Rau Rừng Và Bùn Độc
Mùi đất ẩm ngai ngái nồng nặc bốc lên từ vách đá phía bắc núi Đoạn Phong khi Đỗ Nghi quỳ gối gạt lớp rêu mục, cẩn thận dùng que tre bới từng rễ củ mài vùi sâu dưới lớp đất xám tro.
Gió bấc luồn qua các khe đá dựng đứng rít lên từng hồi buốt lạnh, thổi tung những dải sương mù mỏng manh vắt ngang ngọn cây, nhưng hẻm núi này may mắn được một dãy tường đá vôi tự nhiên chắn ngang, giữ lại chút dưỡng khí ấm áp hiếm hoi sau những ngày mưa dầm sụt sùi. Lòng hẻm hun hút như một chiếc máng đá khổng lồ úp ngược, đất dưới chân ẩm ướt, xốp ráp vì lá rụng lâu năm dồn ứ lại, pha lẫn cát sỏi vụn trôi dạt từ các mỏm đá mồ côi phía trên cao xuống. Phía sau lưng nàng, một toán bảy người gồm phụ nữ và thiếu niên đang lom khom men theo triền đất dốc. Ai nấy đều cắp theo sọt tre đan dở bằng nứa rừng, tay cầm dao cùn gỉ sét hoặc những đoạn cọc tre vót nhọn, lấm lem bùn đất từ đầu đến chân, từng hơi thở thở ra ngưng lại thành làn khói trắng nhờ nhờ giữa không khí giá buốt.
"Mọi người chú ý dưới chân, đừng vội cắm que bừa bãi," Đỗ Nghi đứng thẳng người, bàn tay dính đầy bùn đất khẽ phủi vào vạt áo chàm đã sờn rách hai bên mép gấu, giọng nói nàng bình thản nhưng mang uy quyền dứt khoát của một thầy thuốc dạn dày kinh nghiệm nơi chiến địa và thảo dã. "Mưa lớn nhiều ngày cuốn theo nước sông vỡ tràn qua các triền khoáng vật trên thượng nguồn, mạt linh sa độc theo dòng lũ quét tràn vào tầng đất xốp đã ngấm sâu xuống dưới ba tấc. Măng le hay củ mài dù nằm sâu trong lòng đá cũng không hoàn toàn giữ được tính thuần khiết như lúc thanh bình. Khi tìm gốc, trước hết phải nhìn thật kỹ thân dây leo: dây nào còn giữ màu nâu đỏ tự nhiên, vỏ rễ khô ráo, lá úa vàng đều theo tiết trời chuyển mùa thì mới được phép hạ cuốc đào; còn gốc nào sưng phù bất thường, thân dây mọng nước nhớp nháp, cuống lá viền ánh tím bạc nhờ nhờ như có lớp mỡ mỏng bao phủ thì tuyệt đối không được chạm tay vào."
Nàng hơi hạ thấp người, đưa hai ngón tay bấu chặt lớp rễ tơ, nhấc bổng một củ mài to bằng cổ tay thiếu niên vừa bới được lên khỏi rãnh đất ẩm. Khối củ dài chừng hai gang tay, vỏ ngoài sần sùi mang sắc nâu xám đậm, bám chặt lấy lớp đất sét nhão nhoét có lẫn cát mịn. Đỗ Nghi rút con dao con gọt thuốc giắt bên thắt lưng da, nghiêng lưỡi gọt nhẹ một lớp vỏ mỏng ngoài cùng, để lộ phần thịt củ trắng đục hơi ngả sang sắc vàng nhạt của mỡ gà. Nàng đưa vết cắt lên sát cánh mũi, nhắm mắt hít một hơi thật sâu để phân biệt mùi đất ngấu và mùi khoáng ẩm, rồi chuyển sang đưa mặt cắt củ mài ra hứng lấy ánh sáng xám xịt của buổi sáng mù sương trên đỉnh núi.
"Củ này dùng được, ruột còn chắc, tinh bột chưa bị úng thối, nhưng không thể ăn sống hay luộc ngay như ngày trước ở dưới đồng bằng," Đỗ Nghi xoay người lại, hướng mặt về phía Vũ Liên và đám thiếu niên đang chăm chú dỏng tai lắng nghe. "Tất cả củ đào được hôm nay, việc đầu tiên là phải mang ra bờ mương dẫn nước thô, dùng xơ mướp hoặc rơm rạ chà sạch lớp bùn bám bên ngoài vỏ. Sau đó cạo sạch lớp vỏ sần sùi, thái lát mỏng chừng nửa đốt ngón tay rồi ngâm ngay vào nước tro củi bếp đã lọc cặn. Quy tắc này không ai được phép làm sai: phải thay đủ ba lần nước tro mới, mỗi lần ngâm đúng nửa canh giờ để chất kiềm trong tro củi rút kiệt tàn dư linh sa độc ngấm vào màng tinh bột. Sau ba lần tro ấy, mới được mang sang tráng lại hai lượt bằng nước sạch múc từ bể Thạch Nhãn. Ai ăn bớt một lần nước tro, độc sa tích tụ cào rách dạ dày phát chứng nôn ra máu đen, ta sẽ không phí một mũi ngân châm nào để cứu đâu."
Đứng cách đó vài bước chân, Vũ Liên khẽ rụt bờ vai gầy guộc lại dưới lớp áo vải thô rộng thùng thình. Nàng vô thức đưa bàn tay trái xoa nhẹ lên ngực áo, nơi vết thương kinh mạch phế phủ bị chấn động dữ dội từ trận biến loạn vài hôm trước vẫn còn âm ỉ nhức nhối theo từng nhịp thở sâu. Cảm giác đau rát như bị kim châm muối xát nơi cuống họng vẫn còn in đậm trong tâm trí nàng, khiến nàng hiểu hơn ai hết cái giá phải trả cho việc nhiễm phải độc khí và uế tạp trần thế. Nàng khẽ gật đầu, cẩn thận làm theo từng động tác tỉ mỉ của Đỗ Nghi, quỳ một chân xuống nền đất đá dăm, dùng một thanh tre già vót dẹt gạt từng vụn đất mềm bao quanh một gốc dây leo mảnh dẻ đang bám chặt vào khe nứt của tảng đá vôi mốc thếch.
Tuy nhiên, trong lúc ánh mắt lướt qua rải rác những khóm củ mài mọc dạt dần về phía mé đông hẻm núi—nơi tiếp giáp với vết sụt lở hàm ếch khổng lồ đang ngày đêm khoét sâu vào chân móng ngọn núi Đoạn Phong—chân mày Đỗ Nghi đột ngột nhíu chặt lại thành một đường rãnh sâu trên trán. Nàng đứng dậy, bước nhanh qua dải rêu trơn trượt, tiến lại gần một gờ đất nhô ra sát mép vực. Tại đây, một bụi cây dại to bằng bắp tay đang đâm chồi ngậm nụ, thoạt nhìn xanh tốt mơn mởn khác thường giữa tiết trời đông giá. Đỗ Nghi rút thanh tre nhọn, cắm thẳng xuống tầng rễ cái nằm sâu trong kẽ đá rồi dùng sức nạy mạnh lên.
Một tiếng "rắc" giòn rụm vang lên dưới lòng đất ẩm. Nhưng thay vì mùi ngai ngái quen thuộc của rễ cây tươi mới gãy, một luồng mùi hăng hắc khét lẹt như than bùn cháy dở pha lẫn mùi mỡ trăn ươn thối lập tức xộc thẳng lên sống mũi khiến Đỗ Nghi phải lùi lại nửa bước. Nàng nhặt đoạn rễ cái vừa bị bẻ gãy lên quan sát: phần ruột củ bên trong không hề mang sắc trắng ngà tự nhiên mà đã biến thành một màu đen kịt như bị vùi trong tro than nung đỏ, thớ củ nhũn nát như bùn ao, từ các lỗ rễ li ti rỉ ra từng giọt dịch nhờn màu xám ngoét quánh đặc như keo dán da trâu.
Mạch nước ngầm rỉ ra từ vết nứt sườn đông quả nhiên đang mang theo uế khí và cặn khoáng biến chất từ lòng tầng địa chất bị gãy đổ rò rỉ lên. Vết nứt hàm ếch ấy không chỉ đe dọa trực tiếp đến độ ổn định của nền móng chính điện đạo quán phía trên đỉnh núi, mà độc tính ngấm ngầm từ các vỉa quặng linh sa hạ phẩm bị lũ quét cày xới đang âm thầm men theo các mao mạch đá vôi, bóp nghẹt và làm biến tính toàn bộ thảm thực vật mé sườn đông này.
Sắc mặt Đỗ Nghi trầm xuống như nước mùa đông. Nàng ném phắt đoạn rễ cháy đen xuống nền đất đá, giơ gót giày cỏ nghiền nát bấy thứ dịch nhầy độc hại rồi ngẩng đầu lên, cất giọng quát lớn vang vọng khắp hẻm núi đá:
"Toàn đội nghe đây! Dừng ngay toàn bộ việc tìm kiếm ở mé vách phía đông! Tất cả dạt hết về lòng hẻm phía bắc, không một ai được phép bước chân qua rãnh nước chảy từ gờ đá nứt! Nhắc lại lần nữa, rãnh nước rỉ màu xám đen kia là ranh giới cấm, bước qua đó nhiễm phải độc khí vào da thịt thì tự gánh lấy hậu quả!"
Mấy người đàn bà gầy yếu đang lúi húi đào bới giật mình ngẩng phắt dậy, vội vã ôm sọt tre lùi lại vài bước, mặt cắt không còn hột máu. Họ nhìn theo ngón tay Đỗ Nghi trỏ vào rãnh nước đen ngòm đang sủi tăm li ti, trong lòng trào dâng nỗi khiếp hãi mơ hồ đối với những thứ vô hình độc hại đang rình rập khắp ngọn núi hoang tàn này.
Nhưng đúng lúc đó, từ một khe suối cạn nằm khuất sau tảng đá tai mèo cách đó chừng mười trượng, một tiếng reo khe khẽ, nghẹn ngào vì thèm thuồng bỗng vang lên giữa tiếng gió rít qua vách đá.
Đó là Cẩu Đản. Đứa thiếu niên mười bốn tuổi gầy trơ cả xương sườn, con trai của một gia đình thợ chèo đò trôi dạt từ Bến Bạch Sa lên đây nương náu. Suốt chuỗi ngày chạy lũ kinh hoàng và những ngày cầm cự trên đỉnh núi Đoạn Phong, thằng bé chỉ được chia mỗi ngày lưng bát cháo loãng độn cám vụn nhão nhoét, bụng dạ đói cồn cào đến mức ruột gan như bị xát muối, hai mắt hoa lên từng chặng, chân tay bủn rủn bước không vững. Trong lúc mải mê tìm kiếm theo một rãnh đá cạn, thằng bé đã vô tình bò lạc xuống một hõm sâu sát chân vách đá nứt.
Nó đang quỳ sụp gối bên mép một vũng nước đọng nhỏ mang sắc xanh lơ ma quái đang rỉ ra từ kẽ nứt sa thạch ngầm. Ngay trên bờ mép vũng nước tù đọng ấy, mọc trơ trọi một tai nấm xòe rộng cỡ bàn tay người lớn. Tai nấm mang một sắc đỏ tươi rói, đỏ thẫm như một cục máu đọng tươi nguyên vừa rỏ xuống nền đá xám, trên bề mặt tán nấm căng mọng phủ một lớp phấn mịn li ti lấp lánh ánh quang lân tinh nhàn nhạt giữa làn sương lạnh mờ ảo. Mùi nấm tỏa ra một thứ hương thơm ngòn ngọt, béo ngậy như mỡ rán, đánh thẳng vào khứu giác đang cồn cào vì đói khát cùng cực của đứa trẻ.
"Nấm... nấm rừng to quá... béo mầm thế này..." Cẩu Đản nuốt nước bọt ừng ực, cổ họng khô khốc rung lên bần bật theo từng đợt co thắt dạ dày. Cơn đói xé ruột gặm nhấm tâm can suốt bao ngày qua đã quét sạch mọi lời dặn dò cẩn trọng của người lớn ra khỏi đầu óc non nớt của nó. Trong mắt thằng bé lúc này chỉ còn lại tai nấm đỏ mọng ngon lành kia—một miếng ăn bằng xương bằng thịt có thể lấp đầy cái dạ dày đang dính chặt vào xương sống.
Thằng bé run rẩy vươn đôi bàn tay khẳng khiu, dơ bẩn đầy bùn đất chộp lấy gốc nấm, giật phăng nó ra khỏi lớp rêu mục bám quanh kẽ đá. Không kịp chùi rửa, cũng chẳng buồn nhìn lại, nó há to miệng toan nhét thẳng cả tai nấm vào cổ họng nuốt chửng để xoa dịu cái bụng rỗng đang sôi lên ùng ục.
"Dừng tay lại!"
Một bóng áo chàm sẫm màu lao vụt qua màn sương lạnh nhanh như một mũi tên xé gió.
"Bốp!"
Tiếng cành củi khô quất mạnh vào da thịt vang lên khô khốc. Đỗ Nghi vung cành gỗ mục trong tay đánh thẳng vào khớp cổ tay gầy guộc của Cẩu Đản. Lực đánh dứt khoát và chuẩn xác khiến bàn tay run rẩy của thiếu niên tê rần như bị búa gõ, tai nấm đỏ rực tuột khỏi ngón tay, rơi lăn lóc xuống lớp sỏi đá ẩm ướt ven bờ nước. Cẩu Đản giật thót mình, ngã ngồi bệt xuống vũng bùn lạnh ngắt, vừa đau vừa sợ hãi, đôi mắt trũng sâu ngân ngấn nước nhìn trừng trừng vào Đỗ Nghi với vẻ ấm ức tột cùng:
"Đỗ cô nương... em đói quá... Em nhịn từ hôm qua đến giờ rồi... Tai nấm này béo mầm thơm phức thế kia, sao lại không cho em ăn... Cô nương ác vừa thôi chứ..."
"Ngươi muốn chết no thành một cái xác sình trôi sông, hay muốn sống sót bằng cái đầu tỉnh táo qua mùa nước lũ này?" Đỗ Nghi nghiêm mặt lại, thanh âm của nàng sắc lạnh và đanh thép như tiếng lưỡi dao cạo trên mặt băng mùa đông, hoàn toàn dập tắt chút ấm ức non nớt của đứa trẻ.
Nàng không buồn nhìn vẻ mặt sợ sệt của thằng bé, lập tức xoay người cất tiếng gọi lớn vang rền: "Tất cả buông que đào trong tay xuống, lập tức tập trung lại đây hết cho ta!"
Nghe tiếng gọi nghiêm nghị của Đỗ Nghi, bảy con người gồm Vũ Liên, ba người đàn bà gầy gò và hai thiếu niên khác vội vã lội qua lớp bùn nhão chạy dồn tới, quây thành một vòng tròn quanh vũng nước đọng màu xanh lơ. Ánh mắt mọi người đều đổ dồn vào tai nấm đỏ rực như máu đang nằm trơ trọi giữa đám sỏi xám.
Đỗ Nghi rút con dao con gọt thuốc bên hông ra, dùng mũi dao nhọn ghim thẳng vào giữa tán nấm, nâng bổng nó lên ngang tầm mắt của từng người trong toán tìm kiếm:
"Mở to mắt ra mà nhìn cho thật kỹ từng chi tiết của thứ này. Bề ngoài của nó trông mập mạp, mọng nước, thoạt nhìn rất giống huyết chi rừng hay nấm tán thông thượng hạng mà người ta vẫn bán đắt như vàng ở các tiệm thuốc dưới huyện. Nhưng các ngươi nhìn kỹ lớp phấn mịn bám dưới phiến mang tai nấm xem!"
Nàng dùng sống dao cạo nhẹ một đường ngang tán nấm; một làn bụi phấn màu tím nhạt lấp lánh li ti rơi lả tả xuống mặt vũng nước đọng bên dưới. Ngay khoảnh khắc làn bụi phấn chạm vào mặt nước xanh lơ, một hiện tượng rợn người lập tức diễn ra: làn nước phẳng lặng bỗng sôi sùng sục, bọt khí màu trắng đục sủi lên cuồn cuộn như có chảo lửa nung bên dưới đáy, bốc lên một làn khói mỏng mang mùi lưu huỳnh nồng nặc và mùi xác thối rữa nồng nặc. Hai người đàn bà đứng đầu gió bất giác phải lấy vạt áo bịt chặt mũi, ho sặc sụa đến chảy nước mắt.
"Linh sa sau lũ quét tràn vào đất thịt, kết hợp với ẩm khí tù đọng của vách đá nứt sinh ra loại hủ thực biến chất cực độc này," Đỗ Nghi vừa nói vừa chỉ mũi dao về phía rãnh nước ngầm. "Nhìn kỹ mép kẽ đá kia kìa, vệt màu xanh lơ phát quang mờ mờ đó chính là cặn khoáng độc của quặng linh sa bị nước ngầm rửa trôi ra ngoài. Bất cứ thứ nấm rừng, rêu đá hay ngọn cỏ nào mọc ven những dòng nước phát quang mang màu sắc sặc sỡ khác thường như thế này, mười phần thì cả mười phần đều là kịch độc! Nuốt thứ này vào bụng, chưa đầy nửa khắc tro tàn, chất độc sẽ công phá ngũ tạng, ruột gan thối rữa nát bấy thành một bọc nước vàng, dù có mời đại la kim tiên đến rót linh đan vào họng cũng đừng mong cứu sống nổi cái mạng tàn!"
Khuôn mặt xám ngoét non choẹt của Cẩu Đản thoắt cái cắt không còn một giọt máu. Thằng bé nhìn chăm chăm vào vũng nước đang sủi bọt trắng xóa và bốc khói hôi thối dưới chân, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra từng tiếng lách cách run rẩy. Nỗi kinh hoàng muộn màng ập đến bóp nghẹt lồng ngực, nó vội vã quỳ rạp cả hai đầu gối xuống vũng bùn lầy, dập đầu lia lịa trước mặt Đỗ Nghi:
"Em sai rồi... Đỗ cô nương, em biết lỗi rồi... Em dại dột quá, suýt nữa thì tự hại chết mình... Từ giờ em không dám bậy bạ nữa đâu ạ..."
Đỗ Nghi nhìn thằng bé một thoáng, khẽ thở dài ra một hơi dài, sự sắc lạnh trong mắt dần chùng xuống, nhường chỗ cho vẻ nghiêm cẩn sâu xa của một người gánh vác sự sống chết của kẻ khác. Nàng thu dao lại, cài chắc chắn vào thắt lưng da, giọng nói trầm tĩnh vang lên:
"Đói là cái khổ chung của cả ba mươi hai con người đang nương tựa trên ngọn núi Đoạn Phong này. Ai trong các ngươi cũng đói, ai cũng thèm một miếng ăn lót dạ cho qua cơn cồn cào. Nhưng đói thì phải dùng sức lực và sự tỉnh táo mà đổi lấy cái ăn an toàn, tuyệt đối không được dùng mạng sống của mình ra để đánh cược với sự liều lĩnh ngu muội. Một người ngã xuống vì trúng độc, không chỉ mất một mạng người mà còn làm lung lay cả tinh thần của những người còn lại. Vũ Liên, cầm sọt tre chia đều cho mọi người. Chúng ta dời toàn bộ toán sang sườn đá râm phía tây đào măng le và nhặt rau rừng. Nhớ kỹ lời ta: đào được bao nhiêu phải gom chung lại một chỗ, gọt sạch vỏ ngâm tro đúng ba lần, tuyệt đối không ai được tự ý giấu giếm hay bẻ vụn ăn vụng một mẩu nào!"
"Chúng con rõ rồi ạ!" Cả nhóm đồng thanh cất tiếng đáp, nỗi sợ hãi ban nãy đã nhanh chóng chuyển hóa thành sự tập trung cẩn trọng cao độ.
Từng nhát cuốc cùn, từng thanh tre già lại tiếp tục cặm cụi cắm sâu vào lòng đất mùn ẩm ướt nơi sườn đá phía tây. Gió bấc vẫn thổi qua từng cơn rát mặt, mồ hôi hòa lẫn với sương lạnh lấm tấm chảy dài trên trán từng người phụ nữ và đứa trẻ, nhưng từng củ mài béo mập, từng búp măng le chắc nịch lần lượt được bới lên, cẩn thận xếp ngay ngắn vào lòng sọt tre, mang theo từng tia hy vọng sống sót cụ thể, vững chắc qua từng tấc đất được khai phá.
***
Trong khi nhóm hái lượm của Đỗ Nghi đang vật lộn với từng gốc rễ ngọn cỏ ẩm ướt ở sườn bắc, thì tại triền dốc đá phía nam ngọn núi Đoạn Phong, không khí lao động lại sặc mùi đá vôi nồng nặc và tiếng búa sắt đập chan chát vào lòng đá tảng.
"Dằn thêm một lớp đá dăm cỡ ngón chân cái vào rãnh tim đường! Đầm cho thật chặt, nêm khít từng khe hở, không được để lún sụt hay trồi sỏi ở bất kỳ chỗ nào!"
Lâm Tự đứng sừng sững giữa đoạn dốc đá ngoằn ngoèo, chiếc áo cộc tay màu nâu sồng ướt đẫm mồ hôi dính chặt vào bờ lưng vạm vỡ dù từng đợt gió núi buốt giá vẫn ràn rạt thổi qua triền dốc. Những múi cơ bắp cuồn cuộn trên cánh tay người thợ mộc gồ lên theo từng nhịp quai búa tạ nặng trịch. Anh cùng ba người thợ chèo đò lực lưỡng đang dồn toàn bộ sức lực thi công đoạn hoàn thiện cuối cùng của con đường thồ hàng men theo vách núi, thực hiện đúng từng cam kết kỹ thuật khắt khe đã thỏa thuận với thương hội Tam Giang.
Hôm qua, đoàn sáu con la thồ hàng của Tống Mai đã đi qua khúc cua mở rộng an toàn, nhưng mặt đường đá mới chỉ được san bằng sơ bộ, nền đất đá vụn bên dưới vẫn còn trơn nhẫy bùn nhão và rất dễ bị các dòng nước tràn từ trên đỉnh núi xói lở cuốn trôi nếu một cơn mưa rào bất chợt ập xuống. Theo thỏa thuận bổ sung giữa hai bên, người của Vọng Đăng Am phải rải và đầm đá dăm toàn bộ mặt dốc dài mười trượng, đồng thời khoét một đường rãnh thoát nước sâu hai tấc chạy dọc vách đá trong để dẫn toàn bộ dòng tràn sang vực sâu phía tây, thì người của Tống Mai mới bàn giao nốt phần muối hạt còn thiếu đang được gửi lại ở điếm canh dưới chân núi.
Bùi Hạ đứng cách Lâm Tự chừng năm bước chân, tay phải của nàng vẫn quấn băng vải trắng tinh, nẹp chặt vào những thanh tre mảnh áp sát vào lồng ngực theo mệnh lệnh nghiêm ngặt của Đỗ Nghi. Nàng chỉ dùng một tay trái còn lành lặn cầm chiếc thước đo góc bằng gỗ mun có gắn quả dọi chì tròn xoe, tỉ mỉ áp sát mép rãnh đá vừa mới được đục đẽo xong để đo đạc độ nghiêng của dòng chảy.
"Độ dốc rãnh thoát nước đạt đúng hai phân trên mỗi trượng rồi, Lâm sư phụ," Bùi Hạ ngẩng đầu lên, dùng mu bàn tay trái gạt đi vệt mồ hôi bám bên thái dương. Ánh mắt nàng ánh lên vẻ hài lòng khi quan sát dòng nước bùn xám từ vách núi bắt đầu men theo con rãnh nhỏ uốn lượn nhịp nhàng, chảy thẳng tắp ra mép vực đá phía xa mà không hề tràn ngược ra mặt đường thồ lấy một giọt nhỏ. "Lớp đá dăm rải dày đủ hai tấc, các khối đá hộc chèn chân taluy âm bên mép vực giữ rất khít khao. Với kết cấu mộng đá nêm chéo này, dù có mưa rào kéo dài ba ngày đêm liên tiếp, mặt đường cũng không thể nào trượt lở hay xói mòn được."
Lâm Tự dừng tay búa, chống cán gỗ xuống nền đá dăm thở dốc, đưa ống tay áo quệt ngang trán. Anh quay sang nhìn nàng, trong ánh mắt lộ rõ vẻ trách móc pha lẫn xót xa không giấu giếm:
"Đã bảo cô ở trên sân quán nghỉ ngơi tịnh dưỡng, trông nom sổ sách cùng Phạm chưởng quỹ, cô lại cứ khăng khăng mò xuống tận đây hít bụi đá vôi. Vết rách kinh mạch ở cổ tay hôm nọ đã kín miệng được bao nhiêu đâu. Nhỡ sảy chân một cái ngã vào đống đá hộc lởm chởm này thì bao nhiêu công sức châm cứu, sắc thuốc của Đỗ cô nương lại đổ hết xuống sông xuống biển."
"Ta chỉ dùng mắt để ngắm độ nghiêng và dùng tay trái cầm cái thước gỗ nhẹ hẫng này, có vận nửa tia linh lực nào đâu mà huynh phải cằn nhằn mãi thế," Bùi Hạ khẽ mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi nở trên gương mặt thanh tú đã nhiều ngày gầy rộc và xanh xao vì lao lực. "Đây là công trình phòng hộ giao thông thực tế đầu tiên của Vọng Đăng Am chúng ta. Trấn Linh Ty sau ba mươi ngày nữa sẽ cử thanh tra Đinh Tuệ lên nghiệm thu toàn bộ hiện trạng công trình và tư cách tông môn. Nếu con đường độc đạo lên núi lầy lội trơn trượt, nước tràn xói lở móng đường, hồ sơ đăng bộ sơ lập của chúng ta sẽ bị đánh tụt điểm an toàn cơ học ngay từ vòng đầu. Huynh làm mộc giỏi, nêm đá chắc tay, nhưng tính toán hướng dòng chảy và độ sụt xói mòn thì một người thợ trận như ta không thể ngồi yên trên bờ nhìn ngó được."
Lâm Tự lắc đầu cười trừ, vẻ mặt dịu lại đôi chút trước sự bướng bỉnh đầy lý lẽ của nàng. Anh cúi người nhặt chiếc vồ gỗ nặng trịch bên chân, dộng chan chát từng nhát đanh gọn xuống lớp đá dăm vừa rải phẳng:
"Được rồi, cô nói câu nào cũng mang lý lẽ của thợ trận cả, ta cãi không lại. Nhưng cô nhìn xem, con đường này coi như đã thành hình trọn vẹn rồi đấy."
Quả thật, đoạn dốc đá từng là nỗi kinh hoàng trơn trượt của toán người tị nạn trong đêm mưa lũ hoảng loạn chạy trốn nay đã hoàn toàn đổi khác. Mặt đường rộng thênh thang sáu thước phẳng phiu, được đầm chặt bằng các lớp đá hộc và đá dăm ken khít vào nhau như lớp vảy rồng kiên cố. Phía mép vực sâu hun hút, một hàng cọc gỗ táu chắc nịch cắm sâu vào hàm đá được chằng dây thừng bện đôi làm thành một dải lan can chắn tạm thời nhưng vô cùng vững chãi. Con rãnh thoát nước khoét sâu vào vách đá phía trong đang cần mẫn gom từng dòng nước đục ngầu, cuồn cuộn đổ thẳng xuống vực sâu, giữ cho toàn bộ lòng đường luôn khô ráo và sạch sẽ.
Đúng lúc đó, từ khúc cua ngoằn ngoèo dưới chân dốc bỗng vọng lên tiếng lục lạc đồng lanh lảnh quen thuộc xua tan không gian tĩnh mịch của vách đá.
Hai gã phu thồ hàng mặc áo tơi bằng da dê thuộc dày cộp của Thương hội Tam Giang đang cẩn thận dắt một con lừa nhỏ chở hai chiếc sọt cói lớn bước từng bước chắc nịch lên dốc. Đi đầu toán thồ hàng chính là gã đội trưởng tiêu đoàn từng theo sát Tống Mai hôm trước. Gã bước chân lên mặt đường đá dăm mới đầm, giậm mạnh gót ủng bịt sắt xuống nền đá để thử độ lún sụt. Thấy mặt đường cứng cáp như một khối bàn thạch liền khối, nước chảy phân dòng rành mạch vào rãnh đá mà không để lại một vệt bùn nhão nào trên lối đi, gã tiêu đầu không giấu nổi vẻ thán phục, gật gù khen ngợi:
"Khá lắm! Bọn ta dong ruổi chạy hàng khắp vùng sông nước Vân Hà này đã ngót nghét mười mấy năm trời, hiếm thấy đám nạn dân nào vừa thoát chết khỏi tay lũ quét lại có thể mở được một đoạn đường thồ chuẩn chỉ, nêm đá khít khao như thợ công trình chuyên nghiệp của quan phủ thế này. Nhị tiểu thư nhà ta luôn giữ chữ tín hàng đầu, nghiệm thu đường xong là giao hàng đủ ngay tại chỗ."
Gã phất tay ra hiệu. Hai người phu thồ lập tức tiến lên, thuần thục dỡ chiếc sọt cói lớn nhất từ trên lưng con lừa nhỏ xuống mặt đường đá dăm. Nắp sọt cói vừa được mở ra, một mùi mặn mòi nồng nàn, tinh khiết lập tức lan tỏa trong không khí lạnh giá. Bên trong là sọt muối hạt sấy khô trắng tinh khiết, từng hạt muối kết tinh vuông vức, óng ánh như những hạt ngọc nhỏ dưới ánh sáng ban ngày, khô ráo hoàn toàn và không hề dính phải một giọt nước mưa hay bùn đất nào. Đây chính là số muối hạt còn lại trong hợp đồng đổi công mà Tống Mai đã cam kết bổ sung sau khi đoạn đường hoàn tất.
"Kiểm nhận cho kỹ đi, đúng năm mươi cân muối hạt thượng hạng lấy từ mỏ muối Diêm Trì của thương hội," gã tiêu đầu cất giọng dứt khoát. "Từ nay đoạn đường dốc này sẽ là lối thồ hàng chính của các đoàn la Tam Giang khi qua núi Đoạn Phong, đôi bên coi như đã sòng phẳng nghĩa tình và công xá."
"Đa tạ các vị đã giữ đúng chữ tín của người làm nghề buôn bán," Bùi Hạ nghiêm túc chắp tay chào theo đúng quy thức chuẩn mực của giới hành nghề kỹ thuật trận đạo.
Nhìn gã tiêu đầu cùng đoàn lừa thong dong quay gót đi xuống triền dốc đá, Lâm Tự bước lại gần, cúi người dùng một cánh tay rắn chắc xốc nhẹ chiếc sọt muối nặng trịch lên vai một cách thuần thục. Anh quay sang nhìn Bùi Hạ, ánh mắt lấp lánh niềm vui chân chất của một người lao động vừa cầm chắc thành quả trong tay:
"Có muối sạch rồi. Lại có thêm hai bao gạo trắng sáu mươi cân Tống tiểu thư cho người chuyển sang cất kỹ trong kho hôm qua. Chiều nay nhóm Đỗ cô nương mang củ mài và măng le từ vách bắc về nữa, nồi cháo của Vọng Đăng Am tối nay sẽ không còn phải chan nước lã nuốt khan như những ngày đầu nữa rồi."
***
Hoàng hôn buông xuống trên đỉnh núi Đoạn Phong nhuộm một màu đỏ ối lên những dải mây tàn sót lại sau chuỗi ngày bão lũ kinh hoàng. Màn sương chiều giăng kín các vách đá xám xịt, bao phủ lấy những rặng thông già xơ xác, nhưng bên trong gian kho phía tây của Đạo quán Vọng Đăng lại bừng lên một không khí trang nghiêm và trật tự hiếm thấy.
Trên cánh cửa kho làm bằng những tấm ván gỗ táu kiên cố, ba ổ khóa đồng sáng loáng vừa được tra chìa mở toang sang hai bên. Bên trong gian phòng kho khô ráo, thơm nồng mùi vôi bột chống ẩm mới quét trắng xóa các góc tường, Phạm Sương đang ngồi ngay ngắn bên một chiếc bàn con bằng gỗ thông ghép tạm. Tiếng bàn tính bằng gỗ mun lách cách vang lên từng hồi giòn giã, dứt khoát dưới những ngón tay thon dài, thoăn thoắt lướt trên từng hàng hạt tính của nàng.
Trước mặt nàng, quyển sổ bộ bọc bìa da trâu màu nâu sẫm mở rộng sang hai trang giấy tuyên thành dày dặn. Từng dòng mực đen nhánh, ngay ngắn như hàng ngũ binh sĩ ghi chép rành mạch từng khoản nhập xuất:
* Hai bao gạo trắng thượng hạng đổi công từ Thương hội Tam Giang: tròn sáu mươi cân. * Một sọt muối hạt Diêm Trì sấy khô nguyên chất: tròn năm mươi cân. * Bảy sọt củ mài rừng đào từ vách đá phía bắc: tổng cộng một trăm bốn mươi cân tươi. Sau khi cạo sạch lớp vỏ ngoài, rửa trôi bùn đất và trải qua quy trình ngâm đủ ba lần nước tro củi bếp để khử độc linh sa theo sự giám sát của Đỗ Nghi, lượng thịt củ ăn được thực tế đạt tròn một trăm lẻ năm cân. * Măng le non và rau tàu bay rừng đã chần qua nước sôi để lắng lọc uế khí: ba mươi cân tươi.
Đỗ Nghi đứng tựa lưng bên cạnh giá gỗ, hai tay khoanh trước ngực, đôi mắt tinh tường chăm chú kiểm tra từng rổ củ mài trắng ngần vừa được vớt ra khỏi thùng nước tráng cuối cùng đang xếp ngay ngắn dưới đất. Nàng đích thân rút một chiếc que bạc dài mảnh giắt bên tay áo, cắm sâu vào từng lát củ mài ngẫu nhiên trong từng rổ; chiếc que bạc rút ra vẫn giữ nguyên màu trắng sáng bóng loáng, không hề xuất hiện một vệt xám xỉn hay đốm đen nào của độc tố linh sa.
"Quy trình khử độc hoàn tất, tinh bột củ mài an toàn tuyệt đối, có thể đưa vào sử dụng ngay," Đỗ Nghi khẽ gật đầu, cất giọng xác nhận với Phạm Sương.
Phạm Sương khẽ thở phào, chấm ngọn bút lông thỏ vào nghiên mực chu sa, cẩn thận hạ một nét son đỏ chót hình chữ triện vào góc dưới cùng của trang sổ kho. Nàng gác bút lên giá gỗ, ngẩng đầu nhìn Bùi Hạ, Lâm Tự và mấy người đại diện cho nhóm dân tị nạn đang đứng lặng lẽ quanh gian phòng:
"Tính đến đúng giờ Dậu ngày hôm nay, cộng đồng ba mươi hai con người của chúng ta tại Đạo quán Vọng Đăng đã chính thức vượt qua mốc mười ngày sinh tồn đầu tiên kể từ đêm kinh hoàng chạy lũ lên ngọn núi này."
Thanh âm của Phạm Sương không quá lớn, nhưng rơi vào không gian yên tĩnh của gian kho đá như một tiếng chuông đồng trầm đục gõ nhịp vào tâm can từng người có mặt. Mấy người thợ chèo đò đứng sau lưng Lâm Tự khẽ run rẩy bờ vai, đưa vạt áo rách lấm lem bùn đất quệt vội khóe mắt đang cay sè. Mười ngày trước, khi chân ướt chân ráo bò lên ngọn núi vỡ này giữa đêm mưa dầm thác lũ, trong cảnh màn trời chiếu đất, không một ai trong số họ dám tin mình có thể sống sót qua nổi ba ngày ngắn ngủi. Kho lương thực cũ nát của đạo quán khi ấy chỉ toàn nấm mốc và trấu vụn, linh tuyền duy nhất ngậm đầy độc sa sủi bọt, quan nha huyện phủ đe dọa bắt phu sung dịch, tiên môn danh trấn xua đuổi như tà ma... Ấy thế mà hôm nay, họ vẫn đứng đây bên nhau, lành lặn, no ấm và làm chủ từng tấc đất dưới chân mình.
"Tuy nhiên," giọng nói điềm tĩnh của Phạm Sương lập tức kéo mọi người trở về với thực tại tỉnh táo, không để sự xúc động biến thành sự chủ quan, "chúng ta phải nhìn thẳng vào những con số thực tế trên trang sổ bộ này. Toàn bộ lượng ngũ cốc, muối hạt và củ rừng hiện có trong kho, nếu duy trì mức chia ăn nghiêm ngặt hai bữa cháo đặc độn củ mỗi ngày cho ba mươi hai miệng ăn, chúng ta có thể an tâm cầm cự được thêm khoảng mười lăm đến mười tám ngày nữa. Con số này giúp chúng ta không bị chết đói trước mắt, nhưng tuyệt đối chưa phải là một lượng tích trữ an toàn cho cả mùa đông dài dặc và những đợt bão lũ rét mướt sắp tới. Muốn sống sót vững vàng đến ngày Trấn Linh Ty lên nghiệm thu và công nhận danh phận tông môn, chúng ta vẫn phải tiếp tục lao động, tiếp tục mở rộng việc đổi công và tìm kiếm thêm nguồn lương thực bổ sung mỗi ngày."
"Phạm chưởng quỹ nói rất đúng," Bùi Hạ tiếp lời, ánh mắt kiên định và sâu thẳm nhìn lướt qua từng gương mặt đã hằn sâu những vết chân chim của gian khổ. "Có hạt gạo trắng thơm tho vào bụng hôm nay là nhờ mồ hôi và sức lực đục đá dốc nam của các huynh đệ thợ mộc, thợ thuyền; có củ mài không độc ăn no là nhờ từng nhát cuốc cẩn trọng và ba lần lọc nước tro của Đỗ tỷ cùng đám trẻ ở hẻm bắc. Từng hạt gạo, từng lạng muối nằm trong gian kho này đều là thành quả lao động do chính đôi bàn tay trần của chúng ta làm ra, không phải bổng lộc quỳ lạy van xin của các tiên môn cao vời vợi, cũng chẳng phải ân huệ bố thí của huyện phủ quan nha. Quy củ của Vọng Đăng Am từ ngày đầu thế nào thì nay vẫn nguyên như cũ: chia đều khẩu phần sinh tồn căn bản, công khai minh bạch từng cân từng lạng, cùng làm thì cùng hưởng."
Nàng cùng Phạm Sương và Lâm Tự lần lượt tiến lại cánh cửa kho, tra ba chiếc chìa khóa đồng riêng biệt vào ba ổ khóa chắc nịch. Ba tiếng "cạch, cạch, cạch" đanh gọn vang lên dứt khoát giữa gian phòng, khép lại cánh cửa kho bằng một trật tự sắt đá, xác lập sự bảo vệ tuyệt đối cho thành quả lao động chung của cả tập thể.
Trong lúc mọi người đang lục tục khuân các rổ củ mài và măng le ra gian bếp ngoài hiên để chuẩn bị cho bữa tối, bé Lâm An khẽ kéo nhẹ vạt áo nâu của cha mình. Cô bé mười một tuổi nép sát người vào bên hông Lâm Tự, đôi mắt to tròn đen láy lấm lét nhìn quanh quất hành lang vắng vẻ rồi kiễng gót chân, ghé sát tai anh thì thầm bằng giọng nói run rẩy:
"Cha ơi... Đêm qua lúc con thức dậy đi tiểu ở mé hiên tây... con nhìn thấy có bóng người lén lút lảng vảng nhìn qua khe ván gỗ vào bên trong gian kho đấy ạ..."
Bàn tay đang cầm chiếc búa con bên hông của Lâm Tự bỗng khựng lại giữa chừng. Ánh mắt người thợ mộc vốn hiền lành, chất phác thoáng chốc đanh lại, một sự cảnh giác bản năng trỗi dậy trong đáy mắt sâu thẳm. Anh từ từ ngồi xổm xuống ngang tầm mắt con gái, đưa bàn tay thô ráp xoa nhẹ mái tóc rối của cô bé, thì thầm dặn dò với thanh âm trầm thấp:
"Con có nhìn rõ mặt mũi người đó là ai không?"
Lâm An khẽ lắc đầu nhè nhẹ: "Đêm qua tối đen như mực, sương mù lại giăng mịt mù khắp sân, con chỉ kịp nhìn thấy một cái bóng gầy gầy, cao dong dỏng. Người đó dừng lại nhòm qua khe cửa kho một hồi lâu, rồi lẻn rất nhanh men theo bóng tối lẩn về phía dãy phòng ngủ dột nát mé đông..."
Lâm Tự khẽ siết nhẹ bàn tay nhỏ nhắn của con gái, khẽ gật đầu trấn an: "Cha biết chuyện này rồi. Chuyện này con tuyệt đối không được kể lại với bất kỳ ai khác, cứ để mặc cha để mắt trông chừng. Ngoan, mau chạy vào bếp giúp các cô nhặt rau tàu bay đi."
Nhìn theo bóng lưng nhỏ nhắn, gầy guộc của con gái lon ton chạy về phía gian bếp đang bốc lên những làn khói ấm, Lâm Tự từ từ đứng thẳng dậy. Anh đưa mắt nhìn đăm đăm về phía dãy phòng đông cũ kỹ, nơi những mảng tường đá nứt nẻ đang chìm dần vào bóng tối nhập nhoạng của hoàng hôn, bàn tay phải vô thức nắm chặt lấy cán búa sắt giắt bên thắt lưng. Kho lương thực chung vừa mới chạm tới cái ngưỡng an toàn tạm thời, nhưng những ánh mắt dòm ngó tham lam giấu mình trong bóng tối dường như chưa bao giờ chịu buông tha cho sự yên bình mong manh của ngọn núi này.
***
Đêm mùa đông buông xuống bao trùm toàn bộ đỉnh núi Đoạn Phong trong một màn đêm dày đặc và giá lạnh, nhưng bên trong chính điện của Đạo quán Vọng Đăng, không khí lại bừng lên sự rực rỡ và ấm áp khác thường.
Giữa gian điện rộng lớn thênh thang đã được gia cố vững chãi bằng những khung giằng gỗ táu kết nối bằng mộng mang cá tinh xảo của Lâm Tự, một ngọn lửa hồng rực đang cháy bập bùng trong chiếc kiềng sắt ba chân cỡ lớn. Đặt vững vàng trên chiếc kiềng sắt ấy là một chiếc nồi gang ba chân khổng lồ—thứ tài sản quý giá nhất mà nhóm thợ chèo đò đã liều mạng sống vác vượt qua dòng nước xiết từ bến sông lên núi trong đêm chạy lũ hoảng loạn.
Bên trong lòng chiếc nồi gang dày cộp, một nồi cháo đặc đang sôi lên ùng ục, từng đợt bọt khí lớn vỡ tung tỏa ra những làn khói trắng nghi ngút mang theo mùi thơm ngọt lịm ngây ngất lòng người. Đó là mùi thơm tinh khiết, dẻo thơm của những hạt gạo trắng Tam Giang nở bung cánh xốp mềm, hòa quyện trọn vẹn với vị bùi béo đậm đà của từng miếng củ mài vách bắc đã được ninh nhừ đến mức tan chảy vào nước dùng, điểm xuyết thêm những nhánh rau tàu bay xanh ngắt vừa chín tới và vị mặn mòi, thanh tao của thứ muối hạt Diêm Trì thượng hạng.
Đã tròn mười ngày trôi qua kể từ khi thảm họa lũ quét ập xuống cướp đi nhà cửa, ruộng đồng và người thân của họ, đây là lần đầu tiên ba mươi hai con người này được hít thở mùi vị của một bữa ăn thực sự no ấm, chứ không phải thứ cháo loãng tanh nồng mùi bùn hay những nắm cám ngô đắng ngắt cào xé ruột gan như những ngày cơ cực vừa qua.
Ba mươi hai con người quây quần thành một vòng tròn lớn quanh ngọn lửa bập bùng. Không còn sự phân biệt sang hèn giữa thợ sửa trận pháp cơ học, thợ mộc làm nhà, bà góa kéo lưới hay những đứa trẻ mồ côi không nơi nương tựa. Trên tay mỗi người là một chiếc bát sứt mẻ bằng sành thô mộc, nhưng đôi mắt ai nấy đều lấp lánh ánh lửa bập bùng và niềm hân hoan không hề giấu giếm.
Phạm Sương đích thân cầm chiếc muôi gỗ lớn, đứng bên cạnh chiếc nồi gang chia đều từng muôi cháo đặc sánh cho từng người một. Tiếng húp cháo xì xụp vang lên rộn rã khắp gian điện chính, xen lẫn những tiếng xuýt xoa vì hơi nóng bỏng môi và những nụ cười rạng rỡ nở bừng trên những khuôn mặt gầy gò sạm đen vì sương gió và nỗi lo âu.
"Ngon quá... ngọt và bùi quá các bác ơi!" Cẩu Đản vừa thổi phù phù vừa húp trọn một ngụm cháo lớn, hai má phúng phính phồng lên vì nhai vội miếng củ mài bở tơi, miệng cười toe toét để lộ hàm răng sún, dường như đã quên hẳn nỗi khiếp đảm suýt nuốt phải tai nấm độc hồi ban sáng.
"Ăn từ từ thôi thằng quỷ, nuốt vội bỏng rộp cả lưỡi bây giờ!" Mẹ thằng bé khẽ cốc nhẹ vào đầu con một cái, nhưng khóe mắt người đàn bà nghèo rơm rớm những giọt nước mắt hạnh phúc sau bao ngày nhìn con đói lả.
Ngồi bên góc cột cái đã được giằng nép vững chãi bằng những thanh gỗ táu mới tinh, lão thợ đá Nguyễn Mộc nâng bát cháo ấm nóng bằng đôi bàn tay già nua run rẩy vì năm tháng. Lão nhấp từng ngụm nhỏ, chậm rãi nhai từng hạt gạo trắng ngần dẻo quánh, rồi ngước đôi mắt đục mờ nhìn lên vách đá chính điện—nơi tờ biên nhận bảo hộ tạm thời ba mươi ngày của Trấn Linh Ty đang được dán phẳng phiu dưới ánh lửa bập bùng. Lão khẽ vuốt chòm râu bạc dài, mỉm cười nói với mấy người thợ chèo đò đang ngồi kề bên:
"Lão già này sống ngót nghét bảy mươi năm trên đời, ăn không biết bao nhiêu bữa cơm hội làng, cơm đình đám xôi thịt đầy mâm. Nhưng quả thực chưa có bữa cháo nào ngọt giọng và ấm cái dạ dày như bữa cháo củ mài tối nay ở Vọng Đăng Am này. Tự tay mình đập đá dăm mở đường thồ, tự tay mình đào củ ngâm tro ba lượt, hạt gạo hạt muối này mới thực sự là của chính mình làm ra, nuốt vào bụng nó mới chắc cái dạ dày, mới ngẩng cao cái đầu mà sống được!"
Bùi Hạ ngồi xếp bằng bên ngọn lửa ấm, tay trái bưng một bát cháo nhỏ. Nàng lặng lẽ nhìn quanh một lượt ba mươi mốt gương mặt đang rạng rỡ tiếng cười nói quanh đống lửa. Những mệt mỏi rã rời, những cơn đau nhức buốt từ vết thương kinh mạch nứt toác ở cổ tay dường như tan biến đi phần nào trước hơi ấm cộng đồng đang lan tỏa. Họ đã cùng nhau vượt qua mười ngày đầu tiên nghiệt ngã và tàn khốc nhất. Bằng sự minh bạch đến từng hạt gạo của sổ bộ, bằng kỷ luật lao động nghiêm ngặt và bằng sự nương tựa chân thành giữa những con người cùng khổ, ngọn đèn nhỏ nhoi trên đỉnh núi Đoạn Phong này đã không bị dập tắt giữa muôn trùng giông bão của đất trời.
Vũ Liên rụt rè bước tới bên cạnh Bùi Hạ. Trên tay nàng là một bát cháo đầy ắp những miếng củ mài bở nhất, thơm ngon nhất mà nàng đã cố tình nài nỉ Phạm Sương múc riêng để dành cho sư phụ của mình. Thiếu nữ cúi thấp đầu, giọng nói nhỏ nhẹ nhưng chan chứa sự chân thành:
"Bùi tỷ... tỷ ăn thêm chút củ mài cho mau lại sức. Kinh mạch ở cánh tay tỷ... tất cả đều vì che chở và cứu mạng muội mà chịu tổn thương nặng nề..."
Bùi Hạ ngẩng đầu lên nhìn cô học trò nhỏ, đón lấy bát cháo từ đôi bàn tay run rẩy của nàng, ánh mắt dịu dàng nhưng không mất đi vẻ nghiêm cẩn thường ngày:
"Ăn đi Liên, đừng bận lòng chuyện cũ. Việc của muội bây giờ là phải cố gắng học cách cảm nhận dòng khí chuyển động cho thật chuẩn xác và an toàn, đừng nóng vội đốt cháy giai đoạn. Chúng ta đã cùng nhau vượt qua mười ngày sinh tử đầu tiên này rồi, thì những ngày tháng phía trước, ắt sẽ tìm ra cách để bước tiếp một cách đàng hoàng."
Tiếng cười nói rộn rã, tiếng bát đũa va vào nhau lách cách râm ran khắp gian điện chính. Ngoài trời, gió đêm mùa đông vẫn gầm gào quất từng đợt điên cuồng vào các vách đá dựng đứng của núi Đoạn Phong, sương mù buốt giá vẫn cuộn tròn từng đợt ngoài khe vực sâu, nhưng bên trong ngôi đạo quán hoang phế này, hơi ấm nồng nàn của sự sống, của tình người và của niềm hy vọng đang bốc lên ngùn ngụt, xua tan hoàn toàn cái lạnh lẽo thấu xương của đêm trường sau cơn đại hồng thủy.
Bỗng nhiên, từ khoảng sân đá tối om phía ngoài cổng quán, một âm thanh xé gió sắc lẹm, rợn người đột ngột rít lên.
"Vút! Phập!"
Một vật thể kim loại nặng trịch mang theo kình lực bén nhọn xé toạc màn sương mù dày đặc bên ngoài, cắm phập vào khung cửa gỗ táu của chính điện, làm rung chuyển dữ dội cả cánh cửa lớn vừa mới được gia cố.
Tiếng cười nói rộn rã bên trong nồi cháo đặc lập tức im bặt như bị một nhát kéo sắc lẹm cắt đứt ngang.
Lâm Tự là người bật dậy đầu tiên, bàn tay gân guốc lập tức vớ lấy chiếc rìu đẽo gỗ đặt sát bên vách tường. Bùi Hạ đứng thẳng người dậy, ánh mắt sắc bén như chim ưng phóng thẳng ra phía khung cửa gỗ đang rung lên bần bật.
Dưới ánh lửa đỏ bập bùng của đống lửa chính điện, một mũi tên sắt dài hai thước cắm ngập sâu ba phân vào thớ gỗ táu già nua. Buộc chặt nơi thân mũi tên bằng dây gai thô là một ống đồng dài nửa gang tay được niêm phong cẩn mật bằng một cục sáp đỏ tươi của Công tào nha môn, bên trên kẹp một lá thư triệu tập bằng giấy bổi dày cộp mang dấu triện vuông đỏ lòm của huyện nha An Lưu.
Và trên mặt giấy trắng phơi trần ra dưới ánh lửa bập bùng, những nét chữ viết bằng mực son sắc lạnh, tàn nhẫn hiện rõ mồn một tên đích danh của một người:
*Lâm Tự.*