.
Người đàn ông trung niên hoảng hốt, mặt mày cắt không còn giọt máu, vội vã bò rạp xuống đất định chộp lấy mảnh thẻ bài: "Tiên cô... tha mạng! Cái này... cái này là thảo dân nhặt được dưới bến thuyền... không phải đồ ăn trộm đâu ạ!"
Bùi Hạ giữ chặt mảnh thẻ trong lòng bàn tay, ngón tay cái miết nhẹ qua vết khắc triện còn sắc nét. Mực chu sa ngấm sâu vào thớ gỗ liễu, không hề bị phai mờ bởi nước lũ. Nàng nhìn người đàn ông, giọng nói hạ thấp xuống đến mức tối thiểu, mang theo một vẻ nghiêm nghị khó tả:
"Thẻ này lấy ở đâu ra?"
Người đàn ông ấp úng, ánh mắt sợ hãi đảo quanh như muốn tìm đường trốn tránh.
Hà Thu từ bên chậu trấu bước nhanh lại, kéo nhẹ tay áo Bùi Hạ rồi ra hiệu dẫn nàng sang một góc hiên tối phía sau cây cột cái gian tiền sảnh. Gió ngoài trời vẫn rít gào từng cơn qua rặng trúc xơ xác, nhưng khoảng không gian hẹp giữa hai người bỗng chốc trở nên ngột ngạt và căng thẳng kỳ lạ.
"Bùi cô nương, muội nhận ra con dấu đó đúng không?" Hà Thu thì thầm, giọng nói của nàng hạ thấp nhưng từng từ lại sắc bén và lạnh lùng khác hẳn vẻ bộc trực ban nãy.
"Đây là thẻ tiếp nhận vật tư và cứu tế khẩn cấp của Thanh Huyền Môn," Bùi Hạ nhìn thẳng vào mắt Hà Thu, lòng bàn tay nàng vẫn siết chặt mảnh gỗ liễu. "Loại thẻ bài gỗ liễu này chỉ được phát ra khi đệ tử chấp sự mở kho phát lương hoặc tiếp nhận người tị nạn lên linh thuyền để di tản. Tại sao nó lại nằm trong tay một nạn dân sắp chết đói ở bến sông?"
Hà Thu cười nhạt một tiếng, nụ cười tràn ngập sự khinh bỉ và cay đắng tột cùng:
"Bởi vì trên danh sách cứu tế của Thanh Huyền Môn niêm yết tại Bến Bạch Sa, người đàn ông đó—cùng với cả gia đình bảy miệng ăn này—đều đã được ghi là: *Đã tiếp nhận cứu trợ, cấp phát ba đấu gạo trắng, một lượng linh sa, và đã lên thuyền chuyển dời an toàn về hậu phương*!"
Bùi Hạ nín thở. Lồng ngực nàng như bị một tảng đá ngàn cân đè nặng, khiến hơi thở nghẹn lại nơi cuống họng.
"Ý muội là sao?"
"Ý ta là toàn bộ danh sách cứu tế của Thanh Huyền Môn tại Bến Bạch Sa là một trò lừa đảo khổng lồ!" Hà Thu nghiến răng, giọng nói đè nén run lên từng chặp vì phẫn nộ. "Hội Đồng Châu của chúng ta có người chèo thuyền túc trực dưới bến suốt ba ngày ba đêm. Chúng ta đối chiếu sổ thuyền với danh sách dán trên bảng gỗ của nha môn và tiên môn. Tên của hàng trăm người dân làng chài, thợ thủ công, nông dân nghèo khó đều có tên trong sổ được cứu trợ, có dấu triện đỏ chót xác nhận đã nhận lương thực và lên thuyền. Nhưng thực tế thì sao? Thuyền của tiên môn chỉ chở đệ tử nội môn, con cháu các gia tộc buôn bán lớn có quan hệ kim tiền và các rương hòm chứa đầy bảo vật trận pháp cùng linh thạch! Còn những người có tên trên thẻ bài như họ, ngay khi cầm được mảnh gỗ này thì bị quân nha dùng gậy gộc xua đuổi ra bãi sình lầy, để mặc họ tự bơi tìm đường sống giữa dòng nước lũ cuồn cuộn!"
Hà Thu vươn tay chỉ về phía người đàn ông trung niên đang run rẩy ngồi co ro bên chậu trấu đằng xa:
"Vật tư ghi trên sổ sách cứu tế đã biến đi đâu? Lương thực ghi là phát cho dân rốt cuộc đã chảy vào túi ai? Bọn chúng dùng tên của những kẻ bần cùng này để thanh toán sổ sách với Trấn Linh Ty và quan phủ thượng tầng, biến những sinh mạng còn sống thành những con số ma trên giấy tờ để hợp thức hóa việc rút ruột kho tàng cứu trợ! Ngay cả cô gái tên Vũ Liên đang giúp việc cho tỷ trong kia..." Hà Thu liếc nhìn về phía gian trong, nơi Vũ Liên đang cẩn thận đỡ một bát nước nóng cho ông lão, "...trên danh sách của bến Bạch Sa hôm qua, tên nàng ta cũng đã được đóng dấu là *Đã đưa về bản sơn an trí* rồi đấy!"
Bùi Hạ đứng chết lặng giữa làn gió lạnh thấu xương lùa qua kẽ hiên.
Mảnh thẻ bài gỗ liễu trong tay nàng như đang bốc cháy, tỏa ra một sức nóng bỏng rát da thịt. Những mảnh ghép rời rạc trong tâm trí nàng suốt mấy ngày qua bỗng chốc khớp lại thành một bức tranh tàn khốc đến ghê người. Tại sao tuyến dẫn linh Đê Hồi Long lại dùng vật liệu sai chuẩn dẫn đến vỡ đê? Tại sao nàng bị vội vã trục xuất khỏi sơn môn chỉ vì từ chối ký biên bản nghiệm thu gian lận? Và giờ đây, tại sao hàng trăm nạn dân có tên trên giấy tờ cứu tế nhưng lại bị bỏ rơi dưới chân núi bùn lầy không một hạt gạo vào bụng?
Tất cả đều cùng một nguồn cơn: sự mục ruỗng, tham tàn và dối trá có hệ thống được che đậy dưới lớp vỏ bọc cứu thế của sơn môn tiên gia. Bọn chúng biến thảm họa lũ lụt thành một cơ hội kiếm chác khổng lồ, ăn chặn từ đá linh thạch gia cố đê điều cho đến từng bát gạo cứu đói của thường dân bá tánh.
"Bùi cô nương, chuyện chưa dừng lại ở đó đâu," Hà Thu bước thêm một bước sát lại gần, bàn tay thô ráp của nàng nắm chặt lấy cổ tay áo của Bùi Hạ. Ánh mắt người chèo đò lóe lên một tia cảnh báo sắc lạnh như băng tuyết giữa đêm đông:
"Trước khi thuyền của ta bị thủng đáy ở bến, ta nghe được một tin mật từ người của thương hội Tam Giang bàn tán với đám nha lại huyện An Lưu. Đê Hồi Long bị vỡ một mảng lớn ở hạ lưu, nước lũ đang đe dọa các vùng ruộng trù phú của quan nha và đại tộc. Huyện thừa Hoàng Cẩn đã nhận lệnh khẩn từ tri phủ: trong vòng ba ngày tới, bắt buộc phải gom đủ một ngàn năm trăm phu dịch để đắp lại đoạn đê vỡ bằng mọi giá!"
Bùi Hạ giật mình, mi mắt nàng khẽ giật: "Một ngàn năm trăm phu dịch? Ở đâu ra số người lớn như thế khi dân chúng đang phiêu bạt tan tác khắp nơi?"
"Bọn chúng sẽ vét sạch!" Hà Thu siết chặt tay, giọng nói đanh lại đầy vẻ hối hả và căng thẳng tột độ. "Bến Bạch Sa không còn đủ đinh tráng, nha môn huyện thành đang lập danh sách vét sạch toàn bộ đàn ông từ mười sáu đến năm mươi tuổi ở tất cả các xóm núi, gò đồi xung quanh! Tên Đổng Bưu hôm nay dẫn lính lên núi Đoạn Phong không phải chỉ để dọa suông đâu. Danh sách phu dịch của huyện thành sắp sửa khóa sổ rồi! Chỉ nội trong một hai ngày tới, khi nước rút bớt và đường ráo bùn, quân nha của huyện phủ cùng lính cơ sẽ mang trát cưỡng chế vũ trang, lùng sục từng xóm núi, càn quét từng hang cùng ngõ hẻm để bắt người đi công trường đê điều!"
Hà Thu nhìn sâu vào mắt Bùi Hạ, từng ngón tay thô ráp của nàng bấu chặt vào cánh tay áo đối phương như muốn truyền hết sức nặng của lời cảnh báo:
"Vọng Đăng Am của các người nằm chơ vơ trên sườn núi Đoạn Phong, không có Trúc Cơ trấn giữ, không có tông môn bảo hộ chính thức. Đám đàn ông thợ thuyền, từ thợ mộc Lâm cho đến đám phu phen theo tỷ lên đây, đều là mồi ngon mà huyện nha đang thèm khát. Nếu các người không kịp có được tấm Biên Nhận Bảo Hộ Hợp Pháp từ Trấn Linh Ty trước khi danh sách của huyện phủ đóng dấu son cuối cùng... thì cái đạo quán này sẽ bị san phẳng, và tất cả bọn họ sẽ bị xiềng xích lôi thẳng ra bãi bùn Đê Hồi Long làm mồi cho thủy quái!"
Tiếng gió đêm rít qua mái ngói đạo quán bỗng trở nên buốt giá lạ kỳ.
Từng đợt gió xoáy cuộn tròn lá rụng ngoài sân, quất vào cánh cửa gỗ táu phát ra những tiếng kêu ken két khô khốc. Xa xa dưới chân núi, nơi bến sông chìm ngập trong bóng tối mịt mùng và dòng nước lũ cuồn cuộn, tiếng mõ cầm canh của điếm canh nha sai vọng lại từng hồi rời rạc, nặng nề như tiếng đếm ngược của một bản án tử hình đang cận kề.
Hà Thu từ từ buông tay áo Bùi Hạ ra, khẽ thở dài một tiếng mỏi mệt rồi quay người bước về phía chậu than trấu, chuẩn bị ngả lưng trên manh chiếu rách cho vài canh giờ ngắn ngủi trước khi bình minh ló dạng.
Bùi Hạ đứng một mình bên khung cửa gỗ nứt nẻ, bàn tay nàng siết chặt mảnh thẻ bài có dấu triện Thanh Huyền Môn đến mức góc gỗ sắc nhọn hằn sâu vào da thịt, đau nhức nhối. Nàng ngước mắt nhìn lên gác chuông—nơi ngọn đèn Đăng Dẫn Lộ le lói vẫn đang kiên cường chống chọi với từng cơn gió lốc gầm rú giữa màn đêm đặc quánh. Ánh sáng vàng nhạt ấy mỏng manh như một sợi tơ, nhưng giữa vùng trời đất hỗn loạn đầy rẫy dối trá và chết chóc này, nó là thứ duy nhất còn nhắc nhở nàng rằng: cuộc chiến giữ lấy sự sống cho mảnh đất này mới chỉ vừa bắt đầu.