Mảnh Thẻ Trong Bùn
Sương sớm bốc lên từ vách đá ẩm ướt sau một đêm mưa rỉ rả, Bùi Hạ và Lâm Tự ngồi bên chiếc bàn gỗ cũ ở chái đông đợi Lâm An mang vật giấu trong túi áo ra ánh sáng.
Gió sớm lùa qua khe liếp còn vương mùi ngai ngái của bùn đất ải, thứ mùi nồng nặc tích tụ từ đáy lòng thung lũng sâu hoắm đưa ngược lên theo từng đợt gió quẩn. Nền gạch vỡ của chái đông chưa kịp ráo nước sau trận mưa đêm, những vệt rêu xanh trơn trượt bám riết lấy chân tường đá sa thạch xám xịt. Đứa trẻ đứng nép sát vào góc cột cái đã lên nước đen nhánh, hai bàn tay nhỏ bé gầy guộc vẫn bấu chặt lấy mép túi chiếc áo cộc chằng vá bằng năm sáu mảnh vải vụn trước ngực. Đôi mắt đen láy của con bé chớp liên hồi, bờ mi hoe đỏ và ươn ướt, chốc chốc lại ngước nhìn cha rồi lén lút liếc sang Bùi Hạ với nỗi e dè không giấu giếm của một sinh linh vừa chui ra khỏi cơn ác mộng.
Đêm qua, khi Bùi Hạ ướt đẫm trở về từ Bến Bạch Sa cùng bọc giấy chép tay của Lê Chi, Lâm An đã thức trắng bên bậu cửa chính điện. Con bé ngồi bó gối ở đó thâu đêm, co ro như một con chim sẻ ướt cánh giữa cơn dông rền rĩ, hai tai dỏng lên nghe ngóng từng tiếng gió thốc qua mái ngói âm dương rạn nứt, bàn tay chưa từng rời khỏi lớp vải thô trước ngực lấy nửa tấc.
Lâm Tự khẽ thở dài, lồng ngực vạm vỡ của người thợ mộc phập phồng sau một đêm thiếu ngủ. Anh cúi gập người xuống, chiếc áo cộc tay bằng vải thô sờn rách để lộ bờ vai hằn sâu những vết trầy xước tím bầm do khuân vác gỗ chịu lực hôm gia cố vách đá đón bão. Bàn tay thợ mộc chai sần, những đốt ngón tay to bè thô ráp và chằng chịt sẹo dăm bào của anh nhẹ nhàng xoa lên mái tóc hoe vàng vì đói ăn của con gái. Giọng anh trầm ấm, mang theo hơi thở ấm áp của người cha cố che chắn cho con trước giông gió cuộc đời:
“An, ra đây với cha. Trời sáng rõ rồi con, không có gì phải sợ cả. Bác Mộc với cô Hạ đều ở đây, quanh am cũng toàn là người làng mình sống sót qua lũ cả. Không có quan nha nào vào đây bắt tội con đâu.”
Bùi Hạ cũng khẽ gật đầu. Nàng dùng bàn tay trái lành lặn kéo nhẹ chiếc ghế đẩu con sang một bên, rồi ra dấu mời hai cha con bước ra khoảng hiên rộng tiếp giáp với chính điện — nơi khoảng trời vừa hửng lên chút ánh sáng xám đục của ban mai, thứ ánh sáng lạnh nhưng đủ trong trẻo để soi rõ từng đường vân rạn nứt trên mặt bàn đá sa thạch:
“Ra ngoài này cho thoáng, bé An. Trong chái đông bóng núi che khuất, tối quá mắt cô nhìn không rõ. Cứ để đồ lên bàn, có cha con và bác Mộc chứng kiến, không ai trách phạt một đứa trẻ biết thương người cả.”
Nghe giọng nói dịu dàng nhưng dứt khoát của Bùi Hạ, Lâm An mới dám nhúc nhích đôi chân trần gầy guộc. Từng ngón chân bấm chặt xuống nền gạch ẩm, con bé ngập ngừng bước qua bậc cửa gỗ nghiêng lệch. Ra đến mép bàn đá trước hiên chính điện, nó hít một hơi thật sâu như dồn hết can đảm còn sót lại của một đứa trẻ mười một tuổi vừa bước qua lằn ranh sinh tử. Đôi vai gầy run lên bần bật, nó thò ngón tay khẳng khiu vào sâu trong đáy túi áo con đã thủng một góc chỉ thừa.
Từ trong lớp vải lót cáu bẩn bết dính mồ hôi và bụi than, một mảnh tre mỏng dần dần lộ ra dưới ánh ban mai ảm đạm.
Đó là một mảnh thẻ tre chỉ dài chừng nửa gang tay, rộng bằng hai ngón tay người lớn. Một góc phía dưới của thẻ đã bị xé toạc nham nhở, mép gãy còn lởm chởm những sợi xơ tre tước dài, chứng tỏ nó từng bị giằng giật thô bạo bởi một lực rất mạnh trong dòng nước xiết. Trên thân tre, bùn sông khô khốc đóng thành một lớp vảy màu xám chì nứt nẻ như da rắn, che lấp gần hết những vết khắc nông sâu bên dưới. Mảnh thẻ lạnh ngắt, bốc lên mùi phù sa thối rữa và mùi tanh lợm của đáy bùn nước sâu — thứ mùi mà bất kỳ ai từng ngoi ngóp sống sót sau đêm vỡ đê sông Vân Hà đều không thể nào nhầm lẫn, thứ mùi gắn liền với tiếng gào khóc xé lòng và những xác người trương phềnh dạt vào bãi sậy.
Lâm An đặt mảnh tre lên mặt bàn đá sa thạch phát ra một tiếng *cạch* rất khẽ, rồi như bị lửa thiêu, con bé rụt vội hai tay lại giấu ra sau lưng, đầu cúi gằm xuống ngực, lí nhí từng tiếng đứt quãng:
“Con... con nhặt được nó từ ngày đầu tiên cái bè chuối trôi dạt vào chân núi Đoạn Phong. Lúc cha trườn qua bãi lầy kéo con lên khỏi đám lau sậy dưới mép nước, cái này... cái này mắc trong vạt áo rách của chú Trần Lương. Chú Lương bị cọc bè đâm xuyên qua ngực, máu loang đỏ cả một vạt nước rồi chìm nghỉm ngay trước mắt con... Con với tay níu áo chú ấy nhưng chỉ giật được mảnh tre này. Con thấy trên miếng tre có khắc hoa sen giống hệt hoa sen thêu trên áo mấy vị tiên nhân cưỡi thuyền lớn đi ngang qua làng hôm trước bão. Con tưởng... con tưởng đó là bùa hộ mệnh hay linh phù cứu mạng của chú ấy nên mới lén cất đi. Mấy hôm nay ở trên quán, thấy các cô bác bàn tán chuyện danh sách cứu nạn rồi sổ sách quan nha, con sợ lắm... Con sợ nhặt đồ của người chết trôi sẽ mang xui xẻo tai ương cho cả đạo quán, lại sợ người ta bảo con tham lam, trộm cắp đồ của người đã khuất...”
Nói đến đó, sống mũi đứa trẻ cay xè, hai giọt nước mắt to tròn lăn dài trên gò má lem luốc tro bếp, nhỏ xuống vạt áo vá chằng vá đụp.
Lâm Tự bàng hoàng nhìn trừng trừng vào mảnh thẻ tre bám đầy bùn khô, bàn tay anh vô thức siết chặt lấy bờ vai nhỏ bé của con gái đến mức khớp ngón tay trắng bệch. Lồng ngực anh thắt nghẹn lại. Trần Lương — người thợ đan thúng nan hiền lành ở sát vách gian nhà tre của anh tại Bến Bạch Sa, người đàn ông góa vợ cũng một thân một mình nuôi bà mẹ già mù lòa và đứa con thơ dại. Đêm nước thượng nguồn tràn về xé toạc thân đê, chính mắt Lâm Tự đứng trên ngọn cây gạo nhìn thấy cả mái nhà tranh của mẹ con Trần Lương sụp đổ tan tành xuống dòng nước lũ đỏ ngầu cuồn cuộn cuộn xoáy bùn rác. Không một ai trong gia đình họ Trần kịp bơi vào bờ. Cả ba sinh mạng chìm sâu vào lòng sông lạnh ngắt chỉ trong chớp mắt.
Bùi Hạ cúi sát xuống mặt bàn đá, ngực nàng nghẹn lại như có một tảng đá đè nặng. Cổ tay phải đang nẹp chặt bằng hai thanh tre già bỗng nhói buốt lên từng cơn quen thuộc — cái đau của đường kinh mạch bị đánh gãy năm xưa dường như lại rỉ máu cùng với nỗi đau của những người trần thế khốn cùng. Hoa sen ba cánh lồng trong vòng tròn. Đó là phù hiệu quen thuộc đến ghê người của Thanh Huyền Môn, thứ ấn tín mà nàng từng đeo bên hông suốt mười năm tu hành nơi ngoại môn, trước khi bị tước đoạt toàn bộ công danh, bị trục xuất như một kẻ phản đồ chỉ vì không chịu cúi đầu đồng lõa với những trò gian dối nơi điện ngọc.
“Không ai trách phạt con cả, An,” Bùi Hạ khẽ nói, giọng nàng trầm thấp nhưng mang một sức nặng kiên định khiến đứa trẻ thôi run rẩy. Nàng ngước nhìn Lâm An, ánh mắt trong suốt phản chiếu ánh sáng ban mai: “Con không trộm cắp. Con không tham lam bất cứ thứ gì của chú Lương. Ngược lại, chính đôi bàn tay nhỏ bé này của con đã giữ lại thứ mà những kẻ quyền thế đang tìm mọi cách vùi dập xuống đáy bùn lầy để bịt miệng người chết.”
Tiếng bước chân chậm rãi, nặng nề gõ đều trên nền đá từ phía chái tây cắt ngang bầu không khí trầm mặc.
Nguyễn Mộc bước tới. Lưng ông hơi còng xuống dưới sức nặng của chiếc túi da thuộc cũ kỹ đeo bên hông. Trên tay lão thợ đá là một chiếc khay gỗ nhỏ bằng lõi mít, bên trong xếp ngay ngắn một con dao gạt bằng đồng mỏng tang, một chiếc chổi lông thỏ mềm chuyên dùng để quét bụi đá trên các văn bia cổ, và một chiếc lọ sành con chứa thứ bột phấn trắng mịn không tì vết làm từ vỏ sò điệp nung lửa ngâm giấm thanh. Đi ngay phía sau ông là Hà Thu. Nàng vừa kéo chiếc thuyền nan giấu sâu vào hốc đá dưới chân núi Đoạn Phong rồi vội vã leo ngược lên dốc đá dựng đứng; chiếc nón lá rách tươm trên đầu nàng còn rỏ từng giọt nước mưa đêm xuống bờ vai áo tơi ướt sũng.
Lão thợ đá không nói một lời thừa thãi. Ông kéo chiếc kính viễn thị bằng thạch anh mờ đục có gọng đồng buộc dây gai đeo lên sống mũi gồ ghề, rồi ngồi xuống chiếc đôn đá đối diện với mảnh thẻ tre. Ngón tay già nua nhưng chuẩn xác tuyệt đối của người đã dành cả đời gõ búa đục bia khẽ lướt qua mép vỡ lởm chởm xơ gai.
“Thẻ tre này làm từ cật tre mai già ngâm dầu thông ba lượt, sấy khô bằng khói than đá suốt bảy ngày bảy đêm,” Nguyễn Mộc trầm giọng phân tích, giọng ông khô khốc và đanh lại như tiếng hai phiến đá hoa cương cọ sát vào nhau giữa đêm lạnh. “Thứ tre chế tác theo quy chuẩn này dầm nước lũ cả tháng trời không mục nát, không cong vênh, chuyên dùng làm thẻ bài điều phối quân lương hoặc vật tư cứu nạn khẩn cấp của các đại phái tu chân khi tham gia cứu trợ thiên tai cùng triều đình. Nhìn thớ tre được vát nghiêng góc sáu mươi độ và vết đục lỗ xỏ dây tròn trịa ở đầu trên, đây chính là thẻ đinh nhận khẩu phần cứu tế lưu động cấp phát tại bến sông.”
Ông cẩn thận nhấc cây chổi lông thỏ lên, nhẹ nhàng quét từng hạt cát li ti bám trên bề mặt tre. Động tác của ông chuẩn xác đến từng ly, tuyệt đối không dùng móng tay hay mũi dao đồng cạo mạnh vào thân thẻ để tránh làm tổn hại đến các rãnh chữ khắc chìm bên dưới lớp phù sa khô. Khi lớp bùn xám bên ngoài rã ra thành từng mảng bụi mỏng dưới ngọn chổi lông, Nguyễn Mộc mở nút lọ sành, nhúng đầu ngón tay trỏ chai sạn vào lớp bột phấn trắng mịn, rồi bắt đầu miết nhẹ, miết đều từng đường ngang dọc khắp mặt thẻ tre.
Bột vỏ sò trắng mịn lọt sâu vào các khe rãnh đục chìm, lấp đầy từng nét khắc mà mắt thường dưới ánh sáng ban mai không thể nhận biết. Từng ký tự sắc nhọn màu trắng sữa dần dần hiện rõ mồn một trên nền cật tre nâu sẫm ẩm ướt, tựa như những lời trăn trối bị chôn vùi nay đội đất ngoi lên.
Ở góc trên cùng của mảnh thẻ, nổi bật lên hình ấn triện chìm ba cánh sen lồng trong một vòng tròn hơi méo — con dấu kiểm duyệt đặc thù của Ty Vật Tư Thanh Huyền Môn dùng để xuất kho lương thực dự phòng. Và ngay bên dưới ấn triện, một dãy ký tự chân phương khắc bằng dao sắt hiện lên rành rọt không thể chối cãi:
*“Thanh-Cứu-Tân-Mão-087. Định mức: Đinh nam, gạo trắng nửa bao, muối hai cân, ngân lượng mười phần. Nơi cấp: Bến Bạch Sa.”*
Bầu không khí quanh bàn đá bỗng chốc ngưng đọng lại thành một khối băng lạnh toát. Tiếng gió rít qua rặng thông trên đỉnh Đoạn Phong nghe như tiếng thở dài ai oán của hàng ngàn sinh linh vùi thây dưới đáy sông.
Bùi Hạ lập tức mở bọc vải dầu đặt cạnh mép bàn, lấy ra xấp giấy chép tay mà Lê Chi đã liều mạng sao chép vụng trộm từ kho sổ sách lưu trữ tại Bến Bạch Sa đưa cho nàng đêm qua. Nàng dùng những ngón tay trái lật nhanh từng trang giấy bổi xỉn màu đã quăn queo vì hơi ẩm sông nước, đôi mắt sắc sảo quét qua từng cột chữ chi chít những con số và tên họ nạn dân. Đến trang thứ ba, ngón tay nàng đột ngột dừng lại, ấn mạnh xuống mặt giấy ẩm đến mức móng tay lõm sâu vào thớ giấy.
“Mã số không tám bảy,” Bùi Hạ đọc thành tiếng, từng chữ thốt ra từ miệng nàng lạnh ngắt như băng tuyết đầu mùa đông. “Họ tên: Trần Lương. Thợ thủ công đan lát, dân tịch Bến Bạch Sa. Ghi chú của Ty Tuyển Mộ: Đã tiếp nhận lên linh thuyền Thanh Vân số ba vào giờ Mùi ngày mùng bốn tháng bảy. Đã nhận đủ khẩu phần tháng đầu tiên đưa về bản sơn an trí.”
Lâm Tự run rẩy toàn thân, một hơi thở dồn dập và nghẹn ngào bật ra khỏi lồng ngực anh. Hai mắt anh đỏ ngầu, hàm răng nghiến chặt vào nhau phát ra tiếng ken két rợn người:
“Trần Lương chết đuối vào giờ Thìn ngày mùng bốn! Chú ấy chết ngay trước mắt tôi và cái An bên bờ đất lở, lúc dòng nước cuốn phăng bờ rào tre! Giờ đó thuyền lớn của Thanh Huyền Môn còn đang thả neo ngoài khơi xa tít tắp, chưa hề cập bến! Thi thể chú ấy trôi dạt ra giữa dòng sông ngầu bọt, mảnh thẻ này rách toạc rơi ra từ vạt áo của chú ấy khi cái An cố níu lại... Vậy mà trên sổ sách của bọn chúng, chúng dám ghi rành rành là người đã lên linh thuyền? Dám ghi là đã nhận đủ nửa bao gạo trắng, hai cân muối sạch và mười phần bạc đưa về bản sơn?”
“Chúng không chỉ làm khống danh sách người sống để cướp chỗ trên thuyền, bán vé vớt nạn dân cho bọn nhà giàu thương buôn với giá ba mươi lượng bạc một mạng người,” Hà Thu nghiến răng trèo trẹo, chiếc đòn gánh bằng tre đực trong tay nàng thúc mạnh xuống nền gạch vỡ kêu một tiếng *cộc* khô khốc, vang vọng khắp mái hiên vắng. “Bọn khốn nạn đó dùng cả tên tuổi của những người đã chết trôi, chết mất xác dưới đáy bùn để rút ruột kho lương cứu tế của quan nha và Trấn Linh Ty! Cứ mỗi một cái tên chết chìm dưới sông, bọn quản sự kho gạo bỏ túi trọn vẹn nửa bao lương thực thượng hạng và mười lượng bạc trắng mỗi tháng! Chúng nó ăn trên xác chết, làm giàu trên máu mủ của đồng bào mình!”
Một người thợ nghèo khó đã vùi thây trong bụng cá, thi thể trôi dạt không nơi chôn cất, lại đang “tồn tại” đầy đủ trên sổ bộ vàng son của sơn môn để tiếp tục sinh ra bạc trắng, gạo thơm nuôi béo những kẻ ngồi rung đùi trong điện ngọc. Sự tàn nhẫn, lạnh lùng và mục nát của cả một guồng máy buôn bán trên xương máu dân lành phơi bày trần trụi, trơ trẽn qua một mảnh tre gãy góc dính bùn khô.
“Mảnh thẻ này...” Bùi Hạ ngước nhìn Nguyễn Mộc, ngọn lửa giận dữ kìm nén bấy lâu rực lên trong đáy mắt. “Đây không còn là lời kể một chiều của nạn dân nữa. Đây là vật chứng vật lý độc lập, bằng xương bằng thịt. Nó trùng khớp từng nét khắc, từng mã hiệu với bản chép tay của Lê Chi và nhật ký các chuyến đò cứu nạn của Hội Đồng Châu!”
“Đúng, nó là một vật chứng bằng sắt bằng đồng,” Nguyễn Mộc nghiêm nét mặt, giọng ông đanh lại, kéo tất cả mọi người chung quanh trở về với thực tại nghiệt ngã đang rình rập ngoài kia. “Nhưng cũng chính vì nó là một vật chứng chí mạng, có thể lật nhào cả một đường dây bòn rút lương thực, nên nó cũng chính là một lưỡi đao sắc bén có thể cắt đứt cổ họng tất cả chúng ta bất cứ lúc nào nếu không được xử lý đúng theo trình tự luật pháp của Điển chế Vân Hà.”
Lão thợ đá nhìn thẳng vào Lâm Tự, rồi quay sang nhìn Bùi Hạ với ánh mắt thấu suốt sự đời:
“Một mảnh tre nhặt được bên bờ sông rất dễ bị những kẻ quyền thế vu cho là ngụy tạo, hoặc bị sai nha huyện nha đánh tráo, tiêu hủy ngay khi vừa bước chân qua ngưỡng cửa công đường. Quan giám định Đinh Tuệ của Trấn Linh Ty tuy là người liêm chính, không ăn của đút, nhưng ông ta là kẻ làm việc bằng luật lệ, chỉ tin vào trình tự pháp lý nghiêm ngặt đến mức khắc nghiệt. Nếu chúng ta hấp tấp đưa vật này ra ánh sáng mà không có quy trình bảo toàn chứng cứ độc lập theo đúng quy chuẩn tam phương chứng thực, Tạ Duy chỉ cần phẩy tay áo một cái là có thể tuyên bố đây là đồ nhặt nhạnh trôi sông không rõ lai lịch. Thậm chí, bọn chúng sẽ trở mặt vu cáo đứa nhỏ này tội mạo nhận vật phẩm tu chân, hủy hoại dân tịch của nạn dân để tống ngục cả hai cha con.”
Ông đứng dậy, kéo chiếc hòm đồ nghề bằng gỗ mun đặt bên chân ghế ra, cẩn thận lấy từ ngăn kéo dưới cùng ra ba tờ giấy bổi loại thượng hạng — thứ giấy chuyên dùng của giới thợ đá để dập thác bản văn bia, bề mặt mịn màng, dai như lụa và không bao giờ thấm nhòe mực khi gặp ẩm. Cùng với đó là một miếng dạ đen dày dặn tẩm mực nho khô đã được tán mịn từ trước bão.
“Ngay tại chiếc bàn đá này, trước ánh sáng thanh thiên bạch nhật của buổi sớm mai, chúng ta phải lập hồ sơ tiếp nhận vật chứng độc lập theo đúng quy định của Điển chế Vân Hà, thiên thứ sáu về Tố tụng và Giám định sự vật.”
Nguyễn Mộc cẩn thận trải tờ giấy bổi đã được làm ẩm bằng vài giọt nước mưa tinh khiết lên mặt mảnh thẻ tre. Bằng đôi bàn tay điêu luyện đã từng phục chế hàng trăm tấm bia đá cổ qua các triều đại, ông dùng con lăn gỗ bọc lụa mềm miết nhẹ nhàng, đều đặn từng tấc một từ trên xuống dưới. Mực đen thấm từ từ qua lớp giấy mỏng, in lại chuẩn xác đến từng vết xước li ti, từng góc gãy lởm chởm của thớ tre, và từng nét chữ phủ phấn trắng bên dưới ấn triện hoa sen.
Ông dập liên tiếp ba bản không hề sai lệch một ly. Từng chi tiết của triện hoa sen Ty Vật Tư và mã hiệu *Thanh-Cứu-Tân-Mão-087* hiện lên sắc nét, đen nhánh và rõ ràng như tạc trên nền giấy trắng ngà.
Làm xong ba bản thác bản, Nguyễn Mộc lấy cây bút lông gà chấm vào nghiên mực nho, nắn nót thảo một tờ biên bản kiểm kê tình trạng vật chứng trên một tờ giấy bản dày:
*“Vào giờ Thìn, ngày mười bốn tháng bảy năm Tân Mão, tại Đạo quán Vọng Đăng, ngọn Đoạn Phong.* *Tiếp nhận: Một mảnh thẻ tre cứu trợ nguyên mẫu của Thanh Huyền Môn, vỡ góc tây nam, dài ba tấc hai phân, rộng một tấc lẻ, bề mặt dính bùn phù sa sông Vân Hà.* *Nội dung giám định thác bản: Mang ấn triện Ty Vật Tư và mã số cứu nạn 087.* *Nguồn gốc bàn giao: Lâm An (mười một tuổi, con gái thợ mộc Lâm Tự) giao nộp.* *Tình trạng pháp lý: Vật chứng dùng để đối chiếu sai lệch danh sách tiếp nhận nạn dân Bến Bạch Sa.”*
Lâm Tự lập tức chạy vào gian chái đông mang ra một chiếc hộp gỗ trắc nhỏ xíu — chiếc hộp quý giá nhất của anh, vốn dùng để đựng những mũi đục thép tôi tinh xảo do cụ thân sinh truyền lại.
Mảnh thẻ tre gốc được Nguyễn Mộc bọc cẩn thận trong một lớp vải lanh trắng sạch sẽ, đặt êm ái vào lòng hộp gỗ. Lâm Tự đóng chặt nắp hộp, dùng sợi dây gai bền chắc thắt nút kiểu chân rết phức tạp của phường thợ mộc ven sông, mối gút giấu kín ở đáy hộp. Nguyễn Mộc đốt một thanh sáp ong đỏ trên ngọn đèn dầu, nhỏ từng giọt sáp nóng chảy niêm phong kín cả bốn góc mép nắp hộp gỗ.
“Ký tên và điểm chỉ,” Nguyễn Mộc đưa quản bút lông sang tay Bùi Hạ. “Hạ, cô ký tên với tư cách người đại diện chịu trách nhiệm truyền dạy và pháp lý của Tông Môn Sơ Lập Vọng Đăng Am. Lâm Tự ký với tư cách người bảo hộ trực tiếp của đứa trẻ giao nộp vật chứng. Và Hà Thu, cô ký tên với tư cách đại diện Hội Đồng Châu, nhân chứng dân sự độc lập ngoài sơn môn.”
Ba chữ ký bằng mực nho đen nhánh hạ xuống mép giấy biên bản. Ba ngón tay trỏ nhúng mực đỏ sẫm ấn dứt khoát đè lên lớp sáp ong niêm phong trên nắp hộp gỗ, đồng thời điểm chỉ xác nhận vào góc dưới của cả ba bản thác bản dập chữ.
Nguyễn Mộc cẩn thận phân chia từng văn bản với sự rành mạch của một viên quan coi giữ thư viện điển tịch:
“Chiếc hộp gỗ chứa mảnh thẻ gốc này sẽ được cất giữ ở vị trí an toàn tuyệt mật nhất trong đạo quán, chỉ được phép mở ra khi có mặt quan kiểm định Trấn Linh Ty hoặc ngay giữa công đường đối chất tam phương. Bản thác bản thứ nhất này sẽ được lưu vào sổ bộ văn khố của Vọng Đăng. Bản thứ hai kẹp cùng tờ trình pháp lý chính thức gửi tận tay Đinh Tuệ. Còn bản thứ ba...”
Lão thợ đá trịnh trọng đưa tờ giấy bổi đã khô mực sang hai bàn tay rắn rỏi của Hà Thu.
“Hà Thu, cô mang bản thác bản này xuống thuyền ngay trưa nay. Gửi theo mạng lưới chuyển vận ngầm của Hội Đồng Châu xuôi về trạm lưu trữ hồ sơ tại phủ dưới. Dù ngọn núi Đoạn Phong này có bị bão lũ cô lập hoàn toàn, hay bị kẻ xấu kéo quân lên bao vây triệt hạ, thì chứng cứ bằng giấy trắng mực đen của chúng ta vẫn tồn tại nguyên vẹn ở hạ lưu. Bọn chúng có thể một tay che trời ở khúc sông này, nhưng không thể giết người diệt khẩu hết tất cả bến đò dọc sông Vân Hà được.”
Hà Thu cẩn thận cuộn tròn tờ giấy bổi lại, nhét sâu vào một ống nứa đã tráng sáp kín nước ở hai đầu, giắt chặt vào thắt lưng gai thô mộc. Ánh mắt nàng ánh lên vẻ kiên định của người quen đầu sóng ngọn gió:
“Các người cứ yên tâm giao cho tôi. Chừng nào thuyền nan của Hội Đồng Châu còn rẽ nước bơi trên dòng Vân Hà này, thì bản thác bản này sẽ không bao giờ lọt vào tay lũ cướp cơm của dân lụt.”
Sau khi bóng dáng thoăn thoắt của Hà Thu khuất sau rặng tre dẫn xuống bến sông, khoảng sân trước hiên chính điện lại chìm vào sự tĩnh lặng quen thuộc của buổi sớm vùng cao. Gió núi thổi qua bậu cửa xào xạc, mang theo tiếng lách cách của những giàn giáo tre nứa cọ vào nhau trên sườn đá dốc.
Lâm An vẫn đứng nép sát bên hông cha, hai bàn tay nhỏ bé đan chặt vào nhau đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra vì lo âu. Đứa trẻ ngước đôi mắt tròn xoe nhìn chiếc hộp gỗ trắc đã niêm phong sáp đỏ đặt giữa bàn đá, rồi ngập ngừng nhìn sang Nguyễn Mộc, giọng con bé run rẩy, nghẹn ngào như sắp khóc:
“Bác Mộc ơi... mai này quan lớn có bắt con xuống huyện đường quỳ lạy không? Quan nha có mang roi mây gông sắt ra dọa nạt con không hả bác? Con sợ... con sợ con nói sai một lời rồi người ta bắt cha con đi tù đày khổ sai...”
Nỗi khiếp nhược của một đứa trẻ vừa bước qua ngưỡng cửa của thảm họa, tận mắt thấy mẹ ruột bị nước lũ cuốn trôi mất xác, thấy bà con chìm nghỉm giữa bùn sâu, rồi lại thấy nha sai huyện nha mang gậy sắt đuổi đánh nạn dân xin ăn ở cổng thành, hiện lên trần trụi và xót xa khôn xiết. Đứa trẻ sợ hãi không phải vì mình làm sai, mà vì nó biết thân phận của những người nghèo khổ dưới đáy cùng xã hội mỏng manh như chiếc lá trước ngọn cuồng phong.
Nguyễn Mộc từ từ ngồi xổm xuống trước mặt Lâm An. Chiếc lưng còng của ông lão thợ đá hạ thấp xuống ngang bằng với tầm mắt của cô bé. Khuôn mặt già nua chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh xẻ trên đá núi bỗng chốc giãn ra, ánh mắt ông chan chứa sự hiền từ, bao dung và che chở của một người ông trong gia đình — vẻ mặt hoàn toàn khác hẳn với nét nghiêm cẩn, sắc lạnh khi ông đối diện với những điều khoản khế ước và luật lệ tư pháp ban nãy.
“An, nghe bác dặn dò kỹ đây,” Nguyễn Mộc ôn tồn nói, giọng ông trầm ấm và vững chãi lạ kỳ, như một tảng đá ngầm đứng vững giữa dòng lũ xoáy. “Con không phải chịu trách nhiệm thay cho bất kỳ người lớn nào trên cõi đời này cả. Con không phải là nguyên cáo đi kiện tụng ai, cũng không phải là kẻ phạm tội đứng trước vành móng ngựa. Con chỉ là một đứa trẻ sống sót qua cơn đại hồng thủy.”
Ông đưa bàn tay thô ráp, chai sạn vì búa đục nhẹ nhàng vỗ lên mu bàn tay nhỏ nhắn đang run rẩy của cô bé:
“Nếu một ngày nào đó có quan giám định của Trấn Linh Ty hay bất kỳ ai hỏi con về mảnh tre này, con chỉ cần nhớ một điều duy nhất trong đầu: Mắt con nhìn thấy cái gì, tai con nghe thấy cái gì, thì con mở miệng nói đúng y như thế.
Con thấy nó dính trong vạt áo rách của chú Lương ở mép nước bờ lau sậy, con nói đúng là ở mép nước bờ lau sậy. Con thấy nhặt lên lúc mặt trời chưa vượt qua ngọn tre, con nói đúng lúc mặt trời chưa qua ngọn tre. Tuyệt đối không được nghe ai dỗ dành xúi giục mà thêm thắt dù chỉ một câu, cũng không được vì sợ đòn roi đe dọa mà tự mình suy diễn lung tung. Đừng cố đoán xem lúc đó chú Lương nghĩ gì trong bụng, cũng đừng đoán xem người ta khắc hoa sen lên thẻ tre để làm cái gì. Con chỉ cần kể lại đúng những gì chính đôi mắt của con đã nhìn thấy, chính đôi tai của con đã nghe thấy.”
Lâm An ngơ ngác chớp chớp hàng mi ươn ướt, đôi vai gầy khẽ thả lỏng:
“Chỉ... chỉ cần nói đúng bấy nhiêu thôi hả bác? Không cần phải nói ai đúng ai sai, ai tham lam ai độc ác ạ?”
“Phải, chỉ bấy nhiêu thôi là đủ rồi con,” Nguyễn Mộc mỉm cười, ánh mắt ông ánh lên một niềm tin sắt đá. “Phần việc luận tội ai đúng ai sai, chứng minh kẻ nào gian lận, kẻ nào bòn rút xương máu của dân lụt, đó là phần việc của bác, của cô Hạ, của cha con và toàn thể những người lớn đang đứng trên ngọn núi Vọng Đăng này gánh vác. Không một ai trên cõi đời này được phép bắt một đứa trẻ mười một tuổi phải gánh lấy sinh mệnh hay tội lỗi của người khác trên đôi vai gầy guộc của nó.
Lời nói thật giản dị, chân chất của con — không thêm một hạt bụi, không bớt một sợi tóc — chính là chiếc khiên cứng cáp nhất bảo vệ con trước mọi mưu mô xảo quyệt. Kẻ dối trá sợ nhất trên đời không phải là kẻ nói lời đao to búa lớn, mà là người chỉ nói đúng những gì mắt thấy tai nghe, bởi vì chúng không thể tìm ra bất kỳ kẽ hở nào để bẻ cong một sự thật trần trụi. Con đã hiểu lời bác dặn chưa?”
Lâm An nhìn sâu vào đôi mắt ấm áp của ông lão thợ đá, rồi quay đầu nhìn sang cha mình. Lâm Tự đang nhìn con gái với đôi mắt rưng rưng ướt nhòe, bàn tay anh siết nhẹ bờ vai con như một điểm tựa ngàn cân. Cảm giác sợ hãi tột cùng bấy lâu nay đè nặng lên lồng ngực non nớt của đứa trẻ bỗng chốc tan biến đi như làn sương sớm gặp nắng mai, nhường chỗ cho một sự nhẹ nhõm run rẩy lan tỏa khắp cơ thể.
Cô bé khẽ gật đầu, bờ môi không còn cắn chặt vào nhau nữa:
“Dạ... con hiểu rồi. Con chỉ nói đúng những gì mắt con tự thấy thôi.”
Bùi Hạ đứng tựa lưng vào mép cột hiên, nhìn cảnh tượng ấy mà trong lòng dâng lên một niềm xúc động sâu sắc, nghẹn ngào. Nàng từng sống mười năm ròng rã nơi Thanh Huyền Môn danh môn chính phái, từng chứng kiến biết bao cảnh tượng những đệ tử tạp dịch hay những đứa trẻ tập sự tư chất thấp kém bị biến thành bia đỡ đạn cho những sai phạm tày đình của các vị quản sự và trưởng lão. Chúng bị ép phải ký vào những bản cung man khai, bị biến thành vật hi sinh để bảo toàn thanh danh thanh cao giả tạo cho các vị bề trên ngự trên đài sen lộng lẫy.
Còn ở đây, trên ngọn núi Đoạn Phong vỡ nát này — nơi thiếu thốn từng đấu kê, chắt chiu từng hạt muối hạt gạo khử độc — những người thợ mộc, thợ đá, những người chèo đò cùng khổ lại biết dựng lên một bức tường đạo lý vững chắc để che chở cho sự trong sáng của một đứa trẻ mồ côi.
Đó mới chính là cội rễ, là linh hồn của một tông môn thực sự giữa cõi nhân gian, thứ phẩm giá cao quý mà không một linh thuyền hoa lệ hay điện ngọc nguy nga nghìn trượng nào của tiên môn có thể mua được bằng vàng ngọc.
***
Trời ngả dần về chiều, mây đen kịt từ phía rặng núi mù sương nơi thượng nguồn lại bắt đầu cuồn cuộn kéo về như những đàn trâu mộng hung hãn. Bầu trời xám xịt và nặng trĩu hơi nước ép sát xuống đỉnh Đoạn Phong. Gió núi rít qua các khe nứt sườn đông từng hồi giận dữ, mang theo hơi ẩm lạnh buốt thấu xương cùng mùi tanh nồng quen thuộc của bùn độc lòng sông đang dâng cao trở lại. Đợt mưa thứ hai — tàn dư hung hãn của cơn bão lớn mà Lê Chi đã liều mạng cảnh báo đêm qua — đang chuẩn bị trút cơn thịnh nộ dữ dội xuống toàn bộ lưu vực sông Vân Hà.
Tiếng kẻng bằng sắt vụn báo giờ cơm chiều vang lên lanh lảnh, rộn rã từ phía chái bếp sau am. Hôm nay, kho lương thực chung của đạo quán xuất thêm một phần củ mài nướng vùi tro đã qua quy trình ngâm nước vôi khử độc của Đỗ Nghi, chia đều tăm tắp cho ba mươi hai miệng ăn đang nương náu nơi đây. Tiếng chuyện trò râm ran, tiếng cười đùa rụt rè của đám trẻ nhỏ đã bớt đi phần nào vẻ ảm đạm thê lương sau khi quy chế kho ba bên đi vào trật tự ổn định, mang lại cho những con người khốn cùng một chút hy vọng le lói về ngày mai.
Bùi Hạ thắp một ngọn đèn lồng dầu thô bọc khung sắt, tay trái xách theo cây xà beng ngắn bằng thép đặc dùng để nêm chốt gỗ. Cánh tay phải bị gãy của nàng vẫn được nẹp chặt trong hai thanh tre già ép sát vào mạn sườn bằng nhiều lớp vải gai thô. Dù kinh mạch nơi cổ tay vẫn nhói buốt buốt lên từng cơn mỗi khi gió lạnh thốc qua, nhưng nhờ phương thuốc giáng hỏa tiêu sưng bốc từ rễ cây rừng của Đỗ Nghi, vết thương đã không còn rỉ máu hay sưng tấy mưng mủ như những ngày đầu.
Nàng rảo bước đi dọc theo con đường dốc thoai thoải lát đá dăm dẫn xuống mép dốc nam — cửa ngõ độc đạo duy nhất còn an toàn nối liền Đạo quán Vọng Đăng với vùng đồng bằng dưới chân núi sau khi toàn bộ sườn đông đã bị trận sạt lở kinh hoàng đêm trước bão cắt đứt hoàn toàn.
Mép dốc nam là nơi Lâm Tự cùng nhóm thợ chèo đò của Hội Đồng Châu vừa dốc toàn lực hoàn thành việc đầm lớp đá dăm dày hai tấc và chôn sâu những cọc rào chắn bằng gỗ nghiến chịu lực xuống lòng đá mẹ. Gió núi thổi tạt ngang qua triền dốc làm ngọn lửa dầu thô bên trong lồng kính chao đảo dữ dội, hắt những vệt sáng vàng vọt nhảy múa chập chờn trên nền đất sỏi ướt sũng.
Bùi Hạ cúi thấp người, cẩn thận kiểm tra từng chiếc then gỗ hình đuôi én gài giữ các tấm phên tre chắn đất đá chuồi. Nước mưa từ rãnh thoát nước có độ nghiêng chuẩn xác hai phân đang chảy ro ro, thông suốt sang phía hẻm vực đá vôi phía tây, không hề có bất kỳ dấu hiệu ứ đọng hay xói lở chân cọc nào. Mọi chi tiết gia cố đều được tính toán bằng kinh nghiệm cơ học thực tiễn của những người thợ lão luyện, chính xác đến từng tấc đất, giúp triệt tiêu tối đa nguy cơ đất đá chuồi lở khi khối lượng mưa khổng lồ đổ ập xuống trong đêm nay.
Nàng thở phào một hơi nhẹ nhõm, đứng thẳng người dậy, dùng mu bàn tay trái gạt đi những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán hòa lẫn với hơi sương lạnh.
Nhưng đúng lúc nàng vừa nhấc chiếc đèn lồng lên định quay bước trở ngược lên sảnh am, ánh mắt Bùi Hạ bỗng khựng lại giữa không trung.
Dưới chân con dốc mòn quanh co mờ mịt, nơi khúc quanh sương mù dày đặc che khuất tầm nhìn dẫn ra rặng cây đa cổ thụ bị sét đánh gãy ngọn từ mùa lũ năm ngoái, có tiếng lạo xạo rất khẽ của đá sỏi bị giẫm đạp dưới sức nặng của bước chân người.
Đó không phải là tiếng bước chân dồn dập, rầm rộ và hung hãn của đám sai nha huyện nha mang xích đồng đi bắt phu dịch. Càng không phải là tiếng bước chân lướt gió kiêu ngạo, phiêu dật của đám tuần tra tiên môn mặc áo gấm cưỡi phi kiếm trên mây.
Đó là tiếng bước chân lê lết, nặng nề, ngập ngừng từng bước một, mang theo sự mệt mỏi cùng cực của một kẻ đã vắt kiệt những giọt sức tàn cuối cùng trên chặng đường dài vượt qua giông bão.
Bùi Hạ nheo mắt nhìn qua làn sương mù mờ ảo đang cuồn cuộn dâng lên từ đáy thung lũng.
Dưới ánh hoàng hôn nhập nhoạng đang lịm dần sau rặng núi xa xôi, bóng một người đàn ông cao gầy, khoác chiếc áo tơi bằng lá cọ rách tả tơi bết đầy bùn đất đỏ, đang đứng nép mình bên khúc quanh vách đá cheo leo. Người đó dường như do dự không dám bước thẳng lên lối vào đạo quán, chỉ đứng tựa lưng vào thân cây đa gãy mục, đôi vai gầy guộc run rẩy từng chặp trong những cơn gió buốt giá.
Bên chân người ấy, đặt chỏng chơ trên nền đá ướt sũng nước, là một chiếc hòm đồ nghề bằng gỗ mun cũ kỹ, bốn góc bịt đồng đã lên ten gỉ xanh rì, phủ đầy bụi đường và dấu tích phong trần của những năm tháng dãi dầu sương gió.
Bùi Hạ siết chặt cán xà beng bằng thép trong tay trái, ngưng tụ chút chân khí ít ỏi còn sót lại trong đan điền đề phòng bất trắc, rồi cất tiếng hỏi sắc gọn, tiếng nói nàng vang rền xuyên qua màn sương mù mịt:
“Ai ở dưới đó?”
Không gian núi rừng im phăng phắc trong vài nhịp thở nặng nề, chỉ có tiếng gió núi rít qua kẽ đá và tiếng lá đa khô xào xạc rơi rụng.
Rồi bóng người đang ngồi gục dưới gốc đa gãy khẽ cựa quậy. Người ấy chống một bàn tay khẳng khiu vào thân gỗ mục sần sùi, khó nhọc đẩy thân mình đứng thẳng dậy. Từng bước chân lảo đảo, run rẩy bước ra khỏi bóng tối u uất của rặng cây, tiến dần về phía ánh sáng vàng vọt hắt ra từ ngọn đèn lồng dầu thô của Bùi Hạ.
Chiếc nón mê rách rưới trượt khỏi mái đầu bạc phơ xơ xác vì sương gió, để lộ khuôn mặt gầy gò hốc hác, đôi gò má nhô cao và chòm râu điểm bạc lấm lem bùn đất phù sa.
Ánh đuốc bập bùng soi rõ đôi mắt mệt mỏi nhưng sâu thẳm, chất chứa biết bao cay đắng, u uất và dằn vặt của một người thợ già đã dành cả đời gắn bó với những trận pháp phù hoa. Một bàn tay run rẩy đưa lên, ngập ngừng nâng chiếc quai da sờn rách của chiếc hòm đồ nghề phủ đầy bụi bặm.
Người ngồi dưới gốc đa gãy đứng dậy bước ra ánh đuốc — chính là thợ trận lão thành Trần Kính, mang theo một chiếc hòm đồ nghề phủ đầy bụi bặm.