Đo Tải Nền Đá
Một tiếng rạn khô khốc vang lên từ vách đá phía đông trước khi trời hửng sáng, kéo theo một mảng đất nhão trượt ầm ầm xuống vực thẳm và làm rung chuyển cả dãy phòng ngủ của đạo quán.
Cơn mưa rào bất chợt xối xả trút xuống từ giữa đêm đã biến tầng đất mùn trên sườn núi Đoạn Phong thành một bọc nước khổng lồ chỉ chờ chực vỡ tung. Tiếng đá va đập rầm rộ vào nhau dưới lòng vực sâu hun hút dội ngược lên vách núi, nghe như tiếng sấm nghẹn u uất vọng ra từ sâu thẳm lòng đất. Những đòn tay gỗ táu trên mái ngói dãy phòng đông cọ xát vào nhau ken két, lớp vôi vữa trát tường mủn ra, rào rào rơi xuống nền đất ẩm ướt trúng vào chiếu nằm của những người còn đang say ngủ. Đất đá dưới chân móng dường như đang thở ra những luồng khí lạnh buốt, ẩm ướt và tanh nồng mùi rễ cây mục rữa bị vặn đứt. Trong bóng tối lờ mờ của gian phòng dài, tiếng ngói xô nhau trên rui mè phát ra từng chuỗi lách cách khô khốc, báo hiệu một sự xê dịch ngầm đang âm thầm xé toạc thớ đất bên dưới.
"Động đất! Đá chuồi rồi!"
"Chạy ra sân! Bế lũ trẻ ra sân trước mau!"
Tiếng la hét thất thanh vang lên xé toạc màn mưa mù mịt. Cửa liếp các gian phòng ngủ mé đông bật mở tung tóe dưới những đôi tay run rẩy. Gió núi thốc ngược vào bên trong, cuốn theo bụi vôi trắng xóa và hơi ẩm lạnh buốt làm tắt phụt những ngọn đèn dầu lạc leo lét vừa được châm vội. Mấy người thợ đò áo quần xộc xộc, người ôm chăn rách, kẻ cõng người già hớt hải lao ra khoảng sân đá rộng phía trước chính điện. Mặt đất dưới chân họ vẫn đang truyền lên từng đợt rung chấn khe khẽ, nhịp nhàng nhưng dồn dập như nhịp tim của một con thú khổng lồ đang giãy giụa dưới lớp đá tảng.
Trần Đại bế thốc một đứa bé con của gia đình tị nạn, chân trần dẫm phầm phập trên mặt sân trơn nhẫy bùn đỏ. Bùn đất bắn lên tận bắp chân, nhầy nhụa và buốt giá, nhưng gã thợ đò lực lưỡng không dám giảm tốc độ, hai cánh tay cuồn cuộn siết chặt đứa trẻ đang khóc thét vào lồng ngực vạm vỡ. Ở gian giữa, Đỗ Nghi nhanh nhẹn giục giã Trịnh thị dắt Cẩu Đản nép sát vào chân cột cái chính điện—nơi đêm trước vừa được Lâm Tự gia cố các đai sắt và giằng mộng vững chãi. Đỗ Nghi một tay giữ chặt mép áo tơi che đầu cho Cẩu Đản, tay kia ghì lấy thân cột gỗ lim to bằng một vòng tay ôm, đôi mắt sắc sảo liên tục đảo quanh các góc mái để quan sát độ võng của các xà ngang.
Bà Trịnh thị run lẩy bẩy, hai hàm răng va vào nhau lập cập, một tay ôm ghì lấy bờ vai gầy guộc của đứa con trai, miệng không ngừng lẩm bẩm cầu khẩn thần phật phù hộ. Đứa trẻ nép sát vào vạt áo mẹ, đôi mắt mở to tròn ngơ ngác nhìn qua ngưỡng cửa chính điện, nơi bóng tối ngoài sân đang bị những vệt chớp mờ nhạt từ chân trời phía xa rạch ngang từng vệt xám ngoét. Khắp đạo quán, tiếng chân người chạy rầm rập hòa lẫn tiếng đồ đạc rơi vỡ, tiếng nồi niêu va vào nhau loảng xoảng trong gian bếp tạm, tạo nên một mớ âm thanh hỗn loạn đầy sợ hãi giữa đêm đen.
Bùi Hạ lao ra khỏi buồng góc Tây điện gần như cùng lúc với Lâm Tự. Cánh tay phải của nàng vẫn bị nẹp chặt trong hai thanh nẹp tre bó thuốc xông, lớp vải xô quấn quanh đã ngả màu nâu sẫm vì ngấm dịch thuốc thảo mộc và nước mưa tạt vào mé hiên. Vạt áo bông cũ buộc túm một bên vai để tránh cọ xát vào cổ tay đang sưng tấy, từng thớ cơ nơi đó vẫn còn giật giật buốt nhói sau mỗi bước chạy vội vã. Tay trái nàng nắm chặt chiếc xẻng sắt cùn, mũi sắt đã sứt mẻ vì va đập vào đá sỏi mấy ngày qua, mái tóc chưa kịp búi gọn xõa tung trên vai áo ướt đẫm nước mưa.
"Lâm Tự! Hướng đông!" Nàng hét lên qua tiếng mưa quất rát mặt.
"Tôi nghe thấy rồi! Khối móng sau chuồng trâu cũ bị bửa ra!" Lâm Tự đáp, giọng khàn đặc nhưng rành rọt từng chữ qua tiếng gió rít. Anh khoác vội chiếc tơi lá cọ ướt sũng, những phiến lá cọ già đập vào lưng lách tách theo từng bước sải chân dài và nặng nề. Một tay anh xách bó cọc sồi vót nhọn được buộc chặt bằng sợi mây rừng, tay kia cặp chặt cuộn dây dọi quả đồng và chiếc búa gỗ nặng trịch—thứ ngư cụ và đồ nghề mộc bất ly thân mà anh đã kịp vớ lấy ngay đầu giường trước khi lao ra cửa.
Cả hai người không màng đến nước mưa xối xả táp vào mặt, thoăn thoắt vượt qua dãy hành lang đá trơn tuột để hướng thẳng về mé sườn dốc phía đông của đạo quán. Mùi bùn đất tươi mới bị xé toạc bốc lên ngột ngạt, lẫn trong mùi tanh của nước ngầm sủi bọt từ lòng đất sâu.
Đến khi rạng sáng lờ mờ rọi qua rèm mưa xám xịt, vạt mây đen trên đỉnh núi Đoạn Phong bắt đầu tan loãng thành từng dải sương đục như khói lò vôi. Cơn mưa rào thình lình ngớt hạt, chỉ còn lại những giọt nước nặng trĩu tí tách rơi từ mái ngói rêu phong xuống các phiến đá xanh, gõ đều đặn như tiếng đếm thời gian trôi đi trong vô vọng.
Cảnh tượng mé đông hiện ra trơ trọi và rợn ngợp dưới ánh sáng nhợt nhạt của buổi bình minh ảm đạm.
Gần ba trượng đất thịt và bụi gai rậm rạp chạy dọc mép bờ vực đã biến mất hoàn toàn, để lại một vết sạt nham nhở như thể vừa bị một chiếc vuốt thú khổng lồ nạo phăng đi. Đất bùn đỏ quạch nhão nhoét trôi tuột xuống tận chân thung lũng bên dưới, vùi lấp những ngọn cây rừng thấp và làm lộ ra một vách đá xám xịt lỗ chỗ tổ ong. Từng tảng đất to bằng chiếc nong vẫn còn dính những chùm rễ cây thông rách bươm, nằm chênh vênh bên mép vực sâu hun hút. Gió từ đáy hẻm núi thổi thốc ngược lên, cuốn theo hơi lạnh căm căm và những hạt bụi nước li ti phả thẳng vào mặt người đứng trên mép đá.
Ngay chính giữa vạt sạt lở, một vết nứt sâu hoắm, đen ngòm như miệng vực thu nhỏ, chạy ngoằn ngoèo từ triền dốc phía dưới xé toạc thẳng lên bệ đá xanh ba tầng—nơi đang đặt bệ đá của mắt trận số năm, mắt Ngọc Hành của hộ sơn trận Bắc Đẩu.
Khối đá tảng làm móng cho bệ trận vốn được chêm bằng vữa vôi vỏ sò từ thời cổ, qua hàng trăm năm phong hóa đã ngả màu vàng ố, nay đã bị vết nứt tách làm đôi. Một kẽ hở rộng bằng cả bàn tay ngoác ra, để lộ những thớ đá gãy nham nhở như hàm răng thú dữ, từ sâu bên trong liên tục rỉ ra từng dòng nước đục ngầu sủi bọt trắng xóa. Nước cuốn theo những mạt đá li ti và bùn đen, chảy tràn qua mép bệ rồi rơi thẳng xuống khoảng không vô định dưới chân vực.
"Hỏng bệ mắt Ngọc Hành rồi..." Bùi Hạ dừng bước cách mép nứt năm thước, lồng ngực phập phồng sau cơn chạy gấp. Hơi lạnh từ vực thẳm bốc lên phả vào mặt nàng buốt nhói, làm đông cứng những giọt mồ hôi vừa rịn ra trên trán.
Nàng nhìn xoáy vào những đường vân khắc cổ xưa trên mặt bệ đá. Những rãnh dẫn linh phù đồ hình mây lượn và sao sa vốn được khảm bằng bột khoáng chu sa pha trộn với huyền thạch nay đã bị đứt ngang xương, mạt đá vụn văng tung tóe bết dính vào bùn lầy. Mỗi khi có một đợt gió thốc từ vực sâu thổi qua, từ kẽ nứt lại phát ra tiếng rít the thé ghê rợn, giống như tiếng đá cọ vào đá dưới sức nặng hàng vạn cân đang trượt dần trên nền dốc. Đó là âm thanh của sự sụp đổ đang thành hình, chậm chạp nhưng không thể đảo ngược nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời.
Lâm Tự buông bó cọc sồi xuống nền đá kêu cộp một tiếng đanh gọn. Anh quỳ một chân xuống bùn, không ngần ngại để lớp bùn đỏ nham nhở bám chặt vào ống quần vải thô. Đôi bàn tay gân guốc thô ráp cẩn thận gạt bỏ lớp đất nhão phủ quanh mép vết rạn, để lộ ra những thớ đá hoa cương xám bên dưới. Khuôn mặt vuông vức sạm nắng của người thợ mộc đanh lại, đôi mày rậm nhíu chặt khi ngón tay trỏ chai sần của anh lần theo hướng đi hiểm trở của khe nứt.
"Không chỉ có bệ đá trận của cô đâu," Lâm Tự trầm giọng, chỉ tay ngược lên triền dốc phía sau, nơi dãy phòng ngủ lợp ngói âm dương của ba mươi hai con người đang đứng chênh vênh trên nền đất yếu. "Nhìn chân móng dãy nhà đông xem. Đường rạn này chạy xéo một mạch từ dưới vực đâm thẳng vào gầm móng buồng ngủ số ba. Đất phía dưới đang trôi ruột, rỗng hoác ra như tổ kiến bị nước ngập."
Bùi Hạ nén cơn đau âm ỉ nơi cổ tay phải, bước lại gần mép đá thêm hai bước. Nàng ngồi xổm xuống cạnh Lâm Tự, đôi mắt chăm chú quan sát kỹ lưỡng lớp đất đá lộ thiên nơi mép vực. "Đá tảng đỡ móng dày bao nhiêu?"
"Đá phiến xám xếp ba lớp, không có mộng sắt giằng, chỉ dựa vào sức nặng tự thân đè lên tầng đá gốc," Lâm Tự đáp, giọng nói trầm đục mang theo sự sắc sảo của người đã quen tính toán từng thớ gỗ, khối đá. "Các cụ ngày xưa dựng quán dựa vào thế núi thoai thoải, đất thịt dày nên xếp đá như vậy là đủ vững. Nhưng lũ lớn năm nay nạo sạch lớp đất giữ chân, lại thêm trận mưa rào đêm qua tống nước vào các khe nứt, biến cả mảng móng này thành một cái bè đá nổi trên lớp bùn nhão."
Lâm Tự rút một chiếc cọc gỗ sồi dài chừng hai thước từ bó cọc ra. Chiếc cọc đã được anh vót nhọn từ trước, phần đầu cọc được hun khói kỹ để chống mối mọt và nước ngấm. Anh đặt mũi cọc vào vị trí đất cứng mé trong vết nứt, dùng búa gỗ nện mạnh từng nhát dứt khoát. Tiếng búa nện "thình thình" vang lên chắc nịch giữa không gian tĩnh mịch. Anh đóng ngập chiếc cọc thứ nhất vào thảm đất cứng, rồi bước sang mé ngoài đang bị xô lệch, đóng chiếc thứ hai đối diện với chiếc thứ nhất qua kẽ nứt.
Anh rút từ thắt lưng ra cuộn dây chỉ đay nhuộm dầu bóng và quả dọi bằng đồng đỏ nặng bằng nắm tay con trẻ. Quả dọi này đã theo Lâm Tự qua bao nhiêu công trình dựng nhà, dựng xưởng, bề mặt đồng đã ngả màu xanh ten rỉ sét nhưng các góc cạnh vẫn giữ nguyên độ chuẩn xác tuyệt đối. Thao tác của người thợ mộc thuần thục đến mức không một cử động nào thừa thãi, từng ngón tay thô kệch lướt thoăn thoắt trên sợi chỉ đay dai chắc. Anh buộc chặt sợi chỉ vào đầu cọc gỗ phía trên, thả quả dọi đồng đung đưa tự do qua khe nứt xuống tận khoảng không bên dưới.
Quả dọi đồng chao đảo mấy lượt trong gió lạnh rồi đứng im, sợi chỉ căng thẳng tắp tạo thành một đường thẳng đứng tuyệt đối ngược chiều với vách đá chênh chếch.
Lâm Tự áp sát mắt vào thân cọc, dùng một chiếc thước gập bằng tre chia vạch li ti đo khoảng cách từ sợi chỉ dọi đến mép đá nứt ở ba điểm: đỉnh bệ, thân bệ và chân móng đỡ. Anh cẩn thận lặp lại thao tác đo thêm hai lần nữa ở phía chân tường buồng ngủ đông, ghi nhận từng con số bằng cách lấy móng tay bấm nhẹ một vết khía nhỏ vào thân thước tre. Gió lạnh luồn qua kẽ áo tơi làm bờ vai anh khẽ run, nhưng bàn tay cầm thước thì bất động như đóng đinh vào đá.
"Thế nào?" Bùi Hạ hỏi, ánh mắt không rời khỏi quả dọi đồng đang lơ lửng giữa miệng vực.
"Cả khối đá tảng đỡ dãy phòng đông đang bị nước ngầm xói rỗng chân dưới đáy," Lâm Tự ngẩng lên, ánh mắt nặng trĩu âu lo. Những nếp nhăn nơi khóe mắt anh hằn sâu lại. "Góc trượt đã lệch đi ba phân so với phương thẳng đứng. Nói theo cách của thợ mộc chúng tôi, nó đã nghiêng đi gần nửa tấc. Đất mùn giữ chân móng đã hóa bùn lỏng hết rồi, không còn chút lực ma sát nào để giữ tảng đá lại. Cả khối đá này chỉ còn dính với sườn núi nhờ một mẩu ngạnh đá gốc mỏng dính ở góc bắc."
Nửa tấc. Đối với một công trình xây cất bằng đá trên nền dốc cao, nửa tấc dịch chuyển của khối móng chính là ranh giới mong manh giữa việc đứng vững và việc toàn bộ sụp đổ trượt dài xuống vực thẳm. Chỉ cần thêm một trận mưa nhỏ, hoặc một lực chấn động nhẹ từ bên ngoài, mẩu ngạnh đá gốc kia sẽ gãy lìa, và hàng chục tấn đá ngói cùng ba gian buồng ngủ sẽ trôi tuột xuống đáy hẻm núi trong chớp mắt.
Đúng lúc đó, từ mặt bệ đá mắt trận số năm thốt nhiên lóe lên một tia sáng mờ nhạt màu xanh lục. Đường linh lưu sót lại từ trận bàn trung tâm trên gác chuông truyền tới theo hệ thống kinh mạch ngầm, cố gắng bơm linh khí vào các rãnh bùa đã nứt toác để giữ vững màn chắn bảo vệ sườn đông. Nhưng vì bệ đá đã bị tách đôi, luồng linh lực hệ mộc không thể lưu chuyển tuần hoàn thành vòng khép kín. Nó dồn ứ lại ở điểm nứt gãy, phát ra những tiếng "xèo xèo" chói tai như mỡ sôi rớt vào than hồng, khói trắng mang theo mùi hăng nồng bốc lên nghi ngút giữa màn sương sớm.
Mỗi một đợt linh lực xung kích dồn tới, khối đá tảng lại khẽ rùng mình một cái. Những hạt đá dăm nhỏ li ti từ mép vết nứt bắn ra lách tách. Quả dọi đồng của Lâm Tự rung lắc nhẹ, sợi chỉ đay căng ra kêu "ong" một tiếng trầm đục, lệch thêm một đường tơ mỏng khỏi vạch móng bấm trên thước tre.
Bùi Hạ biến sắc. Nàng lập tức vươn bàn tay trái ra, dùng đầu ngón tay khẽ ấn vào một mắt xích phù triệt chưa vỡ trên bệ đá để cảm nhận linh lưu ngầm đang cuộn trào bên dưới.
Trong kinh mạch nàng, dòng linh khí bản thân vốn đã suy kiệt sau những ngày gượng sức lập tức nhói lên từng cơn buốt rát. Cổ tay phải dưới lớp băng nẹp giật thắt lại cảnh cáo, từng đầu dây thần kinh như bị kim châm lửa đốt. Nhưng qua sự giao cảm mong manh của một thợ trận Luyện Khí tầng ba, nàng đọc được toàn bộ bức tranh áp lực khủng khiếp đang đè nặng lên ngọn núi Đoạn Phong này.
Hộ sơn trận Bắc Đẩu của đạo quán vốn là trận pháp cấp hai thời cổ, lấy bảy mắt trận bao bọc toàn bộ chu vi ngọn núi từ đỉnh xuống tận chân dốc, tựa như một tấm lưới bạc úp trùm lên che chở cho vách đá và cỏ cây. Thế nhưng lũ lớn cuồn cuộn đổ về từ thượng nguồn đã phá hỏng hai mắt Thiên Xu, Thiên Tuyền; mắt Dao Quang số bảy đã rơi xuống vực cùng vạt dốc phía nam từ những ngày đầu bão lũ. Giờ đây, chỉ còn lại bốn mắt trận chắp vá, gượng gạo duy trì sự cân bằng mong manh.
Mắt số năm này—mắt Ngọc Hành—nằm chơ vơ ở mé đông, đang gồng mình gánh chịu toàn bộ phản lực từ gió bão thung lũng quất vào. Mỗi cơn gió chướng, mỗi luồng chướng khí từ đáy vực cuộn lên đều nện thẳng vào lớp màn chắn rách nát này, truyền toàn bộ lực xung kích ngược trở lại bệ đá.
Nguy hiểm hơn cả, để duy trì cái màn chắn mỏng dính đang rách tơi tả che chở cho vạt dốc hoang mé đông, trận bàn trung tâm đang điên cuồng rút kiệt nguồn linh lực dự trữ từ Thạch Nhãn. Mỗi khắc trôi qua, dòng nước ngầm Thạch Nhãn quý giá rỉ ra từ kẽ đá phía sau đạo quán lại bị hút cạn một phần để nạp vào bệ đá nứt này, chỉ để đổi lấy một bức màn chắn vô dụng không ngăn nổi đất chuồi. Dòng linh dịch thanh khiết nuôi sống ba mươi hai con người đang bị ném qua cửa sổ một cách mù quáng bởi một cơ chế vận hành đã lỗi thời và hư hại.
"Không thể giữ mắt trận này được nữa," Bùi Hạ thu tay về, giọng đanh lại dứt khoát. Nàng quệt vội giọt mồ hôi lạnh chảy dài bên thái dương. "Phản lực linh khí đang đóng vai trò như một chiếc nêm sắt nện thẳng vào vết nứt. Cứ mỗi lần linh lưu dồn về đây để căng màn chắn, nó lại đẩy khối đá tảng nghiêng thêm ra mé vực. Nếu cố chấp duy trì bảo vệ toàn bộ sườn đông, chưa đầy hai ngày nữa bệ đá sẽ vỡ tung, kéo theo toàn bộ móng dãy phòng ngủ sập xuống vực. Chưa kể, linh tuyền Thạch Nhãn sẽ bị rút cạn sạch trước khi chúng ta kịp lọc nước uống."
Lâm Tự gật đầu đồng tình, quai hàm bạnh ra, ánh mắt anh nhìn chằm chằm vào khối móng đá đang rên rỉ dưới chân: "Gỗ mục không thể đỡ đòn tay nặng. Thà chặt bỏ cái chái nhà xiêu vẹo để giữ lấy gian nhà chính, còn hơn để nó kéo sập cả căn nhà. Người làm mộc chúng tôi dựng rui mè cũng vậy, cây cột nào đã gãy lõi thì phải đục bỏ mộng ngay, cố giữ chỉ làm oằn cả bộ vì kèo."
"Phải co cụm kết cấu phòng hộ ngay lập tức," Bùi Hạ đứng thẳng dậy, đôi mắt lóe lên sự quyết đoán lạnh lùng của người quen đối mặt với các sự cố vỡ trận tại các công trường khai khoáng. "Chúng ta không đủ sức căng màn chắn bảo vệ cả sườn núi hoang này nữa. Bỏ mắt số năm. Ngắt toàn bộ tuyến dẫn linh từ gác chuông sang mé đông. Thu hẹp chu vi trận pháp lại: chỉ dồn linh lực từ Thạch Nhãn giữ vững ba điểm cốt lõi nhất—chính điện, kho lương và gian bếp."
"Thế còn dãy phòng ngủ phía đông?" Lâm Tự nhìn về phía những cánh cửa liếp ọp ẹp đang rung bần bật trong gió sớm, nơi khói bếp tị nạn vừa le lói bốc lên.
"Chuyển toàn bộ người và đồ đạc vào gian sau chính điện và hành lang tây," Bùi Hạ nói không chút do dự. "Chật chội, ẩm thấp cũng phải chịu. Mạng người quan trọng hơn chỗ nằm rộng rãi. Khi nào kiểm soát được vết nứt và đắp xong kè chắn, mới tính tiếp việc dựng lại phòng. Lâm Tự, anh tính xem nếu bỏ gian đông thì chính điện có đủ chỗ chứa không?"
"Chính điện kê lại ván sàn, dọn sạch đống bồ đài và giá mõ cũ thì đủ chỗ trải mười hai tấm chiếu," Lâm Tự nhẩm tính rất nhanh trong đầu. "Hành lang tây tuy dột vài chỗ nhưng tôi có thể dùng vỏ tre và rơm khô lợp dặm lại trong nửa buổi sáng. Nhét ba mươi hai người thì chật như nêm cối, nhưng sàn đá hoa cương ở đó khô ráo, móng lại ăn thẳng vào khối đá hoa cương liền khối của đỉnh núi, an toàn hơn mé này gấp mười lần."
"Quyết định như vậy đi," Bùi Hạ gật đầu. "Tôi sẽ chịu trách nhiệm cắt đứt kinh mạch bệ đá. Anh thu xếp việc chuyển người."
Lâm Tự không nói thêm lời nào thừa thãi. Anh lập tức đứng dậy, phủi lớp bùn đỏ trên đầu gối: "Tôi đi gọi Lê Trọng và mấy anh em thợ đò ra dọn đồ ngay. Sườn đá này không đợi chúng ta lâu đâu."
Khi Lâm Tự vừa quay bước định tiến vào sân trong, bóng một thiếu nữ mảnh khảnh từ sau gốc tùng cổ thụ rụt rè bước tới.
Đó là Vũ Liên. Nàng mặc bộ áo vải thô màu chàm đã bạc phếch, gấu áo lem luốc bùn đất. Hai ống tay áo xắn cao để lộ đôi cẳng tay gầy guộc xanh xao. Khuôn mặt nàng vẫn còn vương nét nhợt nhạt sau trận bạo phát kinh mạch do lén luyện khẩu quyết sai lệch hôm trước, bờ môi không còn chút sắc hồng, nhưng đôi mắt to tròn lại ánh lên một vẻ kiên định lạ thường xen lẫn nỗi dằn vặt muốn chuộc lỗi. Nàng nhìn thấy Bùi Hạ dùng tay trái vất vả giữ thăng bằng trên nền đất trơn trượt, nhìn thấy vết thương nẹp tre của Bùi Hạ mà lòng thắt lại, hai bàn tay đan vào nhau bồn chồn.
"Hạ tỷ... Lâm đại ca..." Vũ Liên lí nhí cất tiếng, bước chân ngập ngừng dừng lại cách hai người vài bước.
Bùi Hạ dừng lại, nhìn cô gái trẻ, giọng nói mang chút trách móc nhẹ nhàng: "Sao muội không ở trong điện sưởi ấm? Đỗ Nghi tỷ tỷ đã dặn muội phải uống thuốc dưỡng khí, cấm ra gió lạnh cơ mà? Kinh mạch muội vừa mới tạm yên, nhiễm phải hàn khí núi đá thì thuốc nào chữa cho nổi?"
"Muội... muội uống thuốc rồi, ngực không còn đau nhói nữa," Vũ Liên ngước nhìn Bùi Hạ, rồi lại nhìn sang Lâm Tự đang cầm chiếc búa gỗ nặng trịch trên tay. Nàng hít sâu một hơi gió lạnh buốt để lấy hết can đảm, lồng ngực gầy guộc phập phồng: "Muội nghe thấy hết rồi. Vết nứt này đang trôi dần... Muội xin được nhận việc theo dõi nó! Xin hai người cho muội cắm tiêu gỗ đo độ dịch chuyển của khe nứt!"
Lâm Tự dừng bước, quay đầu lại nhìn Vũ Liên từ đầu đến chân bằng ánh mắt sắc lạnh và dò xét của người thợ già đã quen với những quy chuẩn khắt khe: "Cô biết cắm tiêu gỗ là làm việc gì không? Đó không phải là trò chơi của con trẻ rảnh rỗi. Cầm búa đóng cọc bừa bãi sẽ làm rạn thêm tầng đất nhão. Và đo đạc không phải là nhìn bằng mắt rồi đoán chừng xem nó rộng ra bao nhiêu."
"Muội học được!" Vũ Liên cắn chặt môi dưới đến rớm máu, bước tới gần thêm một bước, mặc cho bùn nhão ngập đến mắt cá chân lạnh buốt. "Muội không dám liều lĩnh vận khí bậy bạ nữa đâu. Muội biết mình tạp căn, không có tu vi cao siêu như các tiên sư... không thể giúp tỷ tỷ truyền linh lực giữ trận... Nhưng muội có mắt nhìn tinh, tay muội không run. Xin đại ca dạy muội, muội sẽ trực ở mé đông này, ba lần mỗi ngày—sáng sớm, chính ngọ và chập tối. Sai một li muội chịu phạt nhịn nửa phần cháo!"
Nhìn ánh mắt van nài nhưng cháy bỏng khao khát được cống hiến của thiếu nữ, Lâm Tự thoáng lặng đi. Sự nghiêm khắc trên gương mặt thô ráp của anh dịu bớt đôi phần. Anh hiểu cảm giác của đứa trẻ này—nó sợ bị coi là kẻ vô dụng, sợ trở thành gánh nặng, sợ bị bỏ rơi giữa một cộng đồng đang phải chắt chiu từng cọng rau, từng giọt nước để giành giật sự sống qua ngày. Trong mắt nó, được làm việc, dù là việc nặng nhọc hay nguy hiểm nhất, cũng chính là bằng chứng cho thấy nó còn có quyền được tồn tại ở nơi này.
Lâm Tự đưa mắt nhìn sang Bùi Hạ. Bùi Hạ khẽ gật đầu, ánh mắt ánh lên vẻ bao dung và khích lệ.
Anh thở dài một tiếng, đặt chiếc búa gỗ và cuộn dây chỉ đay xuống phiến đá khô ráo cạnh gốc tùng: "Lại đây."
Vũ Liên vội vã bước lại gần, hai mắt mở to chăm chú, không dám chớp dù chỉ một cái.
Lâm Tự cúi người, rút từ bao đồ nghề ra ba chiếc cọc tre nhỏ hơn cọc sồi, dài chừng một thước, thân cọc được vót nhẵn thín và có khắc các rãnh khía nông sâu vô cùng sắc nét. Anh quỳ xuống mép rạn, chỉ tay vào hai điểm đối xứng qua kẽ nứt:
"Nhìn kỹ đây. Bài học đầu tiên của người làm thợ, dù là thợ mộc dựng nhà hay thợ sửa trận pháp: đo đạc chính xác một sợi chỉ quan trọng hơn cố tỏ ra mạnh mẽ bằng linh lực."
Lâm Tự gõ nhẹ chiếc búa gỗ, cẩn thận cắm hai chiếc cọc tre xuống hai bên bờ vết nứt, độ sâu vừa vặn ngập qua ba ngấn khía để cọc đứng vững trên nền đá cứng. Đoạn, anh rút sợi chỉ đỏ nhuộm sáp căng ngang nối hai đầu cọc lại, hai ngón tay cái và trỏ thoăn thoắt thắt một nút mộng bướm tinh xảo:
"Linh lực của cô có thể dời non lấp bể trong lời kể của thiên hạ, nhưng ở ngọn núi vỡ này, một tia linh lực bốc đồng chỉ tổ làm nứt thêm một phiến đá. Ngược lại, một sợi chỉ đỏ căng ngang này không biết nói dối. Nó không thiên vị ai, không biết mệt mỏi, và luôn chỉ ra sự thật rành rành."
Lâm Tự chỉ tay vào khoảng hở giữa sợi chỉ và thân cọc:
"Mỗi ngày ba lần, cô dùng chiếc thước tre này đo khoảng cách giữa hai vạch khía trên cọc. Đặt thước nằm ngang, mắt nhìn vuông góc với mép vạch, không được nhìn nghiêng. Nếu sợi chỉ chùng xuống, tức là đất đang sụt lún theo chiều dọc. Nếu sợi chỉ căng đứt hoặc khoảng cách giữa hai cọc giãn ra quá một phân, nghĩa là khối đá đã trượt thêm. Khi đó, không được chần chừ một khắc nào, phải gõ mõ báo động cho toàn đạo quán sơ tán ngay lập tức. Bất kể là nửa đêm hay lúc đang ăn cơm. Cô làm được không?"
Vũ Liên run run đưa hai bàn tay nhỏ bé đón lấy chiếc thước tre gập và cuộn chỉ đỏ từ tay Lâm Tự. Bàn tay nàng lấm lem bùn đất, nhưng khi chạm vào chiếc thước tre nhẵn bóng, nàng cẩn thận lau sạch ngón tay vào vạt áo trong. Nàng ôm chiếc thước và cuộn chỉ vào lòng như ôm một báu vật thiêng liêng nhất đời mình, giọng nói nghẹn ngào nhưng đanh thép:
"Muội nhớ từng lời đại ca dặn. Đo đúng từng sợi chỉ, không đoán mò, không dùng linh lực gượng ép. Muội sẽ ghi chép lại từng vạch số lên thẻ gỗ ba lần mỗi ngày. Cứ đúng giờ canh ba, giờ ngọ và giờ dậu, muội sẽ có mặt ở đây."
"Tốt," Lâm Tự gật đầu, trong khóe mắt ánh lên tia hài lòng hiếm hoi của một người thầy nghiêm khắc. "Lát nữa bảo con bé An mang cho cô một chiếc giỏ tre nhỏ đựng thẻ tre ghi chép và hộp than chì. Bây giờ, đứng lùi ra sau năm bước, để Bùi cô nương cắt mạch trận. Nhìn cho kỹ cách cô nương ấy xử lý linh lực, học lấy cái tĩnh mà bỏ cái nông nổi đi."
Vũ Liên ngoan ngoãn ôm bọc thước lùi lại sau thân cây tùng, đôi mắt dõi theo từng cử động của Bùi Hạ với sự kính cẩn tột cùng.
Bùi Hạ bước lên phía trước bệ đá số năm. Gió lạnh từ vực sâu lại thốc lên từng cơn ràn rạt, tà áo thô của nàng bay phần phật quanh thân hình mảnh dẻ. Tiếng rít của kẽ đá dường như càng lúc càng gấp gáp hơn khi luồng linh lưu ngầm lại bắt đầu một chu kỳ xung kích mới.
Nàng đứng đối diện với bệ đá Ngọc Hành. Ánh linh quang màu lục trên mặt đá lúc này vẫn đang lập lòe thoi thóp như ngọn đèn dầu sắp cạn bấc, tỏa ra những luồng nhiệt hầm hập pha lẫn mùi đá khét lẹt. Bằng bàn tay trái vững chãi, Bùi Hạ rút chiếc dùi sắt bọc cán sừng từ thắt lưng ra. Mũi dùi được tôi bằng thép đen pha huyền thiết, đầu nhọn hoắt và sắc bén.
Nàng nhắm mắt lại trong nửa nhịp thở, điều hòa hơi thở gấp gáp của mình. Trong đan điền, nàng gom góp từng tia linh khí hệ mộc nhỏ giọt, thuần khiết và dịu nhẹ nhất còn sót lại, cẩn thận dẫn nó chảy dọc theo kinh mạch cánh tay trái—nhánh kinh lạc lành lặn duy nhất còn vận hành trơn tru trên cơ thể đầy thương tích của nàng. Luồng linh khí xanh biếc lướt qua các huyệt đạo, tụ lại nơi đầu ngón tay trái rồi truyền thẳng vào thân dùi sắt. Chiếc dùi khẽ rung lên một tiếng ngân u u trầm thấp.
Nàng không hề có ý định bơm thêm sức mạnh để cưỡng cầu cứu vãn mắt trận đang vỡ nát này. Làm vậy chỉ đẩy nhanh tốc độ hủy diệt. Thay vào đó, ánh mắt Bùi Hạ ngưng đọng lại thành một điểm sắc lẹm. Mũi dùi sắt bổ xuống chuẩn xác như một đường kim châm cứu, cắm phập vào một khe rãnh giao thoa then chốt—nơi tuyến dẫn linh ngầm ăn sâu vào lòng vách núi nối với chân bệ đá.
"Đoạn!"
Bùi Hạ khẽ quát một tiếng thanh thoát, ngón tay cái điểm nhẹ một lực nhu đạo vào chuôi sừng.
Một tiếng "tách" giòn tan vang lên, nghe như tiếng cành mai khô gãy lìa trong sương sớm.
Đường linh văn bằng bột chu sa và mạt huyền thạch bị mũi dùi nạo đứt một đoạn chừng ba tấc, để lộ ra lớp đá gốc màu xám tro bên dưới. Mạch dẫn linh khí bị triệt tiêu hoàn toàn tại điểm giao cắt.
Gần như ngay tức khắc, ánh sáng màu lục chập chờn trên bệ đá mắt số năm vụt tắt ngấm. Màn chắn linh lực mỏng manh ngoài bờ vực khẽ rùng mình một cái rồi tan biến thành muôn ngàn đốm sáng li ti hòa vào màn sương mù. Tiếng xèo xèo chói tai và làn khói trắng ngột ngạt lập tức biến mất không còn tăm tích. Cả khối đá tảng như vừa trút bỏ được một gánh nặng ngàn cân vô hình đang ghim chặt vào nó, sự rung lắc cơ học dưới chân họ lập tức dừng lại hẳn. Không còn lực nêm linh khí thúc đẩy, vách nứt thôi không rên rỉ những chuỗi âm thanh ghê rợn nữa.
Ở phía xa trên gác chuông chính điện, ngọn Đăng Dẫn Lộ sau một khoảnh khắc chập chờn bỗng bừng sáng lên một nhịp ổn định hơn, ánh lửa vàng ấm áp chiếu xuyên qua màn sương mù dày đặc. Và từ đường dẫn nước Thạch Nhãn phía sau hậu quán, tiếng nước chảy róc rách dường như lại ngân vang thanh thoát và dồi dào hơn đôi phần, không còn bị ngắt quãng bởi những tiếng ục ục khô khốc như lúc nãy.
Bùi Hạ thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực vơi đi tảng đá đè nặng. Mồ hôi lạnh rịn ra trên trán hòa cùng nước mưa còn vương trên gò má chảy ròng ròng xuống cằm. Nàng lảo đảo lùi lại nửa bước vì kiệt sức, bàn chân trượt nhẹ trên bùn nhưng nhanh chóng lấy lại thăng bằng nhờ chiếc xẻng sắt chống xuống đất. Nàng đưa mu bàn tay áo lau vội mặt, ánh mắt tràn đầy sự nhẹ nhõm. Mắt trận số năm đã chính thức bị loại bỏ khỏi hệ thống hộ sơn. Phòng tuyến của Vọng Đăng đã thu hẹp lại, mất đi sự che chở cho triền dốc phía đông, nhưng đổi lại, cái lõi sinh tồn của ba mươi hai con người được giữ an toàn trong gang tấc.
"Bùi cô nương, lại xem cái này mau!"
Tiếng Lâm Tự thốt nhiên vang lên từ phía dưới mép vực, cắt đứt dòng suy nghĩ miên man của nàng. Giọng anh không còn là vẻ bình thản, trầm tĩnh của người thợ mộc từng trải thường ngày nữa, mà mang theo một sự kinh ngạc tột độ xen lẫn ngờ vực sâu sắc.
Bùi Hạ giật mình, vội vã chống xẻng bước lại gần gờ đá nơi Lâm Tự đang cúi rạp người xuống rãnh thoát nước ngầm vừa nứt toác. Vũ Liên cũng tò mò nép sát phía sau lưng Bùi Hạ, hai tay cẩn thận giữ chặt cuộn chỉ đỏ trước ngực, đôi mắt hướng về phía kẽ đá tối tăm.
Từ kẽ nứt sâu hun hút dưới chân bệ đá vừa bị xé toạc, dòng nước ngầm vẫn đang rỉ ra không ngớt sau cơn mưa xối xả. Nhưng lúc này, khi mặt trời đã nhô lên cao hơn khỏi rặng mây xám xịt, ánh sáng ban ngày rọi thẳng vào dòng nước rỉ từ vách đá, để lộ ra một cảnh tượng kỳ dị và đáng ngại.
Trên mặt nước bùn đỏ quạch không chỉ có rác rưởi tự nhiên, mà nổi lềnh bềnh những vệt váng màu xám chì lấp lánh như váng mỡ loang lổ. Thứ váng này không tan trong nước, kết thành từng mảng màng mỏng tanh dạt vào các kẽ đá, phát ra những ánh ngũ sắc mờ đục dưới ánh dương quang nhợt nhạt.
"Nước này..." Bùi Hạ nhíu chặt đôi mày thanh tú, ngồi thụp xuống bên cạnh Lâm Tự.
Một mùi khét nồng nặc, hăng hắc như mùi lưu huỳnh lẫn với mùi đá cháy xộc thẳng vào mũi nàng, khiến nàng phải đưa vạt áo lên che mũi ho sặc sụa vài tiếng. Đó tuyệt nhiên không phải là mùi tanh nồng ngai ngái của bùn đất phù sa sau lũ, cũng không phải vị chát ngắt tự nhiên của mạt linh sa thô chưa qua đãi lọc mà họ vẫn thường thấy ở dòng suối chảy qua linh tuyền Thạch Nhãn. Mùi hương này gắt gỏng, khô khốc và mang theo một sự tàn hoại nhân tạo đầy ghê tởm.
Lâm Tự dùng một chiếc que gỗ vạt nhọn gạt lớp bùn trên mặt, vớt lên một mảng cặn xốp màu xám xịt từ đáy rãnh rỉ nước. Mảng cặn vừa đưa lên khỏi mặt nước đã bốc ra một làn khói mỏng manh cay xè mắt:
"Nó không giống bùn đá thường chút nào," Lâm Tự nói, giọng anh trầm xuống đầy nghi hoặc. "Tôi đã từng nung đá vôi, từng đốt lò than đóng thuyền, nhưng chưa bao giờ thấy thứ cặn nào quái gở thế này. Đốt không cháy, nhưng gặp nước lạnh lại sủi bọt nhờn nhớt như tro xỉ lò rèn sắt phế thải. Nhìn rễ mấy cây bụi mé dưới này xem, rễ cây ngập trong thứ nước này đều thối đen nhũn ra như bị nước sôi luộc chín, vỏ rễ tuột ra từng mảng."
Bùi Hạ nhìn mảng cặn xốp trên đầu que gỗ, ánh mắt nàng từ nghi hoặc dần chuyển sang bàng hoàng. Không ngần ngại sự dơ bẩn hay độc hại, bất chấp tiếng kêu lo âu khẽ thốt lên của Vũ Liên phía sau, nàng vươn ngón tay trỏ bàn tay trái nhúng nhẹ vào dòng nước rỉ, rồi đưa lên sát chóp mũi ngửi thật kỹ.
Nàng khẽ nhắm mắt lại, dẫn một tia linh thức cực mỏng—chỉ bằng một sợi tơ nhện—thăm dò cấu trúc của những hạt mịn đang phân tán dày đặc trong giọt nước bám trên đầu ngón tay.
Một cảm giác khô khốc, gắt buốt lập tức kích thích đầu ngón tay nàng, tựa như có hàng ngàn mảnh thủy tinh vụn li ti đang cào xước da thịt. Trong luồng linh khí hỗn tạp và ô trọc của dòng nước ngầm, linh thức của nàng chạm phải những cấu trúc tinh thể vô cùng kỳ dị: chúng là những hạt tinh thể nhân tạo bị thiêu kết méo mó, cưỡng ép liên kết lại với nhau bằng một loại keo khoáng rẻ tiền. Bề ngoài chúng có vẻ ngoài cứng cáp như đá trận thượng hạng, nhưng bên trong cấu trúc mạng linh lực lại hoàn toàn rỗng tuếch, giòn vụn và chứa đầy tạp chất hóa thạch phẩm cấp thấp.
"Đây không phải là khoáng chất tự nhiên của núi Đoạn Phong..." Bùi Hạ mở bừng mắt, giọng nàng trầm xuống đầy vẻ chấn động, từng chữ thốt ra như đóng đinh vào không khí buốt giá. "Đây là cặn báng của 'linh sa nhân tạo'—loại vật liệu ép khuôn rẻ tiền mà các xưởng công trình bất lương hay dùng để độn vào lõi đá trận nhằm bòn rút chi phí vật tư."
Lâm Tự giật mình, chiếc que gỗ trên tay anh khẽ run lên: "Linh sa nhân tạo? Thứ đó dùng để làm gì?"
"Để làm giả đá trận định âm và đá kè chống lũ," Bùi Hạ nghiến răng, sự phẫn nộ bùng lên trong đáy mắt nàng. "Đá tự nhiên nguyên khối có linh tính cao, chịu lực tốt nhưng giá thành đắt đỏ gấp trăm lần. Bọn thương nhân và quan giám sát thường ngầm cấu kết với nhau, nghiền nát phế thạch và tro xỉ khoáng, trộn với một lượng nhỏ bột linh thạch phẩm cấp thấp rồi dùng trận hỏa ép khuôn thành từng khối đá tảng nhìn bề ngoài y như đá tự nhiên. Mùi khét này sinh ra khi các khối đá trận nhân tạo đó bị quá tải dòng linh lưu dẫn đến nổ tung trong lòng đất, cặn báng bị cháy xém rồi hòa tan vào mạch nước ngầm."
Lâm Tự siết chặt chiếc búa gỗ trong tay, khớp ngón tay trắng bệch ra: "Đá trận nhân tạo bị nổ trong lòng đất? Ý cô là... thứ này trôi từ đâu tới? Không lẽ là từ..."
"Từ thượng nguồn!" Bùi Hạ chỉ tay dọc theo hướng chảy ngoằn ngoèo của khe nứt ngầm vừa lộ ra dưới đáy vực. Mạch nước này không hề bắt nguồn từ đỉnh núi Đoạn Phong cô lập. Nó luồn sâu qua các tầng địa chất đứt gãy, chảy ngược từ phía tây bắc—hướng con đập chắn và các công trình phân lũ thượng nguồn dẫn xuống Đê Hồi Long.
"Lũ lụt tự nhiên dù có dữ dội đến đâu cũng chỉ cuốn theo bùn cát, gỗ mục và phù sa," Bùi Hạ siết chặt bàn tay trái thành nắm đấm, khớp xương kêu răng rắc dưới áp lực phẫn nộ. "Lũ lụt không thể cuốn theo một lượng lớn cặn linh sa thiêu kết nhân tạo nồng đặc đến mức làm biến chất cả mạch nước ngầm sườn núi như thế này! Có kẻ đã sử dụng vật liệu sai quy chuẩn trên quy mô cực lớn ở các công trình ngăn lũ phía trên. Đê Hồi Long, hoặc các đập giữ nước thượng nguồn... chúng được xây bằng thứ rác rưởi đội lốt đá trận này!"
Nàng hít một hơi thật sâu, giọng run lên vì nỗi căm phẫn tột cùng: "Khi trận lũ quét qua, các khối đá trận giả mạo đó không thể chịu nổi áp lực của dòng nước xiết và sức căng linh mạch, chúng đã nổ tung hàng loạt và bị vùi lấp sâu trong lòng đất. Giờ đây, nước xả từ các đập chắn tạm bợ phía trên đang tống toàn bộ thứ phế liệu độc hại này ngấm sâu vào địa tầng, luồn qua các kẽ nứt đứt gãy, xói mòn chân núi Đoạn Phong và đầu độc dòng nước sinh tồn của chúng ta."
Một sự im lặng nặng nề, ngột ngạt bao trùm lấy ba người giữa làn gió lạnh thấu xương của đỉnh núi. Vũ Liên đứng chết lặng sau gốc cây, hai mắt mở to bàng hoàng, cuộn chỉ đỏ trong tay nàng dường như nặng trĩu ngàn cân. Thiếu nữ run rẩy nhìn dòng nước rỉ màu xám chì đang sủi bọt độc hại dưới chân vực.
Hóa ra, tai họa giáng xuống đầu họ bấy lâu nay không đơn thuần chỉ là thiên tai giận dữ từ trời xanh. Đằng sau những khối đá nứt toác, đằng sau những dòng bùn xám độc hại đang gặm nhấm ngọn núi này, là bàn tay nhớp nhúa và lòng tham vô đáy của con người—những kẻ đã cắt xén vật tư, dối trên lừa dưới, xây nên những công trình bằng bột giấy và xỉ than, rồi phủi tay bỏ mặc hàng ngàn sinh linh vùng hạ lưu chìm trong biển nước mênh mông.
Lâm Tự thở hắt ra một hơi khói trắng, ánh mắt nhìn xa xăm về phía thượng nguồn sông mù mịt: "Lũ lừa đảo... Khốn nạn thật. Bao nhiêu mạng người nằm dưới đáy sông chỉ vì mấy đồng bạc bớt xén."
Đúng lúc đó, từ phía gác chuông chính điện, tiếng bước chân thình thịch vội vã cùng tiếng gọi dồn dập, the thé của bé Lâm An vang lên phá tan bầu không khí ngột ngạt đang bóp nghẹt ba người:
"Cha ơi! Hạ tỷ tỷ ơi! Dưới sông có thuyền! Mau ra xem, có thuyền lớn đang cập bến dưới chân núi!"
Lâm Tự và Bùi Hạ lập tức giật mình đứng phắt dậy. Gạt bỏ những suy tính đen tối về thứ cặn độc hại sang một bên, họ cùng Vũ Liên rảo bước chạy vội ra mỏm đá nhô ra phía nam đạo quán—nơi có thể phóng tầm mắt bao quát toàn bộ khúc sông Vân Hà uốn lượn dưới chân dốc Đoạn Phong.
Màn sương mù buổi sớm đang dần tan rã dưới ánh mặt trời nhợt nhạt đang cố ngoi lên khỏi rặng núi xa. Mặt sông Vân Hà vẫn cuồn cuộn một màu nước đỏ ngầu phù sa hung dữ, từng đợt sóng đục ngầu cuộn xoáy nuốt chửng rác rưởi và những thân cây cổ thụ gãy đổ trôi dạt ngổn ngang giữa dòng.
Nhưng ngay tại khúc quanh bến Bạch Sa cũ—nơi con đường mòn dẫn lên đạo quán vừa được nhóm thợ đầm đá và dân tị nạn mở rộng, gia cố mấy hôm trước—một bóng thuyền nan nhỏ đang xé nước lao vun vút vào bờ.
Đó là thuyền của Hội Đồng Châu, trên mũi thuyền cắm lá cờ vải xanh hình cánh buồm chắp vá quen thuộc đang phần phật bay trong gió ngược. Con thuyền chao đảo dữ dội giữa dòng nước xiết, bọt nước trắng xóa bắn tung tóe qua mạn thuyền.
Nhưng con thuyền không chở hàng cứu tế hay nạn dân như thường lệ. Khoang thuyền hoàn toàn trống trơn. Người chèo thuyền đứng trên mũi dốc toàn bộ sức lực cắm sào tre bịt sắt giữ cho thuyền khỏi bị dòng nước cuốn va vào ghềnh đá ngầm, trong khi một bóng người mặc áo nâu sũng nước lập tức nhảy ào xuống bãi bùn lầy ngập tới đầu gối.
Người đó không kịp kéo thuyền lên cạn, hai chân lảo đảo giẫm phầm phập trên lớp bùn trơn trượt, giơ cao một ống nứa niêm phong sáp đỏ hướng thẳng lên đỉnh núi mà gào lớn bằng tất cả sức bình sinh. Tiếng hét khản đặc mang theo sự kinh hoàng tột độ vọng qua vách đá, át cả tiếng gầm gừ của dòng nước lũ:
"Khẩn cấp! Tin từ Đê Hồi Long! Đỗ Tín công tử truyền tin khẩn cấp!"
Từ phía hạ lưu sông, một chiếc thuyền nan của Hội Đồng Châu lao nhanh vào bến mang theo tin nhắn khẩn từ Đỗ Tín ở công trường đắp đê.