Tông Môn Sau Cơn Lũ — Phần 1: Ngọn Đèn Trên Núi VỡCh.2 / 40
Chapter 2

Bia Khế Ước Cũ

Sáng sớm ngày thứ hai, sương mù ngậm hơi bùn đặc quánh cuộn tròn quanh sân quán, nơi tiếng nước tí tách chảy từ khe đá sau vách núi kéo Đỗ Nghi ra khỏi giấc ngủ chập chờn.

Nàng gượng dậy khỏi manh chiếu rách trải vội ở góc hành lang tây, nơi mấy đứa trẻ sốt run hôm qua vừa chìm vào giấc ngủ mê mệt sau khi được nàng cho uống nước gừng nướng. Toàn thân nàng đau nhức, các khớp ngón tay cấn đá lạnh ngắt như đóng băng. Đỗ Nghi khẽ vuốt lại nếp áo chàm đã bết bùn khô ở gấu, với lấy chiếc gáo gỗ tiện và hai mảnh vải màn thô rồi bước ra phía sau đạo quán.

Gió núi sớm mai luồn qua hốc đá mang theo mùi tanh nồng của bùn sông và xác thực vật thối rữa từ cánh đồng hạ lưu trôi dạt dạt vào sườn Đoạn Phong. Khắp bốn bề, không gian chìm trong một thứ ánh sáng nhờ nhợ xám ngoét của buổi rạng ngày bị mây chì bóp nghẹt. Lối mòn phía sau chính điện dẫn qua một rãnh đá hẹp chỉ vừa một người lách qua, nơi vách sa thạch bị nước mưa khoét thành những gờ nham nhở như hàm răng thú. Đỗ Nghi bám vào rễ cây si cằn cỗi mọc chen trong kẽ đá, cẩn thận đặt từng bước chân trần xuống mặt đá phủ đầy rêu trơn tuột. Mỗi lần mũi chân nàng chạm vào gờ đá sắc, cơn buốt giá từ lòng đất lại xông thẳng lên sống lưng, nhức nhối như kim châm.

Ở cuối rãnh xói, một khe đá hình con mắt hé mở giữa hai thớ đá hoa cương xám xịt. Đó là linh tuyền Thạch Nhãn.

Nước rỉ ra từ kẽ nứt sâu hun hút bên trong lòng núi, từng giọt rỏ tong tòng xuống một lòng máng đá tự nhiên dài chừng năm thước, rồi chảy vào chiếc bể hứng khoét thô sơ dưới chân vách. Nhưng thứ đang chảy ra không phải dòng nước trong vắt mà nàng từng nghe những người tị nạn đồn đại khi còn ở mạn hạ lưu. Nước đục lờ lờ một màu xám tro, quánh đặc và nổi váng láng bóng như mỡ nguội, dập dềnh bọt bẩn quanh mép đá vôi phong hóa.

Đỗ Nghi ngồi thụp xuống mép bể, dùng gáo múc lên một vốc nước. Nàng đưa lên mũi ngửi: mùi lưu huỳnh lẫn với mùi tanh nồng của đất sét ướt bốc lên hăng hắc, xộc thẳng vào xoang mũi khiến cuống họng nàng khẽ nhộn nhạo. Nàng nghiêng gáo, đổ một ít nước vào lòng bàn tay rồi miết nhẹ hai ngón tay cái và ngón trỏ vào nhau. Dưới da thịt ráp sần, nàng cảm nhận rõ những hạt bột mịn li ti—không phải cát thường, mà là mạt linh sa bị dòng lũ thượng nguồn nghiền nát, cuốn trôi khỏi các vỉa quặng thượng du rồi ngấm sâu vào mạch nước ngầm của Đoạn Phong. Mỗi hạt khoáng khi cọ xát đều phát ra cảm giác ran rát, tê dại đầu ngón tay, như thể có hàng ngàn mũi gai li ti cào xước biểu bì.

Nàng đặt gáo xuống, rút thanh thước tre có khắc vạch đo trong túi thuốc dắt bên hông ra cắm sâu xuống lòng bể đá, rồi đứng lặng quan sát dòng chảy rỉ ra từ kẽ Thạch Nhãn. Nước nhỏ giọt nặng nề, ngắt quãng. Sau mười hơi thở dài dằng dặc, mực nước trong lòng máng hứng chỉ dâng lên chưa đầy nửa lóng tay. Nàng nhẩm tính lưu lượng trong đầu, trán cau lại thành những nếp nhăn sâu hoắm, đôi môi khô nẻ mím chặt lại.

Hai mươi tư gánh. Cả ngày lẫn đêm, Thạch Nhãn chỉ có thể chắt ra tối đa hai mươi tư gánh nước. Với ba mươi hai con người đang túm tụm trên ngọn núi vỡ này, con số đó chỉ vừa vặn cho mỗi miệng ăn một gáo nước uống dè sẻn và một nồi cháo loãng mỗi ngày, tuyệt đối không đủ để giặt giũ, rửa vết thương chứ đừng nói đến chuyện tưới tắm hay tháo vào nhánh dẫn trận của bàn trận Bắc Đẩu mà Bùi Hạ từng nhắc tới đêm qua.

"Nước này... có uống được không Đỗ cô nương?"

Một giọng nói rụt rè, run rẩy vang lên sau lưng nàng. Đỗ Nghi quay lại, thấy người đàn bà góa tên Trịnh thị cùng đứa con gái nhỏ trạc sáu tuổi đang ôm đôi thùng gỗ méo mó đứng nép bên rãnh đá. Đôi mắt người mẹ hõm sâu, thâm quầng vì mất ngủ, nhìn trừng trừng vào vũng nước đục với vẻ thèm khát tột cùng. Đứa bé bên cạnh níu chặt lấy vạt áo mẹ, đôi môi nứt toác rớm máu khô, cổ họng ực lên từng cơn thèm thuồng khi nhìn thấy mặt nước dập dềnh dưới đáy bể.

"Không được uống!" Đỗ Nghi nghiêm giọng, bước tới chắn ngang miệng bể đá. Giọng nàng đanh lại, mang theo sự dứt khoát không khoan nhượng của một thầy thuốc dân gian từng nhiều năm lặn lội qua các vùng dịch bệnh: "Nước này ngậm bùn linh sa từ trận vỡ trôi về. Thứ mạt xám này uống thẳng vào ruột sẽ cào rách dạ dày, gây chứng thổ tả và lỵ máu. Tuyệt đối không ai được múc uống trực tiếp!"

Trịnh thị run lên bần bật, mặt tái mét như tàu lá chuối, đôi bàn tay gầy gò bám chặt vào quai thùng: "Nhưng... bọn trẻ con khát từ nửa đêm... Thằng út nhà tôi sốt hâm hấp, môi khô như ngói vỡ, cứ đòi nước suốt..."

"Nghe ta dặn đây," Đỗ Nghi ngắt lời, chỉ tay vào chiếc bể phụ bằng đá tổ ong nằm chếch bên dưới rãnh xói: "Múc nước đổ qua ba lớp vải màn để gạn bớt cặn thô, sau đó phải cho vào nồi đất, thả thêm một nắm than củi sạch để lắng trong nửa canh giờ, rồi đun sôi kỹ đủ ba lần sủi tăm mới được dùng. Ta sẽ sang bảo Phạm Sương trích than củi khô trong kho cho việc nấu nước. Từ giờ đến trưa, ta sẽ túc trực ở đây để kiểm tra từng gánh. Ai tự ý uống nước sống, ta đuổi ra khỏi khu bếp!"

Sự nghiêm khắc lạnh lùng của Đỗ Nghi khiến Trịnh thị vội vã gật đầu lia lịa rồi dắt con lùi lại, vừa đi vừa cúi đầu vâng dạ. Đỗ Nghi thở hắt ra một hơi dài, nhìn dòng nước tro xám vẫn rỉ từng giọt nhọc nhằn từ hốc Thạch Nhãn. Nàng biết kho thuốc dã chiến mang theo chẳng còn bao nhiêu; rễ hoàng liên, cát căn hay vỏ núc nác đều chỉ còn lại vài nắm vụn ẩm mốc. Nếu bệnh đường ruột bùng phát giữa lúc ba mươi mốt con người đang đói lả và chen chúc trong ngôi đạo quán ẩm mốc này, Vọng Đăng sẽ biến thành một nấm mồ tập thể trước khi dòng lũ ngoài kia kịp rút xuống.

***

Khi Đỗ Nghi quay trở lại sân sau đạo quán, nàng thấy Bùi Hạ và ông lão Nguyễn Mộc đang lom khom bên một góc tường hoa đổ nát, nơi một tấm bia đá sa thạch cổ dựng sừng sững dưới tán cây tùng gãy cành.

Trời đã sáng rõ hơn, nhưng tầng mây xám xịt vẫn trĩu nặng trên đỉnh đầu như một tấm chăn sũng nước đè ép xuống núi Đoạn Phong. Gió sớm lùa qua những kẽ nứt của vách đá, phát ra tiếng rít u u lạnh lẽo. Mặt đất xung quanh bệ bia phủ đầy những mảnh ngói vỡ, rêu xanh và lá kim mục nát. Bùi Hạ ngồi xổm bên mép bệ đá, cổ tay phải của nàng vẫn quấn chặt lớp vải thô thấm nước mưa lem luốc vết máu cũ, bàn tay trái cầm chiếc dao nạo bằng sắt cùn cẩn thận cạo từng mảng rêu phong bám chặt trên mặt đá. Mỗi nhát dao đưa đi đều để lại một vệt xám nhạt trên nền đá phong hóa, làm lộ ra từng thớ đá sa thạch lỗ chỗ bọt khí.

Nguyễn Mộc quỳ một bên gối trên nền đất ướt, mái tóc bạc lơ thơ dính bết vào trán bởi sương lạnh. Bàn tay gầy guộc đầy những vết sẹo nghề đục đá của ông cầm chiếc bàn chải xơ dừa nhúng vào chậu nước đục, tỉ mẩn chà xát theo từng nét khắc cổ. Bọt rêu xanh ngắt tróc ra thành từng mảng nhờn nhợt, chảy dọc theo thân bia xuống lớp rễ tùng ẩm ướt.

"Chỗ này... nạo nhẹ tay thôi Hạ cô nương," ông lão thì thào, giọng khàn đặc như tiếng đá cọ vào cát. "Đá sa thạch ở vùng Đoạn Phong này xốp lắm, ngâm nước mưa cả trăm năm, nét chữ đã mủn như bột bánh. Dùng lực mạnh quá là bay mất dấu triện."

Bùi Hạ dừng mũi dao, dùng mu bàn tay gạt đi lớp mạt đá và bùn nhão vừa bong ra. Hơi thở nàng phả ra thành làn khói mỏng tan biến trong không khí lạnh buốt. Dưới ánh sáng mờ đục của buổi sớm, những nét chữ Hán khắc chân phương, sâu và dứt khoát dần lộ diện trên mặt bia đá xám:

*“Vân Hà lịch niên... Vọng Đăng Am... sở công ích tiếp nạp nạn dân, phàm thời thiên tai lụt lội, bất luận sĩ nông công thương, giai đắc nhập tị...”*

Bùi Hạ khẽ đọc từng chữ, ngón tay lướt chậm rãi qua bề mặt gồ ghề của dòng văn bản cổ. Ánh mắt nàng ánh lên một tia sáng kỳ lạ giữa khuôn mặt hốc hác, phờ phạc vì kiệt sức sau trận thoát hiểm đêm qua: "Bác Mộc, chỗ này ghi rõ: 'Bất luận sĩ nông công thương, giai đắc nhập tị'. Nghĩa là đạo quán này từ thuở lập ra đã không phải là sản nghiệp riêng của bất kỳ môn phái nào, mà là cơ sở công ích cứu nạn của vùng hạ lưu."

"Đúng là như vậy," Nguyễn Mộc gật đầu, ngón tay run rẩy miết dọc theo đường rãnh của hai chữ 'Công Ích'. Nhưng rồi, tròng mắt đục ngầu của ông bỗng khựng lại ở dòng lạc khoản bên mép dưới tấm bia. Ông ghé sát mặt vào mặt đá, nheo mắt nhìn thật kỹ dưới lớp rêu vừa tróc ra, rồi thở hắt ra một tiếng đầy ngờ vực: "Khoan đã... Hạ nhìn chỗ này xem."

Bùi Hạ cúi thấp người xuống hơn nữa. Nàng nheo mắt nhìn theo ngón tay trỏ ráp thô của ông lão thợ đá.

Ở dòng ghi niên hiệu và danh tính người tài trợ tu bổ, các nét đục có độ nông sâu hoàn toàn khác biệt so với phần thân bia. Những nét chữ nguyên bản vốn vuông vức, khoét sâu và sắc cạnh; nhưng ở ba chữ niên hiệu cuối cùng, đáy rãnh chữ lại nông hơn hẳn, gờ đá xung quanh lởm chởm những vết chạm đục vụng về, tựa như có ai đó đã dùng búa và đục sắt cố tình tẩy đi niên hiệu cũ rồi đục đè một dòng chữ mới lên trên bề mặt đá đã bị bào mỏng.

"Có vết đục sửa," Nguyễn Mộc trầm giọng nói, đôi mày bạc nhíu chặt lại, những nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại như vỏ cây già. "Dấu vết này... không phải mới có vài năm, mà đã bị sửa từ vài chục năm trước, có lẽ là vào đợt đại hạn đời trước. Người ta đã đục bớt tên của cơ quan giám hộ cũ để biến nơi này thành một cơ sở vô chủ trên sổ sách của huyện lỵ."

"Tại sao họ phải làm vậy?" Bùi Hạ hỏi, ngón tay cái vô thức miết lên vết thương nhức nhối ở cổ tay phải. Vải quấn đã ẩm ướt và bắt đầu cọ vào miệng vết rách khiến da thịt nàng run lên khe khẽ.

"Một cơ sở công ích có người bảo trợ thì huyện phủ không dám đụng vào, nhưng nếu nó biến thành 'đạo quán vô chủ', thì khi có biến cố, quan nha muốn tịch thu đất đai hay biến người bên trong thành phu dịch dịch trạm đều dễ như trở bàn tay," Nguyễn Mộc cười khan một tiếng, nụ cười chua chát của một kẻ đã sống trọn cả đời dưới bóng các nha môn và đại phái, từng chứng kiến bao mưu mô của chốn quan trường tước đoạt tấc đất của thứ dân. "Khế ước khắc trên bia này là thật, nó cho phép chúng ta có quyền chính đáng để đứng chân ở đây mà không bị coi là phường thảo khấu chiếm cứ trái phép. Nhưng nó là một con dao hai lưỡi, Hạ à."

Bùi Hạ chưa kịp đáp lời thì từ phía cổng trước đạo quán vang lên tiếng bước chân chạy huỳnh huỵch trên nền đá dăm. Âm thanh vội vã, dồn dập phá tan sự yên tĩnh ngột ngạt của buổi sớm.

Lâm An, con gái mười một tuổi của người thợ mộc Lâm Tự, hớt hải lao qua cổng nách. Đôi dép cói của con bé sũng bùn, một bên quai đã đứt phải buộc tạm bằng sợi cỏ tranh, ống quần xắn cao để lộ đôi bắp chân gầy khẳng khiu lấm lem bùn đỏ. Con bé thở không ra hơi, hai tay ôm chặt lấy bậu cửa nách bằng gỗ mục, mắt mở to kinh hoàng nhìn về phía Bùi Hạ:

"Chị Hạ! Cha ơi! Có... có người đang leo dốc! Đông lắm!"

Lâm Tự từ trong gian điện chính lập tức lao ra ngoài, tay vẫn lăm lăm chiếc rìu đẽo gỗ bản rộng. Anh bước nhanh tới đỡ lấy vai con gái, bàn tay rắn rỏi siết nhẹ để trấn an đứa trẻ đang run rẩy, giọng trầm và dứt khoát: "Bình tĩnh. Nhìn thấy bao nhiêu người? Họ mang theo thứ gì?"

"Có chừng sáu, bảy người..." Lâm An nuốt khan một ngụm nước bọt, ngực phập phồng kịch liệt dưới lớp áo manh vá chằng vá đụp. "Họ mặc áo chẽn xanh viền đen, thắt đai da bản rộng, bên hông đeo thẻ đồng kêu lách cách. Họ cầm theo roi mây và một cuộn sổ bìa da bò... Đang trèo lên lối mòn phía nam!"

Sân sau bỗng chốc im bặt. Chỉ còn tiếng nước tí tách nhỏ từ mái hiên dột xuống nền đá ẩm.

Thẻ đồng, áo chẽn viền đen, roi mây và sổ bìa da bò. Đó là trang phục đặc trưng của nha sai thuộc Công tào huyện nha An Lưu—những kẻ chuyên đi săn lùng đinh tráng để bắt phu đắp đê, vét kênh sau mỗi mùa bão lũ. Bất kỳ ai sống ở dải đất ven sông này đều biết rõ tiếng roi mây của bọn họ chát chúa đến mức nào trên lưng những kẻ khốn cùng.

"Đến nhanh thật," Bùi Hạ siết chặt chiếc dao cạo trong tay, đứng thẳng dậy. Ánh mắt nàng lạnh đi, vẻ mệt mỏi biến mất, thay vào đó là sự cảnh giác sắc bén của một kẻ từng trải qua những cuộc tranh đấu sống còn: "Lâm Tự, bảo mọi người trong chính điện đóng chặt cửa liếp, giữ lũ trẻ im lặng. Đi theo ta ra dốc nam."

Lâm Tự đứng lặng mất một nhịp sau cánh cửa vỡ của gian nách. Bàn tay to bè thô ráp của anh khẽ run lên một cái rất nhẹ, rồi theo một phản xạ vô thức, những ngón tay anh luồn vào sâu trong vạt áo ngực bằng vải thô, chạm vào mép giấy ráp cứng của một mảnh trát đòi đinh dịch mang dấu mộc đỏ mà anh đã giấu kín từ trước khi cơn lũ tràn qua làng. Đó là bản trát đòi nợ máu thịt của huyện nha mà anh đã liều mạng trốn chạy. Anh nghiến chặt răng, nuốt xuống một tiếng thở dài nghẹn ứ, rồi rút chiếc rìu giắt lại vào thắt lưng da, bước nhanh theo sau Bùi Hạ.

***

Con đường mòn phía nam núi Đoạn Phong vốn là lối đi duy nhất còn sót lại sau khi sườn đông bị dòng lũ thượng nguồn khoét sập thành một vực thẳm dựng đứng. Nhưng sau một đêm mưa dầm tầm tã, đoạn dốc này đã biến thành một máng bùn nhão nhoẹt, đá dăm và đất sét đỏ liên tục trượt từng mảng xuống vực sâu bên dưới. Tiếng đất lở rào rào hòa cùng tiếng nước xối xả dưới chân núi tạo nên một bức tranh hoang tàn rợn ngợp.

Bùi Hạ, Lâm Tự và Đỗ Nghi nấp sau một gờ đá tai mèo nhô ra bên mép vực, nhìn xuống đoạn dốc hẹp cách cổng quán khoảng ba mươi trượng. Gió núi tạt thẳng vào mặt họ những hạt mưa li ti lạnh buốt.

Dưới chân con dốc trơn tuột, bảy bóng người mặc áo chẽn xanh đang chật vật bám vào những bụi cúc gai và rễ cây dại để leo lên. Dẫn đầu là một viên sai đầu lĩnh vạm vỡ, trán có vết sẹo dài kéo từ đuôi mắt xuống tận cằm, râu quai nón rậm rạp ướt đẫm nước mưa. Bên hông hắn lủng lẳng một tấm thẻ đồng dày khắc bốn chữ lớn sơn đen: *An Lưu Huyện Dịch*. Tay hắn chống một cây gậy sắt bịt đầu nhọn cắm phập vào nền đá để giữ thăng bằng, tay kia cầm cây roi mây bện gân bò quất mạnh vào bụi gai chắn đường, phát ra tiếng vun vút hung hiểm.

"Mẹ kiếp cái dốc chó chết!" Một tên nha sai đi phía sau trượt chân ngã dúi dụi, chiếc ủng da trượt dài trên lớp bùn nhão, nửa thân người suýt nữa lao xuống triền đá dựng đứng bên mép vực. Tên đi sau phải vội vàng buông cành cây, túm chặt lấy đai lưng kéo giật lại, cả hai chửi thề om sòm. Cuộn sổ da hắn ôm trước ngực tuột khỏi tay, rơi tõm xuống vũng bùn xám xịt bên mép đường.

"Nhặt cái sổ lên! Làm rách sổ đinh tịch của huyện nha thì Hoàng Huyện thừa lột da mày!" Tên sai đầu lĩnh quát tháo ầm ĩ, giọng khàn đặc đầy vẻ hung hãn, tiếng thét át cả tiếng gió núi.

Hắn dừng chân ngay trước một đoạn sạt lở nghiêm trọng, nơi lòng đường mòn đã bị nước xói đứt thành một khe nứt sâu hoắm rộng hơn một trượng, đáy khe lởm chởm những khối đá hộc sắc nhọn vừa lăn từ đỉnh núi xuống. Bùn đất vẫn đang từng mảng, từng mảng sạt xuống kêu lạo xạo, rơi thẳng xuống vực sâu hun hút bên dưới.

Tên đầu lĩnh chọc mạnh mũi gậy sắt xuống lớp bùn nhão để thăm dò. Mũi gậy lún sâu xuống ngập nửa thân mà không chạm tới nền đá cứng, chỉ nghe tiếng đất nhão sủi bọt lẹt xẹt. Hắn ngước nhìn lên con dốc dựng đứng dẫn tới cánh cổng gỗ mục nát của Đạo quán Vọng Đăng, mắt cú vọ đảo quanh những gờ đá xám xịt. Hắn biết rõ, với địa thế hiểm trở và mặt đường trơn như bôi mỡ lúc này, nếu cố trèo lên, chỉ cần một hòn đá hộc từ trên lăn xuống cũng đủ hất cả toán người của hắn xuống đáy vực Đoạn Phong không toàn thây.

Không thể leo tiếp, tên sai đầu lĩnh đứng dạng chân trên một tảng đá tương đối bằng phẳng, rút phắt chiếc thẻ đồng bên hông giơ cao lên trời, rồi ngửa cổ quát vọng lên đỉnh dốc. Giọng hắn mang theo linh lực yếu ớt của một kẻ mới bước vào Dẫn Khí sơ kỳ, rền rĩ vang vọng giữa màn sương mù mịt mùng:

"Đám nạn dân trên Vọng Đăng kia! Nghe cho rõ đây! Bản sai là Đổng Bưu, phụng mệnh Hoàng Huyện thừa huyện phủ An Lưu lên núi rà soát đinh khẩu!"

Tiếng quát đập vào vách đá Đoạn Phong, dội lại từng hồi chói gắt, làm rung rinh cả những cành tùng khẳng khiu trên vách núi.

"Đê Hồi Long bị vỡ, toàn hạt An Lưu đang lâm vào đại nạn! Quan phủ hạ lệnh tổng động viên, phàm là đinh tráng từ mười sáu đến năm mươi tuổi không có tông môn tịch, bất kể quê quán ở đâu, đều phải ghi danh vào sổ dịch, theo bọn ta xuống chân núi đắp đê hộ đê! Kẻ nào dám trốn tránh lao dịch, huyện phủ chiếu theo Vân Hà luật coi như phản nghịch, tịch thu toàn bộ gia sản, bắt giam vào ngục tối!"

Sau gờ đá, Lâm Tự siết chặt cán rìu, khớp ngón tay trắng bệch, gân xanh trên mu bàn tay nổi cộm lên như những sợi dây chão. Anh nhìn chăm chú vào tên sai nha đầu lĩnh tên Đổng Bưu, ánh mắt đanh lại như thép nguội, từng thớ cơ trên bả vai gồng cứng. Đỗ Nghi đứng bên cạnh khẽ cắn chặt môi dưới đến rớm máu, bàn tay nắm chặt lấy vạt áo chàm; nàng biết rõ ở công trường Đê Hồi Long lúc này, bùn lầy sâu đến thắt lưng, đá tảng đè bẹp người mỗi ngày, và em trai nàng là Đỗ Tín đang phải oằn mình vác đá dưới những lằn roi mây man rợ của đám nha sai như thế này.

Đổng Bưu thấy trên dốc vẫn im phăng phắc, bèn vung mạnh cây roi mây vào không trung, tạo ra một tiếng nổ *chát* giòn giã xé toạc màn sương ẩm:

"Lũ chúng mày đừng tưởng trốn lên cái miếu hoang rách nát này là thoát được! Hôm nay đường trơn, bản sai tạm tha cho chúng mày một ngày! Đợi một hai hôm nữa đường ráo bùn, nha môn sẽ mang trát cưỡng chế cùng năm mươi tráp đinh dịch lên núi! Đến lúc đó, thằng đinh tráng nào dám chối, bản sai sẽ cùm cổ lôi xềnh xềch xuống lán phu! Còn đám đàn bà con nít, huyện phủ sẽ niêm phong đạo quán, giải tỏa sạch sẽ không chừa một mống!"

Quát xong một tràng đe dọa, Đổng Bưu nhổ một bãi nước bọt đặc quánh xuống vũng bùn dưới chân. Hắn trừng mắt nhìn lên đỉnh núi thêm một cái đầy hăm dọa, hàm răng vàng ố nghiến lại trèo trẹo, rồi vung tay ra hiệu cho đồng bọn: "Rút! Về điếm canh ven sông chốt chặn lối ra vào! Chúng nó có mọc cánh cũng không bay khỏi ngọn Đoạn Phong này được!"

Toán nha sai cẩn thận bám theo bờ vách đá trơn tuột, lùi dần từng bước xuống chân núi. Dấu chân ủng da của chúng để lại những hố sâu đầy bùn nhão, rồi bóng dáng áo xanh biến mất sau rặng lau sậy rạp mình trong dòng nước lũ ở phía điếm canh ven sông cách đó không xa.

Tiếng bước chân và tiếng chửi rủa của bọn họ xa dần, trả lại cho sườn nam ngọn núi vỡ sự im lìm ngột ngạt. Gió núi lại thổi qua, mang theo cái lạnh thấu xương ngấm sâu vào từng thớ thịt của những kẻ đang đứng trên đỉnh dốc.

***

Chính điện của Đạo quán Vọng Đăng dột nát hơn rất nhiều so với những gì người ta có thể hình dung về một nơi từng thờ phụng thần tiên.

Nước mưa rỉ qua những khe nứt của mái ngói âm dương vỡ vụn, rơi tong tòng xuống nền đá xanh lồi lõm. Người ta phải đặt những chiếc chậu sành mẻ, gáo dừa và thùng gỗ rải rác khắp gian điện để hứng nước; tiếng nước rơi *tách... tong... bộp...* vang lên đều đặn, tạo thành một thứ nhịp điệu thê lương và bức bối đè nặng lên tâm trí từng người. Ba mươi con người sống sót dồn hết về hai góc điện tương đối khô ráo, ngồi nép vào nhau để tìm kiếm chút hơi ấm mong manh. Những manh chiếu rách, bao tải gai được tận dụng làm chăn đắp. Những đôi mắt trũng sâu, đói khát và sợ hãi từ trong bóng tối đổ dồn về chiếc bàn gỗ dài ọp ẹp đặt ngay trước bệ thờ không có tượng.

Trên bàn, ngọn đèn dầu hạt cải leo lét tỏa ra chút ánh sáng vàng vọt, chập chờn theo từng cơn gió lùa qua kẽ liếp, chiếu lên khuôn mặt của năm con người nòng cốt đang ngồi quanh bàn: Bùi Hạ, Lâm Tự, Phạm Sương, Đỗ Nghi và ông lão Nguyễn Mộc.

Phạm Sương đặt cuốn sổ kho bằng giấy bản thô ráp lên mặt bàn, bàn tay nàng miết mạnh lên mép bìa đã sờn rách lấm bùn. Giọng nàng đanh và dứt khoát, mang theo thói quen tính toán cẩn mật của một chưởng quỹ từng quán xuyến những bữa cơm nuôi hàng trăm phu thuyền ở Bến Bạch Sa:

"Ta nói thẳng vào việc, không giấu giếm gì nhau nữa. Mười bốn bao ngũ cốc chúng ta mang lên hôm qua, thực chất có ba bao gạo đã ngấm nước lũ từ lúc ở bến thuyền và hiện tại đã bắt đầu lên mốc trắng ở đáy bao. Mùi chua bốc lên nồng nặc. Nếu không có nắng để phơi sấy—mà trời này thì đừng mong có một giọt nắng—chúng ta sẽ phải bỏ đi phần hỏng. Lượng gạo ăn được còn lại chỉ đủ duy trì tối đa năm đến sáu ngày với mức mỗi người một bát cháo loãng mỗi bữa, nấu độn với cám vụn. Củ mài quanh núi thì sườn dốc đã sạt lở gần hết, chưa đào được bao nhiêu; rau rừng thì ngập bùn chua thối rữa cả. Giờ lại thêm toán nha sai huyện phủ chốt chặn dưới điếm canh ven sông, cắt đứt hoàn toàn lối xuống, chúng ta không thể xuống sông mò cá hay tìm thuyền cứu tế của Hội Đồng Châu."

"Nước Thạch Nhãn cũng chỉ có hai mươi tư gánh mỗi ngày," Đỗ Nghi tiếp lời, giọng nàng trầm tĩnh nhưng nặng trĩu áp lực ngàn cân. "Bùn linh sa quá nhiều, muốn uống phải lọc qua ba lớp vải, dùng than củi để lắng và đun sôi ba lần. Củi khô trong kho của đạo quán vốn đã mục nát, số cành cây lượm lặt được hôm qua chẳng thấm vào đâu; nếu dồn toàn bộ củi để đun nước uống cho ba mươi hai người thì ba ngày nữa chúng ta sẽ không còn một thanh củi nào để nấu cháo, phải ăn gạo sống trừ bữa. Chưa kể, nếu bọn nha sai quay lại dùng vũ lực cưỡng chế, người già và trẻ con hoảng loạn sẽ là những người ngã bệnh đầu tiên. Kho thuốc của ta... không đủ cứu ba người bị thổ tả."

Không khí trong chính điện chùng xuống như một sợi dây đàn sắp đứt. Những người tị nạn ngồi co ro ở góc phòng bắt đầu có tiếng xì xào hoảng loạn. Một người đàn bà ôm chặt lấy đứa con đang khóc ngặt nghẽo, tiếng nấc nghẹn ngào vang lên chua xót: "Trời ơi, trốn được lũ sông mà không trốn được tay quan sai... Phen này mẹ con tôi chết mất..." Có tiếng thở dài thườn thượt của những người đàn ông luống tuổi, tiếng nắm tay đấm thùm thụp xuống nền đất bất lực.

"Họ không chỉ đến để bắt phu," Bùi Hạ bỗng lên tiếng. Giọng nàng không lớn, nhưng sự bình tĩnh và chắc nịch trong từng âm sắc lập tức cắt ngang những tiếng xì xào hỗn loạn, kéo mọi ánh mắt quay về phía nàng.

Nàng đưa tay trái kéo tấm bản đồ địa bạ rách nát trải ra giữa bàn, bên cạnh là bản dập chữ trên bia đá mà nàng và Nguyễn Mộc vừa sao lại lúc sáng bằng muội than và giấy bản ướt.

"Tên Đổng Bưu nói rằng huyện phủ sẽ 'giải tỏa đạo quán'," Bùi Hạ ngước mắt nhìn thẳng vào từng người, ánh mắt sắc bén như ánh kiếm trong đêm. "Các người có hiểu điều đó nghĩa là gì không? Nơi này không thuộc về riêng ai. Đạo quán Vọng Đăng là cơ sở công ích theo khế ước cũ, nó cho phép nạn dân nương náu lúc nước dâng, nhưng không trao quyền sở hữu vĩnh viễn cho bất kỳ ai trong số chúng ta. Trong mắt huyện nha An Lưu và Trấn Linh Ty, chúng ta không phải là nạn dân cần cứu trợ, mà chỉ là ba mươi hai kẻ vô gia cư đang chiếm cứ trái phép công sản của triều đình."

Lâm Tự gõ nhẹ cán rìu xuống mặt bàn gỗ, tạo ra tiếng *cộp* khô khốc, ánh mắt sắc lẹm nhìn Bùi Hạ: "Nghĩa là khi nước rút, hoặc ngay khi đường ráo bùn, họ có toàn quyền xua đuổi chúng ta xuống núi như đuổi một đàn súc vật?"

"Đúng vậy," Bùi Hạ gật đầu dứt khoát. "Và tệ hơn thế, họ sẽ bắt sạch toàn bộ đàn ông khỏe mạnh đưa thẳng ra Đê Hồi Long làm phu dịch khổ sai không công. Phụ nữ và trẻ nhỏ sẽ bị xua đuổi vào những trại tị nạn bùn lầy nhơ nhớp dưới chân bến Bạch Sa, nơi dịch tả và đói khát đang hoành hành, không có lấy một tấc che đầu. Chúng ta không có quyền phản kháng, vì chiếu theo luật Vân Hà, phàm là thứ dân không có hộ tịch tông môn bảo hộ, bắt buộc phải phục tòng vô điều kiện lệnh trưng phu của quan phủ trong thời kỳ đại hạn hộ đê. Kẻ nào chống đối, chém đầu bêu chợ."

"Vậy phải làm sao?" Phạm Sương cau mày, ngón tay gõ nhịp dồn dập lên mép bàn gỗ, ánh mắt ánh lên vẻ sốt ruột. "Đánh lại bọn nha sai à? Nàng là Luyện Khí tầng ba đang mang thương tật nặng, Lâm Tự có sức vóc của thợ mộc nhưng cũng chỉ là người phàm, còn bọn chúng là nha môn của cả một huyện, sau lưng chúng là quân dịch và Trấn Linh Ty! Đánh quan sai là tội tru di tam tộc, trốn đi đâu cho thoát?"

"Không đánh," Bùi Hạ lắc đầu, ánh mắt nàng ánh lên một vẻ kiên định lạnh lùng của một người từng nếm trải mọi ngóc ngách của quy củ môn phái. Nàng đặt một ngón tay gầy guộc lên tấm bản dập bia đá: "Chúng ta dùng luật của bọn họ để chặn đứng bọn họ."

Mọi người nín thở nhìn nàng. Gian điện im ắng đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng tim đập thình thịch và tiếng nước dột rỏ xuống chậu sành.

"Luật Vân Hà có một điều khoản đặc biệt dành riêng cho các vùng đất hoang và cơ sở tôn giáo vô chủ sau thiên tai: Lập Tông Môn Sơ Lập," Bùi Hạ chậm rãi nói, từng từ rơi xuống mặt bàn rõ ràng như những nhát búa đóng nêm vào gỗ lim. "Một nhóm người tu hành có thể xin đăng bộ thành lập một tông môn cấp thấp nhất tại Trấn Linh Ty mà không cần phải có tu sĩ Trúc Cơ trấn giữ như các đại phái danh môn. Điều kiện cần có là gì? Thứ nhất: một nơi cư trú cố định có ranh giới rõ ràng—chúng ta có Đạo quán Vọng Đăng trên đỉnh ngọn núi vỡ này, bốn bề vực thẳm ngăn cách tự nhiên. Thứ hai: một người tu sĩ Luyện Khí chịu trách nhiệm truyền dạy và chịu tội trước pháp luật—ta sẽ đứng tên mục này, với tư cách cựu ngoại môn đệ tử Thanh Huyền Môn có ngọc giản chứng minh căn cốt. Thứ ba: ít nhất chín người tự nguyện ký tên điểm chỉ nhập tịch tông môn. Thứ tư: một công trình phòng hộ thực tế có thể bảo trì và chịu tải được thẩm định. Và thứ năm: một bản điều lệ phân phối tài nguyên nội bộ minh bạch, không được để xảy ra bạo loạn."

Bùi Hạ dừng lại, ngước nhìn ba mươi con người đang nín thở lắng nghe trong bóng tối mờ ảo của chính điện:

"Một khi hồ sơ được gửi về Trấn Linh Ty, chỉ cần họ tiếp nhận và cấp cho chúng ta một tấm 'Biên Nhận Bảo Hộ Tạm Thời', Đạo quán Vọng Đăng sẽ chính thức trở thành sơn môn của một tông môn hợp pháp đang trong thời gian khảo nghiệm. Chiếu theo luật Vân Hà, thành viên chính thức của một tông môn sơ lập được miễn trừ toàn bộ các lệnh trưng tập phu dịch mới từ huyện nha địa phương! Huyện phủ An Lưu sẽ không còn bất kỳ quyền hạn nào để giải tỏa chúng ta, và Đổng Bưu cùng đám nha sai của hắn không thể bước qua cổng quán để cưỡng chế bắt đinh tráng của Vọng Đăng đi vác đá hộ đê!"

Một sự im lặng tuyệt đối bao trùm lấy gian điện.

Phạm Sương trố tròn mắt nhìn Bùi Hạ, miệng hơi hé mở như không dám tin vào những gì mình vừa nghe. Lâm Tự bất giác thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực anh phập phồng sau lớp áo thô; bàn tay đang siết cán rìu từ từ thả lỏng đôi chút. Ngay cả Đỗ Nghi cũng ngỡ ngàng trước phương án táo bạo nhưng hoàn toàn chuẩn xác về mặt pháp lý mà người cựu đệ tử Thanh Huyền Môn vừa vạch ra. Đó không phải là một ảo tưởng viển vông về việc trở thành tiên nhân cưỡi mây đạp gió, mà là một tấm khiên hành chính lạnh lùng, sắc bén, dùng chính thứ luật pháp đè nén họ để dựng lên bức tường bảo vệ mạng sống của những kẻ dưới đáy cùng xã hội.

"Chín người tự nguyện nhập tịch..." Lâm Tự trầm giọng, mắt nhìn xuống bàn tay mình đầy những vết chai sần vì cưa đục. "Nhưng nhập tịch tông môn nghĩa là gắn chặt mạng sống vào ngọn núi này. Trở thành môn nhân của một tông môn sơ lập, một khi thất bại, nếu hồ sơ bị Trấn Linh Ty bác bỏ hoặc phát hiện gian lận, tất cả những người ký tên sẽ bị khép vào tội man khai danh tịch, chống lệnh trưng phu, tội chết không nghi ngờ."

"Không làm thì năm ngày nữa chúng ta cũng chết đói hoặc chết rũ xương dưới chân Đê Hồi Long," Phạm Sương nghiến răng, ánh mắt lóe lên sự quyết đoán của một người đàn bà từng lăn lộn kiếm sống nơi đầu sóng ngọn gió. Nàng vỗ mạnh bàn tay búp măng của mình đè lên cuốn sổ kho: "Ta ký đầu tiên. Dù sao cái quán cơm ở bến của ta cũng trôi theo dòng nước lũ rồi, tài sản mất sạch, ta chẳng còn nơi nào để về nữa. Ngồi đây chờ chết cũng là chết, đánh cược một phen với triều đình!"

"Khoan đã," một giọng nói già nua, khàn đặc bất chợt vang lên cắt ngang bầu không khí đang sục sôi.

Nguyễn Mộc từ từ đứng dậy. Ông lão thợ đá bước lại gần bàn, bóng lưng còng gầy guộc in dài trên vách tường loang lổ vết ẩm mốc. Bàn tay run rẩy của ông giơ ra bản dập bia đá mà ông vừa cẩn thận cất trong bọc vải thô. Ông không nhìn vào vẻ mặt đầy hy vọng của đám đông xung quanh, mà đưa ngón tay trỏ khẳng khiu, đen đúa vì vết tích năm tháng chỉ thẳng vào một góc chữ bị sứt mẻ ở mép dưới bản dập.

Nguyễn Mộc chỉ tay vào dòng chữ mẻ góc trên bia đá và cảnh báo: khế ước cho phép trú nạn, nhưng không biến nơi này thành của riêng ai nếu quan nha muốn lấy cớ đuổi người.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories