Tiểu Thôn Nương Làm GiàuCh.39 / 45
Chapter 39

Nông hộ liên kết Thanh Khê chính thức thành hình

Tiếng cười nói râm ran phá tan không khí tĩnh mịch của xóm đông khi hơn mười chủ hộ nông dân Thanh Khê lục tục kéo vào khoảng sân đất nện nhà họ Diệp.

Gió sớm thổi từ mé sông vào mang theo hơi ẩm nằng nặng của bãi bồi phù sa, làm lay động những vòm lá ngô đang độ trổ cờ le te ngoài bờ rào dâm bụt. Nắng mai vừa rọi qua rặng tre ngà rậm rạp đầu ngõ, tỏa từng luồng ánh sáng óng ả, dát một lớp vàng mỏng như mật lên mặt sân đất đã được quét tước phẳng phiu, sạch bong không một cọng rác vụn hay chiếc lá khô sót lại. Dưới giàn phơi nâng cao hai thước dựng bằng tre nứa đực chắc nịch vót nhẵn gai, từng chiếc sào ngang bóng loáng màu ngà voi nằm gối đầu lên nhau vững chãi. Mùi thơm ngai ngái, the the của thân tre mới đẵn chưa tan hết hẳn, hòa quyện tự nhiên với làn hương nồng ấm của rơm rạ mục lót chuồng, mùi tro bếp ấm sực còn vương trong không khí và hương men đậu nành ủ chín thoang thoảng bốc lên từ hàng chum sành da lươn khóa khí xếp thẳng tắp mé chái nhà tây. Những chiếc chum sành ấy phơi mình dưới bóng nắng sớm, nắp đậy kín mít trát kín bằng một lớp đất sét non trộn trấu bổi, tựa như những người lính thầm lặng canh giữ hương vị đậm đà của cả cơ nghiệp họ Diệp.

Bà con chòm xóm hôm nay đến đông đủ chẳng thiếu một ai trong danh sách nhắm chọn. Đi đầu là bác Ba Đinh xóm Giếng, người đàn ông luống tuổi quanh năm còng lưng bám chặt lấy nửa mẫu ruộng trũng sâu hoắm, gót chân nứt toác từng rãnh sâu đóng phèn xám ngoét. Nối gót theo sau là chú Năm sứt ở mé bãi bồi, người gầy đét như nhánh củi khô nhưng đôi mắt một mí lúc nào cũng lấm lét nhìn quanh, hàm răng trên khuyết mất chiếc răng cửa do một lần vấp đá khi gánh rau lúc nửa đêm. Mé sau lại có thím Trương góa bụa xóm Đầm, người đàn bà khắc khổ một nách nuôi bốn miệng ăn chỉ trông cậy vào mấy luống cải sen còi cọc ven mé nước, vạt áo chắp vá bốn năm miếng vải khác màu nhưng mép khăn trùm đầu vẫn quấn ghì chặt ghẽ. Thậm chí, cả những lão nông vốn tính tình khắt khe, cả một đời chỉ quen cắm mặt vào luống cày cũ kỹ, không bao giờ tin vào những điều mới mẻ như ông giáo Tề xóm Ngoài cũng chống chiếc gậy tầm vông lẹp bẹp đôi guốc gỗ bước vào sân.

Hơn mười người đàn ông, đàn bà vận những bộ áo nâu sồng bạc phếch vì dãi dầu mưa nắng, gấu quần xắn cao tới bắp chân để lộ làn da rám nắng mốc cặn bùn, bàn tay thô ráp nứt nẻ với những móng tay đóng phèn đen sì vì cả đời cày sâu cuốc bẫm. Nét mặt ai nấy đều nửa phần háo hức mong chờ, nửa phần lại bồn chồn thấp thỏm không yên. Họ đưa mắt nhìn quanh giàn phơi thẳng tắp, nhìn những hàng chum da lươn bóng bẩy rồi lại liếc nhìn nhau, trong bụng vừa thèm thuồng cảnh ăn nên làm ra của nhà họ Diệp, lại vừa lo ngay ngáy không biết hôm nay cô gái trẻ nhà này mời họ đến để ban phát cơ hội hay lại toan tính điều gì sâu xa.

Thấy khách khứa vào sân mỗi lúc một đông, Diệp Tam Nha nhanh nhảu ôm chiếc rổ tre lớn đựng đầy những chiếc bát sành mép mộc mạc màu da chuối, thoăn thoắt xếp ngay ngắn từng chiếc một lên mặt bàn gỗ dài. Theo sát gót chị, Diệp Tiểu Đậu tíu tít như một chú chim sẻ non, hai bàn tay nhỏ xíu bưng chiếc ấm sành da cóc to tướng bốc khói nghi ngút. Bên trong lòng ấm ủ thứ nước chè xanh hái non ngoài bờ rào đá, được hãm bằng nước giếng khơi đun sôi sùng sục cùng vài lát gừng già nướng cháy cạnh, tỏa ra làn khói mỏng thơm lừng ấm áp. Cậu bé cẩn thận nghiêng vòi ấm, rót đầy từng chiếc bát sành còn bốc hơi nghi ngút, miệng không ngừng líu lo chào hỏi:

“Cháu mời bác Ba uống nước ạ! Cháu mời chú Năm, mời thím Trương! Nước chè mẹ cháu hái sớm nay còn đượm sương, ngọt giọng lắm các bác ạ!”

Tiểu Mãn bước ra từ hiên nhà ba gian lợp mái rạ dày dặn. Trên người nàng mặc bộ y phục bằng vải thô dệt sợi mộc nhuộm màu xanh chàm bình dị, vạt áo cài nút ngay ngắn, tà áo buông thẳng nếp không một vết nhăn nhúm. Mái tóc đen nhánh dày dặn được chải mượt mà, vấn gọn gàng sau gáy bằng một chiếc trâm tre cật nhẵn bóng giản dị. Đôi mắt nàng trong veo phẳng lặng như nước đáy giếng, ánh nhìn điềm đạm, trầm tĩnh mà quả quyết lạ thường. Dáng người mảnh khảnh nhưng đôi vai thẳng tắp, từng bước đi khoan thai vững chãi toát lên vẻ chững chạc, uy nghiêm vượt xa lứa tuổi mười bảy của một cô thôn nữ bãi bồi.

Nàng tươi cười nghiêng mình thi lễ, đưa hai tay niềm nở mời các bậc cao niên và bà con chòm xóm:

“Cháu mời bác Ba, chú Năm, các thím cùng bà con xóm giềng ngồi xuống uống bát nước chè ấm cho giãn gân cốt sau buổi sớm ra đồng. Hôm nay xưởng dưa tương nhà họ Diệp chúng cháu mời các chủ hộ tề tựu về đây, chiếc bàn mộc này không đủ ghế dài thì trải tạm manh chiếu cói mới dệt, mong bà con chớ chê căn nhà đất chật chội mà cứ tự nhiên ngồi xuống cùng trò chuyện như người ruột thịt trong nhà.”

Chiếc bàn gỗ mộc dài bốn thước—vốn do chính tay Diệp Thành chọn từng thớ gỗ xoan đào khô kiệt, tỉ mỉ đẽo gọt rồi bào phẳng lì không để lại một dằm gai—được kê ngay ngắn dưới bóng râm mát rượi của cây thị cổ thụ tỏa cành sum sê giữa góc sân. Mọi người kéo ghế đẩu tre lách cách, người thì ngồi bệt xuống mép chiếu cói trải phẳng, ai nấy đều bưng bát nước chè nóng hổi bằng cả hai tay, hớp từng ngụm nhỏ để làn hơi cay nồng của gừng nướng xua đi cái se lạnh của buổi sớm mai. Nhưng ánh mắt của hơn chục con người dạn dày sương gió ấy vẫn không ngừng ngước nhìn về phía cô gái trẻ đang đứng ở đầu bàn, người nắm giữ toàn bộ sinh kế đang lên như diều gặp gió của họ Diệp.

Chờ cho bà con đã an tọa ngay ngắn, tiếng chuyện trò xì xào trong sân dần lắng xuống chỉ còn tiếng chim sẻ chuyền cành ríu rít trên giàn tre, Tiểu Mãn mới nhẹ nhàng đặt chiếc khay tre đựng ấm chén dự phòng xuống góc bàn. Nàng đứng thẳng người, giọng nói cất lên trong trẻo, đĩnh đạc và rành rọt vang xa:

“Thưa các bác, các cô chú cùng bà con lối xóm. Hôm nay cháu mời đại diện của mười mấy gia đình có ruộng vườn chạy dọc bãi bồi ven sông và xóm bờ mương tới đây, chẳng giấu gì bà con, là để chúng ta cùng ngồi lại bàn bạc một kế sinh nhai lâu dài, bền vững cho cả xóm đông. Mấy ngày vừa qua, huyện thành Vân Thủy và cả trấn Liễu Kiều bên kia sông đều phải oằn mình chịu cảnh khô hạn khốc liệt, nguồn nước ngầm cạn kiệt, rau củ trên các bãi bồi khắp vùng đều cháy xém, vàng úa, đẩy giá rau củ ngoài chợ phiên lên cao ngất ngưởng. Nhờ chữ tín dựng xây từ trước và chất lượng chuẩn mực của từng chum tương hoa cau thơm nức cùng những vò dưa cải sen nén chặt giao đúng kỳ rằm tháng hai vừa rồi, Tửu lầu Vọng Giang—thương quán lớn nhất nhì chốn huyện lỵ—cùng các tiệm ăn lớn ngoài trấn đã chính thức ngỏ ý muốn tăng lượng thu mua nông sản của nhà họ Diệp chúng cháu lên gấp năm, thậm chí gấp mười lần trong những vụ tới.”

Lời Tiểu Mãn vừa buông ra, một làn sóng xôn xao lập tức dấy lên khắp khoảng sân đất nện. Những chiếc bát sành trên tay các chủ hộ khẽ chao đảo, nước chè sánh ra mép bát. Bác Ba Đinh run run đặt chiếc bát xuống mặt gỗ, bàn tay khẳng khiu vuốt chòm râu lưa thưa bạc trắng, ánh mắt đục ngầu lộ rõ vẻ kinh ngạc tột cùng:

“Gấp mười lần sao? Trời đất quỷ thần ơi! Mỗi tháng trước đây cả cái làng này gom góp được dăm ba trăm cân dưa rau mang ra chợ phiên đã là một chuyện lớn bằng trời, nay tửu lầu huyện thành đòi gấp mười lần thì lấy đâu ra đất đai, lấy đâu ra người làm cho xuể hả Tiểu Mãn? Nhà cháu tính mở rộng xưởng thành cái dinh cơ lớn như phú hộ ngoài trấn hay sao?”

“Bác Ba nói trúng ngay tim đen của cháu rồi đấy ạ,” Tiểu Mãn mỉm cười gật đầu, ánh mắt chân thành và ấm áp quét qua từng gương mặt sạm đen vì dãi dầu mưa nắng của bà con. “Ruộng Cồn Gió của nhà cháu dù mấy tháng qua cả nhà đã dốc lòng phục hồi mương máng, cải tạo từng tấc đất pha cát, nhưng vỏn vẹn gom góp lại cũng chỉ có hai mẫu đất thịt pha. Cho dù cả nhà cháu có thức khuya dậy sớm từ canh ba, dốc cạn toàn bộ sức lực của mấy miệng ăn trong nhà thì sản lượng thu hoạch được cũng chỉ cung cấp được phần ngọn của cái đơn hàng khổng lồ ấy mà thôi. Nhưng các bác, các chú thử nghĩ mà xem, thương nhân buôn bán lớn ngoài huyện thành họ cần cái gì? Họ cần lượng hàng lớn, nguồn cung cấp phải đều đặn như nước chảy sau mưa rào từng tuần, từng con trăng một, lại đòi hỏi chất lượng trăm mớ cải như một, mười vò dưa nén giòn rụm không được ủng một cọng. Nếu như Thanh Khê chúng ta cứ giữ mãi cái thói ai làm nấy ăn, đèn nhà ai nhà nấy rạng, nhà này trồng cải bón tro sạch sẽ, nhà kia lại tiện tay múc gáo phân tươi tưới vội cho kịp lớn, nhà nọ lười nhác để sâu bọ đục khoét xơ xác rồi túm tụm mang ra chợ phiên bán tháo từng gánh nhỏ, thì muôn đời người trồng rau trong làng mình vẫn bị cánh thương lái bến sông ép giá xuống tận đáy bùn!”

Nàng hơi ngừng lại một nhịp, hít một hơi sâu, giọng nói bỗng trở nên đanh thép, vang dội và dứt khoát hơn:

“Vì vậy, hôm nay cháu muốn quy tụ toàn bộ các gia đình ngồi đây lại, cùng nhau thành lập một 'Mạng lưới Nông hộ liên kết Thanh Khê'. Chúng ta sẽ cùng nhau gieo trồng một loại giống cải sen bẹ dày do xưởng tuyển lựa, cùng tuân theo một kỹ thuật canh tác sạch sẽ không ô tạp, giữ nước giữ ẩm theo nếp mà nhà họ Diệp đã thử nghiệm thành công rực rỡ suốt mùa khô hạn vừa qua. Đơn hàng lớn của các tửu lầu trên huyện sẽ không phải của riêng họ Diệp, mà sẽ là của chung toàn thể bà con xóm bãi bồi! Chúng ta gom sức người, gom từng sào ruộng lại thành một bó đũa vững vàng, quyết không để cho bất kỳ kẻ buôn trung gian nào có thể bẻ gãy hay bắt chẹt, dìm giá mồ hôi nước mắt của người làng mình thêm một lần nào nữa!”

Tiếng nói của Tiểu Mãn dứt hẳn, để lại một khoảng im lặng đến nghẹt thở giữa sân nhà. Mấy chủ hộ nhìn nhau trân trối, trong đáy mắt họ bắt đầu lóe lên những tia hy vọng rực rỡ, nhưng xen lẫn vào đó là muôn vàn nỗi dè dặt, hồ nghi đã ăn sâu vào nếp nghĩ qua nhiều thế hệ. Bao đời nay, người nông dân Thanh Khê chỉ biết bấu víu vào dăm ba sào ruộng cằn, đến vụ mùa thì lo ngay ngáy chuyện thương lái dìm giá, lúc thất bát thì cắn răng chịu cảnh đói trơ xương, thậm chí phải gán ruộng gán con cho địa chủ. Nay bỗng nhiên nghe một cô thôn nữ mới mười bảy tuổi đầu đứng ra vạch lối làm ăn lớn, quy tụ cả làng thành một khối, ai nấy đều thấy mới mẻ như chuyện trong mơ mà chẳng dám mở lời tin ngay.

Không khí trong sân bỗng chốc chùng hẳn xuống, chỉ còn tiếng gió lùa qua rặng tre xào xạc. Đúng lúc sự hoài nghi đang bắt đầu nhen nhóm thành những cái lắc đầu ngấm ngầm thì từ chiếc ghế tre ở đầu bàn bên phải, một bóng người đột ngột đứng bật dậy.

“Cạch!”

Tiếng chiếc bát sành dằn mạnh xuống mặt bàn gỗ xoan đào khô khốc vang lên chói tai. Mọi ánh mắt giật mình quay ngoắt lại, đổ dồn vào Ngô Quế Hoa—người đàn bà buôn rau nổi tiếng đanh đá, sắc sảo nhất vùng bãi bồi, người từng là đối thủ cạnh tranh gay gắt, từng tìm đủ mọi cách chèn ép sạp hàng của Tiểu Mãn ở chợ phiên cầu đá dạo nào.

Bà Quế Hoa xắn cao hai ống tay áo vải nâu cũ kỹ để lộ đôi cánh tay rám nắng săn chắc, ngực phập phồng vì xúc động. Đôi mắt sắc lẹm thường ngày của bà nay đỏ hoe, nhìn thẳng vào từng khuôn mặt của đám đông hàng xóm, giọng nói the thé oang oang cất lên, vang rền khắp góc sân:

“Này các ông, các bà! Tôi lạ gì cái bụng dạ của các người nữa! Nhìn cái mặt ngơ ngác, lấm lét của các người là tôi biết tỏng trong đầu đang toan tính, sợ sệt cái gì rồi! Các người đang sợ con bé Tiểu Mãn nó ít tuổi, sợ nghe theo lời nó rồi công cốc đổ xuống sông xuống biển, lại sợ rước vạ vào thân rồi mất trắng cả vốn liếng chứ gì? Để cái mồm Ngô Quế Hoa này nói cho các người nghe một câu công bằng, xem tôi nói có nửa lời gian dối hay không!”

Cả sân nín bặt. Xưa nay ai trong làng Thanh Khê cũng biết bà Quế Hoa là tay buôn đáo để, từng theo gót Chu Kim Quế đồn thổi bậy bạ, đặt điều bôi nhọ xưởng dưa của Tiểu Mãn ra sao. Vậy mà giờ đây, chính người đàn bà ấy lại đứng ra trước bàn dân thiên hạ để bênh vực cho họ Diệp.

Ngô Quế Hoa đập mạnh bàn tay thô ráp xuống đùi mình nghe đôm đốp, giọng run lên nhưng từng lời thốt ra đều rành rọt như đinh đóng vào cột:

“Cả cái làng Thanh Khê này từ đầu trên xóm dưới, có ai mà không biết vụ đông vừa rồi bãi cải ngoài cồn của nhà tôi bị một trận sương muối độc địa tàn phá cho trơ cả cuống thối? Tiền nợ thóc giống, tiền mua chịu phân vôi của đại lý ngoài trấn Liễu Kiều ngập đầu ngập cổ, ngày nào chủ nợ cũng sai người đến đập cửa đòi tiền. Lúc ấy, tôi túng quẫn tới mức đêm không chợp mắt, nuốt nước mắt định bụng sáng hôm sau bán non đôi lợn còi cọc trong chuồng để trừ nợ! Rồi đùng một cái đợt hạn hán thế kỷ ập xuống, lòng Khe Thanh cạn trơ đá cuội trắng hếu, nếu cứ theo cái thói quen cũ kỹ mù quáng của các người, cứ múc nước bùn cặn đổ ào ào lên lá rồi tưới phân tươi bừa bãi như mọi năm, thì tôi cam đoan với các người, mấy luống rau của nhà tôi đã thối rữa, cháy đen thành tro bụi từ nửa tháng trước rồi!”

Bà Quế Hoa vươn cánh tay khẳng khiu, chỉ thẳng tắp về phía dải đất xanh ngắt ngoài bãi bồi xa xa:

“Thế nhưng con bé Tiểu Mãn nó làm gì? Nó chẳng thèm để bụng những lời xỏ xiên, những trò cạnh tranh bẩn thỉu ngày trước của tôi! Nó đích thân xắn quần lội sang tận bờ ruộng nhà tôi, chỉ tận tay day tận trán cho tôi cách cuốc đất đào rãnh sâu theo hình mai rùa để rút nước tù và giữ rễ. Nó bày cho tôi cách quét sạch tro bếp mịn của củi gộc, đem trộn đều với rơm rạ mục và trấu nếp rồi ủ hoai ròng rã hai mươi ngày ròng để bón lót sâu dưới lòng đất. Nó dạy tôi kỹ thuật phủ rơm rạ dày hai đốt ngón tay lên từng gốc cải để giữ lại từng giọt sương đêm quý như ngọc, dạy tôi tỉa bớt từng bẹ cải già đem muối chua làm dưa ghém ăn tạm nhằm dồn sức cứu lấy chùm rễ non nớt dưới lòng đất. Các người mở to mắt ra mà nhìn tận nơi xem, cả cái bãi bồi quanh đầm cạn khô nẻ toác toạc như mai rùa, chỉ có luống rau nhà họ Diệp và bãi cải nhà Ngô Quế Hoa này là xanh mướt mọng nước, nõn nà từng bẹ lá!”

Bà dừng lại thở dốc một hơi, nuốt ngụm nước bọt rồi giơ hai ngón tay chai sạn, nứt nẻ lên trước mặt từng người một:

“Chưa hết đâu nhé! Đến ngày thu hoạch, tay thương lái Phùng Kế Sinh ngoài bến đò Liễu Kiều giở quẻ, phao tin giả là rau dưới xuôi đổ về ế ẩm nhằm ép mua rẻ mạt một đồng một cân tươi. Dân làng quanh vùng ai nấy hoảng loạn, chen chúc nhau toan bán tống bán tháo để mong gỡ gạc lại chút tiền giống. Nhưng con bé Tiểu Mãn nó giữ trọn lời hứa đã giao kết! Nó chẳng những đem sổ sách bóc trần mưu gian của đám lái buôn thất đức, mà còn đích thân mang cân chữ vạn ra tận mé bờ ruộng nhà tôi, cân từng bó cải non mơn mởn với giá sàn hai đồng tiền kẽm một cân tươi, đếm tiền mặt trao tận tay tôi sòng phẳng từng hào không thiếu một cắc! Nhờ bán cải sạch cho xưởng Diệp gia theo cái giá sàn bảo đảm ấy, vụ này nhà tôi không những trả sạch nợ nần tiền phân tro thuốc men, mà trong cót thóc bây giờ còn có gạo nếp thơm để ăn no, tôi còn sắm được cho thằng cu đôi guốc mộc và manh áo mới diện đi chợ phiên!”

Ngô Quế Hoa chống nạnh, mắt long lên nhìn quanh một vòng, giọng nói nghẹn ngào pha lẫn niềm phẫn nộ trước thói chần chừ của xóm giềng:

“Một người dám đứng ra bảo lãnh giá mua cho nông dân, có kỹ thuật trồng trọt gia truyền của bà ngoại giỏi giang truyền lại, lại sống có nghĩa có tình, coi chữ tín nặng hơn vàng mười như con bé Tiểu Mãn, nếu hôm nay các người còn nghi ngờ, còn chần chừ không chịu nắm lấy tay nó để cùng kiếm chén cơm manh áo, thì muôn đời cái làng này chỉ có nước còng lưng ngửa tay đi vay nợ địa chủ chịu lãi mẹ đẻ lãi con mà chết đói thôi!”

Những lời ruột gan, bộc trực, thô ráp mà chứa chan ân tình và đanh thép của Ngô Quế Hoa như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào sự u mê, đánh tan lớp nghi ngại dày đặc bấy lâu trong tâm can của những người có mặt. Không phải là những lời văn hoa sáo rỗng trên giấy tờ, mà chính câu chuyện sống động, chân thật về sự đổi đời thoát khỏi cảnh bần cùng nợ nần của một người buôn rau kỳ cựu đã lay động tận đáy lòng từng chủ hộ.

Bác Ba Đinh xóm Giếng thở ra một hơi dài nhẹ nhõm, chòm râu rung rinh, liên tục gật đầu tán thưởng:

“Bác Quế Hoa nói chí phải... đúng là chí lý lắm! Cái đợt sương muối rồi đến hạn hán vừa qua, chúng tôi đi ngang qua bãi bồi nhà bác ấy, nhìn luống cải xanh mơn mởn như có phép tiên mà ai nấy đều thèm rỏ dãi, cứ ngỡ nhà bác ấy gặp may vớ được mạch nước ngầm. Hóa ra bí quyết làm ăn không nằm ở đất tốt hay xấu, mà nằm ở cái cách ủ tro mục, làm rãnh mai rùa và giữ nước của nhà cháu Tiểu Mãn!”

Tiểu Mãn đón lấy ánh mắt đồng thuận, sáng rực niềm tin của bà con, trong lồng ngực nàng dâng lên một luồng nhiệt ấm áp khôn tả. Nàng khẽ nghiêng đầu nhìn Ngô Quế Hoa bằng ánh mắt chứa chan lòng biết ơn sâu sắc, rồi quay sang gật đầu nhẹ với Tạ Cảnh—chàng thư sinh từ nãy đến giờ vẫn đứng điềm tĩnh bên cạnh chiếc hòm gỗ nhỏ sau lưng nàng.

Tạ Cảnh mỉm cười, đôi mắt sáng ngời ánh lên niềm khích lệ và thấu hiểu, khẽ gật đầu đáp lại nàng.

Tiểu Mãn bước lên phía trước một bước, vỗ nhẹ hai bàn tay vào nhau hai tiếng giòn giã để không gian lắng lại hoàn toàn. Khi tất cả mọi người đều dán mắt chờ đợi, nàng cất giọng dõng dạc, từng điều từng khoản rành mạch, răn đe mà đầy sức thuyết phục:

“Thưa bà con, để sự liên kết giữa xưởng nhà họ Diệp và các gia đình được bền chặt, công bằng, tuyệt đối không ai phải chịu thiệt thòi và cũng không ai được phép làm ẩu làm bừa, hôm nay trước mặt đông đủ các bậc cao niên và bà con chòm xóm, cháu xin trịnh trọng công bố bản 'Quy chế Liên kết Nông hộ Thanh Khê' gồm ba điều cam kết lớn:

Điều thứ nhất: Về hạt giống và phân tro cải tạo đất. Toàn bộ hạt giống cải sen bẹ dày mẩy hạt, cùng giống đậu tương hạt tròn căng mọng vỏ ngà đã qua tuyển chọn kỹ lưỡng sẽ do xưởng nhà họ Diệp hỗ trợ ứng trước toàn bộ cho bà con đem về gieo trồng. Đồng thời, nhà họ Diệp sẽ cung cấp toàn bộ công thức và nguồn phân tro bếp mịn trộn trấu ủ hoai mục đủ hai mươi ngày, cử người ra tận ruộng hướng dẫn tận tay từng người cách đào rãnh mai rùa, phủ rơm giữ ẩm, không để bất kỳ hộ nào phải mò mẫm trong tăm tối. Toàn bộ tiền hạt giống ứng trước này sẽ chỉ khấu trừ dần vào sản lượng nông sản khi thu hoạch giao nộp cho xưởng, xưởng tuyệt đối không tính lấy một đồng tiền lãi!”

Tiếng trầm trồ tán thưởng lập tức vang lên rộn rã khắp khoảng sân. Chú Năm sứt cùng thím Trương đưa mắt nhìn nhau, hai bàn tay run rẩy vì mừng rỡ. Ứng trước hạt giống tốt không lấy một đồng tiền lãi, lại cấp sẵn cả tro mục và kỹ thuật cầm tay chỉ việc, đây là điều mà từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa từng có một phú hộ hay địa chủ giàu sang nào ở cái xứ Thanh Khê này chịu làm cho những người nông dân nghèo rớt mồng tơi như họ.

“Điều thứ hai: Về giá sàn bao tiêu cố định,” Tiểu Mãn nâng cao giọng, nhấn mạnh từng âm tiết rõ ràng, rành mạch. “Nhà họ Diệp chúng cháu xin cam kết bằng danh dự và uy tín của cả dòng họ: Toàn bộ nông sản đạt quy chuẩn canh tác sạch do bà con làm ra sẽ được xưởng chúng cháu thu mua trọn gói một trăm phần trăm, không bỏ sót một mớ nào! Giá sàn được ấn định cố định ngay từ đầu vụ: Cải sen loại một hái vào lúc rạng sáng, bẹ dày mọng nước không dập nát là hai đồng rưỡi một cân tươi; loại hai là một đồng rưỡi một cân tươi. Bất kể thị trường ngoài trấn hay trên huyện sau này có biến động ra sao, cho dù thương lái phương xa có xả hàng tràn ngập bến sông dìm giá xuống một đồng hay nửa đồng một cân, thì xưởng nhà họ Diệp vẫn giữ vững giá sàn hai đồng rưỡi để cân trọn cho bà con, tuyệt đối không bớt một phân tiền nào!”

“Hay lắm! Chí lý lắm! Có cái giá sàn ấy bảo đảm thì đám nông dân chúng tôi yên tâm đổ mồ hôi nước mắt xuống luống cày rồi!” Chú Năm sứt không nén nổi vui sướng, đập mạnh bàn tay xuống đầu gối reo to thành tiếng. “Chúng tôi chỉ sợ nhất là còng lưng nhổ cỏ bắt sâu, đến ngày hái gánh ra chợ thì thương lái xúm lại bĩu môi ép bán rẻ như cho, không bán thì rau ủng thối rữa phải đem về đổ cho lợn ăn!”

“Thế nhưng, đi liền với quyền lợi to lớn ấy,” ánh mắt Tiểu Mãn bỗng chốc trở nên nghiêm nghị, sắc sảo, từng lời nói đanh thép không khoan nhượng khiến cả khoảng sân lại lặng phắc, “là Điều thứ ba: Kỷ luật canh tác và nghiệm thu sản phẩm khắt khe. Đây là điều sống còn của xưởng dưa tương họ Diệp, và cũng là danh dự, là thể diện của cả làng Thanh Khê chúng ta trước mặt các đại thương quán huyện thành. Quy định cấm tuyệt đối: Thứ nhất, không được tưới bất kỳ một gáo phân tươi bẩn thỉu nào vào luống rau, bởi vì phân tươi làm cháy rễ tơ non nớt, sinh bọt thối và khiến rau dưa khi muối nén trong vò sành sẽ bị nhớt ủng, nhiễm độc, làm hỏng cả mẻ tương; thứ hai, tuyệt đối không lấy nước rãnh bùn ô uế tưới tắm cho cây; thứ ba, nghiêm cấm mọi hành vi gian lận ngụy trang, như độn cọng dập, rau già úa, lá sâu đục khoét vào đáy sọt hòng qua mắt người cân. Hộ nào cố tình vi phạm dù chỉ một lần, xưởng kiên quyết trả về toàn bộ lô hàng, lập tức tước thẻ tre liên kết vĩnh viễn và trọn đời không bao tiêu bất kỳ một mớ rau nào của gia đình đó nữa!”

Sự nghiêm khắc, dứt khoát đến lạnh lùng trong từng điều khoản của Tiểu Mãn không những không làm cho dân làng nản lòng hay e sợ, mà trái lại, càng làm dấy lên trong lòng họ một niềm kính phục và tin tưởng tuyệt đối. Người làm ăn lớn là phải có khuôn vàng thước ngọc, có kỷ cương phép nước rõ ràng. Kẻ làm ăn thật thà không thể chịu chung số phận với những kẻ gian dối làm ẩu; muốn cùng nhau làm giàu thì phải giữ trọn cái nếp ngay thẳng.

“Được! Rất chí lý! Phải làm nghiêm như thế mới giữ được chữ tín của làng!” Bác Ba Đinh là người đầu tiên đứng phắt dậy, lồng ngực ưỡn cao đầy khí thế. “Làm ăn đàng hoàng thì phải sạch sẽ từ gốc tới ngọn! Nhà tôi có sáu sào ruộng màu ngoài bãi sông, tôi xin đại diện gia đình nhận chân liên kết đầu tiên, thề trồng cải bẹ theo đúng từng lời quy chuẩn của cháu Tiểu Mãn!”

“Nhà tôi có bốn sào mé cồn cát, cho tôi ghi tên với!” Chú Năm sứt sốt sắng chen lên trước.

“Cả nhà thím Trương nữa! Mấy mẹ con tôi có ba sào đất thịt ven đầm, xin giao trọn cho xưởng dưa của cháu!” Thím Trương góa bụa lau vội giọt nước mắt xúc động nơi khóe mi, giọng nghẹn ngào reo lên.

Tiếng hưởng ứng rộn rã, náo nức bùng nổ khắp khoảng sân đất nện tựa như pháo nổ ran ngày hội xuân. Hơn mười chủ hộ đồng loạt đứng bật dậy, tranh nhau bước tới vây kín quanh chiếc bàn gỗ xoan đào mộc mạc, gương mặt ai nấy đều rạng rỡ, hân hoan, rũ sạch hoàn toàn nỗi âu lo trĩu nặng lúc mới bước chân vào ngõ.

Ngay lúc ấy, Tạ Cảnh mỉm cười khoan thai, hai tay cẩn trọng mở nắp chiếc tráp gỗ sơn đen tuyền đặt ở góc bàn. Chàng cẩn thận lấy ra chiếc nghiên mực đá Đoan Khê nhỏ nhắn màu đen nhánh mịn màng—vật kỷ niệm vô giá mà chàng từng trao tặng cho Tiểu Mãn trong buổi chiều tà bên bờ sông Vân Thủy. Tạ Cảnh nhấc thỏi mực khói thông hảo hạng, nhỏ vài giọt nước giếng trong vắt lên lòng đá mát lạnh rồi chậm rãi xoay tròn cổ tay. Từng vòng mài mực khoan thai, điềm tĩnh và đều đặn phát ra tiếng xào xạc thanh tao, làn mực đen nhánh sánh mịn dần dần dâng lên, tỏa ra mùi thơm trầm mặc, thanh nhã của chốn thư phòng mực thước giữa khoảng sân quê mộc mạc.

Chàng mở chiếc bọc vải thô nhuộm vỏ vạc chắc chắn, trải phẳng phiu lên mặt bàn một cuốn sổ khổ lớn đóng gáy bằng chỉ gai bền chặt. Trang giấy bản dày dặn, ngả màu vàng ngà phẳng phiu mở ra trước mắt mọi người. Bên trên mặt giấy, Tạ Cảnh đã dùng bút lông kẻ sẵn các cột mục ngay ngắn, thẳng tắp bằng mực đỏ tươi: 'Họ tên Chủ hộ', 'Diện tích Ruộng liên kết', 'Số lượng Hạt giống cấp phát', 'Số Thẻ tre Quy trình' và 'Điểm chỉ Cam kết'.

“Kính mời bà con xếp thành một hàng ngay ngắn,” Tạ Cảnh cất chất giọng trầm ấm, vang vọng và đĩnh đạc của bậc nho sinh mực thước. Khí độ thanh tao, nho nhã toát ra từ từng cử chỉ của chàng khiến đám đông đang chen lấn bỗng chốc tự giác lùi lại nửa bước, trật tự xếp thành một hàng dài thẳng tắp. “Từng chủ hộ bước lên, xin đọc rõ tên tuổi bản thân và diện tích đất đai nhà mình đưa vào liên kết để tiểu sinh ghi chép rõ ràng vào sổ bộ. Sau khi hoàn tất việc ghi danh, xin bà con điểm chỉ chu sa đỏ thắm hoặc tự tay ký tên mình xuống trang giấy bản này để làm bằng chứng pháp lý minh bạch cho cả đôi bên.”

Bác Ba Đinh chỉnh lại vạt áo nâu sồng, là người đầu tiên kính cẩn bước tới trước bàn. Tạ Cảnh nhúng ngọn bút lông vào nghiên mực Đoan Khê sánh đậm, ngòi bút lông lướt nhanh thoăn thoắt trên mặt giấy bản, từng nét chữ khải chân phương, sắc sảo và rành mạch hiện ra như phượng múa rồng bay: 'Đinh Tam - Xóm Giếng - Sáu sào bãi bồi'.

Tạ Cảnh mỉm cười đưa chiếc hộp gỗ đựng sáp chu sa đỏ rực về phía lão nông. Bác Ba Đinh run run đón lấy, cẩn thận đặt ngón tay cái thô ráp, nứt nẻ chằng chịt những vết sẹo của đời cày cuốc vào lòng sáp đỏ, rồi trịnh trọng, nín thở ấn thật mạnh dấu vân tay tròn trịa của mình xuống ngay cạnh dòng tên mực đen còn chưa kịp ráo.

Dấu tay chu sa đỏ tươi in hằn trên nền giấy ngà như một lời thề son sắt, gắn kết mồ hôi của người nông dân với sinh mệnh của xưởng dưa họ Diệp.

Cạnh chiếc bàn ghi chép, Diệp Thành chống chiếc gậy gỗ nghiến đứng sừng sững

bên hiên nhà. Khớp gối của ông sau nhiều ngày kiên trì uống từng bát thuốc bắc sắc đặc của thầy lang Triệu, lại được Lâm Tú Nương sớm tối chườm bã ngải cứu sao muối hạt nóng rẫy ghì chặt vào huyệt đạo, nay đã tiêu hẳn vết sưng nhức thối nhọt. Từng bước chân dẫu còn phải tựa sức vào thanh gỗ nghiến nhẵn bóng nhưng đã vững chãi, dứt khoát hơn bội phần. Lưng người đàn ông trụ cột trong nhà đã thẳng tắp trở lại, bờ vai gầy guộc run nhẹ dưới manh áo vá chằng vá đụp, ánh mắt sâu hoắm rưng rưng ngời lên niềm kiêu hãnh và nỗi xúc động khôn xiết của một người cha đang tận mắt chứng kiến đứa con gái nhỏ từng bước chắt chiu mồ hôi, trí tuệ để dựng xây nên cả một cơ đồ giữa bãi đất cằn.

Bên cạnh Diệp Thành, Nhị Hòa cùng Tam Nha hì hục khiêng ra hai chiếc mẹt tre đan mắt cáo cỡ đại, đặt cẩn trọng lên một chiếc chõng tre con kê sát hiên. Bên trong mẹt chất đầy những thanh thẻ tre xanh mướt đã được vót nhẵn thín bốn cạnh, đầu trên đục một lỗ tròn nhỏ xíu xâu qua sợi dây đay se chặt dẻo dai. Trên từng mặt thẻ tre phẳng phiu, Tạ Cảnh và Nhị Hòa đã thức suốt mấy đêm liền, dùng mũi dao nhọn khắc sâu từng con chữ rành mạch, phủ một lớp muội đèn miết chặt vào rãnh khắc để vĩnh viễn không phai mờ: phiên lấy nước Khe Thanh vào giờ Tý ban đêm lúc cặn lắng nước trong nhất, lịch rải tro bếp ủ hoai theo chu kỳ mười ngày một bận, và nổi bật ở chính giữa là tám chữ răn dạy ngay ngắn: “Canh tác thanh sạch - Giữ trọn chữ tín”.

Diệp Thành đưa đôi bàn tay chai sần đón lấy từng thanh thẻ tre, trân trọng lật qua lật lại như nâng niu báu vật rồi hai tay trao tận tay từng người chủ hộ đang hồi hộp đứng đợi:

“Bác Ba cầm lấy chiếc thẻ phiên nước đêm. Chú Năm cầm lấy thẻ quy trình ủ bón tro mục. Làng Thanh Khê ta bao đời nay truyền nhau cái nghèo, cái khó, chỉ vì hạt thóc củ khoai làm ra bấp bênh, lại chịu cảnh thương lái ép giá đến tận xương tủy. Nay con bé Tiểu Mãn nhà tôi nó vắt kiệt tâm lực, mở ra được một con đường sáng cho xóm bãi bồi, tôi chỉ mong bà con giữ trọn cái tâm làm ăn chân chính. Đừng vì chút mối lợi cỏn con trước mắt, cũng đừng vì thói quen bón bẩn, hái ẩu cũ kỹ mà làm vấy bẩn cả một mẻ dưa tương của xóm làng!”

“Bác Diệp Thành cứ yên tâm gác cái bụng lại!” Chú Năm sứt đỡ lấy thanh thẻ tre bằng cả hai tay thô nhám, mắt nhìn trân trân vào những dòng khắc chữ đen nhánh rồi cẩn thận nhét sâu vào túi ngực áo cánh, vỗ bồm bộp lên ngực như muốn giấu đi món của gia bảo. “Thằng Năm sứt này nghèo thì nghèo thật, nhưng biết hạt cơm hạt gạo từ đâu mà có. Ai mà dám làm càn làm ẩu, dám giấu giếm phân tươi hay xúc nước rãnh thối tưới vào luống để hại cái thẻ tre này, tôi là người đầu tiên vác cuốc đuổi thẳng cổ ra khỏi bãi bồi ven sông!”

Cách đó vài bước chân, Trần A Lan trong bộ áo chẽn vải thô thắt đai gọn gàng, hai ống tay áo xắn cao để lộ đôi cổ tay tròn lẳn, rám nắng khỏe khoắn. Nàng đứng chống nạnh ngay bên cạnh chiếc thúng mẫu đựng những nhánh cải sen bẹ dày, xanh mướt mọng nước vừa nhổ sớm nay, bên cạnh là một thau sành chứa đầy tro rơm mục mịn màng như bột, khô ráo và không gợn lên một chút xú uế nào. A Lan nở nụ cười tươi rói, để lộ lúm đồng tiền duyên dáng, nhưng khi cất giọng thì từng thanh âm lại vô cùng đanh thép, dứt khoát:

“Các bác, các chú, các thím nhớ từng lời cho thật kỹ đấy nhé! Tôi đã nhận lệnh của Tiểu Mãn làm người giám sát đồng ruộng, có quyền kiểm tra bất kỳ khoảnh bãi bồi nào vào bất cứ giờ giấc nào trong ngày. Cứ hai ngày một bận, tôi cùng Nhị Hòa sẽ vác sào đi dọc bờ mương ranh giới. Luống nào không phủ rơm giữ ẩm đúng bề dày hai đốt ngón tay, rãnh nào bốc mùi chua nồng của nước tiểu tươi hay phân ải chưa mục, tôi sẽ bẻ gãy thanh thẻ tre ngay tại bờ ruộng rồi thu hồi lại toàn bộ hạt giống đã phát! Lúc đó đừng có trách con A Lan này nhỏ tuổi mà không nể nang tình làng nghĩa xóm!”

“Gớm chết, cô nương A Lan dữ dằn, mắt tinh như chim cắt thế này thì dẫu có cho cả quan tiền chúng tôi cũng chẳng dại gì mà làm trái lời!”

Mấy người đàn ông xóm Giếng đồng thanh cười vang. Những nụ cười chất phác xua tan đi sự căng thẳng ban đầu, khiến bầu không khí trong khoảng sân đất nện vừa giữ được vẻ trang nghiêm, chuẩn mực của một buổi kết giao trọng thể, lại vừa rộn rã nghĩa tình chòm xóm ấm áp.

Từng người một bước lên chiếc bàn mộc. Từ thím Trương tần tảo cả đời bên luống đất bãi, anh Hai Dâu quanh năm còng lưng gánh nước thuê, cho đến mười hai chủ hộ đại diện cho mười hai mảnh ruộng bãi bồi tốt nhất ven dòng Khe Thanh lần lượt cúi mình ký tên, ấn chỉ vào cuốn sổ liên kết dày dặn. Vết mực nho Đoan Khê đen nhánh hòa quyện cùng sắc đỏ rực rỡ, tươi tắn của chất sáp chu sa in hằn sâu vào từng thớ giấy bản thô ráp. Từng dấu điểm chỉ tròn trịa như những con dấu sinh mệnh, cột chặt vận mệnh, bát cơm manh áo của mười hai gia đình nông dân nghèo khó vào sự hưng thịnh và tương lai của xưởng dưa họ Diệp.

Khi người chủ hộ cuối cùng vừa nhấc ngón tay cái dính sáp đỏ ra khỏi trang giấy, ngoài ngõ bỗng rộ lên tiếng bước chân thong thả dẫm trên sỏi đá, kèm theo tiếng tằng hắng trầm thấp đầy uy nghi quen thuộc.

Đám đông đang quây quanh bàn ghi chép tự giác dạt sang hai bên, cúi đầu kính cẩn:

“Cụ Trưởng thôn đã sang!”

“Chúng cháu kính chào cụ Trưởng thôn ạ!”

Trưởng thôn Phạm Đức Thuận chầm chậm bước qua cổng tre. Hôm nay ông vận chiếc áo dài bằng lụa the thâm đứng đắn, đầu đội khăn xếp ngay ngắn, tay cầm chiếc quạt nan bọc vải chàm mát rượi. Trên gương mặt chữ điền cương nghị, từng nếp nhăn nơi khóe mắt khẽ giãn ra, để lộ một nụ cười tán thưởng hiếm thấy. Đi ngay phía sau ông là một tuần đinh vạm vỡ, hai tay nâng một chiếc tráp gỗ sơn then đựng con dấu lý dịch và các loại sổ bạ của làng.

Tiểu Mãn vội vàng rảo bước tiến lên nghênh đón, hai tay chắp trước ngực cúi chào thật sâu:

“Cháu kính chào cụ Trưởng thôn. Hôm nay việc xóm việc làng bận rộn trăm bề, cụ nhọc lòng quá bộ đến tận gian nhà cỏ này, cả nhà cháu mừng và biết ơn cụ nhiều lắm ạ.”

Phạm Đức Thuận khẽ phất tay, ánh mắt trìu mến nhìn cô gái nhỏ bé nhưng ẩn chứa nghị lực kinh người trước mặt, rồi đưa mắt nhìn khắp khoảng sân chật ních người làng, dừng lại trên những thanh thẻ tre sáng bóng đang được bà con nắm chặt trong tay. Ông bước từng bước đĩnh đạc tới mép bàn gỗ mộc, đưa tay cầm lấy cuốn sổ liên kết bọc vải thô mộc mạc lên, chăm chú lật giở từng trang giấy bản còn vương mùi mực mới.

Từng họ tên chủ hộ, từng diện tích mẫu sào, từng ký hiệu thẻ tre nhận hạt giống cùng những dấu điểm chỉ đỏ thắm hiện lên vô cùng rành rọt dưới ngòi bút khải chân phương, sắc sảo của Tạ Cảnh. Ba điều quy định lớn về nguồn nước thanh sạch, tro ủ hoai mục và thời hạn thu hái đồng loạt được viết gãy gọn, minh bạch, không một nét tẩy xóa hay mập mờ, lấy sự chân thực và chữ tín làm nền tảng cốt lõi.

Khép cuốn sổ dày dặn lại, Trưởng thôn Phạm Đức Thuận ngước nhìn toàn thể dân làng đang nín thở chờ đợi, giọng nói trầm hùng, sang sảng của ông vang vang khắp khoảng sân đất:

“Bao nhiêu năm ta làm Trưởng thôn cai quản cái đất Thanh Khê này, tận mắt chứng kiến không biết bao nhiêu nỗi cay đắng của bà con. Ta thấy người xóm Giếng và xóm Đầm chỉ vì tranh nhau từng gáo nước tát vào luống cải khô mà vác đòn xóc, vác cuốc rượt đuổi nhau từ bờ này sang bãi nọ. Ta thấy bà con quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời, đến vụ thu hoạch thì bị bọn lái buôn đường sông chèn ép từng đồng, dìm giá mớ rau bát gạo xuống tận bùn đen, khiến bao nhà phải cắn răng đem văn tự đất cắm cho lũ địa chủ háo hức nuốt tươi từng tấc đất hương hỏa. Nghèo đói truyền đời, áo rách cơm thèm chưa từng dứt!”

Ngừng lại một nhịp, ánh mắt ông nhìn thẳng vào Tiểu Mãn, trong đáy mắt ánh lên sự khâm phục không hề che giấu:

“Chưa từng có một ngày nào, ta được chứng kiến bà con làng ta tự nguyện bỏ qua hiềm khích, ngồi lại quanh một chiếc bàn mộc, cùng nhau cam kết làm ăn quy củ, giữ trọn chữ tín như ngày hôm nay! Tiểu Mãn cô nương, cháu dẫu còn ít tuổi, lại mang phận nữ nhi, nhưng tấm lòng biết nghĩ cho đại cuộc, tầm nhìn xa rộng và sự sòng phẳng, phân minh của cháu đã làm được cái việc mà những bậc rường cột của cái làng này bấy lâu nay muốn làm mà bất lực! Cháu không chỉ tìm cách cứu lấy mảnh ruộng Cồn Gió của gia đình mình, mà cháu đang chìa một chiếc phao cứu sinh, mở toang một con đường sống cho cả làng Thanh Khê!”

Dứt lời, Trưởng thôn quay sang người tuần đinh phía sau, dõng dạc hạ lệnh:

“Mở tráp son!”

Người tuần đinh lập tức tiến lên một bước, quỳ một gối nâng tráp gỗ, bật nắp khóa đồng kêu một tiếng 'tách' giòn tan. Phạm Đức Thuận cẩn trọng nhấc con triện bằng gỗ thị vuông vức khắc nổi bốn chữ triện “Thanh Khê Lý Triện”, ấn ngập vào khay sáp chu sa đỏ rực, sánh đậm, rồi bằng một động tác dứt khoát, dồn toàn bộ lực cổ tay ấn mạnh xuống trang cuối cùng của cuốn sổ liên kết, ngay cạnh chữ ký của Diệp Tiểu Mãn và Tạ Cảnh.

Một dấu triện đỏ vuông vắn, đỏ tươi như son rực sáng trên nền giấy ngà, đóng chặt tính pháp lý tuyệt đối và sự bảo chứng của chính quyền hương thôn lên bản giao ước của Nông hộ liên kết Thanh Khê.

Phạm Đức Thuận nâng cao cuốn sổ bộ lên trước ngực, quay về phía đám đông dõng dạc tuyên bố:

“Bản quy ước liên kết canh tác này từ nay chính thức có hiệu lực trước toàn thể dân làng Thanh Khê! Đây là khuôn phép làm ăn gương mẫu đầu tiên của cả tổng này. Kẻ nào dám bội ước, làm bẩn nguồn nước, tưới bón gian dối làm tổn hại đến danh tiếng rau sạch của làng, lý dịch thôn sẽ chiểu theo hương ước mà phạt trượng, đuổi khỏi bãi bồi! Toàn thể bà con hãy một lòng theo xưởng dưa họ Diệp, đồng tâm hiệp lực lao động để giật đứt cái gốc rễ đói nghèo đã bám riết lấy làng ta bao đời nay!”

Một thoáng im phăng phắc trôi qua, rồi bỗng chốc tiếng vỗ tay, tiếng reo hò rầm rộ bùng nổ, vang dậy cả một góc trời xóm đông ven sông. Những nụ cười rạng rỡ, bừng sáng nở bung trên những gương mặt đen sạm, hằn sâu những vết nhăn nheo của một đời cơ cực. Bác Ba Đinh ghì chặt thanh thẻ tre vào lồng ngực gầy guộc, khóe mắt già nua đỏ hoe ướt nước; thím Trương kéo vạt áo chàm quệt vội giọt nước mắt lăn dài; Ngô Quế Hoa thì vừa cười ha hả vừa vỗ bôm bốp vào lưng mấy chị em bạn hàng xóm; Nhị Hòa và Tam Nha nhảy cẫng lên giữa sân, hò reo vang dội.

Sau khi bà con làng xóm lần lượt giải tán, rảo bước về nhà để kịp cuốc xới bãi đất, chuẩn bị ủ tro mục theo đúng quy cách trên thẻ tre, khoảng sân nhà họ Diệp dần dần lấy lại vẻ tĩnh lặng cố hữu. Nắng trưa xuyên qua những tầng lá xanh um của cây thị cổ thụ, rắc từng đốm hoa nắng vàng rực rỡ xuống mặt sân đất nện phẳng phiu.

Trưởng thôn Phạm Đức Thuận vẫn chưa vội rời đi. Ông thong thả ngồi nghỉ dưới bóng râm rười rượi của gốc thị, đón lấy bát nước chè xanh nghi ngút khói thơm ngát do Lâm Tú Nương bưng tới bằng cả hai tay. Nhấp một ngụm nước chè đượm vị chát ngọt nơi đầu lưỡi, ông khẽ nghiêng đầu ngoắc tay gọi Tiểu Mãn bước lại gần hàng rào dâm bụt rực hoa đỏ ở góc vườn.

Tiểu Mãn nhanh nhẹn bước tới, đứng chắp tay lễ phép:

“Dạ, cụ Trưởng thôn có điều gì sâu xa muốn truyền dạy cho cháu nữa ạ?”

Phạm Đức Thuận đưa mắt nhìn bao quát khắp khoảng sân nhỏ. Nơi đây, mấy chục chiếc chum sành ngấn nước của Đào Tam Nương đã chiếm quá nửa lối đi, những giàn nứa phơi dưa cải kê san sát mép giọt gianh mái rạ, những cỗ xe kéo cải tiến của Nhị Hòa phải nép chặt vào góc chuồng gà cũ. Đôi lông mày rậm của ông khẽ nhíu lại, giọng nói hạ xuống rất thấp, vô cùng kín đáo:

“Tiểu Mãn này, ta nhìn thấy cái chí khí của cháu hôm nay, lại thấy bản cam kết mười hai hộ vừa ký kết thành công, bụng ta vừa mừng rỡ khôn xiết mà cũng vừa lo ngay ngáy cho cháu.”

Tiểu Mãn khẽ giật mình, nghiêm cẩn thưa:

“Dạ, tầm nhìn của cháu còn nông cạn, kính xin cụ chỉ bảo rõ ràng. Có điều gì bất trắc mà cháu chưa tính tới chăng ạ?”

“Cháu có tài nghệ làm dưa tương bậc nhất, có mối lái bao tiêu vững chắc như Vọng Giang Lâu, lại thu phục được cả lòng dân xóm bãi,” Phạm Đức Thuận vừa chậm rãi phẩy chiếc quạt nan bọc vải chàm vừa phân tích từng lời thấm thía. “Nhưng cái khuôn viên ba gian nhà tranh vách đất này của cha mẹ cháu quá đỗi chật chội rồi! Mấy chục chiếc chum sành đã bít kín cả lối đi, xe kéo ra vào phải lách từng bánh. Nay mười hai hộ đồng loạt xuống giống, chỉ một tháng nữa thôi, khi bước vào đợt thu hoạch cải sen rộ mùa, đậu tương chín rộ đổ về từng chuyến, mỗi ngày có đến hàng trăm thúng cải, hàng ngàn cân đậu tươi dồn dập kéo tới sân này. Cháu lấy đâu ra nhà kho khô ráo, cao ráo, cách ẩm để cất giữ? Lấy đâu ra mặt bằng rộng thênh thang mà kê hàng trăm, hàng ngàn chiếc chum ủ tương độc lập, cách ly triệt để khỏi mùi khói bếp, mùi chuồng lợn chuồng gà của khu dân cư?”

Tiểu Mãn lặng người đi một lúc, trong lòng khẽ thở dài thườn thượt. Từng lời nói của vị Trưởng thôn lão luyện như từng nhát búa gõ trúng ngay nỗi trăn trở đau đáu bấy lâu nay trong lòng nàng. Nàng hiểu quá rõ, phương thức sản xuất thực phẩm thanh sạch đạt chuẩn để vươn tầm thành một trang điền quy mô không bao giờ có thể dựa dẫm mãi vào góc sân nhà ở dân dụng chật hẹp, tạm bợ thế này. Nếu không mở rộng mặt bằng sản xuất riêng biệt, việc mười hai hộ liên kết thành công hôm nay sẽ trở thành một gánh nặng bóp nghẹt chính xưởng dưa của gia đình nàng vào ngày mai.

Nhìn thấy nét suy tư đăm chiêu hiện rõ trên vầng trán thanh tú của nàng, Phạm Đức Thuận mỉm cười đầy thâm ý, ông khẽ bước thêm một bước, ghé sát vào tai Tiểu Mãn thì thầm:

“Ta nể trọng cái tâm của cháu nên mới hé lộ cho cháu biết trước một tin cơ mật của thôn đường. Sau đợt hạn hán khốc liệt đầu năm, thân đập giữ nước trên đầu nguồn núi Thanh Lĩnh cùng chiếc cống cái dẫn nước vào đồng lớn đã bị nứt toác, sạt lở nghiêm trọng; mái đình làng cũng đã mục rui mè, cần một khoản ngân lượng cực lớn để mua gỗ lim, thuê thợ ngõa tu bổ trước khi mùa mưa bão ập tới. Mấy ngày nữa thôi, hội đồng bô lão và lý dịch trong thôn sẽ họp kín để thông qua quyết định mở thầu bán đứt khoảnh đất gò hoang rộng đúng năm mẫu nằm áp sát ngay bờ Khe Thanh, hòng gom đủ bạc tươi sung vào công quỹ làng.”

Hai mắt Tiểu Mãn vụt sáng, trái tim nàng đập thình thịch liên hồi như muốn nhảy khỏi lồng ngực. Khoảnh đất gò hoang năm mẫu ven Khe Thanh!

Nàng làm sao có thể không biết đến mảnh đất ấy được! Đó là một dải gò đất thoai thoải, thế đất cao ráo vững chãi, dù cho mùa mưa lũ nước sông có dâng cao ngập trắng những bãi bồi ven chân đê thì dải gò ấy cũng chưa từng bị ngập úng lấy một tấc. Hơn thế nữa, nó nằm ngay sát đầu nguồn nước tinh khiết của dòng Khe Thanh, hoàn toàn tách biệt khỏi khu dân cư đông đúc, không bị bất kỳ chuồng trại gia súc hay dòng nước thải sinh hoạt nào làm ô tạp. Mặt bằng nơi ấy trải rộng mênh mông, đón trọn ánh nắng mặt trời từ ban mai cho đến ráng chiều tà—đó chính là mảnh đất trời ban, hoàn mỹ đến từng tấc đất tấc vàng để dựng lên một xưởng chế biến dưa tương quy chuẩn, kho nguyên liệu cao ráo cách ẩm và đặt hàng trăm chum sành ủ mốc tương phơi nắng!

“Cụ Trưởng thôn... khoảnh đất gò hoang năm mẫu ấy...” Giọng nói của Tiểu Mãn run run vì chấn động, bàn tay nàng vô thức nắm chặt vạt áo chàm.

Phạm Đức Thuận khẽ vỗ nhẹ lên bờ vai nàng, ánh mắt chan chứa sự gửi gắm, che chở:

“Mảnh đất ấy xưa nay nhiều đá sỏi, cỏ may cỏ lác mọc lút đầu người nên lũ người thiển cận trong làng chê bai chẳng ngó ngàng. Nhưng với một kẻ có đầu óc tính toán, biết nghề ủ đất làm xưởng như cháu, nó chính là vàng mười đấy. Mấy nhà giàu xóm Dưới cùng mấy gã lái buôn lắm tiền nhiều của ngoài trấn Liễu Kiều đã bắt đầu đánh hơi thấy, liên tục sai người đến dòm ngó, dò hỏi ta rồi. Nhưng ta không muốn dải đất ven nguồn ấy rơi vào tay bọn lái buôn chỉ biết vơ vét tiền bạc rồi bỏ hoang hay xây chòi ép giá dân làng! Ta muốn đất của Thanh Khê phải thuộc về người Thanh Khê, thuộc về người biết làm ăn lương thiện, biết dắt tay bà con cùng thoát khỏi cái cảnh cơ hàn! Tiền cọc mở thầu mảnh đất ấy không hề nhỏ đâu, phải nộp bạc trắng tiền tươi ngay khi bỏ thầu. Cháu hãy mau chóng gom góp vốn liếng, thu xếp cho xong xuôi những món nợ nần trước mắt đi. Ngày nào thôn đường chính thức đánh trống phát lệnh mở thầu, ta sẽ sai tuần đinh báo riêng cho cháu trước tiên!”

“Dạ! Ơn sâu nghĩa nặng này của cụ Trưởng thôn, cả đời cháu và gia đình cháu xin khắc cốt ghi tâm!” Tiểu Mãn cúi rạp người tạ lễ, sống mũi cay cay, nhưng trong đáy mắt nàng, ngọn lửa của khát vọng bùng lên rực rỡ, mãnh liệt hơn bao giờ hết.

Xây dựng một xưởng chế biến biệt lập theo quy chuẩn... Khai hoang mở rộng, đặt viên gạch nền móng đầu tiên cho một Thanh Khê Điền Trang trù phú... Giấc mơ ngỡ như xa vời vợi ấy, nay bỗng chốc hiện ra rõ mồn một ngay trước mắt nàng!

***

Màn đêm buông xuống, bóng tối đặc quánh trùm phủ lên ngôi làng nhỏ nép mình dưới chân núi Thanh Lĩnh sừng sững. Tiếng ếch nhái râm ran ngoài đồng bãi hòa cùng tiếng côn trùng rả rích bên hàng rào dâm bụt. Từng cơn gió đêm mát rượi thổi qua rặng tre ngà quanh nhà, tạo nên những âm thanh xào xạc thì thầm của chốn đồng quê êm ả.

Bên trong gian buồng nhỏ của căn nhà đất ba gian, cánh cửa gỗ đã được cài then then gỗ chắc chắn từ sớm. Ngọn đèn dầu lạc leo lét tỏa ra ánh sáng vàng ấm áp, soi tỏ những gương mặt thân thương đang quây quần bên chiếc bàn mộc đã lên nước bóng lẫy.

Diệp Thành ngồi tựa lưng vào vách đất vững chãi, chiếc gậy gỗ nghiến gác ngang trên đầu gối. Lâm Tú Nương ngồi sát cạnh chồng, đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt vết chai đan chặt vào nhau, ngực phập phồng hồi hộp không yên. Nhị Hòa, Tam Nha và cậu bé Tiểu Đậu chen chúc ngồi sát mép bàn, những đôi mắt trẻ thơ mở to tròn xoe, lấp lánh sự tò mò háo hức, nhìn chằm chằm vào ba ống tre lớn bóng loáng được đục lỗ tròn nhét nút giẻ cẩn thận đang đặt ngay ngắn giữa bàn.

Tạ Cảnh ngồi ngay ngắn bên cạnh Tiểu Mãn. Chàng đã mài sẵn thỏi mực đen sánh, tay cầm thỏi than liễu gọt nhọn, cuốn sổ thu chi phân chia năm cột rành mạch đã mở sẵn trang tổng kết vụ mùa.

Tiểu Mãn hít một hơi thật sâu để nén lại nhịp tim đang đập dồn dập trong lồng ngực. Nàng đưa tay rút mạnh chiếc nút giẻ ở miệng ống tre đầu tiên—ống tre đựng những đồng tiền lẻ bán từng mớ dưa chua, từng bó cải non từ những buổi chợ sớm rải rác ngoài chợ cầu đá từ hồi đầu vụ.

“Keng... xoảng xoảng... rào rào!”

Một dòng tiền kẽm Cảnh Hưng xám xịt, bóng loáng tuôn trào ra như một dòng suối kim loại, đổ tràn trề trên mặt bàn gỗ mộc, phát ra những thanh âm va đập lách cách vui tai vô cùng.

Tiếp theo đó, bàn tay Tiểu Mãn rút nút chiếc ống tre thứ hai: tiền bán lẻ từng hũ tương nếp cho người dân chợ trấn Liễu Kiều, tiền công đóng góp của nhóm đổi công bốn nhà, và khoản tiền bán sỉ chuyến dưa muối chua đầu tiên cho đám thương buôn ghe bầu đường sông. Từng vốc tiền kẽm, tiền đồng sáng loáng lại tiếp tục túa ra, vun cao thành từng ngọn đồi nhỏ trên mặt bàn.

Và cuối cùng, Tiểu Mãn trân trọng nâng chiếc ống tre thứ ba lên—chiếc ống tre nặng trĩu nhất, nơi lưu giữ toàn bộ những món tiền sinh tử của xưởng dưa: tiền lãi ròng từ chuyến hàng chở dưa vượt qua dông bão hiểm nguy lên Tửu lầu Vọng Giang đúng ngày rằm tháng hai, tiền bán dưa nén khô giòn cứu đói cho những nhà khá giả đợt hạn hán. Từ tận đáy sâu của chiếc ống tre này, Tiểu Mãn cẩn thận móc ra một chiếc túi vải điều thắt nút bằng dây tơ bóng bẩy.

Khi nút thắt của chiếc túi vải điều vừa được mở ra, cả gian buồng đất chật hẹp dường như bừng sáng rực rỡ dưới ánh đèn dầu lạc.

Một thỏi bạc nén hai lượng nguyên chất, đúc hình móng ngựa vuông vắn, trắng muốt không tì vết do chính tay Đại chưởng quỹ Tôn Như Hải trân trọng trao tặng, nằm sừng sững ở vị trí trung tâm. Vây quanh thỏi bạc lớn là những nén bạc vụn năm tiền lấp lánh sắc bạc tinh khiết của ngân hiệu quan phủ, cùng với từng xâu tiền đồng Cảnh Hưng đỏ au, dày dặn, được xâu bằng sợi dây gai bện chặt nịch.

Tạ Cảnh khẽ mỉm cười, đôi bàn tay thon dài của bậc nho sinh thoăn thoắt xếp các đồng tiền kẽm thành từng cọc mười đồng ngay ngắn, rồi luồn dây gai gom lại thành từng xâu một trăm đồng tròn trịa. Nhị Hòa cùng Tam Nha hào hứng sà vào phụ giúp một tay, vừa xếp tiền vừa đếm nho nhỏ, tiếng tiền kẽm, tiền đồng va vào nhau lách cách, lanh lảnh rộn vang khắp gian nhà ấm cúng.

Tạ Cảnh cẩn thận dùng thỏi than liễu ghi từng con số thu chi rành rọt lên trang giấy bản, ngòi than lướt đi thoăn thoắt, cộng dồn từng mục, rồi khẽ vạch một đường gạch ngang dứt khoát dưới đáy bảng tính năm cột. Chàng dừng tay, ngẩng đầu lên. Ánh mắt chàng chan chứa niềm xúc động vô bờ bến nhìn Diệp Thành, nhìn Lâm Tú Nương, rồi dừng lại thật lâu, đong đầy sự cảm phục và thương mến khôn cùng trên gương mặt nhỏ nhắn của Tiểu Mãn.

Giọng nói trầm ấm của Tạ Cảnh vang lên, rành rọt từng từ, từng chữ trong không gian tĩnh mịch của đêm khuya:

“Thưa bác Diệp Thành, thưa bác gái. Sau khi đã trừ dứt điểm toàn bộ tiền mua thóc giống vụ chiêm, tiền đặt cọc năm mươi chiếc chum sành lớn của xưởng gốm Đào Tam Nương, chi phí thu mua muối biển thô, các loại thảo mộc thuốc bắc ủ tương, cước phí thuê xe kéo và chi trả sòng phẳng toàn bộ tiền công nhật cho bốn thành viên trong nhóm đổi công... Tổng số tiền bạc nén và tiền kẽm quy đổi tích lũy được trong ba ống tre từ đầu vụ dưa đến nay...”

Tạ Cảnh khẽ nuốt khan một ngụm nước bọt, bờ vai chàng khẽ run lên vì xúc động:

“Đạt đúng mười một lượng ba tiền bạc trắng!”

“Mười... mười một lượng ba tiền bạc thật ư?!”

Lâm Tú Nương bàng hoàng thốt lên một tiếng nghẹn ngào, hai bàn tay run rẩy đưa lên ôm chặt lấy miệng mình. Những giọt nước mắt kìm nén suốt bao năm tháng nhọc nhằn, tủi nhục bỗng chốc vỡ òa, tuôn rơi lã chã ướt đẫm hai gò má gầy gò nhăn nheo của người mẹ nghèo. Bà ngả đầu tựa hẳn vào bờ vai vững chãi của chồng, khóc nấc lên từng cơn nghẹn ngào không thốt nên lời.

Diệp Thành run rẩy vươn bàn tay thô ráp, nứt nẻ chằng chịt vết sẹo cày cuốc, khẽ chạm vào bề mặt thỏi bạc nén hai lượng mát lạnh đang ánh lên sắc bạc tinh khiết dưới ánh đèn dầu. Bờ vai của người đàn ông trụ cột cả đời dầm mưa dãi nắng, từng quỵ ngã tuyệt vọng vì đôi chân gãy nát, từng phải cắn răng nuốt nước mắt chịu đựng sự khinh khi miệt thị của người đời, nay rung lên bần bật. Những giọt nước mắt nóng hổi của người cha cả đời cam chịu lăn dài trên những nếp nhăn khắc khổ, rơi lộp bộp xuống mặt bàn gỗ.

Mười lăm lượng bạc nợ gốc mà nhà địa chủ họ Lương ép vay năm ngoái từng là một ngọn núi đá khổng lồ đè bẹp dí sinh mệnh của cả cái gia đình nghèo này. Món nợ oan nghiệt ấy từng suýt chút nữa cướp đi sạch bách hai mẫu ruộng Cồn Gió hương hỏa của tổ tiên để lại, từng đẩy cả nhà vào cảnh túng quẫn đến mức phải nuốt từng bát cháo ngô mốc chua chát để cầm cự qua ngày đoạn tháng.

Ngày mười hai tháng hai vừa rồi, bằng sự tháo vát và bản lĩnh phi thường, Tiểu Mãn đã mang tám lượng bạc sang tận phủ địa chủ để trừ dứt điểm vào nợ gốc, chỉ còn lại đúng bảy lượng bạc chẵn có giấy trắng mực đen hẹn dứt nợ vào ngày rằm tháng mười năm nay.

Và giờ đây, ngay trên chiếc bàn mộc đơn sơ này, số tiền bán dưa tương tích lũy từ mồ hôi, nước mắt của đầu vụ mùa đã nằm gọn trong ba ống tre, gom đủ thành một con số vượt xa cả sự mong đợi điên rồ nhất của họ.

Mười một lượng ba tiền bạc trắng!

Số tiền ấy không chỉ thừa sức thanh toán sạch sành sanh bảy lượng bạc nợ gốc cuối cùng cho nhà địa chủ họ Lương ngay trong ngày mai để xé bỏ hoàn toàn bản văn tự bán đất đầy máu và nước mắt, mà phần bạc vụn cùng tiền kẽm còn dư lại... vừa vặn chạm khít vào số tiền đặt cọc cần thiết cho khoảnh đất gò hoang năm mẫu ven dòng Khe Thanh mà Trưởng thôn Phạm Đức Thuận vừa bí mật tiết lộ ban chiều.

Tiểu Mãn nhìn thỏi bạc nén lung linh, lấp lánh dưới ánh đèn dầu lạc ấm áp, nhìn những giọt nước mắt hạnh phúc tột cùng của cha mẹ và nụ cười rạng rỡ của đàn em thơ dại. Nàng khẽ ngước mắt lên, bắt gặp ánh nhìn trầm tĩnh, ấm áp và sự tin cậy tuyệt đối của Tạ Cảnh đang lặng lẽ dõi theo mình.

Một chương mới đầy huy hoàng, rực rỡ của nhà họ Diệp sắp sửa mở ra, khi ngày mai, nàng sẽ đường hoàng ngẩng cao đầu bước lên từ đường để rửa sạch món nợ truyền kiếp của gia tộc.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories