Tông Môn Sau Cơn Lũ — Phần 1: Ngọn Đèn Trên Núi VỡCh.21 / 40
Chapter 21

Hồ Sơ Hai Mặt

Ống tre chuyển tin từ bến sông còn vương mùi bùn ướt, mang theo nét chữ gầy mảnh của Lê Chi cùng lời hẹn gấp gáp tại góc quán trà đổ nát dưới chân Bến Bạch Sa trước khi đợt tuần tra mới bắt đầu. Mực viết pha bằng nước lá tràm khô cong trên mặt giấy hoa tiên, mép giấy xơ tước vì ngấm sương đêm lạnh giá, nét gập cuối cùng của nhánh cỏ chi ba lá run rẩy, xước nhẹ một vệt dài như thể ngọn bút lông bị giật vội khỏi mặt giấy khi có tiếng bước chân dồn dập ngang qua hành lang dãy nhà lưu trữ.

Trời chưa sáng rõ. Cả một vùng hạ lưu sông Vân Hà bị bao bọc trong tấm màn sương đục ngầu, dày đặc như vôi tôi mới bốc lên từ mặt nước sủi bọt, nuốt chửng lấy chân núi Đoạn Phong cùng những triền đá tai mèo lởm chởm. Hơi lạnh mang theo vị mặn chát của phù sa đầu nguồn ràn rụa phả vào da thịt buốt giá.

Bùi Hạ khoác chiếc áo tơi rách kết bằng lá cọ đã tơi tả qua nhiều trận mưa dầm, cẩn trọng bước xuống bờ đá thoai thoải mé nam đồi. Cánh tay phải của nàng vẫn được nẹp chặt bằng hai thanh tre già ngâm dầu trẩu, dây vải gai bản rộng quấn quanh cổ giữ cho cẳng tay áp sát vào lồng ngực. Từng cơn đau âm ỉ từ kinh Phế bị tổn thương nhói buốt theo từng nhịp thở lạnh, buồng phổi rát bỏng như có dằm tre cào xé mỗi khi nàng hít sâu luồng dưỡng khí ẩm thấp của ban mai. Nhưng nàng cắn chặt môi, cơ hàm bạnh ra, chỉ dùng duy nhất bàn tay trái gầy guộc tì vào gờ đá trơn trượt để giữ thăng bằng, đón lấy mạn thuyền nan đang dập dềnh theo con nước lớn.

Hà Thu đã ngồi sẵn ở đuôi thuyền tự bao giờ. Chiếc nón mê sụp xuống che khuất nửa khuôn mặt dãi dầu sương gió, chỉ để lộ đôi gò má xương xẩu và bờ môi mím chặt cương nghị. Bàn tay nàng ta thoăn thoắt ghì mái chèo gỗ nghiến sâu xuống lớp bùn lầy quánh đặc dưới đáy lạch, chống mạnh một phát dứt khoát không gây ra một tiếng động thừa thãi. Chiếc thuyền nan dài chưa đầy hai trượng lướt êm ru, rẽ lớp bèo tây và những vạt sậy ngập nước cao lút đầu người, luồn sâu vào vùng bãi bồi sạt lở mé hạ nguồn.

Mùi xác cây mục rữa lẫn với mùi tanh nồng của mạt linh sa trôi dạt từ thượng nguồn xộc thẳng vào cánh mũi, hăng hắc và buốt nhói. Dọc theo con lạch ngoằn ngoèo dẫn ra dòng chính của Bến Bạch Sa, từng cọc tre cắm tiêu của nha môn huyện An Lưu nhô lên khỏi mặt nước đỏ quạnh, chao đảo theo từng đợt sóng ngầm cuộn xiết. Phía xa xa, trên gò đất cao mé tây bến đò, ánh đuốc vàng vọt từ điếm canh gác của đám sai nha Công tào le lói qua làn sương mù dày đặc. Tiếng chó sủa ran từng chập đứt quãng, xen lẫn tiếng xích sắt va vào nhau lách cách rợn người khi lính huyện đi tuần rà soát các tốp thuyền chài trôi dạt vào bờ tìm chỗ cắm sào tạm bợ.

"Cúi thấp người xuống nữa," Hà Thu thì thầm, giọng khàn đặc vì sương đêm nhưng dứt khoát đến lạnh lùng.

Nàng ta không nhấc hẳn mái chèo lên khỏi mặt nước để tránh tạo ra tiếng bì bõm đánh động lũ chó săn trên bờ, chỉ dùng cổ tay dẻo quẹo uốn lượn bản gỗ ngập sâu dưới dòng nước xiết. Từng nhịp chèo dìm sâu, xoay nghiêng bản gỗ rồi đẩy nhẹ ra sau, thuần thục như một con rái cá rẽ nước trong đêm tối.

"Lũ nha sai của Hoàng Cẩn vừa lập thêm ba điếm canh phụ dọc mép đầm sậy từ canh ba," Hà Thu tiếp tục hạ thấp giọng, mắt đảo quanh từng vệt nước xoáy ven bờ. "Chúng lùng sục bắt phu dữ lắm. Đò nào không có thẻ đinh của huyện hay lệnh bài của Tam Giang là chúng kéo tuột lên bờ, tịch thu thuyền rồi giải thẳng về lán trại Đê Hồi Long. Nghe đâu đoạn đê xung yếu phía đông vừa sụt lún thêm hai trượng, đá kè nứt toác, chúng đang thiếu người đầm đất đến mức đỏ cả mắt."

Bùi Hạ thu mình dưới vòm mui nứa rách, mắt dán chặt vào những bóng đuốc chập chờn trên triền đê cao. Thuyền nan lướt qua một doi đất ngập, thân tre cọ rào rào vào những đám cọc tiêu cừ gãy trơ gốc ngâm bùn. Hà Thu thuộc từng luồng lạch, từng rãnh nước ngầm nơi khúc sông này như lòng bàn tay; nàng ta ghì mũi thuyền lách qua một bọng rễ cây đa cổ thụ đã bật gốc trôi dạt từ thượng nguồn nằm chắn ngang dòng, rồi khéo léo bẻ lái ép sát vào mạn sau của một dãy nhà bè bỏ hoang đã xiêu vẹo, dập dềnh vì nước lũ dâng cao.

Trước mặt họ, mũi Bến Bạch Sa hiện ra tàn tạ và ảm đạm trong ánh rạng đông xám ngắt. Cầu tàu gỗ lim ngày trước nơi tàu buôn tấp nập vào ra tấp nập nay gãy gập làm đôi, một nửa chìm nghỉm dưới làn nước cuộn đỏ ngầu phù sa, một nửa chỏng trơ những thanh giằng mục nát bám đầy rác rưởi, xác súc vật trương phềnh và rơm rác trôi sông. Nằm lọt thỏm giữa doi đất sạt lở và chân cầu tàu đổ sụp là xác một quán trà lợp lá gồi cũ kỹ. Mái quán đã sụp mất nửa chái đông sau trận cuồng phong ba ngày trước, vách nứa trơ trọi bám đầy những mảng rêu sông xanh xám và bùn non sấy khô thành từng mảng nứt nẻ như vảy rắn.

Chiếc thuyền nan khẽ chạm vào cọc gỗ mục dưới sàn quán trà. Hà Thu tung sợi dây thừng bện bằng vỏ bao gai quấn chặt ba vòng quanh thân cọc, rồi khẽ huýt sáo một tiếng ngắn mô phỏng tiếng chim bói cá săn đêm lách chách bên bờ sậy.

Từ trong góc tối ẩm mốc của quán trà xiêu vẹo, nơi mấy chiếc bàn gỗ mốc xanh nằm nghiêng ngả giữa đống ngói vỡ và rác rác bến sông, một bóng người mảnh khảnh rụt rè bước ra.

Đó là Lê Chi. Nàng khoác trên mình bộ đạo bào màu xanh nhạt viền trắng của đệ tử ngoại môn Thanh Huyền Môn, nhưng gấu áo đã lấm lem bùn đất và sờn rách ở mép vạt, vạt trước còn dính mấy vệt bồ hóng đen đúa. Dưới ánh sáng nhờ nhợ của buổi bình minh chưa kịp rạng, gương mặt tròn trịa vốn dĩ lanh lợi hoạt bát của nàng nay tái mét, hốc hác, đôi quầng mắt thâm đen vì nhiều đêm liền không chợp mắt. Hai cánh tay nàng ôm khư khư trước ngực một bọc vải dầu lớn được buộc chằng chịt bằng nhiều vòng dây đay thô ráp.

"Hạ tỷ... Hà Thu tỷ..." Giọng Lê Chi run rẩy như sắp vỡ òa, nhưng nàng cố nén lại, vội vã cúi người nắm lấy mép sàn gỗ mục kéo hai người họ bước lên. "Mau vào góc trong! Mau lên! Toán tuần tra của Ty Trận Vụ vừa đi qua điếm canh số hai, bọn họ đang rà soát từng lán trại bên bờ đông, chỉ nửa khắc nữa là toán tuần tra đường sông sẽ chèo thuyền ngang qua đây!"

Bùi Hạ bước vào khoảng tối dưới mái hiên sụp, cởi chiếc áo tơi rách giũ nhẹ nước đọng rồi dựng sát mép vách nứa. Ánh mắt nàng dừng lại trên đôi bàn tay đang run lẩy bẩy của Lê Chi. Nàng vươn bàn tay trái lành lặn nắm lấy cổ tay người bạn cũ, truyền sang một chút ấm áp từ lòng bàn tay thô ráp chai sần:

"Chi muội, bình tĩnh lại đã. Hít thở sâu vào. Bọn ta tới rồi. Ống tre của muội gửi đến gác chuông rất an toàn, không bị ai chặn lại đâu."

Lê Chi hít một hơi sâu, luồng khí lạnh buốt của buổi sớm dường như giúp nàng trấn định lại đôi chút. Nàng quỳ thụp xuống bên chiếc bàn gỗ thấp nhất — chiếc bàn duy nhất còn đứng vững trên ba chân giữa góc quán tồi tàn, mặt bàn phủ một lớp rêu sông ẩm ướt và mốc trắng li ti. Đôi bàn tay gầy gò của nàng vội vã cởi từng nút thắt dây đay, mở tung lớp vải dầu chống nước dày cộp được gói ghém cẩn thận thành ba tầng.

Bên trong là một xấp giấy bổi chép tay dày cộp, mép giấy quăn queo vì hơi ẩm sông nước bốc lên, nhưng từng dòng chữ mực đen vẫn còn sắc nét, thẳng hàng và ngay ngắn. Đó là nét chữ nhỏ nhắn, chuẩn xác và mực thước của người làm việc lâu năm trong các kho lưu trữ hồ sơ của môn phái.

"Tạ Duy đã hạ lệnh niêm phong toàn bộ kho hồ sơ dã chiến tại dịch trạm Bến Bạch Sa từ trưa hôm qua," Lê Chi thì thầm, giọng nghẹn lại trong cổ họng, đôi mắt không ngừng đảo qua những kẽ hở của vách nứa mục nát nhìn chằm chằm ra ngoài bến nước. "Hắn mang danh nghĩa của Chưởng Vụ Đường, tuyên bố rằng để chuẩn bị cho đợt lũ thứ hai sắp đổ về từ thượng nguồn, toàn bộ danh sách cứu hộ ban đầu phải thu hồi về nội môn để 'thống nhất quy chuẩn sổ sách'. Nhưng ta tận mắt thấy đám thủ hạ thân tín của hắn khiêng hai thùng than lớn vào phòng lưu trữ ngầm. Chúng chuẩn bị đốt sạch toàn bộ bản thảo đối chiếu thực địa ngay trong trưa nay."

Nàng run rẩy lật từng trang giấy, trải rộng chúng lên mặt bàn mốc thếch:

"Ta không thể mang bản gốc ra ngoài được. Trên mỗi tập tài liệu của nha môn và phái bộ đều có phong ấn linh lực của Ty Vật Tư, hễ mang ra khỏi cửa kho là linh văn sẽ phát sáng báo động. Ta chỉ có thể thức trắng hai đêm liền, trốn sau các giá gỗ mục ở góc kho tối nhất, dùng giấy bổi riêng giấu dưới đáy hòm thuốc để chép lại từng trang... Từng trang một về danh sách thực tế của đợt sơ tán bảy ngày trước."

Bùi Hạ ngồi xuống đối diện, kéo xấp giấy về phía mình. Nàng thò tay trái vào sâu trong vạt áo trong, rút ra mảnh giấy biên nhận cứu hộ rách nát mà Vũ Liên đã giao nộp đêm qua, cùng tờ trình ghi lại danh tính ba mươi mốt nạn dân hiện đang cư trú trên đỉnh núi Đoạn Phong do chính tay nàng và lão thợ đá Nguyễn Mộc lập nên.

"Chúng ta so khớp từng mục một," Bùi Hạ nói nhỏ, thanh âm trầm tĩnh và sắc lạnh như lưỡi đục thép cào trên đá cứng. "Chỉ có đối chiếu từng chữ, từng con số mới lột trần được thủ đoạn của chúng."

Dưới ánh sáng mờ đục rọi qua khe nứa thủng lỗ chỗ, ba cái đầu chụm lại bên mặt bàn mục ải. Hà Thu rút từ thắt lưng ra một que đóm nhỏ gảy nhẹ tàn than còn đỏ rực trong ống trúc giữ lửa, thổi bùng lên một ngọn lửa hạt đỗ le lói để soi rõ từng hàng chữ li ti. Đầu ngón tay trái của Bùi Hạ lướt qua từng cột mực đen còn thơm mùi tràm khô.

Sự thật trần trụi và tàn nhẫn dần hiện ra dưới từng nét chữ chép vội, đập thẳng vào mắt họ như những vết chém rỉ máu.

Trên xấp giấy của Lê Chi, các bản báo cáo chính thức do Ty Vật Tư và Ty Tuyển Mộ gửi lên huyện nha An Lưu và Trấn Linh Ty ghi rõ bằng thứ văn tự trau chuốt, hào nhoáng:

*Đợt sơ tán ngày mùng bốn tháng bảy tại Bến Bạch Sa: Linh thuyền Thanh Huyền Môn đã tiếp nhận ba trăm sáu mươi nạn dân từ các vùng ngập lụt Đoài Khê và Bạch Sa. Toàn bộ ba trăm sáu mươi người đã được đưa lên khoang thuyền bảo hộ, vận chuyển an toàn về bản sơn an trí. Mỗi khẩu phần cứu nạn được cấp phát định kỳ gồm nửa bao gạo trắng, hai cân muối Diêm Trì và mười lượng bạc trợ cấp công quỹ mỗi tháng trích từ nguồn ngân khố cứu trợ khẩn cấp của Trấn Linh Ty.*

Nhưng ngay bên cạnh cột báo cáo ấy, cột ghi chép thực địa của khoang thuyền — phần mà Lê Chi đã liều mạng sao chép lại từ sổ tay nháp của các đệ tử tạp dịch trực tiếp giám sát dưới bến — lại phơi bày một thảm kịch hoàn toàn đối lập.

"Nhìn vào đây," Bùi Hạ đặt đầu ngón tay dính bùn vào một dòng chữ mảnh mang tên Vũ Liên.

*Vũ Liên, mười bảy tuổi, ngụ thôn Đoài Khê, ngũ hành tạp căn hạ phẩm. Bị gạt lại bến bùn lầy lúc giờ Thìn ba khắc vì khoang thuyền ưu tiên hàng hóa của thương điếm.*

Nhưng ở cột tổng kết bên phải chuẩn bị gửi lên nha môn Trấn Linh Ty, dòng chữ bên cạnh tên nàng lại đóng một dấu triện son vuông vức, đỏ chót như máu: *Đã đưa về bản sơn an trí. Đã lĩnh trọn khẩu phần cứu tế tháng đầu.*

Không chỉ có một mình Vũ Liên. Đầu ngón tay Bùi Hạ tiếp tục run lên kìm nén cơn giận dữ đang bốc hỏa trong lồng ngực khi đọc tiếp những cái tên quen thuộc — những con người đang ngày đêm chia nhau từng muỗng cháo kê loãng trên đỉnh Đoạn Phong hoang tàn:

*Trần Đại, thợ chèo đò ngụ bến Đoài. Bị gạt lại vì khoang dưới chật chội.* *Lê Văn Trọng, thợ chèo đò. Bị đuổi xuống bãi lầy lúc giờ Thìn.* *Ngô Bính, thợ chèo đò. Đẩy lùi khỏi mạn thuyền.* *Hà Tam, thợ chèo đò. Không có chỗ.* *Trần Thốc, nông phu xã Bạch Sa. Bị gạt lại.* *Trịnh thị cùng con nhỏ Cẩu Đản. Đệ tử khoang đẩy xuống bến bùn vì sợ khóc náo động.* *Nguyễn Mộc, thợ khắc đá. Bị gạt lại.* *Lâm Tự, thợ mộc, cùng con gái Lâm An. Bị tước thẻ lên thuyền lúc nhổ neo.*

Từng dòng, từng dòng một kéo dài dằng dặc. Hơn một trăm cái tên. Chính xác là một trăm hai mươi tư con người bằng xương bằng thịt.

Tất cả bọn họ — những người từng bị đám đệ tử ngoại môn Thanh Huyền Môn dùng gậy gỗ và roi mây xua đuổi không thương tiếc xuống bãi bùn lầy ngập ngụa trong đêm mưa gió bão bùng, những người suýt chút nữa đã làm mồi cho thủy quái và dòng nước xiết nếu không gom góp chút tàn lực cuối cùng dìu dắt nhau leo lên đỉnh Đoạn Phong nương náu — trên giấy tờ quan phương của môn phái đều được ghi rành rành là *đã đón lên linh thuyền an toàn, đã nhận đủ lương thực và bạc trắng*.

"Một trăm hai mươi tư người bị gạt lại," Hà Thu nghiến răng ken két, hai hàm răng siết chặt phát ra tiếng ken két ghê rợn, lồng ngực nàng ta phập phồng dữ dội dưới lớp áo tơi đẫm nước. "Thế mà trên sổ sách gửi huyện phủ và Trấn Linh Ty, chúng vẫn ngang nhiên lĩnh trọn một trăm hai mươi tư phần gạo trắng, muối hạt và bạc trợ cấp! Mỗi một mạng người nghèo khổ dưới mắt chúng chỉ là một cái tên để rút ruột kho công quỹ! Chúng lấy mạng sống của dân trôi sông lạc chợ để vỗ béo cho kho riêng của Ty Vật Tư!"

"Không chỉ có thế đâu..." Lê Chi cúi gục đầu xuống gối, hai giọt nước mắt lăn dài trên đôi gò má hốc hác, để lại vệt sáng nhờ nhợ dưới ánh lửa tàn. "Mỗi một cái tên bị gạt lại để nhường chỗ trên linh thuyền... đều là những chỗ ngồi được đem bán lén cho gia quyến các phú hộ, các chủ hiệu buôn lớn ở vùng hạ lưu với giá ba mươi lượng bạc một vé lên thuyền. Bọn Tạ Duy và đám chấp sự lấy bạc của nhà giàu nhét đầy túi riêng để cho người ta mang theo cả hòm xiểng lên thuyền chạy lũ, rồi lại giữ nguyên tên của nạn dân nghèo khổ trên sổ bộ để rút ruột kho công quỹ của Trấn Linh Ty và nha môn huyện An Lưu."

Bùi Hạ nhắm nghiền hai mắt lại, cảm nhận luồng nộ khí cuộn trào khiến vết thương ở kinh Phế nhói buốt dữ dội.

Một sự gian lận hoàn hảo, khép kín và tàn nhẫn đến rợn người!

Kẻ chết trôi hay kẻ sống sót dạt vào hoang đảo đều không có tiếng nói. Nếu nhóm người của Bùi Hạ chết đói trên ngọn núi cô độc Đoạn Phong, hoặc giả như đợt lũ thứ hai cuốn phăng cả ngôi đạo quán hoang phế xuống đáy sông, toàn bộ vụ việc này sẽ vĩnh viễn bị chôn vùi dưới dòng nước đục ngầu của sông Vân Hà. Không một ai trong cõi đời này biết rằng một trăm hai mươi tư con người ấy từng tồn tại, bởi trên sổ sách lưu trữ ngàn năm của tiên môn, họ đã được "từ bi cứu vớt" và đang sống an lành, no ấm dưới chân núi thần tiên!

"Chỉ có bản chép tay này thì vẫn chưa đủ," Bùi Hạ mở mắt ra, ánh mắt nàng lại khôi phục vẻ sắc lạnh, tỉnh táo đến tàn nhẫn. Nàng hiểu rõ quy tắc của chốn công đường và sự chặt chẽ, đa nghi của những viên chức hình luật như Đinh Tuệ. "Tạ Duy không phải kẻ ngu dốt. Hắn hoàn toàn có thể đứng trước công đường mà cãi rằng đây chỉ là bản thảo sơ bộ của một đệ tử ngoại môn sao chép cẩu thả, nhầm lẫn số liệu. Hắn có thể đổ hết tội lỗi lên đầu một vài thư lại cấp dưới ghi sai tên họ, phạt mấy trượng là xong chuyện. Hoặc trắng trợn hơn, hắn sẽ tuyên bố đây là tài liệu ngụy tạo do tà tu hay kẻ bất mãn tung ra nhằm bôi nhọ thanh danh môn phái. Muốn vạch trần tội ác ăn chặn đinh tịch cứu nạn này, chúng ta phải chứng minh được rằng chiếc linh thuyền đó thực tế không hề chở những người này rời bến vào thời khắc đó."

"Ta có thứ để đập nát mồm miệng ngụy biện của hắn," Hà Thu cất giọng đanh gọn, ánh mắt lóe lên tia sáng sắc sảo của loài sói nước.

Người nữ lái đò của Hội Đồng Châu thọc sâu bàn tay thô ráp vào lớp áo tơi dày cộm, lôi ra từ một ngăn túi bí mật được may bằng da rái cá một cuốn sổ bọc da cá nhám đã sờn rách bốn góc. Mặt ngoài cuốn sổ loang lổ những vệt nước phù sa khô khốc, mép giấy đóng bằng chỉ gai to bản nhuộm vỏ tràm. Nàng ta đặt mạnh cuốn sổ lên mặt bàn gỗ mốc bên cạnh xấp giấy của Lê Chi, phát ra một tiếng "cộp" nặng nề.

"Đây là cuốn nhật ký cập bến của Hội Đồng Châu," Hà Thu lật từng trang giấy dày bện bằng sợi đay ngâm dầu rái cá — thứ giấy chuyên dùng của giới thương hồ sông nước, không sợ ngấm nước hay mục nát dù ngâm dưới đáy sông nhiều ngày. Từng con số, giờ khắc và ký hiệu thuyền bè được ghi chép tỉ mỉ, thẳng thớm bằng mực tàu pha mật cá đen lánh. "Mạng lưới phu đò và thợ chèo của Hội Đồng Châu kiểm soát toàn bộ luồng lạch Bến Bạch Sa từ đời cha ông để lại. Quan phủ hay tiên môn có thể làm giả sổ sách trong phòng kín, nhưng sông nước thì không biết nói dối. Trong suốt ba ngày lũ lớn, mọi chuyến thuyền ra vào, cập bến, cắm sào hay nhổ neo đều được thợ trực canh của chúng ta ghi lại chính xác từng khắc một để tính thuế bến bãi và phân luồng cứu hộ."

Đầu ngón tay thô ráp đầy vết chai của Hà Thu lướt dọc theo trang giấy ghi ngày mùng bốn tháng bảy, dừng lại ở một dấu mộc khắc hình chiếc mỏ neo quấn dây thừng:

"Nhìn cho kỹ vào đây! Linh thuyền 'Thanh Vân số ba' của Ty Tuyển Mộ cập cầu tàu Bạch Sa lúc giờ Dần ba khắc. Tải trọng tối đa của thuyền ghi trong sổ bến là bốn trăm người. Giờ Thìn đúng, thuyền kéo neo nhổ sào quay về bản sơn. Số đầu người thực tế bước chân lên cầu tàu qua sự giám sát và đếm đầu của thợ đò Hội Đồng Châu chỉ có đúng hai trăm ba mươi sáu người! Trong đó có đúng một trăm người là đệ tử chiến đấu và tạp dịch của môn phái mang theo binh khí, ba mươi sáu người là thân quyến cùng gia nhân của các chủ tiệm buôn lớn ở phố huyện mang theo rương hòm lớn nhỏ, còn lại vẻn vẹn đúng một trăm nạn dân có linh căn sơ cấp được chọn lựa kỹ càng."

Hà Thu lật tiếp một trang nữa, ngón tay gõ mạnh lên mặt giấy:

"Tiếp tục nhìn dòng này! Giờ Tỵ một khắc cùng ngày, linh thuyền 'Thanh Vân số bốn' xuất bến rời bến Bạch Sa. Chiếc thuyền này không chở người tị nạn, mà chở theo sáu mươi rương gỗ lớn chứa linh sa thô và hàng hóa xa xỉ của các thương điếm lớn chuyển về hậu phương, số người trên thuyền chỉ vẻn vẹn bốn mươi người gồm thủy thủ và hộ vệ! Toàn bộ thuyền bè của Thanh Huyền Môn rời bến Bạch Sa trong đợt sơ tán đó chỉ chở tổng cộng hai trăm bảy mươi sáu người! Lấy đâu ra con số ba trăm sáu mươi nạn dân như trong bản báo cáo ăn khống của Tạ Duy?"

Từng mảnh ghép rời rạc bỗng chốc khớp chặt vào nhau thành một mắt xích chứng cứ hoàn chỉnh, đanh thép và không thể chối cãi trên mặt bàn gỗ mục nát:

Bản chép tay của Lê Chi vạch trần danh sách ba trăm sáu mươi cái tên bị lập khống, phơi bày cơ chế ăn chặn từng đấu gạo, từng cân muối và từng lượng bạc cứu trợ từ sâu bên trong kho lưu trữ của môn phái;

Cuốn nhật ký cập bến của Hội Đồng Châu đóng vai trò bằng chứng độc lập từ bên ngoài, chứng minh chuẩn xác giờ giấc di chuyển, tải trọng và số lượng người thực tế bước lên từng khoang thuyền dưới sự chứng kiến của nghiệp đoàn sông nước;

Và cuối cùng, ba mươi mốt con người bằng xương bằng thịt đang sống sót trên đỉnh núi Đoạn Phong — cùng lá đơn tố giác có điểm chỉ máu đỏ thắm của bốn thợ chèo đò và chứng thư y lý tỉ mỉ của Đỗ Nghi ghi lại từng vết thương do gậy gộc đệ tử tiên môn gây ra — chính là những nhân chứng sống sờ sờ, bước ra từ cõi chết để cất lên tiếng nói công lý!

Cả ba tài liệu này khi ghép lại sẽ đập tan hoàn toàn luận điệu vu cáo hiểm độc "chứa chấp đệ tử đào tẩu và dung dưỡng loạn dân" mà Tạ Duy cùng vây cánh đang rắp tâm dùng để bức tử Đạo quán Vọng Đăng. Nó biến nguy cơ bị khép tội diệt vong thành một đòn phản công chí mạng giáng thẳng vào sự giả dối, tham lam và mục nát của Ty Vật Tư Thanh Huyền Môn ngay trước mắt các quan giám định của triều đình.

Bùi Hạ cẩn thận xếp xấp giấy chép tay của Lê Chi vào giữa những trang nhật ký dày dặn của Hội Đồng Châu, rồi dùng tấm vải dầu bọc kín lại, thắt nút dây đay chắc chắn thành một gói vuông vắn áp vào ngực áo.

Bất chợt, một bàn tay gầy gò vươn tới, nắm chặt lấy vạt áo tơi của Bùi Hạ.

Bàn tay Lê Chi run rẩy dữ dội, móng tay bấu chặt vào lớp lá cọ khô giòn đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, không còn giọt máu. Đôi mắt nàng mở to, đong đầy sự hoảng loạn, sợ hãi và khẩn thiết tột cùng khi nhìn thẳng vào mắt Bùi Hạ.

"Hạ tỷ... muội xin tỷ! Muội van tỷ!" Giọng Lê Chi nghẹn ngào, run rẩy trong từng hơi thở dồn dập, đứt quãng. "Tỷ phải hứa với muội một điều... Tỷ phải thề với muội! Bằng mọi giá, tỷ chỉ được phép đưa xấp tài liệu này ra ánh sáng qua kênh kiểm định chính thức của Trấn Linh Ty! Tỷ tuyệt đối, tuyệt đối không được nộp nó cho huyện nha An Lưu, cũng không được đem đối chất công khai trước mặt môn phái khi chưa có lệnh bảo hộ chính thức từ quan giám định Đinh Tuệ!"

Bùi Hạ nhìn sâu vào đôi mắt đang ngấn lệ của người bạn cũ. Nàng cảm nhận được nỗi khiếp sợ tột cùng đang bóp nghẹt tâm can cô gái nhỏ bé trước guồng quay khổng lồ của môn phái:

"Chi muội, ta hiểu chứ. Huyện nha An Lưu vốn ăn cùng mâm, thở cùng nhịp với Ty Trận Vụ, giao cho họ chẳng khác nào nộp mình vào miệng cọp. Nhưng muội sợ điều gì nhất?"

"Muội sợ Tạ Duy sẽ giết cả nhà muội!" Lê Chi run rẩy thốt lên, nước mắt rốt cuộc không kìm nén được nữa trào ra lã chã, lăn dài trên đôi má lấm lem tro bụi. "Cha muội và hai em nhỏ vẫn đang làm thuê trong các xưởng mộc tạp dịch dưới chân núi Thanh Huyền. Cả đời cha muội còng lưng bào từng khúc gỗ lim cho môn phái để đổi lấy vài bát cơm hằng ngày. Tạ Duy là quản sự của Ty Trận Vụ, tay chân của hắn rải khắp các xóm thợ ngoại môn, từ phường mộc đến lò rèn. Nếu hắn biết muội là người chép lại tập danh sách này trước khi Trấn Linh Ty vào cuộc điều tra... hắn sẽ không tha cho gia đình muội đâu! Hắn chỉ cần khẽ nhếch mép, vu cho cha muội tội phá hoại vật tư công trình, rồi tống giam ông vào ngục tối, đẩy hai đứa em nhỏ của muội vào những lò nung linh sa độc hại ở hẻm núi sâu... Cả nhà muội sẽ chết không có chỗ chôn!"

Nàng hít một hơi run rẩy, vội vã đưa tay áo quệt ngang dòng nước mắt, rồi ghé sát tai Bùi Hạ, thì thào một bí mật khác bằng thanh âm run rẩy đến nghẹt thở:

"Còn một chuyện nữa... Thầy cũ của tỷ, Trần lão... Trần Kính sư phụ, người cũng đang gặp nguy hiểm tính mạng."

Bùi Hạ sững người, toàn thân nàng cứng đờ như bị sét đánh ngang tai. Ngón tay trái bất giác siết chặt lấy thanh nẹp tre ở cẳng tay phải đến mức các thớ tre già kêu răng rắc:

"Thầy làm sao? Mau nói đi, thầy Kính bị làm sao?"

"Trần lão bị giam lỏng, cô lập hoàn toàn trong xưởng trận số ba từ năm ngày trước rồi," Lê Chi thì thào, giọng đầy xót xa và căm phẫn. "Tạ Duy ép người phải ký tên và đóng dấu triện thợ cả vào sổ quyết toán vật tư cho các tuyến dẫn linh tại Đê Hồi Long và các đập ngăn lũ phụ cận, nhằm hợp thức hóa toàn bộ số đá sa thạch thiêu kết pha tạp xỉ than phế phẩm mà hắn đã tuồn vào công trình để ăn chênh lệch hàng ngàn lượng bạc trắng. Nhưng Trần lão kiên quyết từ chối. Người đập bàn mắng thẳng vào mặt Tạ Duy giữa xưởng trận, bảo rằng công trình sai chuẩn kỹ thuật nghiêm trọng như vậy, nếu đưa vào vận hành trong đợt lũ thứ hai tới đây, áp lực linh lưu sẽ làm nổ tung toàn bộ chân kè, vỡ tan tành cả vùng đồng bằng hạ lưu, chôn vùi hàng vạn sinh linh. Người bảo người thà chết chứ không thể gánh món nợ máu đó cho lũ sâu mọt. Vì thế, Tạ Duy đã hạ lệnh thu lại lệnh bài ra vào kho của người, cắt giảm khẩu phần ăn hằng ngày xuống mức cầm hơi, và hạ lệnh cấm tiệt không cho bất kỳ ai — dù là đệ tử hay người nhà — được bén mảng tiếp xúc với người..."

Trần Kính.

Cái tên ấy vang lên như một nhát dao cứa thẳng vào ký ức của Bùi Hạ.

Đó là người thầy đầu tiên dạy nàng cách cầm bút lông vót nhọn vẽ từng đường linh văn cơ bản trên phiến đá thô, người từng kiên nhẫn chỉ cho nàng thấy dòng chảy vi tế của linh khí ngũ hành trong từng thớ đá sa thạch. Đó cũng là người từng nắm chặt tay nàng trong đêm nàng bị phế bỏ tu vi, cay đắng khuyên nàng phải biết nhẫn nhịn, phải sống sót trước cỗ máy quyền lực tàn bạo của tiên môn. Và cũng chính ông, trong buổi phân xử oan nghiệt năm ấy, đã phải cắn răng bỏ lá phiếu thuận đầy nhục nhã để trục xuất nàng khỏi môn phái nhằm che chở cho những người thợ trẻ khác khỏi cơn thịnh nộ lôi đình của đám quản sự Chưởng Vụ Đường.

Hóa ra, ngay cả một thợ trận lão thành mang tu vi Luyện Khí tầng tám như ông, một người cả đời cống hiến cho những bờ kè, con đập của Thanh Huyền Môn, khi đứng trước ranh giới cuối cùng của lương tâm nghề nghiệp và sinh mạng của hàng vạn bá tánh, cũng đang bị guồng quay quyền lực của môn phái nghiền nát không một chút xót thương.

"Ta hiểu rồi," Bùi Hạ gật đầu thật mạnh, ánh mắt nàng kiên định và trầm tĩnh như bàn thạch ngàn năm dưới đáy sông sâu. Nàng dùng bàn tay trái vỗ nhẹ lên mu bàn tay lạnh ngắt, gầy guộc của Lê Chi, truyền cho nàng một niềm tin vững chãi: "Chi muội, ta thề trước vong linh của những người đã chết trôi oan khuất dưới bến sông này: tài liệu này sẽ chỉ được chuyển giao trực tiếp cho Đinh Tuệ của Trấn Linh Ty theo đúng trình tự tố giác pháp lý nghiêm ngặt nhất của triều đình. Tên của muội sẽ không bao giờ xuất hiện trên bất kỳ văn bản công khai nào, danh tính của muội sẽ được giấu kín tuyệt đối cho đến khi gia đình muội được đưa đến nơi an toàn. Ta lấy mạng sống của mình ra bảo đảm điều đó."

Lê Chi thở phào một hơi dài trút bỏ, cả người nàng mềm nhũn ra như vừa trút được một tảng đá ngàn cân đang đè nặng lồng ngực suốt bao ngày đêm. Nàng vừa định mở miệng nói lời cảm ơn thì—

Cốc! Cốc! Cốc!

Ba tiếng gõ đanh gọn, dồn dập vang lên từ mạn thuyền nan dưới sàn gỗ quán trà. Đó là tín hiệu cảnh báo khẩn cấp bậc nhất của Hà Thu!

"Có biến! Mau lên! Đám tuần tra tới rồi!" Tiếng Hà Thu rít qua kẽ răng, gấp gáp như tên bắn từ dưới sàn nước vọng lên.

Từ phía đầu bến Bạch Sa, ánh đuốc bỗng rực sáng cả một góc trời, xé toạc màn sương mù mờ ảo của buổi sớm. Tiếng ủng da nện thình thình trên những tấm ván cầu tàu đổ nát, rầm rập như sấm động, kèm theo tiếng quát tháo hống hách, tiếng chó săn sủa gắt gao và tiếng tuốt kiếm khỏi bao vang lên sắc lẹm, chói tai:

"Lục soát kỹ khu vực nhà bè và các quán trà bỏ hoang mé bờ nam! Quản sự có lệnh nghiêm: bắt giữ ngay lập tức bất kỳ kẻ nào lén lút lai vãng gần kho hồ sơ Bến Bạch Sa! Bất kể là đệ tử ngoại môn hay dân chài trôi sông, kẻ nào dám chống cự chém ngay tại chỗ không cần bẩm báo!"

Toán tuần tra của Thanh Huyền Môn!

Bọn chúng không chỉ tuần tra vòng ngoài như mọi ngày mà đã ập thẳng vào khu vực bãi bồi ven sông, rà soát từng tấc đất với quy mô và khí thế hung hãn chưa từng có. Những vạt áo bào màu xanh ngọc thấp thoáng qua làn sương mỏng, mang theo luồng linh áp sắc lạnh của những chiến tu Luyện Khí tầng năm, tầng sáu đang tỏa ra bốn phía, đè nặng bầu không khí ẩm ướt ven sông.

"Muội đi lối cửa sau, men theo bờ rào xưởng gỗ cũ quay về trạm xá dã chiến ngay!" Bùi Hạ đẩy nhẹ bờ vai Lê Chi về phía góc vách nứa bị bão đánh thủng ở mé tây quán trà. "Đừng quay đầu lại, nhặt lấy mấy bó cỏ khô bên đường, cứ vờ như đang đi cắt thảo dược cho thương bệnh binh từ sớm!"

"Hạ tỷ cẩn thận!" Lê Chi cắn chặt môi, nhanh thoăn thoắt lách mình qua khe nứa mục, thân hình nhỏ nhắn thoắt cái đã biến mất hút vào màn sương dày đặc đang bao phủ triền đồi dốc.

Cùng lúc đó, Bùi Hạ ôm chặt bọc tài liệu quý giá vào sâu trong lòng chiếc áo tơi rách, cúi gập người trượt theo thân cột gỗ mục tụt xuống lòng thuyền nan. Cánh tay phải bị gãy va nhẹ vào mạn thuyền khiến nàng đau điếng, mồ hôi lạnh toát ra đầm đìa trên trán, nhưng nàng cắn chặt môi không để lọt ra một tiếng rên rỉ.

Nàng vừa kịp ngồi thụp xuống đáy thuyền, kéo tấm mui nứa rách trùm kín thân mình thì trên sàn gỗ quán trà phía ngay trên đầu đã vang lên tiếng ủng sắt giẫm nát đống ngói vỡ vụn rổn rảng.

"Có dấu chân ướt ở đây! Bùn còn mới nguyên!" Tiếng một tên tuần tra Thanh Huyền Môn gầm lên dữ tợn ngay trên nóc mui thuyền, bụi gỗ và mạt ngói rơi lả tả xuống mặt nước. "Mau rọi đuốc xuống gầm sàn! Lục soát dưới các cọc gỗ!"

Ánh lửa đỏ quạch từ cây đuốc tẩm dầu rọi qua các khe nứt của sàn gỗ, quét từng vệt sáng loang loáng trên mặt nước đen ngòm.

Hà Thu không một chút nao núng. Với bản lĩnh phi thường của một người nữ lái đò đã cả đời vật lộn với sóng gió sông Vân Hà, nàng ta không thèm dùng đến mái chèo để tránh khuấy động bọt nước. Đôi bàn chân trần chai sần của nàng đạp mạnh một phát dứt khoát vào thân cọc gỗ mục ngập sâu dưới nước, đồng thời dùng đầu gối ghì chặt mạn thuyền.

Chiếc thuyền nan nhẹ tênh như một chiếc lá khô trượt lùi êm ru vào bóng tối đen kịt bên dưới rặng cây đa cổ thụ đổ ngập nước, lẩn khuất hoàn toàn giữa đám rễ phụ chằng chịt bám đầy rêu và những mảng bèo tây trôi dạt dập dềnh.

Phập!

Một mũi tên gỗ bịt sắt xé gió bắn xuống, cắm phập vào thân cây đa chỉ cách mũi thuyền nan nửa gang tay, làm rung rinh những chùm rễ mục rủ xuống mặt nước!

"Dưới này chỉ có rác trôi sông và bèo tây thôi, thưa sư huynh!" Tiếng một tên đệ tử trẻ tuổi vọng xuống từ sàn quán trà. "Không có thuyền bè nào cả, chắc là dấu chân của mấy con rái cá hoặc dân chài đi trộm củi đêm qua."

"Mẹ kiếp, cẩn thận không thừa đâu! Đi sang dãy nhà bè phía tây lục tiếp!"

Tiếng bước chân rầm rập xa dần trên sàn gỗ, mang theo tiếng quát tháo và tiếng xích sắt lách cách chuyển dịch về phía bờ đê. Màn sương mù đặc quánh và dòng nước xiết cuộn đỏ đã che chở trọn vẹn cho chiếc thuyền nan nhỏ bé trước khi ánh đuốc của đám tuần tra kịp soi thấu ngóc ngách hiểm trở này.

Hà Thu thở hắt ra một hơi nhẹ nhõm, đôi tay dẻo quẹo lại tì vào bản chèo. Nàng ta khẽ bẻ lái, con thuyền rẽ con nước đỏ ngầu, men theo những rãnh nước ngầm sâu hút nằm giữa các bãi bồi sạt lở, lặng lẽ và kiên trì ngược dòng trở về chân núi Đoạn Phong.

***

Khi Bùi Hạ đặt chân trở lại con đường mòn sườn nam dẫn lên đỉnh Đoạn Phong, mặt trời vẫn chưa ló rạng hoàn toàn sau những rặng mây xám xịt nặng trĩu nước nơi chân trời phía đông. Gió núi rít từng cơn lạnh buốt qua các khe đá nứt nẻ, mang theo hơi ẩm nồng nặc báo hiệu một đợt áp thấp mới đang cuồn cuộn hình thành ở thượng nguồn con sông.

Cánh tay phải của nàng nhói buốt dữ dội sau chặng đường dài giấu mình dưới đáy thuyền ướt lạnh. Từng thớ cơ ở bả vai nàng cứng đờ lại vì lạnh và căng thẳng, lồng ngực bỏng rát từng cơn sau những nhịp thở dồn dập leo dốc. Nhưng lớp vải dầu bọc cuốn nhật ký của Hội Đồng Châu và xấp giấy chép tay đầy tâm huyết của Lê Chi vẫn nằm nguyên vẹn, khô ráo và ấm nóng nơi lồng ngực nàng, áp sát vào từng nhịp tim đang đập dồn dập, mạnh mẽ.

Bùi Hạ bước qua cổng tam quan đổ nát của Đạo quán Vọng Đăng.

Khói bếp ban mai lượn lờ bay lên từ chái bếp phía tây, xua đi phần nào cái lạnh buốt giá của sương sớm, mang theo mùi ngai ngái của củ mài nướng vùi tro và mùi cháo kê loãng quen thuộc. Tiếng đục gỗ đều đặn, nhịp nhàng của người thợ mộc Lâm Tự từ gian nhà kho vọng lại, hòa cùng tiếng chổi tre quét sân lẹt xẹt của lão thợ đá Nguyễn Mộc trên nền gạch vỡ.

Sự bình yên thô ráp, nhọc nhằn nhưng đầy kiên cường của ba mươi hai con người cùng khổ vẫn đang âm thầm chống chọi với nghịch cảnh khắc nghiệt của đất trời và lòng người.

Thế nhưng, khi Bùi Hạ vừa nhấc bước chân nặng trĩu lên bậc thềm đá xanh dẫn vào gian chính điện, bước chân nàng bỗng khựng lại.

Ngồi nép mình bên bậu cửa gỗ nghiêng lệch, co ro trong chiếc áo vá chằng vá đụp của người lớn cắt ngắn lại, là cô bé Lâm An.

Đứa trẻ mười một tuổi không đi phụ giúp nhóm lửa ở chái bếp hay chạy nhảy quanh sân phụ giúp phơi củi khô như mọi ngày. Đôi bàn chân gầy guộc của em co quắp lại trên nền đá lạnh, hai bàn tay nhỏ nhắn giấu chặt trong vạt áo trước ngực, bấu chặt lấy một vật gì đó cưng cứng, vuông vức gồ lên dưới lớp vải thô ráp.

Nhìn thấy bóng dáng Bùi Hạ bước lên thềm đá, Lâm An ngẩng phắt đầu lên.

Đôi mắt đen láy của em mở to hết cỡ, ánh lên sự bồn chồn, khiếp sợ và bất an tột cùng. Đứa trẻ cắn chặt bờ môi khô nẻ đến mức rướm máu tươi, đôi vai gầy guộc khẽ run lên bần bật trong làn gió núi lạnh buốt. Đôi mắt ngập tràn sợ hãi ấy nhìn trân trân vào Bùi Hạ, miệng mấp máy như muốn mở lời nói ra một điều gì đó khủng khiếp — một bí mật nặng nề đang đè nghiến lấy tâm can non nớt của em suốt bấy lâu nay.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories