Mộc Nhĩ Và Lệnh Trưng
Tờ công văn giấy vàng viền mực đen cắm trên đầu mũi tên tre rung bần bật giữa sân đạo quán, mang theo dấu triện son tươi rói của huyện phủ An Lưu cùng cái tên Lâm Tự đỏ quạch như một vết rạch.
Cơn gió buốt từ vực tây thốc qua khe rào giậu nứa vừa mới kết, rít lên từng hồi the thé qua các hốc đá tai mèo lởm chởm. Cú va đập ban nãy chấn động đến tận những phiến ngói âm dương rêu phong phía trên mái hiên, làm rụng xuống một làn bụi vôi xám xịt. Đầu mũi tên rèn bằng sắt nguội cắm sâu hơn một tấc vào thanh giằng bằng gỗ táu già dựng bên bậu cửa chính điện, kéo theo một tiếng “khực” khô khốc, đanh gọn, dội ngược vào vách đá phía sau như tiếng dùi đục nện trúng lõi gỗ khô. Mùi lưu huỳnh khét lẹt của ống pháo hiệu tàn còn vương vít trên mấy sợi lông ngỗng tưa rách nơi chuôi tên, hăng nồng xộc thẳng vào cánh mũi, lập tức đè bẹp mùi thơm ngọt bùi của nồi cháo củ mài nấu loãng vừa mới cạn đáy dưới bếp lò.
Tiếng cười nói rộn rã, những lời trêu đùa mộc mạc và cả tiếng húp cháo xì xụp của ba mươi hai con người vừa mới tụ về bên đống lửa bỗng chốc đông cứng lại thành một khối im lìm nặng trịch. Không khí trong gian điện như bị rút cạn trong chớp mắt, chỉ còn lại tiếng rít gào của gió luồn qua kẽ liếp nứa và tiếng củi thông lép bép nổ ra những tia than đỏ. Trên tay Cẩu Đản, chiếc bát sứt sẹo nghiêng đi một góc hiểm hóc; một giọt cháo đặc quánh màu trắng đục chầm chậm trượt qua mép gốm thô, rớt thẳng xuống mặt phiến đá xanh bên dưới, vang lên một tiếng “tách” nhỏ nhoi, lạc lõng mà rợn ngợp đến thắt lòng.
Lâm Tự không nói một lời. Chiếc rìu đẽo lưỡi cong trên tay phải anh từ từ hạ xuống nửa tấc. Lưỡi thép xám ngoét vừa liếc đá mài bén ngót chạm khẽ vào mép bệ đá kê chân cột, đánh cạch một tiếng dứt khoát, gọn gàng, không thừa một phân lực. Người thợ mộc đứng thẳng dậy, vặn mình rũ bỏ lớp dăm bào vướng trên vạt áo tơi tơi tả. Bước chân anh nện trên nền đất nện trộn đá dăm vững chãi như một cái cọc lim vừa được bổ búa đóng sâu vào lòng bùn lầy ven sông. Từng bước đi của anh thong thả, nặng nề, mang theo sự lì lợm của một kẻ đã quen đối mặt với những súc gỗ cổ thụ ngâm nước cả trăm năm.
Bước qua bậc cửa đá sứt mẻ, anh vươn bàn tay thô ráp, xù xì những vết chai sạn và chằng chịt sẹo cắt của lưỡi cưa, lưỡi đục. Bàn tay ấy nắm chặt lấy thân tên tre đã chẻ dọc làm ống dẫn thư, gân mu bàn tay gồ lên như rễ cây cổ thụ. Lâm Tự hơi nghiêng cổ tay, dùng một lực vặn chuẩn xác của thợ mộc rồi giật mạnh.
Đầu mũi tên sắt rỉ sét rời khỏi thớ gỗ táu kèm theo một cụm dăm tươi màu đỏ sẫm. Một mẩu dăm gỗ rơi xuống đất, để lại trên mặt thanh giằng một lỗ thủng nham nhở như miệng vết thương vừa bị khoét rỗng. Mảnh giấy bổi nhuộm sắc vàng nghệ quấn chặt quanh ống đồng nhỏ buộc ở thân tên bị xé toạc lớp sáp niêm phong đỏ lòm. Đống sáp vỡ vụn rớt lả tả xuống mu bàn chân anh, đỏ quạch như những giọt máu đông.
Lâm Tự quay người bước lại gần đống củi đang cháy rừng rực giữa điện. Anh ngồi xổm xuống mép bệ đá, dùng hai ngón tay cái miết phẳng tờ giấy bổi đã nhăn nhúm vì gió lạnh, trải nó ra dưới ánh lửa bập bùng. Đôi mắt sâu hoắm, đục ngầu vì thiếu ngủ của người thợ rà từng dòng chữ chân phương nhưng sắc lạnh, viết bằng thứ mực son tàn nhẫn của phòng Công tào huyện nha An Lưu:
*“Huyện nha An Lưu sức cho dân đinh Lâm Tự, thợ mộc ngụ tại Bến Bạch Sa. Chiếu theo lệnh bổ sung gia cố đê điều khẩn cấp: Đê Hồi Long vỡ cọc chắn sóng đoạn hạ lưu, nước lũ uy hiếp vạn khoảnh điền trang. Nay điều động đích danh thợ cả Lâm Tự nội trong ba ngày phải có mặt tại công trường nhận chỉ định đóng cọc đê, lĩnh thẻ đồng phục dịch. Kẻ nào dung túng, trốn tránh hoặc kháng lệnh, chiếu theo hình luật trị tội trốn đinh dịch thời thiên tai, tru lục không tha.”*
“Đích danh bắt anh.”
Phạm Sương hạ chiếc muôi gỗ lớn xuống cạnh vành chiếc vạc gang đen sì, sắc mặt nàng tái nhợt dưới ánh lửa bập bùng. Nàng là người quản lý kho lương tạm, từng làm việc kiểm kê sổ sách mối lái cho thuyền buôn dưới bến sông trước khi cơn đại hồng thủy cuốn phăng tất cả. Nàng hiểu thứ chữ nghĩa trên tờ giấy kia có sức nặng nghiền nát một gia đình như thế nào.
“Bọn chúng không rà soát bừa bãi như toán nha dịch của Đổng Bưu hôm trước nữa,” Phạm Sương nói tiếp, giọng run run kìm nén. “Chúng đã dò la cặn kẽ. Bọn nha lại Công tào nắm rõ anh là tay thợ mộc giỏi nhất Bến Bạch Sa, biết rõ đoạn cọc chắn sóng ở đê Hồi Long cần những đường mộng ngậm chịu lực ngàn cân mà thợ vụng không đời nào kham nổi. Chúng bắt đích danh, tức là tên anh đã vào sổ đen điều dịch khẩn của huyện đường!”
Bên cạnh bếp lửa, Bùi Hạ đứng bật dậy.
Chuyển động đột ngột khiến cổ tay phải đang được nẹp bằng những thanh tre vót mỏng của nàng khẽ giật thót. Một cơn đau buốt nhói xông thẳng lên bả vai, lan dọc theo kinh Phế vừa mới tạm thời lắng xuống sau khi nàng dốc cạn chút linh lực ít ỏi để giải tỏa điểm nghẽn kinh mạch, cứu mạng Vũ Liên khỏi cơn bạo phát nghịch khí ở phế phủ mấy hôm trước. Nàng khẽ cắn chặt môi, nuốt ngụm khí lạnh tràn qua kẽ răng, bước sải chân tới trước mặt Lâm Tự. Bàn tay trái còn lành lặn của nàng giật lấy tờ công văn giấy vàng, đôi mày thanh tú chau lại thật sâu. Ngọn lửa giận âm ỉ bấy lâu nay trong lồng ngực như bị châm ngòi, bùng lên trong đáy mắt đen láy.
“Để tôi xuống huyện.”
Giọng Bùi Hạ đanh lại, lạnh và dứt khoát như tiếng lưỡi kiếm tuốt khỏi vỏ. Đó là giọng điệu của một người đã quen đứng mũi chịu sào, quen lấy tấm lưng trần của mình ra hứng trọn mọi va đập từ những ngày còn ở môn phái cũ.
“Tôi là người đứng tên xin lập Đạo quán Vọng Đăng. Bản Biên Nhận Bảo Hộ Tạm Thời ba mươi ngày do chính tay viên kiểm định Đinh Tuệ của Trấn Linh Ty ký tá và đóng dấu son của phân nha vẫn còn đang dán rành rành trên vách đá sau điện kia kìa. Tôi cầm theo Trận Khảo Lệnh xuống thẳng huyện nha An Lưu gặp Huyện thừa Hoàng Cẩn. Tông môn sơ lập theo quy chế triều đình có quyền bảo hộ đinh khẩu đã nhập tịch bản môn. Tôi sẽ lấy tư cách Chưởng môn lâm thời đứng ra nhận toàn bộ trách nhiệm pháp lý thay anh, giải trình dứt khoát rằng toàn bộ thợ mộc ở ngọn Đoạn Phong này đang thuộc diện công trình phòng hộ khẩn cấp của địa mạch!”
Nàng vừa dứt lời liền xoay người, toan sải bước về phía góc điện để thu dọn chiếc áo tơi rách và thẻ đồng Trận Khảo Lệnh. Nhưng nàng chưa kịp bước qua khỏi bậc thềm thứ hai thì một cánh tay gân guốc thô ráp đã vươn ra sừng sững, chặn ngang trước ngực nàng như một thanh xà gồ bằng gỗ táu ngâm bùn, vững chãi và lạnh ngắt.
“Đứng lại đó.”
Lâm Tự cất tiếng. Âm lượng của anh không hề lớn, nhưng nó khô khốc, trầm đục và nặng trịch như một nhát búa đóng nêm sắt vào mắt gỗ.
Bùi Hạ khựng lại, ngẩng phắt lên, ánh mắt bốc hỏa: “Lâm sư huynh, anh định để bọn chúng trói gô cổ kéo xuống công trường Đê Hồi Long sao? Anh có biết khúc sông đó bây giờ ra sao không? Đê vỡ ba mươi trượng, đất đá từ triền núi sụt lún từng mảng lớn, phu phen dưới đó bị xua ra giữa dòng lũ đóng cọc ngầm, chết đói chết rét, bị bọn nha lại và nhà thầu bóc lột không khác gì súc vật kéo cày! Nếu anh đi, ai làm giằng chịu lực cho các mắt trận phòng thủ ở đây? Rồi còn con bé An, anh định để nó trơ trọi một mình trên đỉnh núi này ra sao?”
“Tôi biết hết. Từng li từng tí một.”
Lâm Tự nhìn thẳng vào mắt nàng. Ánh mắt người thợ mộc bình thản đến tàn nhẫn, thứ bình thản của một người đã dành cả đời để nhìn vào những vết nứt chí mạng trên thân những cây cổ thụ trước khi chúng gãy đôi đè bẹp mái nhà.
“Nhưng cô nghĩ cô là ai?” Lâm Tự gằn từng tiếng, mỗi lời nói ra như một lưỡi bào gọt phăng đi lớp vỏ bọc nhiệt huyết bốc đồng của nàng. “Một đệ tử Luyện Khí tầng ba vừa bị Thanh Huyền Môn tước bỏ danh phận, đuổi khỏi tông môn như một kẻ bỏ đi? Một người mà cánh tay phải vừa nứt toác kinh mạch, giờ nhấc không nổi một bao đá mười cân? Cô cầm một tờ biên nhận tạm bợ của viên kiểm định hạng bét ở Trấn Linh Ty, mà cô nghĩ mình đã đủ sức làm cây cột cái chống trời cho ba mươi mốt con người đang đói rách này sao?”
Bùi Hạ khựng người lại, sắc mặt nàng trắng bệch ra dưới ánh lửa bập bùng. Lời nói của Lâm Tự trần trụi và tàn khốc, không chừa cho nàng một chút tự tôn nào của một tu sĩ từng bước chân ra từ đại phái.
Lâm Tự giơ tờ công văn lên ngang tầm mắt nàng, ngón tay đen sạm vì nhựa cây và dầu thông chỉ mạnh vào dòng chữ đề ngày tháng ghi phía dưới cùng:
“Nhìn cho thật kỹ đi, Bùi cô nương! Lệnh trưng phu này của tôi mang dấu triện của huyện nha An Lưu từ ba ngày *trước* khi chúng ta dắt díu nhau trèo lên đỉnh Đoạn Phong này dựng rào cắm trại. Tờ biên nhận của Trấn Linh Ty mà cô với lão Mộc vừa quỳ gối xin được hôm qua, nó chỉ có hiệu lực ngăn chặn các lệnh trưng phu *mới* phát sinh sau ngày lập bộ mà thôi! Luật định lưu vực Vân Hà này ghi rất rõ ràng: Tông môn sơ lập không tự động xóa bỏ nghĩa vụ dân đinh đã xác lập hợp lệ từ trước. Tờ biên nhận tạm thời chỉ bảo đảm huyện nha không được tự tiện xông lên núi bắt người mới, chứ tuyệt đối không phải là tấm bùa hộ mệnh để cô xóa trắng nợ cũ cho một kẻ trốn phu!”
Anh hạ thấp giọng xuống nửa cung, nhưng từng từ từng chữ lại như lưỡi dao cạo cứa vào bầu không khí ngột ngạt của gian điện:
“Cô muốn xuống huyện đường lấy tư cách người đứng đầu để gánh thay tôi? Hoàng Cẩn là Huyện thừa, hắn ngồi ở cái ghế đó mười lăm năm nay, hắn không phải là kẻ ngu muội! Hắn đang thiếu mười lăm vạn cây cọc đê, thiếu hàng ngàn phu phen bị nước lũ cuốn trôi. Cô vừa xông vào huyện đường, đem cái danh phận tông môn sơ lập chưa ráo mực ra ép hắn, hắn sẽ lập tức chụp cho cô cái mũ bao che kẻ trốn dịch, dung túng tráng đinh kháng lệnh triều đình giữa mùa đại hồng thủy. Khi đó thì sao? Không phải chỉ một mình tôi bị xích cổ kéo đi đâu! Bản biên nhận tạm ba mươi ngày của Trấn Linh Ty kia sẽ bị huyện phủ dâng sớ báo lên hủy bỏ ngay trong buổi sáng. Ba mươi mốt con người vừa mới húp được một bát cháo nóng ở đây, vừa mới tìm được một chỗ che mưa che nắng, sẽ lập tức biến thành lũ tội nhân chứa chấp đào phạm! Cô muốn đem sinh mạng của tất cả mọi người ở đây ra đánh cược với sự bốc đồng, với thói quen thích làm anh hùng cứu thế của mình hay sao?”
Từng câu nói của Lâm Tự nện xuống đầu Bùi Hạ như những gáo nước lạnh buốt múc từ đáy giếng sâu tạt thẳng vào mặt nàng.
Bàn tay trái của nàng siết chặt lại, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đến mức bật máu, đau nhói. Cơn đau từ cổ tay phải bị thương lại giật lên từng cơn dữ dội, như nhắc nhở nàng về sự bất lực, về giới hạn nghiệt ngã của thực tại. Nàng quen đứng mũi chịu sào, quen lấy thân mình ra che chở cho các sư đệ sư muội từ những ngày còn ở Thanh Huyền Môn. Đến tận lúc kinh mạch vỡ vụn vì gánh chịu phản phệ của đại trận bảo hộ chân núi, nàng vẫn một mực tin rằng chỉ cần mình không lùi bước thì người khác sẽ được bình an.
Nhưng nàng đã quên mất một điều tàn nhẫn: ở nơi bùn lầy nước đọng này, giữa một đống đổ nát của quan luật hà khắc và thiên tai dồn dập, lòng dũng cảm mù quáng không thể thay thế được sự chính xác của một kết cấu chịu lực. Một thanh gỗ mục nếu cứ cố tình gánh lấy cả mái đình, thì kết cục duy nhất là nó gãy đôi và đè chết tất cả những kẻ đang trốn bên dưới.
Chính điện rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở.
Tiếng củi thông nổ “lách tách” ròn rã bỗng trở nên chói tai đến kỳ lạ. Gió bên ngoài vực tây vẫn đập thình thình vào liếp cửa, từng đợt sương mù ẩm ướt lùa qua khe đá, phả hơi lạnh buốt giá vào da thịt mọi người. Vũ Liên ngồi co ro bên góc cột đá, hai bàn tay gầy bấu chặt lấy gấu áo, lồng ngực phập phồng kìm nén cơn đau âm ỉ nơi phế phủ vừa mới qua cơn bạo phát; đôi mắt nàng ầng ậc nước nhìn Bùi Hạ rồi lại nhìn Lâm Tự, nghẹn ngào không thốt nên lời.
Mấy người thợ chèo đò Trần Đại, Lê Trọng cúi gầm mặt xuống đất. Lê Trọng đưa bàn tay thô kệch vò nát mớ tóc rối bù dính đầy bùn khô, thở hắt ra một hơi sườn sượt:
“Chẳng lẽ... đành bó tay chịu trói để bọn sai nha xích cổ lôi Lâm huynh đệ đi thật sao?” Giọng Lê Trọng khàn đặc, đắng ngắt. “Đoạn đê Hồi Long mùa này nước cuộn xoáy kinh lắm, đá hộc lăn từ trên sườn núi xuống đè bẹp phu phen như dẫm nát con kiến. Huống chi bọn cai đê ăn chặn khẩu phần, nước lũ thì độc, người tráng kiện đến mấy xuống đó ngâm mình ba ngày là sốt rét run cầm cập. Lâm huynh mà đi chuyến này... thì biết ngày nào mới được thấy mặt con bé An nữa.”
“Không thể chịu trói.”
Một giọng nói già nua, khàn đặc nhưng rành rọt và chậm rãi cất lên từ phía bóng tối nơi góc cột cái phía đông.
Lão thợ đá Nguyễn Mộc chống tay lên đầu gối, khó nhọc đứng dậy. Lưng lão còng rạp xuống vì mấy mươi năm cúi mình đục đẽo bia đá, nhưng đôi mắt kèm nhèm sau cặp lông mày bạc trắng lại ánh lên vẻ sắc sảo lạ thường. Trên hai tay lão ôm một bó thẻ tre cũ kỹ, dài chừng một thước, được bọc cẩn thận trong lớp vải dầu đã ố vàng và bốc mùi khói bếp ngai ngái.
Lão bước từng bước tập tễnh tới gần ngọn lửa, đặt bó thẻ tre nặng trịch lên chiếc bàn gỗ thấp mà Lâm Tự vừa đóng tạm bằng gỗ ván tạp mấy hôm trước.
“Muốn đấu với nha môn, không thể dùng nắm đấm thô thiển, càng không thể dùng cái tình riêng bốc đồng.” Lão Mộc đưa những ngón tay gầy guộc như cành củi khô, lần giở từng nan tre được xâu bằng dây gân bò đã sờn rách mép. “Quan lại vùng lưu vực sông Vân Hà này ăn bổng lộc triều đình, cai trị dân chúng bằng điển lệ và văn bản. Bọn chúng lấy luật ra để đè đầu cưỡi cổ dân đen, thì muốn bẻ gãy một tờ trát đòi của phòng Công tào, chúng ta phải tìm đúng cái mộng, cái khớp trong chính bộ luật mà bọn chúng đang dùng!”
Đỗ Nghi buông ống kim châm bằng đồng trên tay xuống mẹt thuốc, bước nhanh tới bên cạnh lão Mộc. Nàng kéo ngọn đèn dầu lạc leo lét trên bệ đá lại gần chiếc bàn, đôi mắt tinh anh lướt nhanh qua những dòng chữ Hán khắc chìm sắc cạnh trên những nan tre đã lên nước bóng loáng vì mồ hôi tay qua nhiều đời.
“Nguyễn thúc, đây là...” Đỗ Nghi khẽ hỏi, hơi thở dồn dập.
“Đây là bản chép tay *Điển lệ Hộ tịch và Lao dịch lưu vực Vân Hà* từ thời triều đình mới lập phủ An Lưu, do chính tay cha ta truyền lại khi người còn làm thợ khắc bia công ích cho phủ nha.” Lão Mộc ho khẽ một tiếng, lồng ngực lép kẹp rung lên bần bật. “Triều đình dẫu có hà khắc đến đâu, luật pháp trị thủy qua các đời dẫu có tàn bạo đến mấy, thì bao đời nay vẫn phải chừa lại một đường sống cho giống nòi duy trì. Nước lũ dâng cao làm mất mùa, nhưng nếu để tuyệt diệt dòng giống lao động thì lấy ai cày cấy nộp thuế cho triều đình sau thiên tai? Các người nhìn kỹ vào thiên thứ tư, điều mười bảy này xem!”
Đỗ Nghi ghé sát mặt vào thẻ tre, ngón tay thanh mảnh của người thầy thuốc lần theo từng rãnh mực đen khắc sâu vào thớ cật tre già. Đôi môi nàng khẽ mấp máy, rồi cất giọng đọc thành tiếng, từng chữ vang lên rành rọt giữa gian điện hoang phế:
“‘Kẻ chịu đinh dịch thường lệ, phàm gặp lúc đê điều nguy cấp phải tòng mệnh ứng vụ. Duy chỉ có ba hạng người được liệt vào diện miễn hoãn đặc biệt: Một là con một nuôi dưỡng cha mẹ già yếu trên bảy mươi tuổi không nơi nương tựa; hai là người tàn phế mất hẳn sức lao động chân tay; ba là...’”
Nàng bỗng dừng lại một nhịp, ngực phập phồng dữ dội. Nàng ngẩng phắt đầu lên nhìn thẳng vào khuôn mặt phong trần đầy góc cạnh của Lâm Tự, giọng run lên vì một niềm hy vọng vừa lóe rạng:
“‘...Ba là người cha góa bụa, nuôi dưỡng con nhỏ dưới mười hai tuổi, trong nội ngoại gia tộc không còn thân thích ruột thịt nương tựa. Kẻ thuộc diện này, nếu điều đi phu dịch ắt khiến ấu tử lâm vào cảnh chết đói, tuyệt tự dòng dõi, tổn hại đến đức hiếu sinh của triều đình. Do đó được xét miễn hoãn toàn bộ đinh dịch khẩn cấp, chỉ phải nộp công dịch bằng việc sửa sang công trình công ích tại chỗ, với điều kiện phải có bản khai gia cảnh và tối thiểu hai nhân chứng có hộ tịch hợp lệ cùng làng hoặc cùng bến sở chứng thực!’”
“Miễn hoãn hợp pháp!”
Phạm Sương buột miệng reo lên, hai bàn tay đập mạnh vào nhau vang lên một tiếng giòn giã. Khuôn mặt nhợt nhạt của nàng bỗng bừng lên sắc máu:
“Lâm sư huynh góa vợ đã bốn năm nay, việc này cả cái Bến Bạch Sa từ đầu bến đến cuối bến ai mà không tường tận! Vợ anh mất trong trận lũ cát kinh hoàng năm Kỷ Mão, một mình anh gà trống nuôi con, con bé An năm nay mới vừa tròn mười một tuổi!”
“Đúng thế! Đúng trăm phần trăm!” Lê Trọng vỗ đùi đánh đét một cái, nhảy cẫng lên khỏi phiến đá. “Bốn anh em phu chèo đò chúng tôi đều là dân ngụ cư Bến Bạch Sa từ tấm bé, cùng ngụ chung một xóm chài rách với Lâm huynh! Chúng tôi có tên tuổi, có triện son trên sổ đinh cũ của phủ An Lưu còn lưu tại huyện nha! Bốn người chúng tôi đứng ra điểm chỉ máu làm chứng trước công đường, viết rõ gia cảnh gà trống nuôi con của anh ấy, xem thằng lại dịch nào của phòng Công tào dám mở mồm bảo anh ấy là kẻ trốn dịch!”
Cả gian điện như vừa trút bỏ được một tảng đá ngàn cân đang đè nặng trên lồng ngực. Tiếng thở phào nhẹ nhõm, những nụ cười hiếm hoi sau chuỗi ngày chạy lũ kinh hoàng bắt đầu nở trên những khuôn mặt hốc hác, xám xịt vì đói rét. Trần Đại đưa tay quệt vội giọt nước mắt lăn trên gò má sạm đen, còn mấy người đàn bà thì lẩm bẩm tạ ơn trời đất phù hộ.
Nhưng Lâm Tự vẫn đứng yên đó.
Khuôn mặt góc cạnh, đen sạm của anh không hề giãn ra lấy một nét. Anh không reo mừng, cũng không thở phào. Đôi mắt sâu hoắm của anh chầm chậm rời khỏi tờ công văn trên bàn, lặng lẽ hướng về phía góc tối tăm nhất nơi chân cột cái phía tây điện.
Ở đó, Lâm An đang nép mình sát vào góc tường đá ẩm ướt rêu phong.
Đứa bé mười một tuổi gầy guộc, khẳng khiu như một nhánh củi khô mùa đông. Nó mặc một bộ quần áo may bằng vải gai thô, chắp vá chằng chịt những mảnh vải màu khác nhau, vạt áo rộng thùng thình của người lớn buông thõng xuống tận đầu gối. Từ lúc mũi tên sắt xé toạc màn đêm găm vào bậu cửa điện đến giờ, con bé không hề cất tiếng khóc ré lên như Cẩu Đản, cũng không hề chạy nhào lại bám lấy vạt áo tơi của cha để mè nheo, sợ hãi.
Nó chỉ đứng im lìm ở đó, hai bờ vai gầy co rúm lại dưới làn gió buốt lùa qua khe tường. Đôi mắt to tròn, đen láy nhưng sâu hoắm mở thao láo, chăm chú nhìn trừng trừng vào tờ giấy bổi màu vàng nghệ đang nằm trên mặt bàn gỗ.
Thấy ánh mắt của cha dừng lại trên người mình, Lâm An khẽ rụt người lại một chút. Hai bàn tay nhỏ bé, tím tái vì lạnh run rẩy nắm chặt lấy vạt áo trước ngực. Nơi lớp vải gai thô cứng ấy cộm lên một góc nhọn ram ráp—đó là mảnh thẻ bài bằng gỗ liễu gãy nát mà con bé đã nhặt được dưới đống bùn lầy tanh tưởi ở Bến Bạch Sa trong cái ngày nước lũ cuộn sóng dâng ngập nóc nhà. Suốt mười ngày chạy loạn lên núi Đoạn Phong, con bé vẫn luôn giấu kín mảnh gỗ ấy trong lớp áo lót như một báu vật bất khả xâm phạm. Nó sợ. Nó sợ rằng nếu mang thứ đồ chơi nhặt nhạnh ấy ra khoe, nó sẽ mang lại tai họa khôn lường; nó sợ những rắc rối, những bí mật đen tối của thế giới người lớn dưới bến sông sẽ đè bẹp mất đôi vai vốn đã còng xuống vì sương gió của cha nó.
Lâm An cắn chặt môi dưới. Con bé cắn chặt đến mức rớm máu tươi, cố ngăn không cho một tiếng nấc nghẹn ngào nào lọt ra ngoài cuống họng. Đôi mắt nó hoe đỏ, ngấn đầy nước nhưng tuyệt nhiên không để một giọt lệ nào lăn xuống đôi gò má lem luốc tro than.
Nó sợ lắm. Nó sợ nếu nó òa khóc, cha nó sẽ mềm lòng, sẽ vì thương xót nó mà chịu nhục nhã; nó sợ nếu nó tỏ ra yếu đuối, những người lớn khác trong đạo quán sẽ nhìn hai cha con nó như một gánh nặng thừa thãi giữa lúc kho lương thực chỉ còn lại vài bơ gạo mốc và mấy củ mài teo tóp. Nó đã thấy quá nhiều đứa trẻ bị bỏ rơi bên mép nước trong cơn đại hồng thủy vừa qua, và nó hiểu rằng ở trên đỉnh núi hoang vu này, sự yếu đuối đồng nghĩa với cái chết.
Lâm Tự bước từng bước chậm rãi lại gần con gái. Anh quỳ một chân xuống phiến đá lạnh ngắt, ngang tầm mắt với Lâm An.
Bàn tay thô ráp, đầy những dằm gỗ và sẹo cưa của anh nhẹ nhàng vươn ra, đặt lên mái tóc xơ xác khét lẹt mùi khói bếp của con bé. Bàn tay của người thợ đẽo cọc đê vững chãi như bàn thạch, nhưng khi chạm vào đỉnh đầu con gái, nó lại run rẩy một cách kỳ lạ.
“An.” Lâm Tự gọi khẽ. Giọng anh trầm và ấm, khác hẳn sự lạnh lùng tàn nhẫn khi anh đối đáp với Bùi Hạ ban nãy.
Chỉ một tiếng gọi ấy thôi, toàn bộ sự kiên cường gượng gạo của đứa trẻ mười một tuổi sụp đổ hoàn toàn.
Bờ vai gầy guộc của Lâm An run lên bần bật. Con bé nhào tới, gieo mình vào lòng cha. Hai cánh tay nhỏ thó quàng chặt lấy cổ Lâm Tự, vùi chặt khuôn mặt ướt đẫm nước mắt vào hõm vai áo sực mùi gỗ táu và nhựa thông quen thuộc của anh. Tiếng nấc nghẹn ngào bị đè nén suốt từ đầu buổi tối giờ vỡ òa thành những tiếng thở dốc đứt quãng, nghẹn ngào đến xé lòng:
“Cha... con không để cha đi đâu... Đê Hồi Long dữ lắm... Mẹ trôi theo dòng nước lũ cũng ở mé sông đó... Con nhớ mà... Con không cần ăn cháo củ mài nữa đâu, con nhịn đói được mà... Cha đừng đi... Cha đi rồi con biết ở với ai...”
Lâm Tự siết chặt vòng tay, ôm trọn thân hình bé nhỏ, nhẹ bẫng của con gái vào lồng ngực vạm vỡ của mình. Khuôn mặt người đàn ông sắt đá suốt mười ngày qua không hề biến sắc trước đói khát, hiểm nguy và cái chết chực chờ, lúc này lại khẽ co giật từng hồi. Anh ghì chặt con bé vào lòng, cằm tì lên mái đầu nhỏ nhắn, hai mắt nhắm nghiền lại để ngăn không cho giọt nước mắt nào trào ra.
Anh trầm giọng, từng lời nói ra chậm rãi, chắc nịch như đóng một chiếc đinh sắt vào tấm gỗ lim:
“Cha không đi đâu cả. Cha ở lại đây với con. Mái nhà này cha mới lợp xong một nửa, cánh cửa chắn gió hướng tây cha còn chưa đẽo xong mộng để lắp cho con ngủ đêm đông. Cha không đi đâu hết. Cha sẽ ở đây, cùng con, cùng mọi người.”
Bùi Hạ đứng lặng lẽ bên bàn gỗ, trân trân nhìn hai cha con họ.
Nàng nhìn thấy bàn tay nhỏ bé gầy trơ xương của Lâm An đang bấu chặt lấy lưng áo tơi rách rưới của cha nó, như thể chỉ cần buông tay ra một khắc là dòng nước lũ tàn bạo sẽ cuốn người đàn ông duy nhất trên đời của nó đi mất. Nàng nhìn thấy tấm lưng còng gầy guộc nhưng vững chãi của người thợ mộc đang gồng lên che chở cho giọt máu mủ duy nhất còn sót lại của mình giữa cõi đời điêu tàn này.
Và rồi, nàng nhìn lại chính đôi bàn tay mình.
Một cảm giác bàng hoàng pha lẫn hổ thẹn dâng lên ngập tràn trong tâm can Bùi Hạ. Nàng nhớ lại khoảnh khắc ngạo mạn vừa rồi, khi bản thân suýt chút nữa đã vì cái tôi của một kẻ mang danh tu sĩ xuất thân đại tông môn, vì thói quen đơn độc gánh vác mù quáng mà định xông thẳng xuống huyện nha An Lưu đối chất. Nàng đã ngỡ rằng mình đang hy sinh vì người khác, ngỡ rằng hành động lao vào chỗ chết ấy là cao thượng, là trượng nghĩa.
Nhưng thực chất đó là gì? Đó chỉ là sự bốc đồng nông nổi! Suýt chút nữa nàng đã đem tính mạng của con bé An, đem sự an nguy của Lâm Tự và ba mươi con người đang nương tựa vào đỉnh Đoạn Phong này ném thẳng vào miệng cọp của chốn quan trường chỉ để thỏa mãn cái ảo tưởng “đấng cứu thế” của bản thân!
Đó tuyệt đối không phải là tông môn.
Đó chỉ là một sự lặp lại tồi tệ của chính cái Thanh Huyền Môn mà nàng từng căm ghét—nơi mà một vài kẻ có tu vi, có quyền lực tự cho mình cái quyền phán xét, tự cho mình cái quyền ban phát sự sống chết cho kẻ khác, để rồi khi đại họa ập xuống, cái giá phải trả luôn là máu và xương tàn của những phu phen, thợ thuyền dưới đáy cùng.
Bùi Hạ hít một hơi thật sâu. Luồng không khí lạnh buốt của đỉnh núi tràn vào lồng ngực làm đầu óc nàng tỉnh táo lạ thường. Nàng nhìn quanh gian điện hoang phế: những phiến đá kê cột do lão Mộc gọt đẽo, những thanh giằng do Lâm Tự đục mộng, nồi cháo do Phạm Sương nấu, nắm lá thuốc do Đỗ Nghi hái, và những con đường bạt đá mở lối do anh em chèo đò đập vỡ từng tảng đá tai mèo... Không có một thứ gì ở đây thuộc về riêng một mình Bùi Hạ.
Nàng bước tới giữa gian điện, dừng lại ngay bên cạnh ngọn đèn dầu dẫn lộ đang tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt nhưng kiên cường.
“Mọi người tập trung lại đây.”
Giọng Bùi Hạ cất lên. Không còn sự cao ngạo của một tu sĩ Luyện Khí, không còn sự nóng nảy bốc đồng của một kẻ muốn liều mạng gánh vác, mà là một sự trầm tĩnh, đanh thép và dứt khoát lạ thường.
“Lê Trọng, Trần Đại, hai anh ra ngoài đóng chặt cửa tam quan lại, gài then gỗ đôi. Đỗ Nghi, Phạm tỷ, nhóm thêm một đống lửa nữa ở góc tây cho bớt gió lùa. Đêm nay, trước khi trời sáng, trước khi sai nha của Huyện thừa Hoàng Cẩn mò lên ngọn Đoạn Phong này đòi người, ba mươi hai con người chúng ta phải cùng nhau định đoạt một việc hệ trọng.”
Nghe tiếng gọi của nàng, ba mươi hai con người—từ lão thợ đá Nguyễn Mộc lưng còng mắt mờ, những người đàn bà gầy yếu như Phạm Sương, Đỗ Nghi, đám thợ thuyền thô kệch chai sạn, cho đến thiếu nữ Vũ Liên và lũ trẻ con như Lâm An, Cẩu Đản—tất cả lặng lẽ kéo nhau quây quần lại dưới mái chính điện.
Không có ghế bành trên cao, không có bồ đoàn riêng biệt cho người tu tiên. Bùi Hạ ngồi bệt xuống một phiến đá xanh ngang hàng với mọi người. Đống lửa bập bùng giữa điện hắt bóng của ba mươi hai con người lên bức tường đá sa thạch cũ kỹ phía sau, đan xen, lồng ghép vào nhau thành một khối đen đặc quánh, vững chãi như một bức tường thành kiên cố.
Bùi Hạ trải một tấm giấy bổi trắng khổ lớn—mảnh giấy còn sót lại từ xấp giấy của Trấn Linh Ty cấp cho khi lập bộ tạm thời—lên chiếc bàn gỗ thấp. Nàng cầm lấy thỏi mực mài dở, chấm vào nghiên nước suối múc từ mạch linh tuyền Thạch Nhãn vừa khơi thông hôm trước. Nàng ngẩng đầu lên, ánh mắt bình thản nhưng sâu thẳm nhìn lướt qua ba mươi mốt gương mặt đang hướng trọn về phía mình.
“Mũi tên và tờ trát bắt phu của Lâm sư huynh tối nay đã giáng một đòn cảnh tỉnh chí mạng cho tôi.” Bùi Hạ thẳng thắn cất lời, không hề né tránh bất kỳ ánh mắt nào. “Suốt mười ngày qua, kể từ lúc dẫn mọi người thoát khỏi cơn lũ Bến Bạch Sa trèo lên ngọn Đoạn Phong này, tôi đã tự coi mình là thợ trận, là người duy nhất có linh lực, nên tôi đã tự cho mình cái quyền quyết định thay cho tất cả. Tôi nghĩ tôi có thể gánh vác hết mọi tai ương, tôi nghĩ tờ biên nhận mang tên Chưởng môn của tôi có thể làm chiếc lọng che mưa nắng cho ba mươi mốt con người. Tôi đã lầm. Một sai lầm suýt chút nữa đẩy tất cả chúng ta vào ngõ cụt.”
Nàng dừng lại một nhịp, đưa mắt nhìn sang Lâm Tự, rồi nhìn sang lão Mộc và những người thợ chèo đò:
“Sự thật rành rành ra đó: Nếu không có những đường mộng gỗ táu ngậm ngập vào vách đá của Lâm Tự, mắt trận số ba đã sập tan tành dưới sức gió hôm kia; nếu không có sự tính toán chi li từng vốc gạo của Phạm tỷ, kho lương tạm đã cạn kiệt từ ngày thứ năm; nếu không có bàn tay bốc thuốc, châm cứu của Đỗ Nghi, dịch bệnh và sốt rét đã quật ngã nửa số người ở đây; và nếu không có những nhát búa bạt đá, những chuyến chèo đò ngược dòng hiểm trở của anh em thuyền chài, chúng ta đã chẳng đổi được một hạt muối hay một vốc than nào từ chợ Tam Giang về đây.”
Bùi Hạ giơ cao ngọn bút tre trên tay, giọng nói vang vọng khắp các ngóc ngách của gian điện:
“Một tông môn được dựng lên từ đống bùn lầy sau cơn lũ tàn khốc không thể là nơi của một kẻ đứng trên cao ban ơn, còn những người khác chỉ biết cúi đầu tuân phục như lũ nô bộc! Nếu chúng ta lập ra cái Đạo quán Vọng Đăng này chỉ để biến nó thành một Thanh Huyền Môn thu nhỏ khác—nơi kẻ có linh căn coi khinh kẻ làm lụng chân tay, nơi một cá nhân có thể tự tiện đem mạng sống, danh phận của tập thể ra đánh cược theo ý chí chủ quan của mình—thì cái đạo quán này thà sụp đổ ngay trong đêm nay còn hơn!”
Lâm Tự ngẩng đầu lên. Ánh mắt người thợ mộc chạm thẳng vào ánh mắt của Bùi Hạ.
Sự gay gắt, đối đầu ban nãy giữa hai người đã hoàn toàn tan biến. Trong ánh mắt họ lúc này chỉ còn lại sự thấu hiểu sâu sắc, thứ thấu hiểu được tôi luyện qua máu, mồ hôi và ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Lâm Tự khẽ gật đầu, một cái gật đầu kín đáo nhưng chứa đựng sự tin cậy tuyệt đối.
“Vì vậy,” Bùi Hạ đặt đầu ngọn bút tre xuống mặt giấy bổi trắng tinh, “trước khi chúng ta hợp lực viết bản giải trình pháp lý để bảo vệ Lâm sư huynh gửi xuống huyện nha An Lưu, chúng ta phải lập ra bản Điều Lệ đầu tiên của Đạo quán Vọng Đăng. Đây không phải là môn quy gia tộc để đe dọa, trừng phạt kẻ dưới, mà là khế ước sinh tồn của chính ba mươi hai con người chúng ta. Tôi đề xuất ba điều khoản cốt lõi đầu tiên, và đêm nay, từng người một ở đây—dù có linh căn hay phàm nhân, dù là thợ cả lành nghề hay một đứa trẻ con—đều sẽ tự tay bỏ một hạt sỏi vào chiếc bát này để biểu quyết!”
Nàng hạ ngọn bút. Dưới ánh sáng bập bùng của ngọn lửa thông, từng nét chữ chân phương, rắn rỏi và dứt khoát hằn sâu lên mặt giấy:
*“Điều thứ nhất: Tại Đạo quán Vọng Đăng, mọi thành viên tham gia lao động, gìn giữ nơi trú ngụ và bảo vệ nguồn sống chung—bất kể có linh căn hay không có linh căn, bất kể tu sĩ hay phu thợ chân tay—đều có quyền biểu quyết ngang hàng trong mọi công việc hệ trọng của cộng đồng. Không một ai vì cảnh giới tu vi mà được nắm giữ nhiều hơn một lá phiếu, không một ai vì không thể dẫn khí mà bị tước đoạt tiếng nói.”*
Tiếng ngòi bút sột soạt lướt trên mặt giấy bổi thô ráp vang lên giữa một bầu không khí im phăng phắc.
Bốn người thợ chèo đò trố mắt nhìn nhau, ngơ ngác như không dám tin vào tai mình. Lê Trọng nuốt nước bọt đánh “ực” một cái, hai vai run lên vì xúc động. Anh ta chỉ tay vào ngực mình, ấp úng hỏi:
“Bùi... Bùi cô nương, ý cô là... những đứa thợ thuyền quanh năm chỉ biết cầm mái chèo cắm sào, cả đời bị bọn sai nha gọi là quân phu phen đê tiện như chúng tôi... cũng có quyền giơ tay biểu quyết ngang hàng với tu sĩ các người sao?”
“Không phải là ngang hàng để tranh cãi,” Bùi Hạ ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt anh, mỉm cười ấm áp, “mà là cùng nhau quyết định số phận của chính mình. Bởi vì mái nhà này là do các anh đắp đất lợp gianh, con đường vượt vực này là do các anh dùng búa tạ bạt từng tảng đá mở lối. Kẻ nào dám đạp lên mồ hôi và máu của các anh để tự xưng là bề trên ban ơn, kẻ đó tuyệt đối không có tư cách ở lại Vọng Đăng này dù chỉ nửa bước!”
Dứt lời, Bùi Hạ lại cúi đầu, ngọn bút tre tiếp tục hạ xuống, viết tiếp điều thứ hai:
*“Điều thứ hai: Sinh mạng, tự do và nghĩa vụ pháp lý của từng thành viên là tài sản chung của toàn thể Vọng Đăng. Quyết định hy sinh, gánh vác trách nhiệm thay, hoặc giao nộp bất kỳ ai cho quan phủ tuyệt đối không do một cá nhân—dù là Chưởng môn hay người sáng lập—tự ý định đoạt. Mọi tranh chấp pháp lý, mọi nguy cơ đinh dịch hay áp lực từ bên ngoài đe dọa đến một thành viên, toàn thể cộng đồng phải cùng nhau bàn bạc, tìm kiếm căn cứ luật định và cùng chịu trách nhiệm tương trợ.”*
Lâm Tự nhìn từng nét mực đang thấm sâu vào thớ giấy, bàn tay anh vô thức siết nhẹ bàn tay nhỏ nhắn của con gái. Anh hiểu sâu sắc ý nghĩa của điều khoản này. Nó không chỉ trói chặt cái thói quen liều mạng, thích đơn độc gánh vác tai ương của chính Bùi Hạ, mà nó còn chặt đứt tận gốc rễ cái nguy cơ tàn nhẫn nhất trong mọi tổ chức: nguy cơ một ngày nào đó, những kẻ yếu thế, cô thế như cha con anh bị đem ra làm vật tế thần để đổi lấy sự bình yên cho số đông.
Không dừng lại, Bùi Hạ viết tiếp điều thứ ba, từng nét chữ như khắc vào đá:
*“Điều thứ ba: Tài nguyên sinh tồn—bao gồm nguồn nước linh tuyền Thạch Nhãn và kho lương thực chung—thuộc quyền sở hữu công ích của toàn thể cộng đồng. Việc phân phối khẩu phần căn bản giữ mạng phải bảo đảm công bằng tuyệt đối cho từng miệng ăn; mọi giao dịch đổi chác, vay mượn hay thế chấp tài sản chung với bất kỳ thế lực bên ngoài nào đều phải được công khai minh bạch trước toàn thể thành viên và chỉ có hiệu lực khi được quá bán số người đồng thuận.”*
Nét chữ cuối cùng vừa dứt, Bùi Hạ thở phào một hơi dài, đặt ngọn bút tre xuống nghiên mực.
Nàng lấy từ dưới gầm bàn ra một chiếc bát gốm tráng men da chuồn đã mẻ một góc lớn, đặt ngay ngắn vào chính giữa chiếc bàn gỗ. Bên cạnh đó, nàng kéo lại một chiếc rổ mây nhỏ đựng đầy những viên sỏi suối màu trắng ngà, tròn trịa, nhẵn thín, đã được lũ trẻ nhặt về từ lòng suối Thạch Nhãn và rửa sạch cặn bùn từ mấy hôm trước.
Bùi Hạ ngước mắt nhìn khắp lượt ba mươi mốt con người:
“Ba điều khoản này là rễ cây, là mộng gỗ để dựng nên ngôi nhà chung Vọng Đăng. Ai thuận theo ba điều này, xin bước lên cầm lấy một hạt sỏi trắng bỏ vào trong bát. Ai không thuận, có thể nói rõ lý do để chúng ta cùng nhau bàn bạc, sửa đổi cho đến khi tất cả cùng đồng lòng.”
Lời nàng vừa dứt, không gian trong điện lại chùng xuống trong một thoáng ngập ngừng. Mọi người nhìn chiếc bát gốm mẻ, nhìn rổ sỏi trắng, ánh mắt bỡ ngỡ như đứng trước một điều gì đó thiêng liêng mà cả đời họ chưa từng được trải qua.
Và người đầu tiên bước lên không phải là Bùi Hạ.
Lão thợ đá Nguyễn Mộc chống cây gậy tre kêu cộc cộc trên nền đá, chậm rãi tiến lại gần bàn. Bàn tay gầy guộc đầy những vết sẹo đục đá của lão run rẩy vươn vào rổ mây, cẩn thận nhặt lấy một viên sỏi trắng tròn trịa nhất. Lão giơ viên sỏi lên trước ánh lửa, rồi thả dứt khoát vào lòng bát gốm.
“Cách!”
Một tiếng va chạm thanh tao, giòn giã vang lên giữa gian điện tĩnh mịch.
“Lão già này tám mươi mốt tuổi đời, đục bia cho ba đời quan lại triều đình, thấy không biết bao nhiêu bản môn quy, gia pháp của các tiên môn thế gia.” Lão Mộc ngước đôi mắt đục ngầu, giọng run run vì xúc động. “Chữ nào chữ nấy trên bia đá của bọn họ đều dạy người ta phải biết phục tùng, biết cúi đầu chịu chết vì đại cục của tông tộc, coi mạng dân đen như cỏ rác. Hôm nay, đến gần đất xa trời, lão mới được thấy một tờ điều lệ dạy con người ta biết đứng thẳng lưng lên mà làm người, biết coi mạng của kẻ đục đá ngang với kẻ tu tiên! Viên sỏi này, lão già ta bỏ!”
Ngay sau lão Mộc, Phạm Sương dứt khoát bước lên. Nàng móc chùm chìa khóa kho bằng sắt đặc giắt bên hông ra, dằn mạnh xuống mặt bàn gỗ đánh “chát” một cái, rồi cầm lấy một viên sỏi trắng thả mạnh vào bát:
“Minh bạch kho lương, sổ sách công khai, không ai được lén lút đem mồ hôi nước mắt của người khác đi đổi chác tư lợi! Tôi thuận!”
“Cách!” Viên sỏi thứ hai rơi xuống.
Đỗ Nghi bước lên, tà áo thô khẽ bay theo làn gió lạnh. Nàng nhẹ nhàng đặt một viên sỏi vào lòng bát:
“Người bệnh hay người khỏe mạnh, phàm là máu thịt con người thì mạng sống đều quý giá như nhau. Tôi thuận!”
“Cách!”
Như một dòng nước lũ bị phá tung bờ kè, sự e dè ban đầu tan biến hoàn toàn. Từng người, từng người một lần lượt bước lên trước chiếc bàn gỗ.
Bốn người thợ chèo đò chen nhau bước tới. Lê Trọng lúng túng dùng những ngón tay to bè, thô ráp như rễ cây mò mẫm trong rổ, cẩn thận nhặt lấy một viên sỏi rồi thả vào bát với một nụ cười rạng rỡ nở bừng trên khuôn mặt đen nhẻm vì nắng gió sông hồ: “Anh em chúng tôi thuận cả hai tay! Mái nhà này có phần của chúng tôi, chúng tôi sống chết giữ lấy!”
Vũ Liên rụt rè bước tới bên bàn. Nàng ngước nhìn Bùi Hạ với đôi mắt long lanh ngấn lệ, khẽ nói một tiếng "Muội thuận" nghẹn ngào trong cuống họng, ánh mắt bừng sáng lên một niềm tin mãnh liệt chưa từng có. Nàng vươn bàn tay nhặt lấy viên sỏi của mình, thả nhẹ vào bát.
Ngay cả cậu bé Cẩu Đản cũng được mẹ bế trên tay, ngơ ngác vươn bàn tay nhỏ xíu bụ bẫm nhặt một hạt sỏi con con thả vào lòng bát gốm theo lời dặn của mẹ.
Từng tiếng “cách, cách, cách” vang lên liên hồi, trong trẻo và dứt khoát, xua tan đi tiếng gió rít gào bên ngoài vực thẳm, sưởi ấm cả gian điện lạnh lẽo.
Cuối cùng, trước chiếc bàn gỗ chỉ còn lại hai cha con Lâm Tự.
Lâm Tự nắm chặt lấy bàn tay nhỏ bé của Lâm An, dắt con bé bước từng bước vững chãi lại gần bàn. Lâm An ngước đôi mắt to tròn nhìn cha, rồi lại nhìn sang Bùi Hạ đang mỉm cười gật đầu khích lệ nó.
Đứa bé mười một tuổi khẽ buông vạt áo trước ngực ra—nơi cộm lên mảnh thẻ bài gỗ liễu gãy nát nhặt dưới bùn lầy. Nó không còn run rẩy nữa. Lâm An vươn bàn tay nhỏ nhắn vào rổ, nhặt lấy hai viên sỏi trắng bóng đẹp nhất. Nó kiễng chân, đưa một viên vào lòng bàn tay chai sần của cha, còn viên kia nó giữ chặt trong lòng bàn tay mình.
Hai bàn tay—một lớn thô ráp đầy sẹo cưa, một nhỏ nhắn mềm mại—cùng vươn ra trên miệng chiếc bát gốm mẻ.
“Cách! Cách!”
Hai tiếng va chạm giòn giã vang lên gần như cùng một lúc. Hai viên sỏi trắng rơi xuống, nằm gọn gàng bên trên lớp sỏi đã vun đầy có ngọn trong lòng chiếc bát gốm.
Ba mươi hai viên sỏi trắng. Ba mươi hai sự đồng thuận tuyệt đối của ba mươi hai con người cùng khổ vừa tìm thấy nhau giữa cơn đại hồng thủy.
Không một ai phản đối. Không một ai đứng ngoài lề.
Ngay tại chỗ, bản điều lệ được trải phẳng phiu ra giữa bàn. Nguyễn Mộc run rẩy mài thêm một nghiên mực son đỏ thắm pha từ bột chu sa và nước suối Thạch Nhãn. Lê Trọng cùng ba người thợ chèo đò lập tức quỳ sụp xuống bên mép bàn gỗ. Cùng với sự trợ giúp của lão Mộc và Đỗ Nghi, họ bắt đầu thảo một lá đơn trần tình và làm chứng khẩn cấp gửi lên huyện nha An Lưu.
Từng câu chữ trong đơn đều viện dẫn chính xác điều mười bảy, thiên thứ tư trong bản Điển lệ hộ tịch Vân Hà cổ, khẳng định rõ ràng hoàn cảnh người cha góa bụa nuôi con nhỏ dưới mười hai tuổi của Lâm Tự, xác nhận việc vợ anh mất tích trong trận lũ năm Kỷ Mão, đồng thời kèm theo bốn dấu điểm chỉ bằng máu đỏ tươi trích từ đầu ngón tay của bốn người phu chèo đò có hộ tịch hợp lệ cùng bến sở.
Khi lá đơn vừa hoàn tất, Bùi Hạ cầm lấy ngọn bút tre.
Cổ tay phải của nàng vẫn còn đau nhức dữ dội, kinh mạch nứt toác chưa thể vận khí, nhưng nàng không hề ngần ngại. Bùi Hạ đổi ngọn bút sang tay trái. Bằng bàn tay trái vụng về nhưng kiên định đến phi thường, nàng nắn nót viết từng nét tên mình vào dòng đầu tiên của bản Điều Lệ Đạo Quán Vọng Đăng, ngay bên dưới ba điều khoản vừa được toàn thể ba mươi hai con người thông qua.
Lâm Tự đứng sững bên cạnh nhìn nàng.
Ngọn lửa bập bùng từ đống củi thông hắt những tia sáng đỏ ấm áp lên góc nghiêng khuôn mặt thanh tú nhưng cương nghị của người con gái đang cắn chặt môi kìm nén cơn đau nơi cổ tay phải. Tiếng gió mùa đông vẫn gầm gào quất từng đợt điên cuồng vào vách đá Đoạn Phong bên ngoài vực tây, nhưng bên trong gian điện hoang phế này, từng mộng gỗ táu dường như đã ăn khớp hoàn toàn vào các lỗ đục, từng thanh giằng đã ghìm chặt lấy nền móng đá xanh sâu thẳm trong lòng đất.
Lâm Tự bước tới, đưa tay nhận lấy ngọn bút tre còn vương mực son từ tay Bùi Hạ.
Anh chấm đậm ngọn bút vào nghiên mực đỏ thắm, dứt khoát viết ba chữ “Lâm Tự” to bản, vuông vức như một chiếc mộng cọc chịu lực ngay sát cạnh tên nàng. Rồi anh buông bút, nhẹ nhàng nắm lấy ngón tay trỏ nhỏ bé của con gái Lâm An, chấm nhẹ vào nghiên mực đỏ, ấn một dấu vân tay đỏ hồng xinh xắn bên cạnh chữ ký của cha nó.
Lâm Tự nhìn Bùi Hạ ký tên vào bản điều lệ chung, nhận ra mái nhà này bắt đầu có chỗ đứng thực sự cho hai cha con anh.