Chuyến Thồ Hàng Đầu Tiên
Tiếng lục lạc đồng buộc nơi yếm da của đoàn la thồ va vào nhau lanh lảnh, từng nhịp gõ khô khốc giáng thẳng vào sự tịch mịch ẩm ướt của Bến Bạch Sa khi sương sớm còn chưa kịp tan. Âm thanh ấy sắc và nặng, xé toạc màn hơi nước bảng lảng đang bốc lên từ lòng sông Đỏ, báo hiệu chuyến hàng đầu tiên của Thương hội Tam Giang đã áp sát chân dốc Đoạn Phong.
Gió từ mặt sông ngập bùn thổi thốc lên triền núi, cuốn theo mùi tanh nồng của phù sa thối rữa, mùi cỏ dại úng ngập và hơi ẩm lạnh buốt đặc trưng sau trận đại hồng thủy vừa càn quét qua vùng hạ lưu. Dưới chân dốc, sáu con la lông xám lực lưỡng, bốn chân bọc bao tải gai chống trượt buộc chặt bằng dây mây, đang thở phì phò phả từng luồng khói trắng đục vào không khí buốt giá. Mỗi bên hông la chằng néo hai sọt lớn phủ kín bạt dầu trét hắc ín bóng loáng, dây thừng siết chặt đến mức hằn sâu vào từng thớ gỗ của khung thồ, chứng tỏ sức nặng bên trong không hề tầm thường.
Dẫn đầu đoàn thồ không phải một gã phu xe bặm trợn hay tiêu sư mặt sắt, mà là một nữ tử khoác áo choàng dạ màu nâu sẫm, vạt áo vén cao giắt ngang hông để lộ đôi ủng da cao cổ bết đầy bùn đỏ nhưng các mối khâu vẫn còn nguyên vẹn. Ống tay áo của nàng bó gọn gàng bằng đai da có ba chiếc khóa đồng sáng loáng, bên hông đeo một bao dao găm ngắn cán sừng và một túi da đựng sổ sách cùng dụng cụ đo đạc. Đó là Tống Mai, nhị tiểu thư của phân hiệu Tam Giang trấn thủ bến sông.
Nàng kéo nhẹ dây cương bện bằng gân bò, ghìm con la đầu đàn lại ngay trước rãnh đá sụt lở đầu tiên nơi chân núi. Con vật khịt mũi một tiếng thật dài, móng guốc bọc bao tải cào nhẹ lên nền đá trơn nhẵn, làm bật ra vài hòn sỏi nhỏ lăn lông lốc xuống lòng lạch nước cạn. Tống Mai khẽ nheo mắt, đưa ánh nhìn sắc sảo đảo quanh con dốc dựng đứng trước mặt. Nơi đó, những tảng sa thạch khổng lồ vừa bị lũ bứt trôi khỏi vách núi đang nằm ngổn ngang, đất đỏ nhão nhoét tràn ngập các kẽ nứt, chắn ngang lối đi mòn duy nhất dẫn lên Đạo quán Vọng Đăng và con đèo thông sang nhánh sông phía tây.
Phía trên bậc tam cấp bằng đá xanh dẫn vào chân dốc, Bùi Hạ và Lâm Tự đã đứng đợi tự lúc nào. Gió sớm lùa qua vạt áo thô chắp vá của hai người, làm lay động những sợi vải sờn rách. Tay phải của Bùi Hạ vẫn quấn nẹp tre kín mít giấu kín trong tay áo rộng, mép vải băng màu xám tro hơi thâm lại vì nước thuốc ngâm rễ thảo mộc, còn bàn tay trái của nàng nắm chắc một thanh xà beng sắt nặng trịch, đầu nhọn cắm sâu ba tấc vào khe nứt của tảng đá dưới chân như một chiếc cọc tiêu vững chãi. Lâm Tự đứng cạnh nàng, hai chân dạng rộng bằng vai, vai vác chiếc vồ gỗ đóng cọc to bản bằng lõi táu đen nhánh, đôi mắt thợ mộc nheo lại đầy cảnh giác, chăm chú quan sát từng cử động của đoàn la, độ căng của các quai thồ và vết lún của bánh móng trên nền đất bùn nhão.
"Đường lên đỉnh Đoạn Phong tắc từ hôm qua rồi," Tống Mai cất giọng giòn giã, âm vang sang sảng lấn át cả tiếng nước réo rắt róc rách dưới lạch cạn. Nàng không hề có vẻ gì là e ngại trước tư thế phòng thủ cẩn mật của hai người trên bậc đá. Nàng thong thả bước lên một tảng đá phẳng nhô ra bên mép đường, giũ giũ bớt lớp bùn non bám ở gấu ủng da. "Hàng của Tam Giang cần đưa qua đèo sang nhánh sông phía tây trước khi nước lũ thượng nguồn tràn về đợt hai. Nghe nói đập giữ nước của ba huyện thượng du đã bắt đầu rỉ nước qua mặt tràn, chậm nhất là chiều mai, lũ quét thứ cấp sẽ đổ ập xuống bãi bồi. Nhưng ba khúc cua dốc đá hiểm trở kia đã sập mất nửa thân đường, la thồ cấn sọt không tài nào lách qua nổi. Thêm nữa..."
Nàng tháo từ bên hông xuống một chiếc túi da nhỏ có đệm bông, mở nắp rút ra một chiếc la bàn bằng đồng hun cỡ lòng bàn tay. Ngón tay thon dài gạt nhẹ chốt giữ, nắp hộp bật mở kêu *cạch* một tiếng dứt khoát rồi nàng chìa thẳng mặt kính về phía Bùi Hạ:
"La bàn dẫn khí vận chuyển của các toán tiêu đồ đều bị lệch từ tính. Cả bãi bùn dưới chân sông nhiễm đầy mạt linh sa độc từ mỏ khoáng vỡ trên nguồn trôi xuống, trận đồ định hướng của thuyền buôn và xe thồ quay loạn xạ như gà mất đầu. Chiếc kim này từ sáng tới giờ cứ đảo vòng vòng quanh phương tây nam, hoàn toàn mất phương hướng trước các mạch ngầm. Ta biết Đạo quán Vọng Đăng có thợ sửa trận pháp của Thanh Huyền Môn ra ngoài nương náu, lại có thợ mộc lành nghề gia cố mộng giằng và kè đá."
Tống Mai hơi ngẩng cằm, nụ cười trên môi nàng nở rộng nhưng khóe mắt lại thu hẹp thành hai đường kẻ sắc lẹm, mang trọn nét tự tin, lọc lõi của một kẻ đã quen cân đo từng đồng tiền bát gạo, từng tấc mớ hàng hóa trên bến sông từ năm mười bốn tuổi:
"Ta đưa ra đề nghị sòng phẳng, đôi bên cùng có lợi: người của đạo quán ra công bạt đá, đắp gờ chèn rãnh mở rộng khúc cua cho sáu con la này đi qua an toàn; đồng thời hiệu chỉnh lại bốn chiếc la bàn dẫn khí vận chuyển bị nhiễm từ tính cho thương hội của ta. Tiền công trả ngay tại chỗ, sòng phẳng rành mạch: hai bao gạo trắng ba mươi cân sạch bùn, hoàn toàn không dính một giọt nước độc thanh hủ, cộng thêm một sọt muối hạt tinh khiết đã sấy khô trong lò gốm."
Bùi Hạ khẽ cử động ngón tay trái trên cán xà beng sắt lạnh ngắt, trong lồng ngực hơi thở dồn lên một nhịp. Hai bao gạo trắng sáu mươi cân, một sọt muối hạt sấy khô. Đối với Đạo quán Vọng Đăng lúc này, đó là một con số có thể định đoạt sự sống chết. Nhưng nàng chưa kịp mở miệng đáp lời thì từ trên con đường mòn phủ đầy rêu trơn dẫn xuống từ cổng tam quan, tiếng guốc gỗ gõ cộc cộc dứt khoát, dồn dập vang lên.
Phạm Sương bước nhanh xuống dốc, tà áo chàm sờn rách bay phần phật trong gió núi. Nàng bước đi thoăn thoắt trên nền đá trơn trượt mà không hề nao núng, tà váy giắt gọn vào thắt lưng để lộ đôi ống chân gầy gò quấn xà cạp vải thô xám. Trên tay nàng không cầm vũ khí phòng thân, mà kẹp chặt một chiếc bàn tính bằng gỗ mun cũ kỹ bóng loáng nước sơn mài và một cuộn giấy dầu đã ngả màu vàng ố. Khuôn mặt người phụ nữ từng coi sóc quán cơm lớn nhất Bến Bạch Sa đanh lại, đôi môi mỏng mím chặt, trong đôi mắt sâu hoắm vì thiếu ngủ nhiều đêm không hề có nét vồ vập, mừng rỡ của kẻ đang cận kề miệng vực chết đói bỗng thấy miếng ăn rơi xuống trước mặt.
Chỉ vừa tối hôm qua thôi, dưới ánh đèn dầu leo lét trong gian kho tây lạnh lẽo thấm đẫm mùi ẩm mốc, chính Phạm Sương đã chìa ra bản sổ sách tàn nhẫn được ghi chép tỉ mỉ đến từng lạng cám: toàn bộ ngũ cốc sạch dự trữ trong hầm đá chỉ còn đủ duy trì hai bữa cháo loãng cầm hơi cho ba mươi hai con người trong đúng ba ngày nữa. Hai bao gạo trắng và một sọt muối lúc này chẳng khác nào chiếc phao cứu sinh giáng xuống từ trời xanh giữa cơn hoạn nạn. Thế nhưng ánh mắt của Phạm Sương khi nhìn vào sáu con la chở nặng của Tống Mai lại sắc lẹm như một lưỡi dao cạo bằng thép gió, lạnh lùng và cảnh giác tột độ.
Nàng bước thẳng tới bậc đá tảng còn đọng nước mưa ngay cạnh Bùi Hạ, không thèm chào hỏi khách sáo lấy một câu, ngồi bệt xuống, đặt chiếc bàn tính gỗ mun thăng bằng trên đầu gối, ngón trỏ và ngón cái gạt phắt một hàng hạt gỗ kêu *lách cách* đanh gọn giữa bầu không khí ẩm ướt.
"Tống nhị tiểu thư tính toán giỏi thật, không hổ danh là người nhà họ Tống nắm giữ đường dây vận chuyển đường thủy," Phạm Sương lạnh lùng mở lời, đầu ngón tay thoăn thoắt gảy hạt tính mà không cần nhìn xuống khung gỗ, âm thanh va đập giòn tan của các hạt mun vang lên đều đặn. "Sáu con la lông xám chở nặng, mỗi con cõng ít nhất hai trăm cân hàng hóa giá trị của Tam Giang. Nhìn lớp vải bạt dầu trét hắc ín dày ba lớp và vết lún của móng la trên nền đá sỏi, trong sọt chắc chắn là lụa thượng hạng vùng Kinh Nam, trà bánh sao khô và dược liệu kháng ẩm. Nếu đường này không thông trong trưa nay, các ngươi buộc phải quay đầu đi vòng qua lối đầm lầy phía đông, mất thêm hai ngày đường sình lầy, phu xe kiệt sức, rủi ro gặp yêu thú nhỏ sống sót sau lũ hoặc sụt lở vùi cả người lẫn của là tám phần mười. Hai bao gạo và một sọt muối để đổi lấy sự an toàn cho cả chuyến hàng ngàn lượng bạc, thương hội các người ra giá hời quá nhỉ?"
Tống Mai khẽ nhướng một bên lông mày, nụ cười trên khóe môi thu lại đôi chút nhưng ánh mắt lại lộ vẻ tán thưởng không hề che giấu. Nàng khoanh hai tay trước ngực, bàn tay khẽ vuốt ve chất liệu dạ ấm áp của áo choàng:
"Phạm chưởng quỹ, bến Bạch Sa chìm trong nước lũ rồi, quán cơm của nàng giờ chỉ còn là mấy cái cọc tre trôi nổi trên mặt sông, giá gạo ở chợ phiên huyện An Lưu lúc này vọt lên bao nhiêu hẳn nàng rõ hơn ta gấp bội. Hai bao gạo sạch này là lương thực dự trữ loại một của đội thuyền buôn lớn, hạt mẩy, không lép, không ẩm, không phải thứ thóc mục nảy mầm vớt vát dưới sông lên đem phơi sấy qua loa. Muối hạt lại càng là đồ cấm vận sau lũ, các trạm tuần tra giữ lại từng hạt để sát trùng doanh trại và khử uế thi thể. Ta trả công sòng phẳng cho sức lao động bỏ ra, thuận mua vừa bán, không ép ai phải bẻ cong lưng làm việc."
"Vậy thì phải tính cho hết, cho đủ giá trị của sức lao động bỏ ra giữa lúc ngặt nghèo này," Phạm Sương gạt tiếp ba hạt tính lên hàng trên, âm thanh *tách tách* dứt khoát như đinh đóng vào cột. "Dốc Đoạn Phong đá sa thạch kết khối cứng như thép nguội, bạt một tấc đá văng ba tia lửa đỏ. Lâm Tự và năm người thợ đục đá, chèn gỗ, đầm nền của chúng ta phải còng lưng cuốc đất suốt hai canh giờ liền mới mở nổi góc cua cho la thồ quay đầu an toàn mà không va quẹt sọt hàng. Tiền công bốc dỡ đá tảng, dọn đường và mức hao hụt công cụ mộc—mòn xà beng, mẻ lưỡi búa tạ—ta tính rẻ bằng sáu đấu ngô hạt. Lại thêm bốn chiếc la bàn dẫn khí—đó là nghề độc quyền của thợ trận pháp, cần dùng linh lực thật sự để gạn từng hạt mạt sa nhiễm từ tính chứ không phải dùng giẻ rách lau chùi bên ngoài là xong việc. Bùi Hạ hao tổn tâm lực kinh mạch để hiệu chỉnh, giá là hai bao gạo sạch và một sọt muối hạt như cô nương nói, không bớt một lạng nào."
Tống Mai khẽ gật đầu, vạt áo choàng dạ lay nhẹ theo làn gió ẩm:
"Được, phần công sức và hao tổn công cụ đó ta duyệt. Thương hội Tam Giang làm ăn lớn, không hẹp hòi mấy đấu ngũ cốc với thợ giỏi lành nghề." Nàng hơi nghiêng người tới trước, giọng nói bất chợt hạ thấp xuống nửa tông, ánh mắt liếc xéo về phía con đường mòn dẫn sâu vào bên trong khuôn viên đạo quán, cố ý để lộ một điều khoản ngầm đã chuẩn bị từ trước: "Nhưng ta có thêm một yêu cầu nhỏ, xem như tình nghĩa xóm giềng hỗ trợ lẫn nhau. Trong lúc các ngươi thi công bạt đá và hiệu chỉnh la bàn, đoàn la của ta phải được dắt lên sân sau đạo quán, múc nước từ linh tuyền Thạch Nhãn cho súc vật uống no nê và đổ đầy sáu thùng gỗ dự trữ mang theo vượt đèo. Nghe nói nước Thạch Nhãn có linh khí nhẹ của mạch đá ngầm, súc vật uống vào dẻo dai gân cốt, đi đường núi không bị sưng móng, hàng hóa của ta đi qua đèo cũng yên tâm hơn."
Ngón tay đang thoăn thoắt gảy hạt bàn tính của Phạm Sương đột ngột khựng lại giữa không trung.
Không khí bên bờ dốc đá bỗng chốc đông cứng lại, tựa hồ vừa có một tảng băng vô hình rơi tõm vào giữa cuộc đàm phán. Lâm Tự đang đứng tựa vào cán vồ gỗ khẽ siết chặt bàn tay chai sạn, các thớ cơ trên cánh tay vạm vỡ màu đồng hun nổi cuộn lên dưới lớp da thô, chiếc vồ gỗ hơi dịch chuyển tạo ra một tiếng cọ xát trầm đục trên mặt sỏi.
Phạm Sương từ từ ngẩng phắt đầu lên. Đôi mắt trũng sâu của nàng nhìn thẳng vào mắt Tống Mai, không chút nao núng, không một tia chớp mắt, giọng nói đanh thép vang lên xé rách tiếng gió hú trên sườn núi:
"Gạt phăng điều đó đi. Một giọt nước Thạch Nhãn cũng không có đâu."
Tống Mai hơi biến sắc, đôi lông mày thanh tú chau lại thành một đường thẳng tắp, vẻ hòa nhã thương gia lập tức biến mất:
"Chỉ là mấy gánh nước cho súc vật uống cầm hơi, suối tự nhiên chảy ra từ vách núi chứ có phải vàng ngọc trong rương của các ngươi đâu mà hẹp hòi thế? Ta có thể bù thêm nửa bao cám mì loại mịn cho đám trẻ con trong quán..."
"Ta bảo không là không!" Phạm Sương dằn mạnh chiếc bàn tính gỗ xuống mặt đá tảng nghe *chát* một tiếng vang dội, khiến mấy con la thồ bên dưới giật mình dậm dậm móng guốc. "Thạch Nhãn là linh tuyền công ích ghi rõ ràng trên bia đá trăm năm của tiền triều dựng ở sân trước, dùng để cứu mạng ba mươi hai con người đang trú nạn trên đỉnh Đoạn Phong này. Nước rỉ ra từ kẽ đá mỗi ngày đêm chỉ vỏn vẹn có hai mươi tư gánh, chúng ta phải hứng từng giọt, lắng than củi hai lần, lọc qua ba lớp vải màn dày, đun sôi ba lượt trên bếp củi ướt mới đủ chia cho người già và con trẻ uống cầm cự qua cơn dịch tả sau lũ. La thồ của các ngươi một ngụm hớp cạn nửa gánh nước tinh khiết, lại còn đòi múc đầy sáu thùng lớn chở đi bán lấy lời trên đường đèo? Mở quyền múc nước một lần cho thương hội Tam Giang, ngày mai các chủ buôn khác dưới bến, các tiêu cục kéo cờ đi qua cũng sẽ vin vào cái cớ ấy mà kéo lên đòi chia nước, lúc đó đạo quán lấy gì mà giữ mạng người?"
Nàng đứng bật dậy, chiếc bóng gầy guộc in dài trên nền đá xám xịt dưới ánh sáng mờ đục của buổi sớm:
"Muốn đổi công lấy lương thực, chúng ta bỏ mồ hôi nước mắt, bỏ tay nghề sửa trận pháp và đục đá ra đổi một cách quang minh chính đại. Quyền nước Thạch Nhãn không đem ra thế chấp, không đem ra trao đổi dưới bất kỳ hình thức nào, và tuyệt đối không dính líu đến bất kỳ giao dịch miệng nào của thương nhân các người. Nếu Tống nhị tiểu thư nhất quyết đòi nước cho la uống, xin mời dắt đoàn la quay về đầm lầy phía đông mà lội bùn, tự tìm lạch nước đục mà uống!"
Từng lời, từng chữ của Phạm Sương thốt ra dứt khoát như những nhát búa đóng cọc của thợ mộc, không chừa lại lấy một kẽ hở nhỏ nào để kỳ kèo thêm bớt.
Bùi Hạ đứng bên cạnh, bàn tay trái nắm cán xà beng khẽ buông lỏng ra đôi chút, trong lồng ngực thở phào nhẹ nhõm. Nàng nhìn Phạm Sương bằng ánh mắt ngập tràn sự cảm phục. Trong cái cảnh túng quẫn bách bần đến mức chỉ còn ba ngày lương thực cầm hơi, việc lạnh lùng từ chối một món hời bổ sung để kiên quyết bảo vệ đến cùng nguyên tắc công ích của nguồn nước đòi hỏi một sự tỉnh táo phi thường và một dũng khí không hề tầm thường. Đó chính là lý do duy nhất vì sao Bùi Hạ giao toàn bộ quyền thủ kho, quản lý sổ sách và tính toán kinh tế sinh tồn của cả đạo quán cho người đàn bà gầy guộc này.
Tống Mai đứng chôn chân trên tảng đá phẳng, nhìn chằm chằm vào đôi mắt rực lửa của Phạm Sương suốt mười nhịp thở dài dằng dặc. Gió núi buốt giá thổi tung những lọn tóc mai lòa xòa bên gò má đỏ ửng vì lạnh của nàng. Ánh mắt hai người phụ nữ giao nhau giữa không trung, tóe lên những tia căng thẳng ngấm ngầm của những kẻ đều hiểu rất rõ giá trị của từng giọt tài nguyên sau thảm họa. Cuối cùng, Tống Mai bật cười khẽ một tiếng, lắc đầu thở dài, thu lại sự sắc sảo thương trường:
"Phạm chưởng quỹ vẫn sắc sảo và rắn rỏi như ngày nào còn ngồi đếm tiền xâu ở bến đò. Được rồi, bỏ điều khoản nước Thạch Nhãn ra khỏi khế ước miệng. La của ta sẽ uống nước đọng dưới chân suối cạn bên dưới vách núi. Ta giữ nguyên thỏa thuận ban đầu: các ngươi bạt dốc mở cua, hiệu chỉnh bốn la bàn; tiền công là hai bao gạo trắng, một sọt muối hạt sấy khô và nửa bao bột mì bồi dưỡng thêm cho thợ đục đá. Giờ thì bắt tay vào việc ngay đi, ta không có cả ngày để đứng đây hứng gió đâu."
"Nhận việc!"
Bùi Hạ lập tức lên tiếng chốt lại khế ước miệng, không để sự việc kéo dài thêm một khắc nào. Nàng quay phắt sang Lâm Tự: "Anh Tự, gọi bốn người chèo đò khỏe mạnh nhất trong nhóm đinh tráng mang xà beng, nêm sắt và búa tạ xuống dốc ngay. Phải mở rộng khúc cua ít nhất ba thước trước khi sương mù tan hẳn."
Lâm Tự gật đầu dứt khoát, không nói một lời thừa thãi, vác vồ gỗ sải những bước dài vững chãi ngược lên dốc đá gọi người.
Chỉ một lát sau, không khí dưới chân núi Đoạn Phong đã trở nên huyên náo khác thường, phá tan sự ảm đạm chết chóc của vùng bến sông sau lũ. Dưới mái hiên dột nát của gian điếm canh bỏ hoang nơi đầu dốc—nơi mái tranh đã rách tả tơi chỉ còn trơ lại bộ khung tre ẩm mục—Bùi Hạ ngồi bệt xuống một chiếc ghế đẩu gãy chân được kê thăng bằng bằng hai hòn đá tảng. Nàng đặt chiếc hòm gỗ đựng đồ nghề sửa trận pháp lên một tấm ván gỗ khô ráo lấy từ cánh cửa cũ.
Bên ngoài hiên, mưa bụi bắt đầu bay lất phất mang theo hơi lạnh ngấm vào da thịt, tiếng búa tạ nện chan chát vào vách sa thạch vang dội khắp thung lũng đá. Lâm Tự cởi trần nửa thân trên, làn da màu đồng hun đẫm mồ hôi nhễ nhại dù nhiệt độ ngoài trời lạnh cắt da cắt thịt. Anh cẩn thận dùng xà beng nạy từng tảng đá nứt do nước lũ khoét hàm ếch dưới chân đường, sau đó chỉ đạo nhóm thợ chèo đò dùng đá hộc chèn chặt vào chân vách taluy âm, đầm nền bằng những khúc gỗ táu nặng trịch. Từng nhát búa của người thợ mộc giáng xuống dứt khoát, chuẩn xác, tiếng *thình thịch* trầm đục nện xuống mặt đất bùn đá, biến gờ đá chênh vênh hiểm trở thành một lối đi thoai thoải, vững chãi, đủ rộng để những bao hàng cồng kềnh trên lưng la không bị quẹt vào vách đá sắc nhọn lởm chởm.
Cách đó chỉ vài bước chân dưới mái hiên dột, Bùi Hạ đang phải đối mặt với một trận chiến thầm lặng và căng thẳng không kém bất kỳ công việc nặng nhọc nào ngoài trời.
Bốn chiếc la bàn dẫn khí của Thương hội Tam Giang được đặt cẩn thận thành hàng trên một tấm vải dạ thô đã bạc màu. Đây là loại khí cụ hàng hải kết hợp định vị địa mạch sơ cấp thường thấy trên các thuyền buôn lớn: khung ngoài đúc bằng đồng thau dày dặn chạm khắc phù văn chắn nước, bên trong gắn một lõi thạch dẫn từ tính nhỏ bằng ngón tay cái, chung quanh quấn hàng trăm vòng sợi dây đồng truyền dẫn mảnh mai như sợi tóc để bắt lấy từ trường tự nhiên của các mạch ngầm trong lòng đất. Sau trận đại hồng thủy, mạt linh sa độc hại lẫn trong bùn nước và không khí ẩm đã ngấm qua các kẽ hở của vỏ đồng, làm biến tính lớp bề mặt của lõi thạch, khiến chiếc kim chỉ nam bên trong quay cuồng hỗn loạn, liên tục phát ra những tiếng rè rè chói tai như tiếng dế kêu kẹt trong ống tre.
Bùi Hạ thắp ngọn đèn dầu hỏa mù mịt khói, cẩn thận kéo bấc đèn lên mức cao nhất để lấy chút ánh sáng vàng vọt le lói xua tan màn sương mù đặc quánh đang ùa vào gian điếm canh.
Cánh tay phải của nàng bị nẹp tre buộc chặt áp sát vào mạn sườn. Mỗi khi nàng cử động mạnh, vết thương kinh mạch bầm tím hình mạng nhện—hậu quả của vụ nổ bàn trận năm xưa ở môn phái và chấn động khi dùng hết sức cứu Vũ Liên mấy hôm trước—lại nhói lên từng cơn đau buốt tận tủy áo. Đỗ Nghi đã cảnh cáo nghiêm ngặt trước khi nàng xuống núi: tuyệt đối không được vận quá ba thành linh lưu qua kinh Phế, nếu không các kinh mạch bị tổn thương sẽ vỡ toang, biến nàng thành phế nhân hoàn toàn. Vì vậy, Bùi Hạ buộc phải dùng bàn tay trái không thuận để cầm chiếc giũa thép nhỏ xíu, cẩn thận nạy từng chiếc chốt định vị bằng đồng tí hon để tách lõi thạch dẫn từ tính ra ngoài.
Lâm An, con gái nhỏ mới mười tuổi của Lâm Tự, ngoan ngoãn ngồi thụp bên cạnh chân ghế, hai bàn tay nhỏ bé khẳng khiu chụm lại che gió cho ngọn đèn dầu khỏi bị những cơn gió bấc thổi tắt. Đôi mắt trong veo của cô bé chăm chú nhìn từng chuyển động tỉ mỉ của Bùi Hạ, không dám thở mạnh.
"Hạ cô cô, cái viên đá này màu xám xịt thế kia, có phải nó cũng bị ngấm bùn độc giống như mấy vũng nước đục dưới chân bến không?" Lâm An thì thầm hỏi, giọng nói non nớt lọt thỏm giữa tiếng búa nện ngoài dốc đá.
"Đúng vậy," Bùi Hạ khẽ đáp, giọng nàng khàn đi vì mệt mỏi và hơi lạnh ngấm vào cổ họng. "Mạt linh sa có tính kim cực nặng, lại mang theo uế khí của đáy sông. Khi nó bám vào bề mặt thạch dẫn, nó sẽ làm nghẽn các rãnh khắc phù văn định hướng li ti. Muốn kim chỉ đúng đường trở lại, cô phải mài thật sạch lớp oxit bẩn thỉu bên ngoài này, rồi dùng một tia linh lực hệ mộc thật mảnh, thật êm để gạn sạch cặn báng nằm sâu trong ruột đá mà không làm vỡ cấu trúc của nó."
Bùi Hạ dùng ba ngón tay trái kẹp chặt lấy lõi thạch đầu tiên, tỉ mỉ đưa lưỡi giũa thép mài nhẹ từng góc cạnh. Bụi đá màu xám tro rơi lả tả xuống mặt ván gỗ mục. Từng động tác của nàng vô cùng chậm rãi, chuẩn xác, kiên nhẫn như một người thợ kim hoàn lão luyện đang phục chế bảo vật gia truyền. Sau khi gọt sạch lớp vỏ xỉn màu bên ngoài, nàng khép hờ mắt lại, hít một hơi thật sâu để điều hòa nhịp tim đang đập dồn dập. Một luồng linh lực hệ mộc thanh khiết, mỏng manh như một sợi tơ nhện màu xanh lục nhạt rỉ ra từ đầu ngón tay trỏ bàn tay trái, nhẹ nhàng len lỏi vào các khe nứt li ti của viên đá.
Kim la bàn rung lên bần bật, phát ra tiếng *ong ong* trong trẻo và thanh thoát, rồi từ từ quay một vòng nửa cung tròn êm ái trước khi dừng lại vững vàng, mũi kim nhọn chỉ thẳng tắp về hướng chính bắc không hề dao động.
Chiếc thứ nhất hoàn thành.
Bùi Hạ thở hắt ra một hơi dài, đưa mu bàn tay áo thô lên lau những giọt mồ hôi lạnh lấm tấm trên trán. Chiếc thứ hai rồi chiếc thứ ba cũng lần lượt được nàng cẩn thận tháo dỡ, mài gọt và hiệu chỉnh xong xuôi theo đúng quy trình. Thời gian trôi qua mau, bóng mây mù đen kịt trên đỉnh Đoạn Phong ngày càng sà thấp xuống chân núi, báo hiệu một đợt gió mưa mới sắp sửa tràn qua đèo. Độ ẩm trong không khí tăng vọt lên một cách ngột ngạt, mang theo hơi nước buốt giá làm ngọn lửa đèn dầu chập chờn, khói đen bốc lên cay xè hai mắt.
Đến chiếc la bàn thứ tư—chiếc tinh xảo nhất, có khung bằng đồng mạ bạc chạm trổ hoa văn mây cuộn, vốn là khí cụ định hướng chuyên dụng cho xe thồ của tổng tiêu đầu—rắc rối chết người bắt đầu xuất hiện.
Khi Bùi Hạ dùng đầu nhíp sắt nạy chiếc chốt đồng cuối cùng ra, nàng nhận thấy lõi thạch dẫn từ tính của chiếc la bàn này không chỉ đơn thuần bị nhiễm mạt linh sa ở lớp vỏ ngoài, mà bên trong thân đá đã xuất hiện một vết nứt ngầm kéo dài dọc theo trục truyền dẫn. Vết nứt này hẳn là do va đập cực mạnh trong trận cuồng phong lũ lụt vừa qua. Viên đá bên trong đã lung lay chực vỡ vụn ra thành từng mảnh nhỏ.
"Hỏng mất một nửa cấu trúc bên trong rồi," Bùi Hạ lẩm bẩm trong miệng, hai hàng lông mày nhíu chặt lại thành một búi.
Nếu để nguyên trạng thế này, la bàn không thể nào hội tụ được từ trường của đất. Nhưng nếu muốn thay mới hoàn toàn, trong hòm đồ nghề dã chiến của nàng lúc này đào đâu ra một viên thạch dẫn từ tính có cùng phẩm cấp và kích cỡ?
Thời gian bên ngoài không còn nhiều. Tiếng Tống Mai sốt ruột giục giã bên mép dốc vọng vào trong điếm canh: "Mười lăm nhịp thở nữa là nhóm bạt đá dọn xong chướng ngại cuối cùng đấy! Trận cụ đã xong xuôi cả chưa?"
Bùi Hạ cắn chặt môi dưới, quyết định dùng phương pháp chắp vá dã chiến mạo hiểm: nàng rút từ đáy túi đồ nghề ra một mẩu đá thử nghiệm dự phòng—đó là một mảnh thạch anh vụn có tính dẫn linh nhẹ mà nàng thu lượm được từ đống phế tích hoang tàn của đạo quán—nhằm ghép tạm vào phần bị nứt khuyết của lõi la bàn, rồi dùng một ít bột keo cánh kiến trộn mạt đồng mịn để gắn kết hai khối đá lại với nhau.
Thế nhưng, nàng đã đánh giá thấp sự khắc nghiệt của thời tiết ẩm ướt và tình trạng kiệt quệ của chính thân thể mình.
Không khí ẩm ướt nặng nề khiến lớp keo cánh kiến khô chậm hơn rất nhiều so với dự tính. Cùng lúc đó, vết thương kinh mạch ở cổ tay phải của Bùi Hạ bất thần giật thót một cơn dữ dội, một luồng khí lạnh buốt như kim châm xộc thẳng từ cổ tay ngược lên bả vai rồi đánh thẳng vào ngực, khiến kinh mạch toàn thân nàng chấn động kịch liệt. Bàn tay trái đang duy trì dòng linh lực mỏng manh bỗng run rẩy mất kiểm soát trong một phần mười cái chớp mắt. Luồng linh lực hệ mộc đột ngột tăng vọt lên quá ngưỡng chịu đựng của mối ghép tạm bợ.
*Tách!*
Một tiếng nổ lách tách khô khốc vang lên giòn tan dưới ngọn đèn dầu leo lét.
Mảnh thạch anh ghép vội không chịu nổi luồng linh áp thất thường, lập tức nứt toác làm đôi. Năng lượng phản vệ bùng phát cục bộ bên trong khung đồng hẹp, tạo thành một tia lửa điện màu xanh lè lóe lên sáng rực, thiêu cháy rụi lõi dây đồng truyền dẫn mảnh mai bọc quanh trục kim la bàn. Một mùi khét lẹt đặc trưng của kim loại bị nung chảy và nhựa thông bốc lên ngùn ngụt, xộc thẳng vào mũi Lâm An khiến cô bé ho sặc sụa.
Lâm An giật nảy mình, vội vàng lùi lại một bước, giọng run rẩy: "Hạ cô cô! Có sao không cô?"
Bùi Hạ ngồi chết trân tại chỗ trên chiếc ghế đẩu gãy chân. Bàn tay trái của nàng vô lực buông rơi thanh giũa thép xuống mặt ván kêu một tiếng *cạch* nặng nề.
Trên mặt bàn, chiếc la bàn thứ tư nằm im lìm trong làn khói xám. Mặt kính pha lê phủ một lớp muội than đen mờ, lõi dây đồng truyền dẫn tinh xảo bên trong đã biến thành một búi xỉ đen kịt, cháy vụn và vón cục lại như một đống xỉ than. Toàn bộ vật tư thử nghiệm quý giá cuối cùng mà nàng mang theo trong túi đồ nghề đã hoàn toàn tiêu tan theo tia lửa điện đó. Nàng đã thất bại trong việc phục hồi chiếc la bàn quan trọng nhất của đoàn thồ.
Bên ngoài hiên, tiếng hò dô dứt khoát của nhóm thợ cũng vừa vặn ngừng bặt. Lâm Tự dẫn bốn người thợ chèo đò bước nhanh vào dưới mái hiên dột để tránh cơn mưa bụi đang dày hạt dần. Người nào người nấy thở dốc từng luồng khói trắng, mồ hôi chảy ròng ròng trên những bộ ngực trần bê bết bùn đất và vụn sa thạch, nhưng nét mặt ai nấy đều rạng rỡ, phấn khởi vì đã hoàn thành đoạn đường cua bằng phẳng, vững chãi đúng hạn định.
Tống Mai cũng sải bước dài đi tới, đưa tay phủi nhẹ những hạt mưa lấm tấm đọng trên vai áo dạ nâu. Nàng đưa mắt nhìn lướt qua gian điếm canh, nụ cười chuẩn bị cất lời khen ngợi bỗng khựng lại khi khứu giác nhạy bén của nàng bắt gặp mùi khét lẹt nồng nặc và ánh mắt dừng lại ở chiếc la bàn bị hun đen thui trên mặt ván.
Nụ cười trên môi nữ thương nhân vụt tắt ngấm trong tích tắc. Nàng bước nhanh tới trước bàn gỗ, cúi người xuống nhặt chiếc la bàn bị hỏng lên, ngón tay thon dài dùng móng cạo nhẹ lớp xỉ đồng cháy đen trên trục kim, rồi ngẩng đầu nhìn thẳng vào Bùi Hạ với ánh mắt lạnh tanh, sắc bén của một kẻ làm nghề buôn bán chuyên nghiệp đang đối diện với một vụ tổn thất tài sản:
"Lõi thạch nứt toác từ bên trong, cuộn cảm biến truyền dẫn cháy rụi thành than bùn," Tống Mai cất giọng đều đều, không hề cao giọng giận dữ nhưng từng lời nói thốt ra đều mang theo một sức nặng nghẹt thở như đá đè. "Chiếc la bàn dẫn đường của tổng tiêu đầu trị giá mười lăm lượng bạc vụn ngoài chợ huyện. Bùi cô nương, tay nghề thợ sửa trận pháp của Thanh Huyền Môn danh tiếng lẫy lừng khi ra khỏi sơn môn chỉ dừng lại ở mức này thôi sao?"
Lâm Tự lập tức bước xấn lên một bước, thân hình vạm vỡ như hộ pháp chắn nửa người trước mặt Bùi Hạ, chiếc vồ gỗ trong tay anh khẽ giằn mạnh xuống sàn đất nện, giọng trầm đục gằn từng tiếng:
"Đá của các ngươi vốn đã nứt ngầm từ trước lũ do va đập dưới sông, trời thì ẩm ướt gió lạnh thấu xương, ai mà lường trước được sự cố nứt vỡ bất ngờ trong lòng đá? Đường dốc quanh co chúng ta đã đắp đá, chèn gỗ xong xuôi, sáu con la của các ngươi có thể thong dong bước qua mà không trầy một sợi lông chân, ngươi không thể lấy cớ một chiếc la bàn cũ kỹ hỏng hóc từ trước ra mà làm khó dễ người làm công!"
Bùi Hạ khẽ vươn bàn tay trái ra, kéo nhẹ vạt áo thô của Lâm Tự lại, lắc đầu ra hiệu cho anh lùi xuống phía sau. Nàng hít sâu một hơi, nén cơn đau buốt đang râm ran nơi kinh mạch cánh tay phải, chậm rãi đứng dậy đối diện với Tống Mai. Lưng nàng vẫn giữ thẳng tắp như một cây trúc già giữa gió lạnh, dù sắc mặt có phần nhợt nhạt vì linh lực hao tổn:
"Lỗi kỹ thuật trong lần thao tác này hoàn toàn là do ta. Độ ẩm trong không khí quá cao khiến keo cánh kiến chưa kịp định hình liên kết, ta lại sơ suất để dao động linh lực vượt ngưỡng an toàn khiến cuộn dây đồng bị quá tải nhiệt lượng dẫn đến chập cháy. Ba chiếc la bàn kia ta đã hiệu chỉnh xong xuôi toàn bộ, độ lệch từ tính không quá nửa phân, bảo đảm dẫn đường an toàn cho đoàn xe vượt qua đèo. Riêng chiếc này... ta chịu trách nhiệm hoàn toàn về phần hỏng hóc vật tư."
Tống Mai nhìn Bùi Hạ thật sâu, ánh mắt nàng đảo qua bàn tay phải quấn nẹp tre của đối phương rồi dừng lại trên khuôn mặt kiên định không hề trốn tránh trách nhiệm ấy. Nàng đặt chiếc la bàn hỏng xuống, cầm ba chiếc la bàn đã hoàn thiện lên lòng bàn tay, khẽ lắc nhẹ cổ tay theo các hướng khác nhau rồi chăm chú quan sát. Ba chiếc kim chỉ nam bằng đồng mảnh mai quay một vòng rồi lập tức dừng phắt lại, mũi kim chỉ thẳng tắp về cực bắc với độ chuẩn xác tuyệt đối, không hề có một chút rung lắc hay chao đảo nào. Sự tinh xảo và chuẩn xác của ba chiếc la bàn đạt chuẩn khiến nét mặt của nữ thương nhân dịu đi đôi phần, nhưng nguyên tắc thép của một người làm ăn buôn bán nơi bến bãi không cho phép nàng nhượng bộ sự thua lỗ vật tư.
"Thương hội Tam Giang chúng ta trước nay thưởng phạt phân minh, một hào một cắc cũng không mập mờ," Tống Mai đặt chiếc la bàn xuống bàn, cất giọng dứt khoát rành mạch. "Đoạn đường dốc mở cua đạt chuẩn thợ mộc loại một, ba chiếc la bàn thông thường đạt chuẩn kỹ thuật rất cao. Theo đúng thỏa thuận ban đầu, ta giao đủ hai bao gạo trắng sáu mươi cân và một sọt muối hạt sấy khô nguyên vẹn, không thiếu hụt một lạng nào."
Nàng quay người lại, ngón tay trỏ chỉ thẳng về phía sọt hàng buộc chặt trên lưng con la thứ ba trong đoàn:
"Nhưng do lỗi thao tác cơ học làm cháy lõi khí cụ định vị của tổng tiêu đầu, ta dứt khoát trừ bớt nửa bao bột mì bồi dưỡng cho thợ đục đá. Số bột mì đó coi như bù trừ sòng phẳng vào tiền mua dây đồng truyền dẫn và thạch dẫn mới ở chợ phiên huyện An Lưu. Ý các ngươi thế nào?"
Phạm Sương từ ngoài sân bước nhanh vào dưới hiên, đôi guốc gỗ gõ cộc cộc trên nền đá. Ánh mắt nàng lướt nhanh qua chiếc la bàn cháy đen thui trên mặt ván gỗ rồi dừng lại trên khuôn mặt Bùi Hạ. Nhận thấy cái gật đầu kín đáo nhưng dứt khoát của Bùi Hạ, Phạm Sương siết chặt chiếc bàn tính mun trong tay, hít một hơi thật sâu để nén tiếng thở dài tiếc nuối rồi lên tiếng:
"Được! Giao dịch sòng phẳng, trừ bột mì bồi dưỡng, giữ nguyên hai bao gạo và sọt muối hạt. Bàn giao hàng hóa ngay tại đây!"
Hai bên lập tức tiến hành kiểm tra và giao nhận hàng hóa ngay dưới mái hiên dột. Bốn người thợ chèo đò lực lưỡng bước tới dỡ hai bao tải gạo dày cộp bọc ngoài bằng bao tải gai cẩn thận từ lưng la xuống đất. Lâm Tự đích thân rút từ thắt lưng ra một chiếc que thăm gạo bằng đồng rỗng ruột, chọc sâu một nhát dứt khoát vào tận giữa tâm bao tải, rồi rút ra kiểm tra trước mắt mọi người: từng hạt gạo bên trong trắng ngần, tròn mẩy, khô ráo hoàn toàn, tỏa ra mùi thơm ngai ngái quen thuộc của cám mới, tuyệt nhiên không có chút hơi ẩm hay mốc meo nào của nước sông. Sọt muối hạt trắng tinh, khô ráo, hạt muối to và sắc cạnh như những viên pha lê nhỏ cũng được chuyển cẩn thận sang tay Phạm Sương.
Đứng nép mình sau khung cửa gỗ mục nát của gian điếm canh, Vũ Liên nãy giờ vẫn im lặng dõi theo toàn bộ quá trình giao dịch từ đầu đến cuối. Thiếu nữ mười bảy tuổi với thân hình mảnh khảnh nép mình trong manh áo vá, đôi mắt to tròn nhìn chằm chằm vào bao bột mì đang bị người của thương hội buộc chặt lại trên lưng con la thồ, ánh mắt nàng ánh lên vẻ thèm thuồng đói khát bản năng của một đứa trẻ đã nhiều ngày liền chỉ được húp cháo loãng cầm hơi, nhưng ngay sau đó, ánh mắt ấy nhanh chóng chuyển thành sự tự trách và cắn rứt lương tâm sâu sắc. Nếu như kinh mạch của nàng không yếu kém bẩm sinh, nếu như nàng có thể học được chút ít thuật sửa trận pháp để đỡ đần gánh nặng trên vai Bùi Hạ, thì có lẽ chiếc la bàn kia đã không bị cháy, và ba mươi hai con người đang nương náu trên đỉnh Đoạn Phong đã có thêm những bữa bánh bột mì ấm bụng để vượt qua những ngày đông giá rét sắp tới. Nàng vô thức nắm chặt hai bàn tay gầy guộc vào nhau đến mức móng tay găm sâu vào lòng bàn tay bật máu mà không hề hay biết.
Dưới sự chỉ huy dứt khoát của Tống Mai, đoàn la thồ bắt đầu chuyển bánh. Từng con la cẩn thận nhấc từng bước chân qua đoạn cua dốc hiểm trở vừa được Lâm Tự và nhóm thợ chèn đá, mở rộng mặt đường. Nền đá hộc chắc chắn, gờ taluy âm được ken chặt bằng những thanh gỗ táu vững chãi giúp đoàn hàng vượt qua khúc hiểm trở một cách êm thấm, không hề có một hạt sỏi nhỏ nào rơi xuống vực sâu thăm thẳm bên dưới.
Khi con la cuối cùng trong đoàn đã bước qua khỏi khúc cua an toàn, Tống Mai dừng bước trên một gờ đá cao nhô ra bên mép vực. Nàng kéo nhẹ dây cương, đưa tay chỉnh lại chiếc nón dạ sẫm màu trên đầu để chắn những hạt mưa bụi đang bay nghiêng theo gió, rồi quay đầu lại nhìn Bùi Hạ và nhóm người của Đạo quán Vọng Đăng vẫn đang đứng lặng lẽ dưới mái hiên dột nát.
Ánh mắt của nữ thương nhân lướt qua tờ biên nhận bảo hộ tạm thời màu vàng nhạt dán lấp ló nơi vách đá đạo quán xa xa trên đỉnh núi, rồi dừng lại thật lâu trên khuôn mặt kiên nghị, không chút nao núng của Bùi Hạ. Tống Mai khẽ nhếch mép, buông ra một lời cảnh báo lạnh lùng nhưng đầy ngụ ý sâu xa:
"Nhắc cho các ngươi biết một chuyện trước khi ta rời đi: Chú của ta, Tống Khải chủ sự, đang âm thầm cho người đi gom sạch tất cả các văn tự nợ của các chủ quán cơm, bến đò và thợ thuyền quanh vùng Bến Bạch Sa này đấy. Mục tiêu thực sự của ông ấy không phải là mấy đồng tiền lãi còm cõi đâu, mà là chuẩn bị siết quyền khai thác lớn trên toàn bộ triền núi Đoạn Phong này sau khi nước lũ rút hoàn toàn."
Nàng siết chặt dây da trong tay, thúc nhẹ gót ủng vào bụng con la đầu đàn. Tiếng lục lạc đồng lại vang lên lanh lảnh, rộn rã giữa màn sương mù dày đặc đang dâng ngập chân núi. Trước khi bóng dáng đoàn la khuất hẳn sau những rặng thông già mờ ảo trên sườn dốc, Tống Mai kéo dây cương la thồ, quay lại nhìn Bùi Hạ:
"Lần sau giá vận chuyển sẽ tăng gấp rưỡi nếu đường dốc này lại bị lở sau cơn mưa tới."