Tông Môn Sau Cơn Lũ — Phần 1: Ngọn Đèn Trên Núi VỡCh.23 / 40
Chapter 23

Chiếc Hòm Của Người Thầy

Tiếng then cài kẽo kẹt mở ra trong đêm gió rít; ánh đèn dầu hắt lên khuôn mặt đầy nếp nhăn và đôi tay run rẩy của Trần Kính khi ông đặt chiếc hòm gỗ mun sứt góc xuống thềm đá đạo quán.

Gió từ vực phía tây quất rát rạt qua rặng sa mu gãy ngọn, cuốn theo mùi tanh nồng của bùn lầy từ Bến Bạch Sa và vị ẩm lạnh buốt da của trận mưa lớn đang chực chờ đổ ập xuống núi Đoạn Phong. Trần Kính thở dốc từng cơn nghẹn ngào, lồng ngực gầy guộc phập phồng dưới lớp áo tơi bằng lá cọ rách tơi tả. Đôi bắp chân già nua bết đặc bùn đỏ vùng sạt lở run lên bần bật, như thể chỉ cần một cơn gió tạt ngang nữa thôi là cả thân hình còm cõi của người thợ trận lão thành sẽ sụp xuống nền đá nham nhở. Nước mưa hòa lẫn mồ hôi chảy ròng ròng qua những nếp nhăn sâu như rãnh xẻ trên trán, nhỏ từng giọt đùng đục xuống mặt thềm hoa cương xám xịt. Mỗi khớp xương của ông như đang phát ra tiếng cọ xát khô khốc sau nửa đêm lặn lội qua những triền dốc đất chuồi, nơi rễ cây trơ trọi như xương trắng của những kẻ chết trôi.

Bùi Hạ đứng sững ở bậu cửa chính điện. Cánh tay phải của nàng vẫn bị bó chặt trong nẹp tre già, ép sát vào mạn sườn bằng ba vòng vải gai thô đã ngả màu vàng ố vì nước sắc vỏ cây thuốc và mồ hôi tích tụ lâu ngày. Cơn đau âm ỉ từ vết nứt xương cũ nơi cổ tay như bị gió ẩm kích thích, giật từng nhịp nhức buốt lên tận bả vai. Nhưng tay trái nàng vẫn ghì chặt chiếc xà beng ngắn bằng thép đặc, đầu ngón tay siết mạnh vào thân kim loại lạnh toát đến mức các khớp xương trắng bệch ra. Nàng nhìn chiếc hòm mun đặt dưới chân ông lão — một vật dụng quen thuộc đến nhói lòng. Chiếc hòm ấy có những đường nẹp đồng viền bốn góc nay đã xỉn màu ô-xít xám xịt, góc trái phía trước sứt một mảng gỗ để lộ thớ thịt nâu thẫm; đó là nơi từng cất giữ những chiếc compa đo góc bằng đồng thau mười hai khắc, những con dao tiện đá chu sa chuôi bọc da cá đuối, và chiếc bàn cân tiểu ly đo linh sa chuẩn xác từng li từng tý mà bảy năm trước, chính người đàn ông đang còng lưng thở dốc này đã cầm tay nàng chỉ vẽ từng nét vạch đầu tiên trên giấy bổi.

Phía sau nàng, bóng Lâm Tự lặng lẽ bước ra từ gian kho khô ráo. Ánh sáng vàng vọt từ ngọn đèn dầu bọc khung sắt trên tay anh hắt lên bờ vai rộng khoác áo vải thô màu chàm. Đôi mắt anh đen thẫm, lạnh lùng dán chặt vào từng cử động nhỏ nhất của người khách lạ mặt, ngón tay phải giấu hờ sau lưng áo vẫn giữ chặt lấy chuôi chiếc đục mộc bằng thép xanh tôi nước suối — thứ vũ khí vừa dùng để xẻ rãnh gỗ, vừa sẵn sàng cắm ngập vào yết hầu kẻ đột nhập nếu có biến. Nguyễn Mộc cũng chậm rãi bước ra từ góc hành lang mé đông. Trên tay người thợ khắc bia già nua là xấp giấy bổi dày cộp và một ống bút lông thỏ cắm ba cây bút đã mòn ngọn; chòm râu bạc dài đến ngực khẽ rung rinh theo từng luồng khí lạnh lùa qua khe liếp, ánh mắt ông ngưng đọng đầy cảnh giác trước một kẻ mang y phục thợ ngoại môn của Thanh Huyền — mảnh áo ngắn màu xám tro viền chỉ xanh lục nay đã vấy bẩn bùn sình.

“Vào đi,” Bùi Hạ cất giọng khàn đặc, âm thanh đanh lại giữa tiếng gió hú ngoài mép dốc như muốn nuốt chửng phân nửa lời nàng. “Trên đỉnh gió độc, đứng ngoài đó đê chắn đất cũng không che nổi lạnh đâu.”

Trần Kính ngước đôi mắt đục ngầu, viền mắt đỏ hoe đầy tơ máu nhìn nàng. Ánh nhìn của ông chao đảo giữa bóng tối của núi rừng và quầng sáng le lói phát ra từ gian điện lạnh lẽo. Ông không nói một lời nào, bờ môi khô nứt nẻ mấp máy như muốn thốt lên một cái tên nhưng nghẹn ứ lại nơi cuống họng. Ông cúi gập tấm lưng còng, dùng bàn tay khẳng khiu như cành củi khô bọc một lớp da mồi nâng chiếc quai xách bằng da trâu đã sờn rách của chiếc hòm mun. Từng bước chân nặng nề nhấc qua bậu cửa gỗ nghiến dày cộp, kéo theo vệt nước mưa và bùn non rỉ ra từ đôi giày vải rách mũi.

Khi cánh cửa kép bằng gỗ lim mà Lâm Tự mới gia cố chiều qua khép sập lại, tiếng then cài bằng gỗ táu ăn sâu vào ổ mộng kêu một tiếng “cạch” khô khốc, toàn bộ tiếng gió gầm gào ngoài trời, tiếng rặng sa mu oằn mình trong giông bão lập tức bị ngăn lại sau lưng, chỉ còn lại sự tĩnh lặng nặng trĩu đè nghiến lên bốn con người trong chính điện.

Căn phòng chính điện chỉ thắp một ngọn đèn dầu thô đặt trên chiếc bàn đá thanh hoa bốn chân kê không đều nhau. Khói đèn lượn lờ bốc lên nóc điện xám xịt, tỏa ra mùi ngai ngái quen thuộc của mỡ cá trộn tim đay — thứ dầu thắp rẻ tiền nhất của những kẻ bần hàn trôi dạt.

Trần Kính ngồi sụp xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp. Hơi ấm mong manh trong phòng dường như không xua nổi cái lạnh thấu xương đang bám chặt vào cốt tủy ông sau chặng đường dài vượt bùn lầy. Thân hình ông co ro lại, hai đầu gối run bần bật gõ vào chân bàn đá. Bằng những ngón tay run rẩy, tím tái vì rét mướt, ông chạm vào chiếc khóa đồng hình hoa sen ba cánh đã hoen gỉ ten xanh nằm ở mặt trước hòm mun.

“Ta trốn khỏi xưởng số ba từ lúc chập tối…” Trần Kính mở lời, giọng khàn đặc và đứt quãng như tiếng hai hòn đá ráp chà xát lên một đống sắt vụn han gỉ. “Thằng bé học việc trông kho… thằng Lục ấy… năm ngoái mẹ nó sốt rét ác tính, từng nhận của ta nửa bao gạo cũ với mấy đồng tiền kẽm. Đêm nay nó trực gác, nó giả vờ ôm bụng đi tiểu đêm để mở hé chốt cổng sau cho ta lách ra. Nếu Tạ Duy phát hiện ra chiếc hòm này không còn nằm dưới hầm đá ngầm của ty vụ…”

Ông nuốt nước bọt cái ực, yết hầu nhô nhọn giật giật dưới lớp da cổ nhăn nheo. Đôi mắt ông láo liên nhìn quanh vách ván gỗ lim như thể sợ hãi những bóng ma của Hình Đường Thanh Huyền vẫn đang bám sát gót hài mình. Một chiếc chìa khóa sắt nhỏ cắm sâu vào ổ khóa đồng, xoay nhẹ một tiếng “tách” giòn tan. Nắp hòm mun nặng trịch bật mở, để lộ lớp vải lót bằng nhung đỏ đã mục nát theo năm tháng, rách tả tơi từng mảng lớn, tỏa ra một làn khí nồng nặc mùi lưu huỳnh khét lẹt xen lẫn mùi dầu trấu bảo quản đá trận lâu năm.

Bằng những động tác chậm rãi, nín thở và thận trọng tột cùng, như thể đang nâng niu những khối thuốc nổ nhồi linh thạch có thể bùng phát bất cứ lúc nào, Trần Kính thọc đôi bàn tay gầy trơ xương vào lớp nhung mục.

Ông lần lượt nhấc từ đáy hòm ra từng vật thể, đặt nhẹ nhàng lên mặt bàn đá thanh hoa.

Mười hai viên đá dẫn khí hình trụ bát giác. Mỗi viên dài chừng bốn tấc, đường kính chừng hai tấc rưỡi, các cạnh vát sắc sảo không một vết mẻ dăm. Toàn thân đá mang một màu xanh biếc trong vắt như nước hồ mùa thu, không hề gợn một tia vẩn đục hay một hạt bọt khí li ti nào. Ánh sáng vàng vọt, chập chờn của ngọn đèn mỡ cá hắt xéo qua thân đá, lập tức bị khúc xạ thành những dải lam quang u uẩn, làm hiện rõ những đường vân linh mạch tự nhiên chạy xoắn ốc đều đặn từ gốc lên ngọn như những sợi tơ tằm thượng hạng.

Đó là sa thạch thanh ngọc thượng phẩm — loại vật liệu dẫn truyền linh lưu tinh khiết và ổn định nhất mà Ty Trận Vụ Thanh Huyền Môn từng dùng để đúc cốt, tạo mắt dẫn áp cho các đại công trình cấp ba dùng để trấn áp thủy triều dọc lưu vực sông Vân Hà. Mỗi một viên đá thế này, ở chợ đen phường thợ bên bờ tây, có giá không dưới hai mươi khối linh thạch hạ phẩm, đủ để nuôi sống một gia đình thợ hồ suốt ba năm ròng rã. Mười hai viên đá xếp thành hai hàng thẳng tắp, sáng lấp lánh như mười hai con mắt lạnh lẽo nhìn chằm chằm vào khoảng tối của gian phòng.

Và cuối cùng, từ ngăn đáy bọc một lớp da trâu chống ẩm đã khô cứng và nứt nẻ, ông run rẩy rút ra một cuốn sổ tay dày cộp. Bìa sổ bằng da bò nung đen cáu bẩn, mép các trang giấy bổi bên trong đã quăn queo và ngả sang màu vàng sẫm vì hơi ẩm của hầm đá ngầm. Trên gáy sổ khâu bằng gân hươu, bốn chữ Hán thế chân phương khắc chìm bằng nét son đã mờ đi quá nửa, nhưng vẫn nhận rõ hình thù: *Ty Trận Vụ — Thực Lực Ký Sự*.

“Mười hai viên đá này… là đá định chuẩn từ kho dự phòng của xưởng cũ,” Trần Kính thì thào, ánh mắt ông dán chặt vào từng phiến đá lung linh trên mặt bàn, giọng nói như chìm đi trong một miền ký ức xa xăm đầy tội lỗi. “Là loại sa thạch thanh ngọc không pha một hạt xỉ, lấy từ mỏ đá ngầm tầng sâu Đoạn Kiếm Phong mười lăm năm trước. Còn đây… là cuốn sổ ghi chép toàn bộ thông số thử tải thực nghiệm mà ta đã lén lưu giữ lại suốt hai năm qua. Từ ngày con… từ ngày con bị tước thẻ thợ, bị trục xuất khỏi sơn môn.”

Bùi Hạ đứng bất động. Ánh mắt nàng không hề liếc qua mười hai viên đá thanh ngọc quý giá lấy một lần. Nàng thừa hiểu giá trị của chúng. Nàng biết rõ chỉ cần đem ba viên trong số đó cắm sâu xuống mắt trận Thiên Xu đang tắt ngấm ở góc sân tây, rồi dùng linh khí Luyện Khí tầng ba của mình kích hoạt trục dẫn, hộ sơn trận của Đạo quán Vọng Đăng sẽ lập tức bừng sáng trở lại, mở rộng màn chắn linh lưu che chở cho cả dãy phòng mé đông đang bị nứt toác móng vì đất chuồi. Ba mươi mốt con người đang co ro trong gian kho sẽ không phải nơm nớp lo sợ một tảng đá lăn từ đỉnh dốc đè sập mái nhà lúc nửa đêm.

Nhưng nàng không nhìn chúng. Ánh mắt nàng lạnh lẽo, buốt giá như băng tuyết phủ trên đỉnh núi mùa đông, găm thẳng vào từng nếp nhăn sâu hoắm trên gò má người thầy cũ, găm vào đôi bàn tay đang run rẩy đặt trên mép bàn đá.

Cổ tay phải của nàng bỗng giật thắt lại một cơn đau buốt buốt. Ký ức về ngày hai mươi ba tháng sáu năm Kỷ Mão, giữa đại điện Chưởng Vụ Đường trang nghiêm, uy nghi và lạnh lẽo thấu xương, đột ngột ùa về dữ dội như một dòng thác lũ xé toạc mọi ngăn đê phòng ngự trong tâm trí nàng.

“Thầy cất nó làm gì?”

Nàng cất tiếng. Từng chữ thốt ra đều đanh thép, khô khốc như tiếng hai thanh sắt đập vào nhau, tuyệt nhiên không mang theo một chút hơi ấm nào của mối tình nghĩa thầy trò gắn bó năm xưa.

“Để chuộc lỗi? Để cầu xin một sự thanh thản giả tạo? Hay để mỗi đêm trở trời, khi nghe tiếng gió hú qua khe cửa xưởng đá, thầy giở cuốn sổ này ra dưới ngọn đèn dầu, nhìn vào những con số đó mà tự dỗ dành lương tâm mình rằng: Trần Kính này rốt cuộc vẫn là một người thợ trận trung thực, chỉ là thời thế đẩy đưa?”

Trần Kính co rúm người lại. Cái lưng còng của ông càng rạp xuống thấp hơn, tựa hồ vừa bị một ngọn roi mây tẩm nước muối quất thẳng vào da thịt. Đôi môi thâm tím của ông run rẩy bần bật, hai hàm răng va vào nhau lập cập nhưng không thốt nên được một lời biện bạch.

“Năm Kỷ Mão,” Bùi Hạ tiến lên một bước. Chiếc xà beng bằng thép đặc trong tay trái nàng gõ mạnh một tiếng “chát” đanh gọn xuống mặt bàn đá thanh hoa, ngay sát cạnh viên đá dẫn khí đầu tiên, làm những tia lam quang chao đảo. Nàng cúi thấp người xuống, áp sát khuôn mặt hốc hác, nhợt nhạt của mình vào sát tầm mắt của Trần Kính:

“Khi Tạ Duy đặt bản nghiệm thu tuyến dẫn linh pha xỉ than lên bàn nghị sự của Chưởng Vụ Đường… khi hắn vu cho con tội bất tuân mệnh lệnh của quản sự ty vụ, tội cố ý đập vỡ mẫu thử để phá hoại vật tư đại trận của môn phái… Thầy có nhớ lúc đó trong phòng nghị sự có bao nhiêu người không?”

Nàng không đợi ông trả lời. Hơi thở của Bùi Hạ phả ra thành làn khói mỏng giữa gian phòng lạnh lẽo, từng câu từng chữ rành rọt như bóc trần từng lớp vảy mục trên vết thương cũ:

“Hội đồng thợ trận có mười một người ngồi quanh bàn đá dài. Theo môn quy Thanh Huyền, cần đúng sáu phiếu thuận để tước thẻ thợ bậc ba, phế bỏ môn tịch và đuổi một đệ tử ngoại môn ra khỏi cổng núi Đoạn Kiếm. Năm lá phiếu của đám chấp sự Ty Vật Tư — những kẻ ăn chia phần trăm bôi trơn từ các mỏ xỉ than bẩn ở hạ lưu — đã nằm gọn trong tay áo Tạ Duy từ trước canh ba. Năm lá phiếu của những thợ già thủ cựu, những kẻ chỉ mong an phận giữ lấy chén cơm thừa canh cặn của ty vụ, đã chọn cách lật úp thẻ bài gỗ, bỏ phiếu trắng để không đắc tội với bất kỳ ai.”

Ngực Bùi Hạ phập phồng dữ dội, giọng nàng run lên vì một cơn thịnh nộ bị đè nén suốt bảy trăm ngày đêm:

“Lá phiếu quyết định nằm trong tay Trưởng xưởng số ba — thợ trận Luyện Khí tầng tám Trần Kính! Người đã dạy con thế nào là mạch đá chuẩn, dạy con cách cầm búa gõ vào thớ đá để nghe tiếng vang đoán độ xốp, dạy con rằng một người thợ trận nếu để lọt một viên đá rác vào thân đê thì tay mình đã nhúng vào máu của vạn dân hạ lưu! Nhưng ngày hôm đó, chính bàn tay này… chính bàn tay đang run rẩy bám vào mép bàn đá này của thầy, đã giơ chiếc thẻ bài gỗ màu đen lên, thuận theo phe của quản sự Tạ Duy! Thầy đã tự tay tước thẻ thợ của đứa học trò duy nhất dám đứng ra dùng cân tiểu ly đo lại từng thớ đá thiêu kết giả mạo của bọn chúng!”

Nàng giơ cánh tay phải đang bị nẹp chặt trong hai thanh tre già thô nhám lên, đưa thẳng ra trước mặt ông lão, cách chóp mũi Trần Kính chưa đầy nửa gang tay:

“Vì một cái giơ tay của thầy, con mất chức thợ trận ngoại môn. Con bị lột áo môn phái ngay trước cửa điện, bị tước đoạt toàn bộ công cụ hành nghề tích cóp suốt sáu năm! Và suýt nữa… con đã mất cả cánh tay này, mất cả tính mạng trong vụ nổ buồng đốt thử tải mà Tạ Duy đã cố ý mở van nén khí lên mức cực đại hòng bịt miệng con vĩnh viễn! Hai năm qua, con sống lay lắt dưới bãi bùn Bến Bạch Sa, ăn rễ lau, ngủ dưới gầm thuyền nát, nhìn người ta chết đói vì không có tiền nộp thuế nước, nhìn phu phen bị lũ cuốn trôi mất xác vì đê vỡ… trong khi xưởng số ba của thầy vẫn đều đặn nhận linh thạch từ Ty Trận Vụ, vẫn tiếp tục đúc ra hàng ngàn khối đá thiêu kết tạp nham dính đầy máu của dân phu!”

Bùi Hạ thở dốc, mắt nàng đỏ ngầu nhưng không có lấy một giọt nước mắt:

“Bây giờ, khi con đê dưới kia sắp vỡ toác lần thứ hai, khi Thanh Huyền Môn chuẩn bị bỏ mặc cả huyện An Lưu này chìm trong biển nước lũ, thầy lại ôm chiếc hòm này, trèo qua sườn dốc sạt lở leo lên ngọn núi vỡ này… Thầy bày mười hai viên đá này, bày cuốn sổ này ra trước mặt con để làm gì? Để con quỳ xuống cảm tạ ân đức muộn màng của thầy sao?”

Lâm Tự vẫn đứng tựa lưng vào cột gỗ lim sau lưng nàng. Chiếc đục mộc trong tay anh khẽ hạ xuống nửa tấc, nhưng ánh mắt trầm ngâm vẫn không rời khỏi bờ vai đang run lên vì xúc động của Bùi Hạ. Anh hiểu nỗi uất hận tột cùng ấy. Là một người thợ mộc đã từng thấy những căn nhà sụp đổ vì rui mè mục nát bị thợ cả ém nhẹm, anh thấu suốt nỗi cay đắng của một người thợ chân chính: nỗi đau đớn nhất không phải là đòn roi của kẻ thù, mà là sự phản bội của chính người đã trao cho mình chiếc thước đo và ngọn đèn dẫn lối, người đã đem quy chuẩn kỹ thuật thiêng liêng ra đánh đổi lấy sự an thân hèn mạt của bản thân.

Nguyễn Mộc đứng bên bàn trà lạnh ngắt, khẽ thở dài một tiếng thật sâu. Tiếng thở dài của người thợ già từng khắc hàng trăm tấm văn bia công đức giả tạo cho đám quan lại mục nát nghe não nề như tiếng lá rụng. Ông đặt nghiên mực đá xuống góc bàn, ngón tay khẽ vuốt ve chòm râu bạc rối bời, nhưng tuyệt nhiên không mở miệng can ngăn một lời nào. Có những món nợ giữa người với người, giữa thầy và trò, giữa sự thật và sự thỏa hiệp, bắt buộc phải được phơi bày trần trụi dưới ánh sáng trước khi có thể nói đến chuyện tương lai.

Trần Kính gục đầu xuống hai bàn tay chai sạn. Những ngón tay gầy guộc của ông cào cấu vào mái tóc hoa râm bết bát bùn đất. Từng giọt nước mắt đục ngầu, mặn chát rỉ qua kẽ tay, rơi lộp bộp xuống mặt bìa da bò cáu bẩn của cuốn sổ ghi chép thực nghiệm.

“Ta hèn nhát… Hạ à, ta hèn nhát… ta có tội với con…” Tiếng khóc của ông lão nghẹn lại trong lồng ngực gầy tóp teo, run rẩy và thảm hại như tiếng rên rỉ của một con thú hoang già nua trúng tên độc đang nằm chờ chết giữa rừng sâu. “Nhưng con có biết… ngày hôm đó, ngoài cửa Chưởng Vụ Đường… có những ai đang đứng chờ không?”

Ông bất thần ngẩng khuôn mặt đẫm lệ lên. Đôi mắt đỏ ngầu, mờ đục nhìn xoáy vào mắt Bùi Hạ bằng tất cả nỗi tuyệt vọng kinh hoàng đã gặm nhấm tâm can ông suốt hai năm trời:

“Dưới trướng xưởng số ba khi ấy… có mười sáu đứa học việc! Thằng Lục mới mười bốn tuổi, cha mẹ chết trong nạn dịch tả ở bãi dâu, không có ai nương tựa! Con bé Mộc Miên vừa tròn mười hai tuổi, gầy như que củi, ngày ngày theo cha gánh từng sọt đá vụn lên núi kiếm vài bát cháo hoa! Thằng A Sâm có mẹ già bại liệt nằm liệt giường ở xóm thợ ngoại môn, chỉ trông chờ vào nửa bát cơm thừa sau mỗi ca nung đá của xưởng để duy trì mạng sống! Tạ Duy… hắn không chỉ dọa tước thẻ thợ của một mình ta đâu!”

Trần Kính đấm mạnh nắm tay gầy trơ xương xuống mặt bàn đá. Cú đấm không có linh lực, nhưng đau đớn và uất nghẹn đến mức làm mười hai viên đá thanh ngọc trên bàn nảy lên một tiếng “leng keng” chói tai:

“Đêm trước ngày hội đồng Chưởng Vụ Đường bỏ phiếu, hắn không gọi ta lên ty vụ. Hắn đích thân dẫn theo hai tên chấp pháp của Hình Đường, mặt mày lạnh như tiền, kiếm đeo ngang hông, bước thẳng vào phòng ngủ tồi tàn của ta ở cuối dãy xưởng! Hắn không nói một lời đe dọa chém giết. Hắn chỉ ném xoẹt mười sáu bản văn tự hủy môn tịch lên mặt bàn trước mũi ta!”

Trần Kính run rẩy nắm lấy vạt áo rách tả tơi của mình, hơi thở dồn dập như người sắp đứt hơi:

“Hắn bảo ta: Trần thợ cả, ông muốn làm người thợ thanh cao, muốn làm bậc chính nhân quân tử bảo vệ con bé học trò cứng đầu kia thì cứ việc giơ thẻ bài chống. Nhưng sáng ngày mai, ngay khi lệnh bãi miễn của con bé được ban ra, mười sáu đứa trẻ học việc của xưởng số ba sẽ lập tức bị xóa tên khỏi sổ đinh ngoại môn! Toàn bộ mười sáu đứa chúng nó sẽ bị sung vào đội phu dịch đắp đê hạ lưu thuộc diện tội nhân tạp dịch — không có tên trên sổ bảo hộ của quan phủ, không có khẩu phần linh cốc, chỉ có roi gân bò và bùn lầy sâu ngập bụng!”

Ông nhìn sững vào mắt Bùi Hạ, giọng nói nghẹn lại trong đờm dãi và nước mắt:

“Con từng làm thợ ở công trường, con biết số phận của phu dịch không có môn tịch ở Đê Hồi Long rồi đấy! Bọn chúng coi phu dịch tạp dịch như cỏ rác, như những bao tải đất sống để lấp vào những hố sụt linh mạch! Chúng nó sẽ chết rục xương, chết chìm trong bùn lầy vì kiệt sức và sốt rét trước khi kịp học xong bài mài đá đầu tiên! Mười sáu mạng người đó… mười sáu đứa trẻ vô tội không biết một chữ bẻ đôi, không có linh căn thượng thừa… ta phải làm sao đây?”

Gian phòng chính điện chìm vào một khoảng lặng nặng nề như chì đúc.

Chỉ có tiếng bấc đèn dầu lách tách nổ nhỏ nhoi, và tiếng gió rít ngoài vách núi Đoạn Phong gầm rú điên cuồng, đập thình thình vào những cánh liếp nứa như muốn xé toạc mái nhà tranh sứt mẻ.

“Ta đã tự lừa dối mình…” Giọng Trần Kính chùng xuống, cay đắng và rệu rã. “Ta nghĩ rằng con… con đã đạt tới Luyện Khí tầng ba. Con thông minh, con nắm vững toàn bộ quy chuẩn kết cấu đá trận, con có tay nghề tiện đá và đục mộng chuẩn xác hơn bất kỳ đứa trẻ nào cùng lứa. Dù con bị đuổi xuống núi, dù con mất đi môn tịch Thanh Huyền, con vẫn có thể tìm đường sống ở các phường thợ tự do ven sông, con vẫn có thể tự nuôi sống bản thân bằng đôi bàn tay của mình… Còn mười sáu đứa trẻ kia, chúng nó chỉ là phàm nhân và tạp căn học việc, rời khỏi xưởng số ba là bước thẳng vào cửa tử!”

Ông ôm lấy mặt, hai vai rung lên từng chập:

“Ta đã chọn… Ta đã tự tay giết chết đứa học trò giỏi nhất, đứa học trò mà ta thương như con đẻ, để đổi lấy mạng sống và bát cơm đắng ngắt cho mười sáu đứa thợ phụ không có tiếng nói! Suốt hai năm qua, mỗi một nhát búa ta gõ xuống đá, mỗi một lần nhìn thấy lò nung bốc khói, ta đều nhìn thấy cánh tay đẫm máu của con trong vụ nổ năm ấy… Ta không có một đêm nào nhắm mắt được quá một canh giờ! Mỗi bát cơm ta nuốt vào họng đều nghẹn đắng như nuốt phải xỉ than nung đỏ!”

Bằng một cử chỉ run rẩy, Trần Kính dùng hai tay gom toàn bộ mười hai viên đá thanh ngọc lại, đẩy mạnh chiếc túi vải thô bọc đá về phía Bùi Hạ. Ánh mắt ông dại đi, ngập tràn vẻ van nài hèn mọn của một kẻ tội đồ đang đứng trước bậc thềm phán xét:

“Chỗ đá này… là đá chuẩn quy cách nguyên khối. Suốt nửa năm trời, mỗi lần lọc đá cho kho dự phòng, ta lén giấu từng viên một xuống đáy bể lắng bùn rêu. Đêm nay ta mang hết lên đây cho con. Cầm lấy đi, Hạ… Con cầm lấy mà sửa lại trận hộ sơn, mà gia cố lại dãy móng nhà phía đông, cứu lấy ba mươi mốt mạng người đang nương náu nơi này. Coi như… coi như là lão già hèn hạ này van xin con nhận lấy chút bồi thường muộn màng của ta… để ta chết đi được nhắm mắt…”

Bùi Hạ nhìn chiếc túi vải thô chứa mười hai viên đá lấp lánh ánh lam quang thuần khiết. Linh khí mát lạnh tỏa ra từ những khối sa thạch thanh ngọc như một luồng gió xua tan đi mùi dầu mỡ cá ngai ngái trong phòng. Nàng nhìn thấy sự ti tiện trong quá khứ của ông lão, nhưng cũng nhìn thấy cả một gánh nặng luân lý tàn nhẫn đã nghiền nát tâm can của một người thợ già suốt hai năm qua. Lồng ngực nàng nhói lên một cơn đau buốt buốt, không phải từ vết gãy xương cũ, mà từ sự xót xa cay đắng cho thân phận của những kẻ thấp cổ bé họng dưới trướng các tông môn danh giá.

Nhưng ánh mắt nàng không hề dao động. Nàng chậm rãi lùi lại nửa bước, dứt khoát giấu bàn tay trái lành lặn ra sau lưng, đứng thẳng người lên trước mặt người thầy cũ.

“Đạo quán Vọng Đăng không nhận của bố thí,” Bùi Hạ cất giọng, âm thanh không còn gắt gỏng như trước, nhưng lạnh tanh và rành rọt như từng nhát đục ăn sâu vào thớ gỗ táu. “Càng không nhận sự chuộc lỗi bằng những món ân huệ cá nhân lén lút mang đến trong đêm tối.”

Trần Kính bàng hoàng ngẩng đầu lên, ánh mắt đờ đẫn: “Hạ… con… con vẫn không chịu tha thứ cho ta sao?”

“Nếu con nhận mười hai viên đá này như một món quà làm hòa giữa thầy và trò, nếu con nhận sự bồi thường này để đổi lấy một lời xí xóa cho hành vi gian dối năm xưa, thì ngày mai con lấy tư cách gì để đứng trước ba mươi mốt con người đang nương náu nơi đây?”

Bùi Hạ đưa tay chỉ ra phía gian nhà kho mé tây, nơi những ngọn đèn dầu le lói hắt bóng những người đàn bà đang ôm con, những người thợ phu gầy trơ xương đang chen chúc ngủ trên những chiếc phản gỗ chắp vá:

“Họ theo con lên ngọn núi Đoạn Phong cằn cỗi này không phải vì con có nhiều linh thạch, không phải vì nơi này có cơm no áo ấm. Họ ở đây vì chúng con sống bằng sự thật! Chúng con chia nhau từng củ mài vùi tro, đối chiếu từng đấu gạo mốc, ghi chép từng nhát cuốc đắp bờ chắn lũ mà không bớt xén một li một lai nào. Con không thể đem sự tha thứ cá nhân, không thể đem lòng trắc ẩn vụn vặt ra để đổi lấy vật tư cho môn phái. Một môn phái dựng lên từ sự thỏa hiệp mờ ám trong đêm tối thì cái gốc của nó cũng chẳng khác gì những khối đá thiêu kết pha xỉ than của Tạ Duy!”

Nàng bước tới mép bàn, đặt ngón tay trỏ của bàn tay trái lên bìa cuốn sổ da bò nung đen cáu bẩn:

“Con chỉ tiếp nhận cuốn sổ thử tải này. Nhưng không phải với tư cách một đứa học trò nhận di vật hay nhận sự hối lỗi của người thầy cũ. Con tiếp nhận nó với tư cách Chưởng môn của Đạo quán Vọng Đăng — một Tông Môn Sơ Lập đã được ghi danh trên bảng đinh huyện An Lưu — tiếp nhận tài liệu kỹ thuật có giá trị chứng cứ pháp lý. Và con chỉ nhận nó… nếu thầy dám làm một việc mà hai năm trước thầy đã không dám làm.”

Trần Kính nuốt khan một ngụm nước bọt, bờ vai gầy khẽ run lên: “Việc… việc gì?”

“Thầy phải ký tên, điểm chỉ chứng thực vào từng trang sổ thử tải này với tư cách một Thợ Trận Độc Lập trước sự chứng kiến của những người làm chứng ở đây,” Bùi Hạ nhìn thẳng vào đôi mắt đục ngầu của ông lão, ánh mắt sắc bén như lưỡi dao tiện đá chu sa. “Ngày mai, con sẽ mang nguyên vẹn cuốn sổ này nộp thẳng cho viên kiểm định Đinh Tuệ tại Trấn Linh Ty huyện An Lưu. Tên của thầy, dấu chỉ tay của thầy sẽ nằm trang trọng trên hồ sơ tố cáo sai phạm kỹ thuật của Ty Trận Vụ Thanh Huyền Môn. Thầy sẽ không còn đường lui về xưởng số ba nữa. Thầy sẽ không còn là thợ cả của Thanh Huyền, mà sẽ là kẻ phản đồ trong mắt Chưởng Vụ Đường. Thầy có dám không?”

Trần Kính sững sờ như sét đánh ngang tai. Gương mặt già nua đầy vết đồi mồi của ông co giật liên hồi.

Một chữ ký này không đơn thuần là việc thừa nhận một sự thật kỹ thuật. Đó là sự đoạn tuyệt hoàn toàn với môn phái mà ông đã dâng hiến trọn vẹn bốn mươi năm thanh xuân, từ một đứa trẻ giã quặng cho đến một thợ trận bậc sáu ngoại môn. Đó là việc tự tay vứt bỏ chiếc thẻ bài thợ cả, vứt bỏ căn nhà nhỏ ở xóm thợ, vứt bỏ toàn bộ bổng lộc dưỡng lão mỏng manh của tuổi già. Và khủng khiếp hơn cả, nó sẽ biến ông thành mục tiêu truy sát số một của lũ đao phủ Hình Đường dưới trướng Tạ Duy ngay khi tài liệu này phát lộ.

Gian phòng im phăng phắc đến mức có thể nghe thấy tiếng tim đập thình thịch trong lồng ngực của từng người. Tiếng mưa rào bắt đầu đổ ập xuống mái ngói sứt mẻ của chính điện, từng đợt nước xối xả đập vào máng xối bằng tre kêu ràn rạt như tiếng gươm đao khua khoắng ngoài quan ải.

Lâm Tự lặng lẽ bước tới bên bàn. Anh không nói một lời nào, đưa bàn tay thô ráp kéo chiếc ghế gỗ lim vững chãi lại sát bên cạnh Trần Kính, rồi rút từ thắt lưng ra một chiếc khăn vải sạch, cẩn thận lau đi những giọt nước mưa còn đọng trên mặt bàn đá xung quanh cuốn sổ. Hành động của anh không mang sự thúc ép, nhưng vững chãi và kiên định như một bệ đỡ cơ học sẵn sàng gánh vác phần việc nặng nề nhất.

Nguyễn Mộc từ tốn bước lên một bước. Ông lão khắc bia kính cẩn mở nắp hộp mực nho bằng đá xám, nhấc chiếc bình gốm nhỏ rót vài giọt nước Thạch Nhãn linh tuyền — thứ nước suối tinh khiết không lẫn tạp chất mà Đạo quán Vọng Đăng chắt chiu từng gáo — vào lòng nghiên. Ngón tay gầy guộc của người thợ già cầm thỏi mực Tùng Yên mài chầm chậm theo chiều kim đồng hồ, tạo nên những vòng mực đen nhánh, sánh mịn và thơm ngát mùi muội thông nung. Ông đặt cây bút lông thỏ đã ngấm đẫm mực đen vào chiếc gác bút bằng đồng hình ba ngọn núi, rồi đẩy chiếc hộp chu sa đỏ thắm sang bên cạnh.

“Trần sư huynh,” Nguyễn Mộc cất giọng trầm đục, từng lời của người đã sống qua hai triều đại, chứng kiến bao cảnh hưng phế của thế gian mang theo sức nặng ngàn cân của luân thường đạo lý: “Năm xưa huynh chọn im lặng để che chở cho mười sáu đứa trẻ học việc, đó là cái đạo của người nuôi nấng, thế gian này có thể trách huynh hèn, nhưng không ai nỡ trách huynh ác. Lòng trắc ẩn của huynh khi ấy đã cứu được mười sáu mạng người khỏi miệng hùm nọc rắn. Nhưng hôm nay thì khác rồi, sư huynh à.”

Nguyễn Mộc đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi bóng tối mịt mùng của thung lũng đang bị xé toạc bởi những lằn chớp nhì nhằng:

“Con đê dưới chân núi sắp vỡ thêm một lần nữa. Mười sáu vạn dân đen ở vùng hạ lưu sông Vân Hà không có ai che chắn đâu. Họ không có mười sáu đứa trẻ để làm cớ thoái thác, họ chỉ có mạng sống trần trụi trước dòng nước lũ đang cuộn trào phù sa. Chữ ký hôm nay của huynh không phải là để trả thù cho một đứa học trò, càng không phải để chuộc lỗi với riêng con bé Hạ. Chữ ký này là để cứu lấy những mạng người sắp bị vùi xác dưới bùn lầy vì những khối đá thiêu kết giả tạo kia. Một đời người thợ gõ búa lên đá, rốt cuộc cũng chỉ mong đến lúc nhắm mắt xuôi tay không thẹn với từng thớ đá mình đã ghè đẽo mà thôi.”

Trần Kính nhìn Lâm Tự đang đứng nghiêm trang như cột đồng, nhìn Nguyễn Mộc với ánh mắt thấu suốt thế sự, rồi ngước lên nhìn vào đôi mắt kiên định, sâu thẳm và không một chút dao động của Bùi Hạ.

Một hơi thở dài run rẩy, nặng nhọc trút ra từ lồng ngực còm cõi của người thợ già. Hơi thở ấy dường như mang theo toàn bộ gánh nặng của hai năm trời cắn rứt, dằn vặt, sợ hãi và nhục nhã. Chiếc lưng vốn còng rạp xuống vì sương gió bỗng nhiên chầm chậm thẳng lên. Gương mặt nhăn nheo của ông như vừa trút bỏ được một lớp mặt nạ rách nát, để lộ ra cốt cách cứng cỏi của một người thợ đá đã từng một thời đứng đầu mười hai xưởng chế tác của Thanh Huyền.

“Đưa bút cho ta,” Trần Kính nói khẽ, thanh âm không còn một tia run rẩy nào nữa.

Lâm Tự cúi xuống, đưa tay đỡ lấy ống tay áo rộng bết đặc bùn đất của Trần Kính để vạt áo không quệt vào mặt giấy. Nguyễn Mộc cung kính cầm cây bút lông thỏ trao vào những ngón tay gầy guộc đầy sẹo đá của người đồng nghiệp lão thành.

Cuốn sổ bìa da bò nung đen được lật mở ra trang đầu tiên.

Dưới ánh đèn dầu chập chờn, từng dòng chữ số thực nghiệm, từng nét vẽ sơ đồ mặt cắt linh mạch hiện lên rõ mồn một qua nét mực son và mực đen xen lẫn. Đó là thành quả của hàng trăm đêm thức trắng lén lút ghi chép bên lò nung thử tải. Trần Kính lật từng trang giấy bổi thô ráp, ngón tay trỏ chỉ vào từng bảng biểu chi tiết, giọng đọc rành rọt vang lên giữa gian chính điện u tịch, át đi cả tiếng mưa gió gầm gào ngoài hiên:

“Trang mười hai: Thử tải tuyến dẫn linh nhánh Đoài — ngày mười chín tháng tư năm Kỷ Mão. Mẫu đá sa thạch thiêu kết pha xỉ than mã hiệu Tam-Bính-Hỏa-Tạp. Thiết kế ban đầu yêu cầu chịu tải mười hai ngàn quân áp linh lưu liên tục trong mười hai canh giờ. Thực tế đo đạc tại lò thử nghiệm số hai của xưởng số ba: đến năm ngàn hai trăm quân áp, lõi đá xuất hiện hiện tượng rỗng xốp tế vi, nhiệt lượng tích tụ trong các hạt xỉ không giải tỏa được qua rãnh dẫn, độ chịu tải sụt giảm hơn năm mươi phần trăm so với quy chuẩn Vân Hà đã ban hành.”

Trần Kính chấm ngòi bút lông thỏ vào nghiên mực Tùng Yên, đặt mũi bút xuống góc dưới bên phải của trang giấy bổi khô giòn. Nét chữ sắc sảo, cứng cáp, mang đậm phong cốt chân phương của một người thợ đã rèn giũa ngòi bút cùng chiếc búa đục suốt bốn mươi năm hiện lên rõ ràng:

*Thợ trận bậc sáu ngoại môn Thanh Huyền Môn — Trần Kính, tự tay đo đạc và ký thực.*

Ông buông bút, ấn mạnh ngón tay cái bên phải vào hộp chu sa đỏ thắm của Nguyễn Mộc, rồi dằn mạnh một dấu điểm chỉ đỏ tươi như máu đè lên nửa phần chữ ký của mình. Màu mực đen hòa cùng sắc đỏ son nổi bật trên nền giấy bổi ố vàng.

“Trang mười lăm: Thử nghiệm độ giãn nở nhiệt dưới áp lực thủy tĩnh ngầm. Đá lẫn tạp chất than bùn bị kiềm hóa sau ba mươi ngày ngâm nước lũ, rãnh dẫn linh bị nghẽn bùn vôi do phản ứng kết tủa xỉ than, công suất xả áp thực tế giảm sáu mươi phần trăm so với tính toán trên bản vẽ của Ty Trận Vụ…”

Tiếng ngòi bút lông thỏ sột soạt lướt trên mặt giấy bổi khô giòn xé toạc màn đêm tĩnh mịch. Từng trang, từng trang một được lật qua. Nguyễn Mộc đứng bên cạnh, đôi mắt tinh tường chăm chú kiểm tra từng vết son, từng con số đối chiếu với những mảnh đá vỡ mà Đỗ Tín từng mạo hiểm lặn xuống chân Đê Hồi Long cạy về gửi lên núi Đoạn Phong tuần trước. Lâm Tự giữ chặt hai mép cuốn sổ bằng những ngón tay vững chắc, ngăn không cho từng cơn gió lạnh lùa qua khe cửa làm bay lệch trang giấy.

Ba mươi sáu trang sổ thử tải. Ba mươi sáu chữ ký đanh thép cùng ba mươi sáu dấu điểm chỉ đỏ thắm như những vết chém dứt khoát chặt đứt sợi dây ràng buộc cuối cùng giữa người thợ già và môn phái cũ. Đó không còn là một cuốn nhật ký cá nhân ghi lại nỗi dằn vặt của một kẻ hèn nhát nữa; nó đã biến thành một bản cáo trạng kỹ thuật hoàn chỉnh, chuẩn xác và không thể chối cãi nhất về sự gian lận vật tư mang tính hệ thống của Ty Trận Vụ Thanh Huyền Môn dưới thời quản sự Tạ Duy.

Khi ngòi bút lông thỏ hạ xuống nét chấm cuối cùng ở góc dưới trang thứ ba mươi sáu, Trần Kính buông lỏng tay. Chiếc bút lông rơi nhẹ xuống mặt bàn đá, lăn tròn một vòng rồi dừng lại cạnh chiếc compa đồng. Ông thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực xẹp xuống, cả người tựa hẳn vào thành ghế gỗ lim phía sau như thể vừa trút bỏ được một khối đá tảng ngàn cân đè nặng lên tim phổi suốt bao năm tháng lưu đày trong mặc cảm tội lỗi.

Nhưng ngay khi Bùi Hạ đưa bàn tay trái lành lặn định đón lấy cuốn sổ dầy cộp, bàn tay già nua đầy sẹo đá của Trần Kính đột ngột giơ lên, giữ chặt lấy mép bìa da bò.

Khuôn mặt ông đanh lại. Nét ti tiện, van lơn lúc mới bước chân vào phòng hoàn toàn biến mất, thay vào đó là ánh mắt nghiêm khắc, sắc lẹm và chuẩn xác đến từng chân tơ kẽ tóc của một người thầy trận năm xưa khi đứng trước bàn vẽ kỹ thuật:

“Khoan đã, Hạ.”

Bùi Hạ dừng tay lại giữa không trung, mắt nhìn ông dò hỏi: “Thầy còn điều gì chưa nói hết?”

“Cuốn sổ này chứng minh điều gì?” Trần Kính cất giọng trầm thấp, từng chữ thốt ra đều mang theo tính kỷ luật sắt đá và sự cẩn trọng tột cùng của nghề thợ trận. “Nó chứng minh Ty Vật Tư đã dùng đá phế phẩm pha tạp chất xỉ than để thay thế sa thạch thanh ngọc đạt chuẩn. Nó chứng minh tuyến dẫn linh của công trình trấn thủy Đê Hồi Long bị suy giảm một nửa công suất chịu tải so với bản vẽ thiết kế đã được Trấn Linh Ty huyện An Lưu phê duyệt. Nó chứng minh Tạ Duy đã ăn chặn hàng vạn linh thạch ngân lượng và gian lận thi công một cách có hệ thống.”

Ông nhìn thẳng vào mắt Bùi Hạ, gằn từng tiếng một cách rành rọt:

“Nhưng nó KHÔNG CHỨNG MINH được rằng lỗi suy giảm công suất tuyến dẫn linh là nguyên nhân duy nhất làm vỡ Đê Hồi Long trong đêm đại hồng thủy vừa qua!”

Bùi Hạ khẽ nheo mắt, mày nàng nhíu lại: “Ý thầy là sao?”

“Đừng để lòng căm thù làm mờ đi con mắt của một người thợ trận!” Trần Kính nghiêm giọng cảnh báo, ngón tay trỏ của ông gõ mạnh ba tiếng “cộc, cộc, cộc” lên mặt bàn đá thanh hoa. “Một con đê dài hàng trăm trượng, cao hàng chục thước chắn ngang dòng đại giang cuồn cuộn không bao giờ vỡ chỉ vì một mắt trận bị nghẽn linh lưu! Đê Hồi Long vỡ là tổ hợp của ba tầng tai họa đồng thời giáng xuống: thứ nhất là lưu lượng nước lũ từ thượng nguồn đổ về vượt đỉnh lũ trăm năm; thứ hai là các túi nước ngầm tích tụ lâu ngày trong lòng đất phù sa làm rỗng chân móng đê về mặt cơ học; VÀ thứ ba mới là tuyến dẫn linh bị suy giảm công suất khiến van xả áp thủy tĩnh không thể kích hoạt đúng thời điểm!”

Ông hít một hơi sâu, hạ thấp giọng xuống nhưng từng lời lại mang sức nặng đe dọa hơn gấp bội:

“Trước khi Tạ Duy hạ lệnh đưa lô đá Tam-Bính-Hỏa-Tạp vào chân đê, hắn đã nhận được một bản báo cáo địa chấn bí mật từ trạm quan trắc địa tầng của Phủ doãn. Bản báo cáo đó cảnh báo rằng địa tầng dưới đáy sông Vân Hà có dấu hiệu nứt gãy và sụt lún cơ học nghiêm trọng từ trước mùa mưa lũ năm nay. Nhưng hắn đã giấu nhẹm bản báo cáo đó đi, vội vã thúc ép thi công bằng vật tư rẻ tiền để kịp thời hạn quyết toán ngân lượng cứu trợ với huyện nha trước ngày chuyển giao quan chức!”

Trần Kính nhìn Bùi Hạ bằng ánh mắt đầy lo âu và khẩn thiết của một người đã nếm trải đủ mọi ngón đòn hiểm độc nơi chốn công môn:

“Nếu con mang cuốn sổ này ra trước Trấn Linh Ty và công đường huyện nha mà vội vàng quy chụp toàn bộ thảm họa vỡ đê cho một mình sự cố tuyến dẫn linh, bọn chúng sẽ dùng các chuyên gia địa tầng của quan phủ để bẻ gãy lập luận của con ngay lập tức! Bọn chúng sẽ trưng ra các số liệu địa chấn, sẽ bảo rằng đê vỡ là do thiên tai sụt lún bất khả kháng, còn lỗi vật tư chỉ là sai sót nhỏ trong dung sai cho phép không đủ làm sập công trình! Con hiểu chưa? Sự thật kỹ thuật có giới hạn nghiêm ngặt của nó. Đi quá giới hạn của chứng cứ thực nghiệm, con sẽ biến mình thành kẻ vu cáo nông nổi, và cuốn sổ này sẽ bị ném vào đống giấy lộn!”

Bùi Hạ đứng lặng hồi lâu giữa gian phòng.

Lời cảnh báo của Trần Kính như một gáo nước lạnh buốt tạt thẳng vào tâm trí nàng, lập tức dập tắt sự nôn nóng muốn dùng cuốn sổ này để lật nhào toàn bộ tội ác của Tạ Duy chỉ trong một đòn duy nhất. Nàng hít sâu một hơi khí lạnh ngai ngái mùi dầu mỡ cá, cảm nhận rõ rệt ranh giới mong manh giữa sự thật thực nghiệm chuẩn xác và sự suy diễn cảm tính nguy hiểm.

Người thầy cũ của nàng có thể từng là một kẻ hèn nhát trong cách xử thế trước cường quyền, nhưng trước những con số, trước quy luật cơ học và sự vận hành của đất trời, ông vẫn là một bậc thầy trận lão luyện không bao giờ phạm sai lầm.

“Con hiểu rồi,” Bùi Hạ khẽ gật đầu, giọng nàng đã dịu đi phần nào vẻ gay gắt, nhường chỗ cho sự trầm tĩnh, tỉnh táo của một người nắm quyền định đoạt. “Chứng cứ độc lập chỉ nói lên sự thật độc lập. Tuyến dẫn linh sai chuẩn là một tội ác thi công riêng biệt, cấu thành tội gian lận vật tư công trình phòng thủ cấp huyện. Rãnh xả lũ và túi nước ngầm là một bài toán cơ học riêng biệt cần đo đạc địa tầng. Con sẽ tách bạch hai việc này ra. Con sẽ không gom chúng lại thành một lời quy chụp hồ đồ để bọn chúng có cơ hội bẻ gãy lập luận trước Trấn Linh Ty.”

Trần Kính thở phào một hơi nhẹ nhõm, đôi bờ vai gầy guộc buông lỏng xuống như vừa trút được mối lo lắng cuối cùng trong đời.

Bên ngoài hiên đạo quán, tiếng gió rít qua rặng sa mu bỗng chốc bị đè bẹp bởi một âm thanh khác — một tiếng gầm gừ trầm đục, vang rền như sấm ran truyền từ sâu dưới lòng đất hạ lưu vọng ngược lên vách núi Đoạn Phong.

Mặt nước trong chiếc bát sành đặt trên bàn khẽ rung lên những gợn sóng đồng tâm li ti.

Lâm Tự lập tức quay phắt đầu nhìn ra cửa sổ mé tây, mắt nheo lại nhìn qua màn mưa mịt mùng: “Nước sông Vân Hà đang dâng lên đột biến. Tiếng nước cuộn này… không phải lũ thường. Là đỉnh lũ thứ hai từ thượng nguồn đã tràn qua Bến Bạch Sa rồi! Đê quai tạm thời ở hạ lưu chắc chắn không giữ nổi quá nửa đêm!”

Ánh đèn dầu trên bàn đá chao đảo dữ dội theo rung chấn mỏng manh truyền qua lòng đá của ngọn núi vỡ. Cơn đại hồng thủy kế tiếp đã ập đến chân núi, nhanh hơn bất kỳ dự liệu nào của nha môn huyện An Lưu lẫn đám chấp sự trên núi cao của Thanh Huyền Môn. Thời gian an toàn của Đạo quán Vọng Đăng và của hàng vạn sinh linh dưới chân đê đang cạn kiệt từng khắc một theo tiếng nước gầm réo ngoài trời.

Trần Kính chậm rãi đẩy cuốn sổ thử tải đã hoàn tất ba mươi sáu chữ ký và ba mươi sáu dấu điểm chỉ về phía Bùi Hạ.

Rồi bằng một cử chỉ ngập ngừng, run rẩy của một người cha già tìm lại được đứa con lưu lạc giữa cơn hoạn nạn, ông đưa hai bàn tay gầy guộc, chai sần đầy sẹo đá nắm lấy đôi tay thô ráp, lạnh ngắt của người học trò cũ. Những giọt nước mắt nóng hổi một lần nữa trào ra từ khóe mắt mờ đục, lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo, rơi lộp bộp xuống mu bàn tay nàng.

Trần Kính nắm lấy đôi tay chai sần của học trò cũ, run rẩy nói:

“Ta không cứu được con năm xưa, nhưng hôm nay ta không thể để con gánh tội thay cho những kẻ đục khoét.”

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories