Bùn Ngập Chân Núi
Mưa lạnh quất rát mặt khi Bùi Hạ ghìm chân vào bờ dốc trơn tuột, bàn tay bết bùn giữ chặt đòn khiêng cáng của một người già sốt mê man, trong khi phía sau nàng là ba mươi mốt bóng người run rẩy dò từng bước lên sườn nam núi Đoạn Phong.
Gió bấc rít từng hồi man dại qua các khe đá tai mèo, kéo theo từng luồng mưa dầm xối xả đập buốt nhói vào da thịt. Màn mưa dày đặc như một tấm rèm xám chì trút nước không ngớt, biến con đường mòn vốn đã gồ ghề thành một dòng suối bùn đỏ quạch cuộn xiết. Đất đỏ vùng trung du khi ngậm no nước mưa bão liền rữa ra, dẻo quánh lại như hồ dán, bám chặt lấy ống chân và mút chặt từng đế giày rơm rách nát. Cứ qua vài trượng dốc đứng, lớp bùn non trên bề mặt lại trượt dài dưới sức nặng của đoàn người, kéo theo đất đá lạo xạo lăn xuống vực sâu. Người đi phía sau chỉ biết cắn răng chộp lấy vạt áo tơi tơi tả, thân đòn gánh hay thậm chí là bắp tay của người đi trước để giữ lại chút trọng tâm mong manh, tuyệt vọng bấu víu vào nhau giữa cơn cuồng nộ của đất trời.
Dưới đáy thung lũng sâu hoắm mé tây, dòng nước lũ từ thượng nguồn đổ về vẫn đang gầm rống điên cuồng. Nơi ấy, chỉ mới chiều hôm qua thôi, còn là những xóm làng trù phú yên bình nép mình bên bến sông rợp bóng tre, với những nếp nhà ngói đỏ, những mảnh vườn xanh mướt và những bờ ruộng bậc thang ôm lấy chân đồi. Nhưng rồi con đê cổ nghìn năm bất ngờ vỡ toang giữa nửa đêm sấm sét. Hiện giờ, trải rộng dưới tầm mắt mờ mịt chỉ còn lại một biển nước phù sa hung hãn ngút ngàn, đục ngầu sắc vàng đất và sủi bọt trắng xóa. Dòng lũ cuốn phăng mọi dấu tích của sự sống, mang theo những mảng mái tranh xơ xác trôi bập bềnh, những thân gỗ cổ thụ gãy gập trôi nổi như cọng rác, cùng xác súc vật trương phềnh dạt vào các mỏm đá nhô ra giữa dòng. Mỗi khi một con sóng lũ khổng lồ quất mạnh vào vách đá dựng đứng phía hạ lưu, một âm thanh trầm đục, rền rĩ như tiếng sấm ngầm lại dội ngược lên sườn núi, rung chuyển cả mặt đất dưới chân, nhắc nhở từng người trong đoàn nạn dân về thảm họa kinh hoàng mà họ vừa may mắn thoát chết trong gang tấc.
Bùi Hạ thở dốc, từng ngụm khí lạnh buốt tràn vào buồng phổi khô rát khiến lồng ngực nàng đau buốt như bị dao cứa. Từng luồng hơi trắng phả ra từ đôi môi tái nhợt lập tức bị gió mưa xé tan tác. Nàng đứng khựng lại nửa nhịp thở trên một mỏm đá nhô ra, cắm sâu mười đầu ngón chân trần bết bùn xuống rãnh sỏi để ghìm đòn khiêng. Cổ tay phải của nàng, nơi quấn nhiều lớp băng vải đã sũng nước và bết chặt bùn non, giật thót từng cơn đau nhức nhối thấu tận tâm can. Cơn đau không chỉ nằm ở phần thịt da bầm dập, mà buốt rát từ tận sâu trong các đường kinh mạch cẳng tay—hậu quả tàn khốc của một lần thử tải quá giới hạn quy chuẩn linh thạch tại Thanh Huyền Môn năm xưa. Vết thương cũ ấy đã chặt đứt con đường tu tiên rực rỡ của nàng, biến nàng thành một phế đồ Luyện Khí tầng ba bị trục xuất không thương tiếc. Giờ đây, mỗi khi linh lực rò rỉ hay ngoại lực đè nén, kinh mạch lại co giật từng chập dữ dội. Nàng nghiến chặt quai hàm đến mức nghe rõ tiếng răng nghiến ken két trong miệng, dồn toàn bộ sức nặng cơ thể sang vai trái, ghì chặt khớp xương bả vai vào thanh tre già thô ráp.
"Hai, ba, nâng lên!"
Bùi Hạ quát khẽ qua kẽ răng, phối hợp nhịp nhàng cùng người thanh niên nông dân lực lưỡng ở đầu cáng bên kia. Cả hai cùng vận sức nhấc bổng chiếc chõng tre ọp ẹp qua một tảng đá ngầm phủ đầy rêu trơn nằm chắn ngang giữa lối đi hẹp.
Trên chiếc chõng tre tròng trành, ông lão nằm co quắp, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra những tiếng khua lách cách rời rạc. Hơi thở ông ngắt quãng, khò khè như một ống bễ lò rèn rách nát. Trán ông nóng rực như than hồng dù toàn thân đã tím tái, lạnh ngắt vì ngấm nước mưa suốt ba canh giờ trèo đèo lội suối. Đỗ Nghi đi nép bên cạnh mép vách núi, một tay nắm chặt lấy một rễ cây dại bò lan trên mặt đá để giữ thăng bằng, tay kia run rẩy kéo lại mép chăn chiên ẩm ướt trùm kín đến tận cằm người bệnh. Bùn đất bắn đầy trên gương mặt hốc hác của người đàn bà góa bụa, giọng bà khàn đặc, gắt gỏng vì sốt ruột và nỗi sợ hãi tột cùng:
"Ráng thêm chút nữa thôi các chú ơi! Nâng đầu đòn cao lên một chút, đừng để dốc ngược đầu cụ xuống thấp, đứt hơi mất bây giờ! Bùi cô nương, nhìn lên xem dốc núi còn dài bao nhiêu nữa? Cứ thế này thì người già con trẻ bỏ mạng dọc đường mất thôi!"
Bùi Hạ đưa mu bàn tay áo quệt ngang dòng nước mưa đang chảy ròng ròng vào khóe mắt, giọng nàng đanh ròn, dứt khoát át đi tiếng gầm gào của gió rít qua rặng thông:
"Sắp tới rồi! Ngay khúc quanh có cây thông sét đánh phía trước thôi! Đỗ tỷ giữ chặt lấy mép chăn, đừng buông tay. Mọi người chú ý chân, bám sát bờ vách mé trong, tuyệt đối không ai được nhìn xuống mép vực bên tay phải!"
Tiếng nói của Bùi Hạ như một sợi dây vô hình níu giữ lấy thần trí đang rệu rã của cả đoàn người. Không ai còn đủ sức mở miệng đáp lời, chỉ có những tiếng thở hồng hộc xé toạc màn sương lạnh và tiếng gậy tre nện lụp bụp xuống nền đất sũng nước. Ba mươi mốt sinh mạng bám theo sau nàng, tính cả nàng là ba mươi hai. Trong đoàn người bơ phờ ấy, có những người mẹ trẻ ôm ghì lấy đứa con thơ mới vài tháng tuổi giấu sâu vào trong lớp áo tơi tơi tả, sợ một giọt nước mưa lọt vào sẽ cướp đi hơi ấm mong manh của đứa trẻ; có những người thợ mộc, thợ rèn còng rạp lưng cõng những bọc đồ nghề nặng trĩu bằng sắt thép—gia tài duy nhất còn vớt vát được từ ngôi nhà đã chìm sâu dưới đáy lũ; và có cả những đứa trẻ lên bảy, lên tám, bùn đất bết từ đỉnh đầu xuống gót chân, đôi mắt đen láy mở to dại đi vì đói khát và nỗi kinh hoàng chưa kịp nguôi ngoai.
Sườn nam của núi Đoạn Phong là con đường sống duy nhất còn sót lại sau khi cả một mảng sườn núi phía đông đổ sụp xuống lòng sông vào rạng sáng nay. Con đường mòn hiểm trở này vốn chỉ là lối đi tự phát của đám thợ săn thú rừng và phường đốn củi, đôi khi có vài chuyến lừa thồ nhỏ chở muối len lỏi qua. Nay phải gánh chịu bước chân giẫm đạp hỗn loạn của hàng chục con người đang chạy trốn tử thần, mặt đường đã nát bấy, biến thành một cái máng trượt nhầy nhụa bùn non, chỉ chực chờ nuốt chửng bất cứ bàn chân nào sơ sẩy.
Cách Bùi Hạ chừng ba bước chân về phía sau, Lâm Tự bước đi vững chãi như một tảng đá ngầm giữa dòng nước xiết. Một tay anh xách gọn gàng bọc đồ nghề mộc nặng trịch bọc kín ba lớp da dầu gai cẩn thận, tay còn lại nắm chặt lấy cổ tay con gái Lâm An. Con bé mười một tuổi gầy gò, môi mím chặt đến mức biến thành một vệt trắng bợt, mái tóc ướt sũng bết chặt vào vòm trán xanh xao nhưng tuyệt nhiên không hề cất một tiếng rên la hay than vãn. Đôi mắt trong veo của con bé chăm chú dán chặt vào từng bước chân của cha, bước đúng vào từng vệt lõm khô ráo hiếm hoi trên nền đá mà Lâm Tự vừa dẫm qua.
Bất chợt, một phiến đá cuội trơn tuột dưới làn nước xối khiến chân Lâm An trượt mạnh, cả thân hình nhỏ bé chới với nghiêng hẳn về mép vực lở loét. Chưa kịp để tiếng thét của con bé bật ra khỏi cổ họng, bàn tay thô ráp đầy những vết sẹo đục đẽo và vết chai sần của Lâm Tự đã siết chặt lại. Bắp tay anh cuộn lên những đường gân xanh rắn rỏi, nhấc bổng đứa trẻ bổng lên khỏi mặt đất một cách chuẩn xác lạ thường, rồi hạ con bé xuống một mỏm đá mồ côi bằng phẳng phía trước. Động tác của người thợ mộc dứt khoát, điềm tĩnh và ăn khớp từng li như một chiếc mộng gỗ vừa khít vào lỗ đục ngàn cân, không một chút thừa thãi, không một thoáng run rẩy.
Đoàn người cắn răng bước tiếp. Vượt qua khúc quanh gắt gao nhất ôm lấy sống lưng sườn núi nam, gió núi bỗng ngưng bặt trong chốc lát rồi đột ngột đổi hướng, quất ngược từ lòng vực sâu thẳm hắt lên. Cơn gió mang theo hơi ẩm mốc meo nồng nặc của rêu phong ngàn năm, mùi cỏ dại úng rữa và mùi tanh nồng của đất đá bị xói mòn. Nhưng cùng với luồng gió buốt giá ấy, màn mưa mù mịt trước mắt bỗng chốc hé mở một khoảng trống mờ ảo.
Một bóng hình sừng sững, xám xịt và cô tịch dần dần lộ diện giữa làn mưa trắng xóa.
Đó chính là Đạo quán Vọng Đăng.
Ngôi đạo quán cổ xưa nằm chênh vênh trên một khoảng đất thoai thoải được người xưa kỳ công bạt núi khoét sâu vào sườn đá kiên cố. Bốn bề đạo quán được bao bọc bởi những hàng thông cổ thụ cằn cỗi, thân cây u bướu xù xì, nhiều cành lớn đã bị gió bão đánh gãy toác, rủ xuống xơ xác như những cánh tay tàn phế. Bức tường bao xây bằng đá xanh đồ sộ chạy quanh đạo quán đã rạn nứt chi chít, nhiều đoạn sụt lở tạo thành những lỗ hổng toang hoác, rêu phong đen thẫm phủ kín những vết nứt to bằng bắp tay người lớn.
Trước mắt họ, cánh cổng tam quan bằng gỗ lim dày dặn từng được sơn son thếp vàng nay đã tróc lở từng mảng lớn, để lộ thớ gỗ xám xịt mốc meo. Bản lề bằng sắt rèn phía trên của cánh cửa bên tả đã bị rỉ sét ăn mòn đứt gãy từ lâu, khiến cả cánh cửa nặng nề trĩu xuống, xô lệch hẳn sang một bên. Mép gỗ dưới cắm sâu vào thềm đá hoa cương, cày xới qua năm tháng tạo thành một đường rãnh hình cánh cung sâu hoắm ngập đầy lá mục và sỏi vụn.
"Đến nơi rồi! Phía trước có chỗ trú rồi!" Bùi Hạ quay lại hét lớn, buông vội một tay đòn cáng tre để Đỗ Nghi cùng người thanh niên bên cạnh kịp ghì lấy, rồi nàng lao thẳng về phía trước bậc thềm đá. "Mọi người dồn sức đẩy cổng vào trong! Nhanh lên!"
Lâm Tự không cần nàng nhắc đến tiếng thứ hai. Anh lập tức sải những bước chân dài vượt lên trước đám đông, buông bọc đồ nghề xuống bậc thềm khô ráo dưới mái cổng, rồi đem toàn bộ bờ vai vạm vỡ ép chặt vào mép cánh cửa lim mục nát còn lại. Bùi Hạ áp sát bên cạnh anh, hai bàn tay nàng bấu chặt vào những đường gân gỗ sần sùi, vận chuyển chút kình lực ít ỏi còn sót lại.
"Một... hai... đẩy!"
Hai người cùng gầm lên một tiếng, phát lực dứt khoát. Then cài bằng gỗ sồi rỉ mục bên trong phát ra một tiếng "răng rắc" khô khốc rồi gãy đôi. Cánh cổng gỗ ngàn cân rên rỉ ken két chói tai, quét lê một lớp bùn đất nhão nhoét và rác rưởi dày cộp trên thềm đá trước khi từ từ mở toang vào bên trong, để lộ ra một khoảng sân gạch rộng lớn nhưng hoang tàn ngập tràn cỏ dại.
Đoàn ba mươi mốt nạn dân như đàn chim vỡ tổ trong cơn giông bão, không ai bảo ai, lập tức ùa chen chúc qua ngưỡng cửa gỗ cao ngập ống chân. Cơn mưa dầm trên bầu trời dường như lại trút nước dữ dội hơn, từng đợt gió rít gầm gào như muốn bứng gốc cả những rặng cây còn sót lại ngoài vách núi. Vừa bước qua cánh cổng, những đôi chân rệu rã lập tức ngã khuỵu. Nhiều người đàn ông gục ngã sụp xuống nền đá hoa cương cũ kỹ dưới mái hiên dài, buông rơi đòn gánh trên vai, thở không ra hơi. Tiếng trẻ nhỏ bắt đầu ọ ẹ rồi khóc thét lên vì cái rét cắt da cắt thịt, tiếng người già rên rỉ ôm lấy khớp gối sưng phù, tiếng thở dốc hỗn loạn của hàng chục con người cùng hòa lẫn vào tiếng nước mưa rơi rầm rập như giã gạo trên mái ngói cổ.
Bùi Hạ đứng tựa lưng vào cánh cổng gỗ lim vừa mở, ngực nàng phập phồng dữ dội theo từng nhịp thở dốc. Nàng quệt mạnh lớp nước mưa pha lẫn bùn đất đỏ quạch trên trán, đưa đôi mắt sắc bén quét nhanh một vòng bao quát toàn bộ không gian bên trong đạo quán.
Mùi ẩm mốc xộc thẳng vào cánh mũi—một thứ mùi đặc quánh và ngột ngạt pha trộn giữa gỗ mục phân hủy lâu ngày, mùi phân dơi nồng nặc tích tụ trên xà nhà qua hàng chục năm, cùng mùi vữa vôi rữa nát vì hơi ẩm ngấm ngầm qua bao mùa bão gió không người coi sóc.
Chính điện của Đạo quán Vọng Đăng rộng thưng năm gian bề thế, xây theo lối kiến trúc tiền tế hậu cung uy nghiêm của tiền triều. Hàng cột cái bằng gỗ lim to một người ôm vẫn sừng sững cắm sâu xuống chân tảng bằng đá xanh, nhưng lớp sơn then bóng bẩy ngày nào đã bong tróc hoàn toàn, để lại những thớ gỗ nứt nẻ xám ngoét lộ rõ dấu vết của thời gian và mối mọt.
Tệ hại hơn cả là hệ thống mái ngói. Hàng trăm, hàng ngàn viên ngói âm dương rêu phong trên nóc điện đã bị gió bão các năm trước hất tung hoặc sụp đổ, để lại những mảng thủng nham nhở như những miệng vết thương lở loét to tướng ngoác ra giữa trời. Nước mưa từ trên trời cao cứ thế xối thẳng xuống thành từng dòng thác trắng xóa, đập chan chát vào nền đá hoa cương rêu phong bên dưới, bắn tung tóe thành làn sương nước mờ mịt lãng đãng khắp gian điện thờ hoang phế. Bức tượng thần bằng đá trắng tọa lạc trên bệ thờ uy nghi chính giữa điện đã bị gãy mất một cánh tay áo, khuôn mặt phủ đầy bụi bặm và mạng nhện xám xịt, chỉ có đôi mắt bằng ngọc thạch vẫn lặng câm, lạnh lùng nhìn xuống đám người đang run lẩy bẩy như rơm rác dưới chân mình.
"Đỗ tỷ! Đưa người sốt vào gian chái mé tây!" Bùi Hạ lập tức cất cao giọng chỉ huy, âm sắc đanh lại, dứt khoát chặt đứt sự hoang mang đang nhen nhóm lan tràn trong đám đông vừa bước vào. "Gian chái mé tây xây sát vách núi, mái còn kín ngói, nền đá hoa cương cao hơn mặt sân ba tấc nước không ngập tới, mau chuyển cáng vào ngay!"
Nghe tiếng thét dứt khoát của Bùi Hạ, Đỗ Nghi như bừng tỉnh khỏi cơn mê muội. Bà cùng hai người đàn ông trung niên lập tức xốc lại đòn khiêng, khéo léo lách chiếc chõng tre qua những vũng nước mưa lênh láng trên nền điện, khiêng người già vào gian phòng chái mé tây. Mấy người đàn bà đang ôm con nhỏ tím tái vì rét mướt cũng vội vã bồng bế nhau chạy theo sau, cuống cuồng tìm kiếm bất kỳ khoảng nền đá nào khô ráo để đặt con xuống, giũ tấm áo khô quấn chặt lấy thân thể lũ trẻ.
Trong khi đám đông còn đang nháo nhác tìm chỗ ngồi quanh các chân cột, Lâm Tự đã nhanh chóng bước tới góc hiên khuất gió mé tây nam. Nơi này có hai bức tường đá xanh đồ sộ giao nhau tạo thành một góc lòng chảo, ngăn được phần lớn những luồng gió rít buốt nhói từ đáy vực thốc ngược lên.
"An, ngồi yên ở góc này, ôm chặt lấy bọc quần áo khô, tuyệt đối không được bước chân ra ngoài hiên," Lâm Tự ngồi xổm xuống, đặt mạnh bàn tay ấm áp thô ráp lên đầu vai con gái. Ánh mắt anh nhìn con đầy kiên định, giọng trầm và khàn đặc nhưng mang theo một sức nặng trấn an kỳ lạ giữa cảnh hỗn loạn đổ nát.
Lâm An ngước đôi mắt to tròn nhìn cha, gật đầu thật mạnh. Con bé nép sát lưng vào góc tường đá rêu phong, hai tay vòng qua ôm chặt lấy bọc vải bọc da dầu vào trước ngực, im lặng dõi theo từng cử động của cha mình không rời mắt.
Lâm Tự lập tức đứng dậy, không nghỉ lấy nửa nhịp thở. Anh rút con dao rựa sắc bén vắt ngang lưng quần, bước giật lùi từng bước ra giữa lòng chính điện, ngửa mặt nhìn chăm chú lên toàn bộ hệ kết cấu vì kèo đang rung lên bần bật dưới từng đợt gió rít giật mạnh qua các lỗ thủng trên mái ngói.
Ánh mắt sắc như dao của một người thợ mộc dạn dày kinh nghiệm cả đời gắn bó với gỗ lạt lập tức nhận ra hiểm họa chết người đang treo lơ lửng trên đầu ba mươi hai con người: hai cột cái ở gian giữa—trụ cột chịu lực then chốt nâng đỡ toàn bộ hệ thống xà nóc và vì nóc của ngôi điện—đang có dấu hiệu nghiêng lún vô cùng nguy hiểm. Chân tảng đá xanh nâng đỡ cột cái mé đông đã bị nước ngầm xói mòn chân móng, lún nghiêng hẳn sang một bên chừng nửa tấc. Độ nghiêng tuy nhỏ nhưng với sức nặng hàng vạn cân của mái ngói sũng nước phía trên, thân cột gỗ lim khổng lồ đã bắt đầu oằn mình, kéo theo cả hệ thống quá giang và xà ngang phát ra những tiếng "răng rắc" khô khốc, rợn người theo từng cơn gió giật lốc xoáy thốc vào lòng điện.
"Bùi cô nương! Cột cái gian giữa sụt móng rồi, vì kèo đang oằn lưng!" Lâm Tự quay ngoắt lại gầm lên, tiếng hét của anh vang dội khắp gian điện ẩm thấp như tiếng sấm nổ ngang tai. "Nếu gió giật thêm một cơn bão lớn nữa, toàn bộ mái ngói gian giữa sẽ sập ụp xuống, nghiền nát toàn bộ nền đá này thành cám vụn!"
Bùi Hạ khựng bước, ngước mắt nhìn thẳng lên hệ thống xà gồ theo hướng tay Lâm Tự chỉ. Dưới ánh sáng mờ đục hắt qua lỗ thủng trên mái, nàng nhìn thấy rất rõ một đường nứt to bằng ngón tay trỏ đang nứt toác chạy dọc từ đầu quá giang xuống tận bắp cột lim già. Nàng hiểu ngay tình thế ngàn cân treo sợi tóc: dù trận pháp hộ sơn có phục hồi được để ngăn cản sấm sét bão bùng bên ngoài, nhưng nếu kết cấu khung gỗ của ngôi điện tự sụp đổ từ bên trong, thì ba mươi hai con người này vẫn sẽ bị chôn sống dưới đống xà ngói đổ nát.
"Cần những gì?" Bùi Hạ bước thoăn thoắt tới cạnh anh, hỏi dứt khoát không một lời thừa thãi.
"Cần gỗ xà gồ còn lành lặn và dây thừng bện gai bản lớn," Lâm Tự đáp nhanh, đôi tay thoăn thoắt tháo cuộn dây thừng bện bằng vỏ cây gai dẻo dai quấn quanh thắt lưng mình xuống. "Dãy phòng tăng mé đông vừa sụp xuống sáng nay, dưới đống ngói vỡ chắc chắn còn mấy khúc xà gồ bằng gỗ táu chưa bị gãy. Phải dùng đòn bẩy vần mấy khúc táu đó vào đây, chằng chống hai cột cái này xiên góc vào hai chân cột đá phía đối diện để tạo thế kiềng ba chân giằng lại!"
"Ta đi bới gỗ với anh!" Bùi Hạ toan quay người chạy ra ngoài sân thì Lâm Tự đã vươn cánh tay rắn chắc chắn ngang trước mặt nàng:
"Cô lo trận pháp đi! Nhìn mắt trận trên kia kìa, linh quang chập chờn như ngọn đèn cạn dầu trước gió rồi! Chuyện xà gồ, cột kèo và đòn bẩy là việc của cánh thợ mộc chúng tôi, không cần cô nhúng tay!"
Nói đoạn, Lâm Tự ngoảnh mặt về phía nhóm người đang co cụm dưới mái hiên tây, cất giọng sang sảng gọi lớn:
"Triệu Tam! Lưu Nhị! Cầm rựa theo tôi ra đống sập mé đông bới gỗ! Đàn ông còn sức thì nhấc chân lên, nhanh tay trước khi trời tối hẳn!"
Hai người đàn ông vạm vỡ làng bên nghe tiếng gọi, lập tức quệt nước mưa trên mặt, rút dao rựa giắt bên hông đứng bật dậy. Ba bóng người đàn ông lực lưỡng không một chút ngần ngại, lại lao ngược mình ra màn mưa dầm tầm tã ngoài sân gạch, hối hả hướng về phía đống phế tích hoang tàn của dãy phòng tăng phía đông.
Bùi Hạ đứng nhìn theo bóng lưng ướt sũng của Lâm Tự trong chớp mắt. Ánh mắt nàng lóe lên một tia thán phục, rồi lập tức quay ngoắt người, sải bước băng qua lòng chính điện ngập nước, tiến thẳng về phía góc đông bắc tăm tối của ngôi đền.
Nơi đó có một chiếc cầu thang gỗ sồi ọp ẹp, uốn lượn men theo vách đá dựng đứng dẫn lên gác chuông rách nát ngự trị trên tầng cao nhất của đạo quán.
Cầu thang gỗ sồi lâu năm không người chăm sóc đã mục ải trầm trọng, nhiều bậc thang phủ đầy rêu nhớt. Mỗi bước chân trần của nàng đặt lên, thớ gỗ lại kêu răng rắc rên rỉ ken két, bụi mục và dăm gỗ lả tả rơi xuống đầu những người tị nạn đang ngồi túm tụm dưới chân cầu thang. Bùi Hạ không dám lơ là, nàng cắn chặt môi, vận chuyển một luồng linh lực mỏng manh từ sâu trong đan điền chảy xuống lòng bàn chân, thi triển thuật khinh thân vụng về và thô thiển của một tu sĩ Luyện Khí tầng ba để phân tán trọng lượng cơ thể, lướt nhẹ qua những bậc thang mục nát nhất.
Gác chuông nằm chênh vênh ở tầng cao nhất của hồi điện phía đông, mái ngói bên trên đã bị cuồng phong thổi bay mất hơn một nửa, biến nơi này thành một đài quan sát lộ thiên bốn bề lộng gió buốt thấu xương. Giữa sàn gác, một quả chuông đồng cổ khổng lồ nặng nghìn cân phủ đầy một lớp gỉ sét màu xanh đồng nằm nghiêng ngả một góc, xích sắt treo chuông to bằng bắp tay đã đứt lìa một mắt xích, cọ vào sàn gỗ kêu leng keng theo từng đợt gió rít.
Nhưng ánh mắt của Bùi Hạ không hề dừng lại ở quả chuông đồng. Ánh nhìn của nàng lập tức bị hút chặt vào bệ đá hình bát giác nằm sừng sững ở chính tâm sàn gác.
Đó chính là bàn trận trung tâm—trái tim điều khiển toàn bộ trận pháp hộ sơn của Đạo quán Vọng Đăng.
Bàn trận được tạc từ một khối đá thanh hoa nguyên khối màu lam sẫm, trên bề mặt phẳng lỳ khắc chằng chịt hàng ngàn đường rãnh dẫn linh thanh mảnh uốn lượn như hình vân mây cổ kính. Bảy hốc đá hình tròn được bố trí chuẩn xác theo phương vị của chòm sao Bắc Đẩu thất tinh, chính là bảy mắt trận cốt lõi từng hấp thu địa khí và linh mạch núi Đoạn Phong để giăng ra màn chắn vô hình bảo vệ toàn bộ quần thể đạo quán khỏi cuồng phong và tà khí chướng độc từ ngàn xưa.
Bùi Hạ bước chậm lại, bước chân nàng nặng trĩu. Trái tim nàng thắt lại từng cơn khi chứng kiến thực trạng bi đát của bàn trận.
Bảy mắt trận Bắc Đẩu, giờ đây chỉ còn vỏn vẹn bốn mắt le lói linh quang mờ nhạt. Những luồng sáng màu lam nhạt yếu ớt như ánh đom đóm lập lòe trong đêm đông giá rét, chập chờn run rẩy theo từng cơn gió lốc quét qua mặt sàn gỗ ẩm ướt. Tại vị trí Thiên Xu và Thiên Tuyền—hai mắt trận khởi đầu của trận đồ—hai khối linh thạch trận cơ phẩm cấp thấp to bằng nắm tay người lớn đã vỡ vụn từ bao giờ thành những mảnh đá vụn màu xám ngoét. Toàn bộ linh khí chứa đựng bên trong đã tiêu tán sạch sành sanh từ nhiều năm trước, chỉ còn trơ lại một lớp bột đá bết dính nước mưa nhơ nhớp lấp đầy hốc đá.
Tệ hại và nguy hiểm hơn cả là mắt trận Dao Quang nằm ở vị trí đuôi trận trấn giữ phương đông. Khối trận thạch hình trụ bằng đồng thau khắc kín phù văn cổ đã bị ngoại lực lay chuyển, trượt hẳn ra khỏi hốc đá bát giác, lăn lóc chỏng chơ bên mép sàn gỗ mục nát sắp rơi xuống vực. Toàn bộ hệ thống rãnh dẫn linh bằng bạc nạm chìm nối liền với mắt trận Dao Quang đã bị nứt toác, đứt đoạn nham nhở, cắt đứt hoàn toàn dòng chảy linh lực tuần hoàn của toàn trận.
Bùi Hạ bước vội tới mép lan can gác chuông, cúi đầu nhìn xuống sườn núi phía đông. Cảnh tượng kinh hoàng hiện ra dưới chân khiến hơi thở nàng lập tức nghẽn ứ nơi lồng ngực.
Cả một mảng sườn núi khổng lồ phía đông đã bị dòng lũ quét sáng nay khoét rỗng chân móng và đổ sụp hoàn toàn xuống đáy vực, tạo thành một vết nứt hình hàm ếch sâu hoắm, ngoác miệng đen ngòm ăn sâu vào tận chân móng đá của đạo quán. Từ sâu trong hàm ếch tối tăm ấy, từng dòng nước ngầm đục ngầu cuộn xoáy đang xối xả phun ra thành vòi, mang theo hàng tấn bùn đất đỏ quạch và đá dăm trôi tuột xuống đáy vực sâu thăm thẳm. Nền đá xanh của chính điện đạo quán thực chất đang treo lơ lửng trên mép bờ vực tử thần ấy. Chính sự sụt lở địa chất dữ dội này đã làm biến dạng mạch dẫn linh ngầm dưới lòng đất, giật đứt liên kết của mắt trận Dao Quang và hất văng trụ đồng phù văn khỏi vị trí trấn yểm.
"Khốn kiếp..." Bùi Hạ nghiến răng rủa thầm một tiếng, bàn tay trái vô thức đưa lên siết chặt lấy cổ tay phải đang run rẩy kịch liệt.
Nàng quỳ sụp một bên gối xuống nền sàn đá lạnh ngắt như băng tuyết, vội vã tháo từng vòng băng vải đã sũng nước và bết bùn non ra khỏi cổ tay. Lớp vải thô tuột ra, để lộ một vết sẹo lồi màu tím tái, méo mó chạy dài từ lòng bàn tay dọc theo cẳng tay lên tận cùi chỏ. Vết sẹo co giật từng chập dưới lớp da mỏng manh, từng đường gân máu tím bầm nổi cộm lên như những con giun đất đang quằn quại.
Nàng hít một hơi thật sâu, cố đè nén cơn run rẩy của cơ thể, tập trung toàn bộ tinh thần khơi gợi một tia linh lực yếu ớt còn sót lại trong đan điền cạn kiệt. Nàng dẫn luồng linh lực mỏng mảnh ấy men theo đường kinh mạch đã bị tàn phá nặng nề, dồn từng chút một về phía đầu ngón tay trỏ. Cơn đau nhói buốt như có hàng chục mũi kim thép nung đỏ đồng loạt châm thẳng vào tận tủy xương khiến nàng
rùng mình run rẩy, trán toát ra một lớp mồ hôi lạnh hòa cùng nước mưa.
Nàng áp ngón tay vào rãnh dẫn linh của mắt trận Thiên Cơ còn sót lại.
"Vù..."
Một làn sóng xung động yếu ớt dội ngược lại từ bàn trận. Bùi Hạ khẽ cắn môi tính toán trong đầu. Mặt đá sa thạch xám dưới đầu ngón tay nàng lạnh buốt, nhưng sâu bên trong những đường khắc phù văn chằng chịt, luồng địa khí đang chảy giật từng hồi bất định, hệt như mạch đập của một kẻ trọng thương sắp tắt thở. Màng chắn linh lực bao quanh đạo quán hiện giờ mỏng như cánh ve, phạm vi bảo hộ đã co rút lại chỉ còn bao bọc được chính điện và nửa khoảng sân gạch. Từng hạt mưa nặng trĩu rơi xiên từ vòm trời đen đặc đập vào lớp quang màng mờ nhạt, làm bùng lên những đốm sáng xanh lẹt xẹt rồi tắt ngấm, để lại từng mảng ẩm ướt tràn qua kẽ hở rớt xuống nền đất.
Nếu cố tình kích hoạt toàn bộ bảy mắt trận để dựng lại màng chắn toàn diện như xưa, không những linh tuyền phía sau núi sẽ bị hút cạn kiệt chỉ trong ba ngày, mà áp lực phản chấn địa chất từ mé sạt lở phía đông sẽ lập tức đánh sập toàn bộ dãy phòng tăng và kéo theo cả chính điện lao xuống vực. Mạch linh của ngọn núi này vốn nương tựa vào thế đá ngầm tầng tầng lớp lớp. Khi một nửa mảng sườn đông trượt dốc, cấu trúc chịu tải của toàn bộ đại trận đã gãy vụn. Cố chấp vá víu một cái vỏ rỗng khổng lồ chỉ đẩy nhanh thời khắc hủy diệt.
Nàng không thể tham vọng. Với sức của một thợ sửa trận Luyện Khí tầng ba bị trục xuất, với những mảnh vụn vật tư rách nát này, lựa chọn duy nhất là thu hẹp phòng tuyến. Phải bỏ hẳn mắt trận số năm và số bảy, dồn toàn bộ nguồn dẫn vào bốn mắt còn nguyên vẹn để bảo vệ lõi trung tâm. Ngón trỏ nàng run rẩy ấn sâu thêm một phân, dùng móng tay cạo sạch lớp bùn non bết chặt trong kẽ đá Thiên Cơ, ép dòng chảy linh lực chuyển hướng sang ngả rẽ dẫn về phía cột cái của gian giữa. Mùi khét nhẹ của đá bị nung bởi linh khí tàn tỏa ra trong chốc lát, lấn át vị ngai ngái của rêu phong ướt nước.
Một tiếng rầm dữ dội từ bên dưới cắt đứt dòng suy nghĩ của nàng.
Tiếng va chạm của gỗ nặng nện xuống thềm đá dội vang qua các kẽ nứt của gác chuông, kéo theo tiếng kim loại va đập leng keng và tiếng la hét thất thanh của đám đông tị nạn đang chen chúc dưới mái hiên.
Bùi Hạ vội đứng dậy, bước ra mép lan can nhìn xuống sân.
Lâm Tự cùng hai người thợ đang kéo lê hai khúc xà gồ gỗ táu dài hơn hai trượng qua sân gạch, nước mưa bắn tung tóe dưới chân họ. Cả hai thân cây gỗ táu đều đẫy đà, sẫm màu nước mưa, thớ gỗ chắc nịch tước ra từng sợi dăm nhọn hoắt ở hai đầu vết chặt vội vã. Gương mặt người thợ mộc ướt đẫm, bết bùn đất, từng giọt nước mưa đọng lại nơi chòm râu quai nón ngắn củn, nhưng ánh mắt anh sáng quắc, bình thản và đầy uy lực khi chỉ đạo hai người phụ việc vần khúc gỗ lớn vào gian chính điện. Dưới chân anh, đôi giày cỏ bện chặt đã rách toạc để lộ những ngón chân bấm chặt xuống mặt đá trơn trượt để lấy điểm tựa.
"Kê đòn bẩy vào chân cột! Đóng nêm gỗ sồi trước, đừng siết dây vội!" Tiếng Lâm Tự vang lên giòn giã át cả tiếng mưa gió.
Giọng nói ấy tựa như một chiếc neo sắt thả xuống giữa dòng nước xoáy, lập tức ghìm chặt nỗi kinh hoàng đang chực bùng phát của những người xung quanh. Dưới sự chỉ huy của anh, Lâm An chạy thoăn thoắt mang những chiếc nêm gỗ nhỏ bằng bàn tay đặt sẵn vào từng góc cột, động tác nhanh nhẹn và chính xác lạ thường. Đứa bé mới mười tuổi, quần áo ướt sũng dính chặt vào thân hình gầy nhom, đôi chân trần thoăn thoắt đạp trên làn nước ngập xâm xấp mặt sân, hai tay ôm một bọc nêm gỗ sồi khô ráo được bọc cẩn thận trong một mảnh vải gai tẩm dầu. Cứ mỗi lần Lâm Tự chỉ tay vào một góc móng, Lâm An lại thả xuống đúng hai chiếc nêm vát cạnh, không thừa không thiếu một li.
Những người đàn ông khác trong nhóm nạn dân, thấy thợ mộc bắt tay vào việc, cũng dần gạt bỏ vẻ hoảng loạn, tự giác xắn tay áo bước tới phụ khiêng gỗ, giữ dây thừng. Nỗi sợ hãi cái chết vốn làm tê liệt gân cốt họ ban nãy bỗng chốc biến thành thứ sức lực thô ráp nhưng bức thiết. Từng khúc xà gồ táu nặng hàng trăm cân được dựng chéo góc bốn mươi lăm độ, một đầu ghim chặt vào khớp ngàm khoét sẵn trên thân cột cái, đầu kia tì vào gờ đá nổi của chân cột hiên đối diện.
"Hò... dô! Kê bẩy lên! Chèn nêm vào khe hở!"
Lâm Tự quát lớn, hai bắp tay gân guốc cuộn tròn lại dưới làn mưa lạnh, toàn bộ trọng lượng cơ thể anh dồn lên chiếc đòn bẩy bằng gỗ nghiến. Bốn người đàn ông khỏe mạnh ghì chặt lấy thân cây táu, gân cổ nổi phồng lên đỏ gay. Tiếng búa gỗ nện chan chát vào những chiếc nêm chêm. Tiếng dây thừng bện gai căng cọ ken két vào thân gỗ lim. Mùi dăm gỗ tươi sực nức hòa quyện với mùi bùn non và mồ hôi chua chát.
Từng nhát búa giáng xuống dứt khoát như tiếng đếm nhịp của sự sống. Chỉ trong vòng chưa đầy hai khắc, hai chiếc cột cái nghiêng lún đã bị khóa chặt trong một hệ khung giằng tam giác kiên cố. Mái nóc gian giữa ngừng rung lắc, tiếng rên rỉ của vì kèo dịu đi trông thấy, chỉ còn lại tiếng nước mưa rào rào gõ trên những mảng ngói còn sót lại. Cả tòa kiến trúc dường như vừa thở phào một nhịp dài sau cơn oằn mình chống chọi với đất lún.
Bùi Hạ thở phào một hơi nhẹ nhõm. Nàng tựa tay vào thành lan can gỗ mục của gác chuông, nhìn xuống đôi bàn tay thô ráp đầy mùn cưa của Lâm Tự, trong lòng dấy lên một sự nể phục chân thành. Trận pháp có thể huyền diệu, nhưng giữa chốn điêu tàn này, một mối ghép mộc chuẩn xác và một khúc gỗ tốt đôi khi lại cứu mạng người nhanh hơn bất kỳ câu thần chú nào. Những đường vân gỗ đan xen kia không cần linh thạch nuôi dưỡng, chúng chỉ cần sự tính toán chuẩn xác về phương vị lực và mồ hôi của những con người không chịu gục ngã trước tai ương.
Nàng quay người bước xuống cầu thang gác chuông, từng bậc gỗ ọp ẹp rên rỉ dưới sức nặng của bước chân nàng. Hướng đi của nàng nhắm về phía gian kho nhỏ nằm khuất ở mé tây sân đạo quán.
Nơi đó, một cuộc chiến khác đang diễn ra trong im lặng nhưng không kém phần căng thẳng.
Gian kho phía tây vốn là nơi cất giữ nông cụ và hương nến cũ của đạo quán, diện tích chỉ rộng chừng hai trượng vuông, nhưng may mắn thay, mái ngói vảy cá của nó vẫn còn nguyên vẹn, tường đá dày nửa thước ngăn cách hoàn toàn với gió lạnh bên ngoài. Khoảng sân trước cửa kho bị nước mưa dồn lại thành một vũng lầy lội, rác rưởi và cành thông gãy trôi dạt dồn đống quanh bậu cửa.
Lúc Bùi Hạ bước tới cửa kho, nàng thấy Phạm Sương đang đứng chắn ngay giữa ngưỡng cửa, lưng thẳng tắp như một ngọn giáo, hai cánh tay khoanh trước ngực. Nàng mặc bộ áo vải chàm sẫm màu, vạt áo đã thấm ướt một nửa nhưng mái tóc búi cao phía sau gáy vẫn gọn gàng không một sợi xộc xệch. Bên trong gian phòng mờ ảo chỉ thắp một ngọn đèn dầu le lói, những bao tải gai sũng nước đang được xếp chồng ngay ngắn lên các thanh gỗ kê cao cách mặt đất nửa gang tay, cách ly hoàn toàn với dòng nước mưa rỉ qua kẽ nứt của nền đá.
Trước mặt Phạm Sương là năm sáu người đàn ông trong nhóm nạn dân. Quần áo họ rách bươm, mặt mày hốc hác, ánh mắt dán chặt vào những bao tải hạt ngũ cốc với vẻ thèm khát điên cuồng của những kẻ vừa thoát khỏi miệng tử thần nhưng dạ dày đang cồn cào gào thét. Bàn tay họ siết chặt lấy những khúc củi mục hoặc run rẩy bấu vào gấu áo, hơi thở phả ra thành từng luồng sương trắng nhạt nhòa trong gió lạnh.
"Phạm chưởng quỹ, phát cho mỗi nhà một bát gạo nấu cháo đi chứ!" Một người đàn ông trung niên lên tiếng, giọng run rẩy nhưng chứa đầy vẻ bức xúc. Đôi mắt ông ta vằn đỏ những tia máu, hai má hóp sâu lộ rõ gò má nhô cao. "Trẻ con tím tái hết cả rồi, người già thì sốt run cầm cập. Bao tải kia là của làng gánh lên, sao bà lại khóa chặt cửa kho không cho ai động vào?"
"Phải đấy! Mưa gió thế này, ai biết sống chết ra sao ngày mai, ăn no bữa nay đã!" Những người phía sau bắt đầu phụ họa, bước chân dịch dần về phía ngưỡng cửa. Tiếng giày giẫm trên bùn nhóp nhép, không khí đặc quánh lại bởi sự uất ức và tuyệt vọng của những kẻ không còn gì để mất.
"Đứng lại đó."
Giọng Phạm Sương cất lên, không to nhưng sắc lạnh như nhát dao cứa vào không khí ẩm mốc. Nàng không lùi lấy nửa bước, đôi mắt phượng hẹp dài quét qua từng khuôn mặt đang chực bừng bừng kích động. Cặp mày lá liễu khẽ nhíu lại, tạo nên một uy quyền kỳ lạ của một người từng quen cầm cân nảy mực, đối phó với đủ hạng lưu manh phố chợ suốt nửa đời người.
"Các người muốn ăn no bữa nay rồi ngày kia nhai rễ cây mà chết cả lũ à?" Nàng chỉ ngón tay khẳng khiu về phía đống bao tải phía sau. "Tất cả nghe cho rõ đây. Số lương thực chúng ta vét được từ chân núi mang lên chỉ có đúng mười bốn bao tải gai. Trong đó có sáu bao thóc, năm bao ngô hạt, hai bao kê và duy nhất một bao muối hạt. Hết rồi!"
Đám đông im bặt trong chốc lát, nhưng hơi thở nặng nề vẫn phả ra dồn dập. Vài người liếc nhìn nhau, trong mắt ánh lên sự nghi ngại xen lẫn hổ thẹn, nhưng cái đói cồn cào nơi ruột gan vẫn khiến họ ngập ngừng không muốn rút lui.
"Mười bốn bao tải," Phạm Sương tiếp tục, giọng rành rọt từng chữ như tiếng đếm tiền đồng trên mặt bàn tính quán cơm ngày trước. "Tính cả Bùi cô nương và ba mươi mốt người chúng ta, tổng cộng là ba mươi hai miệng ăn. Đỗ đại phu và mấy đứa nhỏ không thể nhịn, người già sốt mê man cần cháo loãng. Nếu chia đều theo kiểu các người đòi, ăn thả cửa cho ấm bụng thì ba ngày là nhẵn đáy bao! Rồi sau ba ngày đó, nước lũ dưới chân núi đã rút chưa? Đường xuống huyện An Lưu đã thông chưa? Hay các người định cắt thịt nhau ra mà ăn?"
Từng lời của nàng buông ra đều nặng trịch như đá tảng đè xuống ngực đám đông. Không ai cất nổi lời nào để phản bác, bởi những con số ấy rành rành ra đó, lạnh lùng và tàn nhẫn như chính mùa lũ quét này.
"Nhưng... nhưng cũng phải phát một ít chứ..." Người đàn ông ban nãy lúng búng, nhuệ khí giảm đi phân nửa trước những con số rõ ràng đến tàn nhẫn của Phạm Sương. Ông ta cúi gằm mặt xuống, hai vai sụp xuống trong nỗi bất lực khôn cùng. "Con bé nhà tôi khóc lả đi rồi, nó mới bốn tuổi..."
"Sẽ có cháo tối nay," Bùi Hạ bước tới, cất giọng phá vỡ thế đối đầu. Nàng đặt bàn tay ướt lạnh lên vai người đàn ông đứng đầu, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào đám đông. "Đỗ tỷ đang đun nước nóng trong chái tây. Phạm thẩm sẽ trích ra nửa hộc kê nấu một nồi cháo hoa lớn cho tất cả mọi người lót dạ và giữ ấm. Nhưng kho này, tuyệt đối không ai được tự ý bước vào."
Thấy Bùi Hạ xuất hiện, đám đông bất giác lùi lại nửa bước. Dù nàng chỉ là một nữ tử trẻ tuổi, nhưng chính nàng đã dùng một đạo bùa phá đá mở đường thoát khỏi dòng lũ cuồn cuộn dưới chân núi, chính nàng đã dẫn họ vượt qua sườn dốc trơn trượt để lên được nơi trú ngụ này. Dù kinh mạch nàng đã phế một nửa, linh lực cạn kiệt, nhưng cái danh phận tu sĩ tiên môn—dẫu chỉ là thợ sửa trận tầng đáy—vẫn mang một sức nặng vô hình đối với những thường dân lam lũ. Uy tín của người thợ trận Luyện Khí tầng ba là thứ duy nhất ngăn sự hỗn loạn bùng phát thành bạo lực trong giờ phút sinh tử.
Phạm Sương khẽ thở hắt ra một hơi, quay sang nhìn Bùi Hạ gật đầu cảm tạ, rồi nàng rút từ trong dải áo ra một chùm chìa khóa bằng sắt đen đã hoen rỉ.
"Từ giờ phút này, gian kho này khóa lại," Phạm Sương tuyên bố công khai trước mặt tất cả mọi người. Nàng giơ chùm chìa khóa lên cao, tiếng kim loại va vào nhau lanh lảnh giữa màn mưa. "Ta giữ một chìa. Bùi cô nương giữ một chìa. Chìa thứ ba giao cho Lâm Tự. Bất kỳ lúc nào mở kho xuất lương, phải có mặt đủ ít nhất hai trong ba người chúng ta, và việc cân đong phải ghi chép công khai lên vách tường kho để cả ba mươi hai người cùng kiểm tra."
Nàng quay sang chỉ định ba người đàn ông có thể lực tốt nhất và tính tình điềm đạm trong nhóm: "Trần Đại, Lục Khang, Ngô Bính! Ba người các anh chia làm ba ca, thay phiên nhau cầm gậy đứng gác ngay trước cửa kho này suốt đêm nay. Ai dám tự ý phá cửa bén mảng vào gần, cứ việc phang gãy chân rồi lôi ra sân cho mưa quất! Có nghe rõ chưa?"
"Rõ rồi, Phạm chưởng quỹ!" Ba người đàn ông đồng thanh đáp, vẻ mặt nghiêm nghị hẳn lên khi được giao trọng trách. Họ hiểu rằng, bảo vệ gian kho này chính là bảo vệ mạng sống của con cái họ trong những ngày tới. Một người vội chạy đi tìm hai khúc gậy gỗ táu vừa vót nhọn, hai người kia lập tức đứng tách ra hai bên cánh cửa kho, khoanh tay đứng gác với ánh nhìn cảnh giác cao độ.
Đám đông nạn dân dần dần tản ra, lục tục kéo về phía gian chái tây nơi có ánh lửa bập bùng từ chiếc bếp lò dã chiến do Đỗ Nghi vừa nhóm lên bằng mấy thanh củi khô bới được trong góc quán. Mùi khói bếp ngai ngái bắt đầu lan tỏa, xua bớt đi phần nào cái lạnh buốt xương của đêm đầu tiên trên núi vỡ. Tiếng bước chân lẹp xẹp xa dần, nhường lại khoảng sân trước kho cho tiếng mưa rơi rả rích.
Bùi Hạ bước vào bên trong gian kho, khẽ khép cánh cửa gỗ dày lại sau lưng. Không gian lập tức chìm vào một thứ bóng tối ẩm mốc, chỉ còn ngọn đèn dầu hạt cải leo lét hắt bóng hai người lên vách đá xám.
Phạm Sương đứng bên cạnh, nét mặt đanh thép ban nãy bỗng chùng xuống, để lộ vẻ mệt mỏi và âu lo tột cùng. Nàng tựa lưng vào một bao thóc, hai tay buông thõng, bờ vai khẽ run rẩy dưới lớp áo ướt.
"Có chuyện gì vậy, thẩm?" Bùi Hạ khẽ hỏi, hạ thấp giọng.
Phạm Sương không đáp ngay. Nàng ngồi xổm xuống bên một bao tải gai đặt ở góc trong cùng, dùng mũi dao nhọn rạch nhẹ một đường nhỏ nơi đáy bao rồi thọc hai ngón tay vào trong. Khi rút tay ra, những hạt gạo trắng ngà dính trên kẽ tay nàng đã ngả sang màu xám mốc, bốc lên một mùi chua nồng nồng khó chịu.
"Bao gạo này đã bị ngấm nước từ lúc thuyền cứu hộ của tiên môn bỏ rơi chúng ta ở bến Bạch Sa," Phạm Sương nói thì thầm, giọng nghẹn lại. Nàng xoa xoa những hạt gạo nhớp nháp giữa hai đầu ngón tay, mắt trĩu nặng. "Ta đã cố giấu không cho bọn họ thấy. Thực tế lương thực khô dùng được không đủ trọn mười ngày đâu, Hạ à. Nếu không có nắng để tãi ra phơi và sàng sảy bớt phần mốc này đi, chỉ chừng năm sáu ngày nữa là số gạo này sẽ tự thối rữa từ bên trong. Đến lúc đó, chúng ta có muốn nuốt cũng chỉ rước thêm dịch tả vào thân."
Bùi Hạ nhìn những hạt gạo mốc meo trên tay người đàn bà, lòng trĩu nặng như đeo đá. Mười ngày dè sẻn vốn đã là một sợi dây thừng mong manh treo sinh mệnh của ba mươi hai con người qua mùa lũ, nay sợi dây ấy lại đang mủn dần từng đốt. Nước lũ dưới chân núi vẫn chưa có dấu hiệu rút, trời thì mịt mùng không thấy mặt trời, việc hong khô số lương thực này gần như là điều bất khả thi nếu chỉ trông chờ vào tự nhiên.
"Ngày mai ta sẽ tìm cách kích hoạt ngọn đèn dẫn đường trên gác chuông ở mức tiêu hao thấp nhất," Bùi Hạ trầm ngâm nói, ngón tay cái vô thức miết lên vết thương nhức nhối ở cổ tay. "Nếu thắp được đèn, có thể người của Hội Đồng Châu hoặc các đội thuyền cứu tế ở Bến Bạch Sa sẽ nhìn thấy tín hiệu mà tìm đường tiếp tế lên núi. Chúng ta cũng phải đàm phán với thương hội để đổi công lấy thêm ngũ cốc."
"Chỉ mong qua được đêm nay đã," Phạm Sương thở dài, cẩn thận dùng một đoạn dây gai khâu kín lại vết rạch trên bao gạo. "Đêm đầu tiên bao giờ cũng là đêm dài nhất. Người ta đói, người ta rét, và khi bóng tối ập xuống, nỗi sợ sẽ biến người hiền thành thú dữ. Ta chỉ sợ lòng người không đợi nổi đến khi ngọn đèn kia sáng lên."
"Sẽ qua được thôi," Bùi Hạ nói, nhưng chính nàng cũng không dám chắc chắn vào lời khẳng định của mình. Tiếng gió bên ngoài đập vào cánh cửa gỗ từng hồi thùm thụp như muốn xé toạc căn phòng nhỏ nhoi này ra từng mảnh.
Nàng bước ra khỏi gian kho, để Phạm Sương tra chiếc ổ khóa sắt nặng trịch vào then cài cửa. Tiếng khóa lách cách khô khốc vang lên giữa đêm vắng. Ba người gác kho đã đứng vào vị trí, tay lăm lăm những khúc gậy gỗ táu vừa vót nhọn một đầu, ánh mắt cảnh giác nhìn ra khoảng sân tối mịt. Dù lạnh run rẩy trong manh áo mỏng, không ai trong số họ dám lơ là nửa khắc.
Trời đã sập tối hoàn toàn. Mưa dầm vẫn không ngớt rơi xối xả, từng đợt gió rít gào qua những khe nứt của vách đá Đoạn Phong như tiếng than khóc của những linh hồn vừa chìm sâu dưới đáy nước phù sa. Bóng đêm trên núi cao đặc quánh và lạnh lẽo hơn bất cứ nơi đâu dưới đồng bằng.
Trong chính điện, ngọn lửa nhỏ từ chiếc bếp dã chiến hắt những bóng người gầy guộc chập chờn lên bức tường vôi lở loét. Khói củi cay xè lượn lờ dưới mái ngói dột nát, nhưng mang theo chút hơi ấm hiếm hoi níu giữ sinh mạng của đám đông. Tiếng thìa gỗ khuấy cháo lách cách hòa cùng tiếng ho húng hắng của người già và tiếng thở đều đều của những đứa trẻ đã kiệt sức thiếp đi trong lòng mẹ. Nồi kê loãng sôi ùng ục, tỏa ra một mùi thơm ngai ngái nhưng đối với ba mươi hai con người lúc này, đó là mùi hương cứu rỗi duy nhất tồn tại trên cõi đời.
Lâm Tự đang ngồi bệt trên ngạch cửa hiên, chiếc áo tơi đã cởi bỏ để lộ lồng ngực vạm vỡ nhưng chằng chịt vết trầy xước rỉ máu do vác gỗ. Anh đang dùng một thanh nẹp tre nhỏ nhẹ nhàng quấn lại ngón tay bị dập của Lâm An. Con bé tựa đầu vào đùi cha, hai mắt nhắm nghiền, bàn tay nhỏ bé vẫn nắm chặt lấy vạt áo thô của anh. Đôi bàn tay người thợ mộc từng vung những nhát búa bạt mạng ban nãy giờ đây lại cẩn trọng, tỉ mẩn từng vòng dây vải quanh ngón tay sưng húp của con gái, khẽ khàng như sợ làm vỡ một cánh hoa.
Thấy Bùi Hạ đi ngang qua, Lâm Tự ngước mắt lên. Ánh mắt hai người chạm nhau giữa làn sương mưa mờ ảo. Không ai nói lời nào, chỉ có một cái gật đầu rất nhẹ—sự công nhận lặng lẽ giữa hai người thợ đang cùng nhau gánh vác sự sống còn của một cộng đồng tạm bợ. Một người giữ cho nóc nhà không sập, một người giữ cho màng chắn không tan, giữa họ là một khế ước ngầm không cần văn tự.
Bùi Hạ bước chậm rãi ra giữa khoảng sân đá rêu phong, mặc cho những hạt mưa lạnh buốt quất thẳng vào mặt. Gió luồn qua cổ áo ướt sũng, ngấm sâu vào da thịt, nhưng cái lạnh bên ngoài lại giúp nàng đè nén phần nào cơn đau buốt đang bốc hỏa từ bên trong. Nàng cần một khoảnh khắc yên tĩnh để làm dịu đi cơn đau buốt đang lan dần từ cổ tay lên tận bả vai. Nàng đưa tay trái siết chặt lấy cổ tay phải, nơi kinh mạch đang co giật từng chập dưới lớp băng ẩm ướt. Mỗi nhịp đập của tim nàng dường như đều kích hoạt một làn sóng châm chích buốt giá chạy dọc theo vết sẹo lồi tím tái.
Bỗng nhiên, ánh mắt nàng dừng lại nơi chân núi xa xăm.
Qua màn mưa đen đặc như mực và tầng tầng lớp lớp sương mù bao phủ thung lũng ngập lụt, một đốm sáng đỏ quạch le lói xuất hiện. Rồi đốm sáng thứ hai, thứ ba, thứ tư... nối đuôi nhau thành một vệt dài uốn lượn chầm chậm men theo bờ nước đục.
Đó không phải là ánh lân tinh của linh sa trôi dạt, cũng không phải ánh đèn cứu nạn của những con thuyền gỗ Hội Đồng Châu. Ánh sáng của thuyền cứu hộ thường mang sắc vàng ấm áp và đứng yên ở những bến bãi an toàn. Còn đây là những ngọn đuốc dầu trấu cháy đỏ rực trong mưa gió—thứ đuốc chỉ có nha môn huyện phủ hoặc những đội sai nha bắt phu mới trang bị khi hành quân đêm. Loại đuốc được tẩm nhựa thông và dầu trấu đặc quánh ấy có thể cháy bất chấp mưa phùn, tỏa ra một làn khói đen khét lẹt đặc trưng.
Toán người lạ mặt ấy đang di chuyển chậm chạp nhưng kiên định, hướng thẳng về phía con đường mòn duy nhất dẫn lên sườn nam núi Đoạn Phong. Bóng tối của vách núi nuốt chửng từng tấc đường đi của họ, nhưng những đốm lửa ma quái cứ nhích dần, nhích dần lên từng bậc đá trơn trượt.
Bùi Hạ siết chặt cổ tay nhói buốt khi nhìn thấy ánh đuốc của toán người lạ đang di chuyển chầm chậm dưới chân núi trong màn mưa tối.