Tờ biên nhận tất toán và mảnh đất ven khe
Mặt trời chưa ló rạng khỏi đỉnh núi Thanh Lĩnh, sương lam còn bọc lấy những vòm tre ken dày quanh xóm Thượng như một dải lụa mỏng đẫm nước. Trong gian bếp nhỏ vách trát đất của nhà họ Diệp, mùi khói rơm quyện với hơi nước sôi lãng đãng tỏa ra từ nồi nước lá ngải cứu sao muối gừng. Diệp Thành ngồi trên chiếc chõng tre bện bằng nan cật già đã bóng nước thời gian, hai bàn tay thô ráp chai sần cẩn thận cầm lấy chiếc giẻ vải gai cũ, miết từng đường thật chậm, thật kỹ dọc theo thân đôi nạng bằng gỗ mít.
Đôi nạng này đẽo từ hai nhánh mít vườn sau do chính tay ông chặt hạ vào mùa đông ba năm trước. Đốt gỗ vàng sẫm theo năm tháng đã chuyển sang màu cánh gián đậm, những chỗ tì nách mòn vẹt, in hằn những vệt mồ hôi chua mặn của bao ngày chống chọi với tật nguyền và tủi nhục. Khi thân cây gỗ lim cổ thụ trên rừng rậm Thanh Lĩnh đổ ụp xuống đè nát khớp gối bên phải, biến một gã nông phu lực lưỡng gánh nổi đôi thúng lúa nặng hơn trăm cân thành kẻ tàn phế chỉ biết nằm liệt một chỗ, đôi nạng mộc mạc này đã nâng đỡ từng bước chân tập tễnh cay đắng của ông.
Cũng chính vào mùa đông oan nghiệt năm ấy, để giữ lại cái chân đang bắt đầu tím tái hoại tử cho ông, gia đình đã phải cắn răng vay mười lăm lượng bạc trắng từ tay địa chủ họ Lương qua lời dắt mối ngon ngọt của người bác cả Diệp Đại Phúc. Mười lăm lượng bạc—một con số đủ sức đè bẹp cả ba đời làm lụng của một gia đình thuần nông ở chốn Thanh Khê này. Suốt mấy năm ròng rã, món nợ ấy như một tảng đá ngàn cân treo lơ lửng trên nóc nhà ba gian xiêu vẹo, chực chờ nghiền nát hai mẫu ruộng gò Cồn Gió hương hỏa và tương lai của mấy đứa con thơ. Mỗi lần nghe tiếng chó sủa ran ngoài đầu ngõ vào những ngày sóc vọng, tim Diệp Thành lại thắt lại, lồng ngực đau nhói như có ai bóp nghẹt, chỉ sợ bóng dáng đám gia đinh họ Lương ập vào dán giấy niêm phong ruộng đất.
Nhưng hôm nay, tình thế đã khác. Khớp gối phải của Diệp Thành nhờ uống thuốc đều đặn theo thang của lão đại phu trên trấn và đắp ngải cứu sao muối giấm mỗi sớm mỗi chiều đã tiêu hẳn sưng tấy. Dù vẫn còn hơi thọt, nhưng ông đã có thể chống chiếc gậy bằng gỗ nghiến tự bước đi vững vàng trên nền đất mấp mô mà không cần ai dìu đỡ. Sáng nay, ông vẫn đem đôi nạng gỗ mít cũ ra lau sạch từng hạt bụi tro bám vào các kẽ nứt, rồi trân trọng dựng nó vào góc sâu nhất của chái bếp—dựng như một lời tạ từ quá khứ lầm than, một chứng tích của chuỗi ngày cơ hàn cay đắng nay đã đến hồi kết thúc.
Bên chiếc bàn con đóng bằng gỗ xoan đào giữa gian chính, ngọn đèn dầu lạc vẫn tỏa ánh sáng vàng ấm áp, xua đi cái se lạnh của buổi sớm mai. Lâm Tú Nương cẩn thận dùng dải vải thô lau chùi từng góc của chiếc tay nải bọc gấm hoa đã sờn mép. Bên trong chiếc tay nải ấy là phần tài sản được tích cóp bằng từng giọt mồ hôi, từng đêm thức trắng canh lửa những mẻ tương, từng buổi chợ gánh gồng dầm mưa dãi nắng của cả nhà suốt những tháng ngày vừa qua: thỏi bạc móng ngựa vuông vắn hai lượng trắng muốt mang dấu định danh của ngân hiệu quan phủ do Đại chưởng quỹ Tôn Như Hải đích thân trao tặng, cùng với mười nén bạc vụn năm tiền lấp lánh và từng xâu tiền đồng Cảnh Hưng đỏ au được xỏ bằng dây gai bện chặt nịch.
Lâm Tú Nương khẽ miết ngón tay lên từng đồng tiền kim loại lạnh ngắt, khóe mắt ngân ngấn nước. Đôi bàn tay người phụ nữ quanh năm cấy thuê gặt mướn run rẩy, khẽ chạm vào mặt thỏi bạc móng ngựa như thể sợ chỉ một cái chớp mắt thôi thì tất cả những thứ này sẽ tan biến như bọt nước mùa lũ.
Tiểu Mãn bước vào buồng, mang theo chiếc áo dài bằng vải thô mộc màu chàm tinh tươm đã được nàng thức khuya là phẳng phiu bằng chiếc bàn ủi gang đổ đầy than củi. Nàng đỡ lấy chiếc tay nải từ tay mẹ, khẽ mỉm cười, giọng nói trong trẻo mà vững chãi:
“Cha, mẹ, giờ Thìn ba khắc sáng nay là hẹn gặp quản sự Lương tại từ đường. Trưởng thôn Phạm Đức Thuận và các bô lão trong họ đã nhận lời có mặt đông đủ để làm chứng. Món nợ bảy lượng bạc gốc cuối cùng này, hôm nay nhà ta sẽ thanh toán sòng phẳng, dứt điểm một lần cho xong, không để họ Lương lải nhải thêm một lời nào nữa.”
Lâm Tú Nương nắm chặt lấy bàn tay thô ráp của con gái, viền mắt vẫn còn hoe đỏ vì cả đêm trằn trọc không sao chợp mắt nổi:
“Tiểu Mãn à, mẹ chỉ sợ... chỉ sợ lão Lương Quảng Tài kia lại giở trò hạch sách, sinh sự bới lông tìm vết như mấy bận trước. Lão là tay cáo già trong khố phòng họ Lương, ăn nói lắt léo, lại thêm mấy tên gia đinh hung hãn hộ vệ. Mẹ cứ lo lão vin vào cớ nọ cớ kia rồi ép nhà mình thêm tiền lãi...”
“Mẹ yên tâm,” Tiểu Mãn vỗ nhẹ lên mu bàn tay mẹ, ánh mắt ánh lên vẻ kiên nghị, rạng ngời. “Lần này chúng ta trả bằng bạc ròng đủ phân đủ lạng, giấy tờ biên nhận từ các đợt trước đều được lưu giữ rành rọt. Có Tạ công tử mang sổ thu chi và luật lệ triều đình đối chất, có Trưởng thôn và Cụ Bảy chủ trì công đạo, lão ấy không có cửa giở trò gian lận đâu.”
Từ ngoài ngõ, tiếng bước chân thanh thoát giẫm trên lớp sỏi nhỏ cùng giọng nói trầm ấm quen thuộc vang lên phá tan bầu không khí tĩnh mịch của làn sương sớm:
“Bác Diệp Thành, Tiểu Mãn muội muội, ta đã chuẩn bị xong tráp gỗ đựng toàn bộ sổ sách và văn tự đối chiếu rồi.”
Tạ Cảnh bước qua ngưỡng cửa gỗ nghiến. Chàng thư sinh vận chiếc áo chàm thanh nhã, vạt áo sạch sẽ không vương một hạt bụi đường, đầu đội khăn xếp ngay ngắn, trên tay ôm tráp gỗ trắc đựng cuốn sổ bộ thẻ tre và tập giấy bản ghi chép chi tiết từng đợt trả nợ bằng nét chữ khải chân phương. Gương mặt chàng tuấn tú, đôi mắt sáng ngời toát lên vẻ trầm tĩnh, ung dung của người nắm chắc đạo lý và phép nước. Nhìn thấy phong thái đĩnh đạc ấy, nỗi âu lo phập phồng trong lòng Diệp Thành và Lâm Tú Nương bỗng chốc tan biến quá nửa.
Diệp Thành đứng dậy, chỉnh lại nếp áo chàm mới may, bàn tay nắm chặt chiếc gậy gỗ nghiến gõ cộc một tiếng dứt khoát xuống nền đất nện:
“Được rồi! Ta cùng đi! Cả đời Diệp Thành này chưa từng dám ngẩng mặt nhìn bà con lối xóm vì cái án nợ nần đè nặng, hôm nay ta phải đường hoàng bước lên từ đường để rửa sạch nỗi nhục này!”
***
Từ đường thôn Thanh Khê tọa lạc trên một khu đất cao ráo dưới bóng mát của hai cây bồ đề cổ thụ, rêu phong phủ kín những bờ tường đá ong cổ kính xám xịt theo năm tháng. Nơi đây vốn là chốn tôn nghiêm nhất làng, là nơi tế tự tổ tiên tiền hiền khai khẩn đất hoang, nơi phân chia nguồn nước tưới tiêu mỗi mùa hạn hán và phân xử những vụ tranh chấp sinh tử giữa các dòng họ trong vùng.
Sáng nay, không khí trong từ đường nghiêm cẩn khác thường. Cánh cửa gỗ lim nặng trịch mở toang, để lộ gian chính điện nghi ngút khói trầm hương từ chiếc đỉnh đồng cổ. Trên hàng ghế tràng kỷ bằng gỗ lim kê sát gian giữa, Cụ Bảy tôn tộc họ Diệp tay chống chiếc gậy đầu rồng bằng gỗ trắc ngồi trầm mặc, chòm râu bạc như cước rủ xuống ngực áo the thêu chữ thọ. Bên cạnh cụ là Trưởng thôn Phạm Đức Thuận mang y phục tề chỉnh, ngón tay điểm nhẹ từng nhịp lên chiếc nghiên mực đá đen đặt sẵn trên án thư phủ vải điều. Xung quanh hiên rộng và khoảnh sân gạch bát tràng rêu phong, đông đảo dân làng từ xóm Cầu Đá, xóm Đầm, xóm Giếng nghe phong phanh tin tức nhà Diệp Thành gom đủ bạc đi dứt nợ cũng tò mò kéo đến đứng kín kẽ, tiếng xì xào bàn tán râm ran như đàn ong vỡ tổ.
Khi Diệp Thành vững vàng chống gậy bước qua bậc tam cấp bằng đá xanh, sóng vai cùng Tiểu Mãn và Tạ Cảnh, những tiếng xì xào trong đám đông bỗng chốc lặng bặt. Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào bước chân không còn run rẩy của người nông phu tàn phế năm nào, vào chiếc tay nải gấm hoa căng phồng trên tay Tiểu Mãn và chiếc tráp gỗ nghiêm trang của Tạ Cảnh.
Ngồi đối diện ở dãy ghế bên tả là Lương Quảng Tài. Đại quản sự của trang viện họ Lương hôm nay mặc áo gấm the sẫm màu thêu hoa văn chìm, tay cầm chiếc quạt xếp bằng lụa phe phẩy nhè nhẹ dù tiết trời hãy còn sương lạnh. Gương mặt chữ điền phốp pháp của lão lộ rõ vẻ ngạo nghễ, nhưng đôi mắt ti hí giảo hoạt lại không giấu được sự dò xét, bất an khi nhìn thấy sự đĩnh đạc của ba người họ Diệp. Đứng hầu phía sau lão là hai tên gia đinh lực lưỡng mang theo chiếc cân tiểu ly bằng đồng sáng loáng và chiếc hộp đựng văn tự sơn then có gắn then đồng khắc hoa.
Nhìn thấy cha con Diệp Thành bước vào gian chính điện, Lương Quảng Tài khẽ nhếch mép cười khẩy, giọng điệu sắc nhọn như dao cạo gọt vào tai người nghe:
“Ồ, Diệp tam ca! Lão phu nhận được lời mời của Trưởng thôn sáng nay, cứ ngỡ chi Ba nhà ngươi có việc hệ trọng gì cần thưa thỉnh họ hàng làng xóm. Chẳng lẽ mới đầu tháng tư âm lịch, chưa tới kỳ hạn rằm tháng mười mà nhà ngươi đã vội vã gom góp được vài hào tiền lãi còm đến đây xin khất nợ hay sao? Nói trước cho ngươi hay, trang trại họ Lương trước nay chỉ trọng khế ước giấy trắng mực đen, dẫu có Cụ Bảy và Trưởng thôn ở đây làm chứng, thiếu một đồng kẽm tiền lãi thôi thì cũng đừng hòng lão gia nhà ta nương tay với hai mẫu ruộng gò Cồn Gió!”
Tiểu Mãn không hề biến sắc trước lời khiêu khích nặc mùi trịch thượng ấy. Nàng bước lên một bước đĩnh đạc, đặt trang trọng chiếc tay nải gấm hoa lên chiếc bàn dài bằng gỗ gụ giữa gian từ đường, rồi khẽ nghiêng mình cúi đầu hành lễ với Cụ Bảy và Trưởng thôn Phạm Đức Thuận:
“Thưa Cụ Bảy, thưa Trưởng thôn Phạm và các bậc trưởng bối trong làng. Hôm nay, cha con con kính thỉnh các cụ cùng Trưởng thôn chứng giám, tuyệt nhiên không phải để xin khất nợ hay nộp thêm vài đồng tiền lãi lẻ. Chi Ba nhà họ Diệp hôm nay mang đủ bạc trắng và tiền đồng đến đây, xin được thanh toán dứt điểm toàn bộ số nợ gốc bảy lượng bạc còn lại cho Lương gia, chuộc lại hoàn toàn văn tự thế chấp hai mẫu ruộng Cồn Gió trước anh linh tổ tiên!”
Lời nói rành rọt, đanh thép của Tiểu Mãn như một tiếng sét nổ ngang tai giữa gian từ đường yên tĩnh. Đám đông dân làng đứng ngoài hiên ồ lên một tiếng kinh ngạc tột độ.
“Bảy lượng bạc trắng sao? Trời đất quỷ thần ơi, nhà Diệp Thành lấy đâu ra số tiền khổng lồ ấy trong vòng mấy tháng ngắn ngủi thế này?”
“Ruộng Cồn Gió khô cằn toàn sỏi đá thế mà con bé Tiểu Mãn xoay xở cứu được cả nhà thật rồi!”
“Đúng là tài thật, làm dưa tương mà kiếm ra bạc ròng trả nợ địa chủ, xưa nay làng ta chưa từng thấy ai làm được như vậy!”
Lương Quảng Tài giật thót mình, chiếc quạt xếp trên tay khựng lại giữa không trung. Lão nheo mắt nhìn chiếc tay nải căng tròn đặt trên mặt bàn gụ, trong lòng dâng lên một nỗi hoang mang tột độ. Lão vốn đinh ninh rằng với đợt hạn hán khốc liệt vừa qua tại thôn Thanh Khê, nguồn nước cạn kiệt, ruộng Cồn Gió chắc chắn sẽ thất thu, đến rằm tháng mười nhà họ Diệp sẽ không thể nào gom đủ bảy lượng bạc gốc và hai lượng lãi kỳ cuối. Khi ấy, lão và kẻ ngầm câu kết trong bóng tối sẽ đường hoàng viện cớ xiết nợ, cưỡng chế mảnh đất màu mỡ ấy với giá rẻ mạt như cho không. Nào ngờ chuyện lại xoay chuyển ngoài dự tính của lão đến mức này...
Cố giữ vẻ bình tĩnh, Lương Quảng Tài hắng giọng một tiếng thật vang, gõ mạnh chiếc quạt xuống mặt bàn trà kêu cạch một tiếng:
“Hừ! Miệng lưỡi rỗng tuếch! Bảy lượng bạc trắng không phải là mớ rau muống, bát dưa cải mà các ngươi đem ra huênh hoang ngoài chợ phiên! Đưa bạc ra đây để gia đinh của ta cân đo giám định cho rõ ràng! Nhưng trước hết, đừng tưởng chỉ nộp đủ bảy lượng nợ gốc là xong chuyện!”
Lão quay đầu, ra hiệu cho tên gia đinh mở chiếc hộp sơn then, rút ra một tờ giấy bản đã ngả màu ố vàng, lớn tiếng dõng dạc át cả tiếng xì xào của dân làng:
“Căn cứ vào văn tự lập lại ngày hai mươi sáu tháng giêng năm nay, nợ gốc quả thực còn lại bảy lượng bạc chẵn. Thế nhưng, các ngươi tất toán trước thời hạn rằm tháng mười những nửa năm trời! Khế ước đã định rõ mỗi quý hai lượng bạc lãi, tính từ tháng giêng đến nay đã qua một quý, các ngươi phải nộp đủ hai lượng bạc lãi của kỳ này! Chưa kể... khố phòng họ Lương chúng ta phải xuất sổ sớm, kiểm kê văn tự lưu trữ và chi phí ngựa xe đi lại từ phủ huyện về đây, cộng thêm ba tiền bạc phí giải khế! Tổng cộng không dưới chín lượng ba tiền bạc trắng! Thiếu một phân, một ly, lão phu dứt khoát không giao trả văn tự gốc!”
Dân làng nghe vậy liền bực tức xì xào phẫn nộ. Ngô Quế Hoa đứng lẫn trong đám đông xóm Giếng không kìm được liền lẩm bẩm chửi đổng:
“Rõ là quân hút máu người! Người ta trả nợ sớm mà còn đòi phạt thêm tiền lãi với phí đi lại, có thứ lý lẽ ăn cướp ban ngày như thế bao giờ không!”
Diệp Thành nghe lão đòi thêm hơn hai lượng bạc nữa thì lồng ngực phập phồng dữ dội, bàn tay siết chặt lấy thân gậy nghiến đến mức khớp ngón trắng bệch, gân xanh nổi cuồn cuộn trên mu bàn tay. Hai lượng bạc nữa... con số đó bằng cả mấy tháng trời mồ hôi nước mắt của cả nhà! Nhưng chưa để cha phải bận lòng lên tiếng, Tạ Cảnh đã ung dung bước lên, đặt chiếc tráp gỗ trắc xuống cạnh chiếc nghiên mực đá của Trưởng thôn.
Chàng thư sinh khẽ mỉm cười, ánh mắt sắc sảo như lưỡi kiếm nhìn thẳng vào gương mặt bóng nhờn của Lương Quảng Tài:
“Lương quản sự, trước mặt thần linh tổ tiên họ Diệp và hương ước thôn Thanh Khê, ngài chớ nên ăn nói hàm hồ, làm vấy bẩn chốn từ đường tôn nghiêm!”
Tạ Cảnh từ tốn mở nắp tráp gỗ trắc, rút ra cuốn sổ bộ thẻ tre được đóng gáy chỉ gai cẩn thận và đặt lên mặt bàn ba tờ biên nhận có triện đỏ sắc nét:
“Thứ nhất, về khoản tiền lãi hai lượng bạc của kỳ ba mà ngài vừa bịa đặt: Xin mời Trưởng thôn và các bô lão xem xét bản biên nhận thu nợ này. Ngày mười hai tháng hai năm Cảnh Hưng thứ tư, tại chính điếm canh thôn Thanh Khê, Diệp gia chúng tôi đã bàn giao đủ tám lượng bạc trắng cho chính tay Lương quản sự. Trong đó, bảy lượng bạc vụn hiệu Phúc Thái và một ngàn đồng tiền kẽm Cảnh Hưng đã được trừ thẳng vào nợ gốc, đưa số dư nợ từ mười lăm lượng xuống còn đúng bảy lượng chẵn. Đồng thời, một lượng bạc còn lại trong khoản tiền lãi phát sinh của kỳ xuân đã được tính gộp và thanh toán đầy đủ, có chữ ký và điểm chỉ chu sa của chính ngài đây!”
Tạ Cảnh giơ cao tờ biên nhận có dấu triện ba góc của khố phòng họ Lương. Trưởng thôn Phạm Đức Thuận đón lấy, nheo mắt đọc kỹ từng dòng chữ mực đen rành mạch rồi gật đầu dứt khoát:
“Đúng vậy! Bản biên nhận này do chính tay ta đóng dấu lý dịch làm chứng ngày hôm đó. Khoản tiền lãi tính đến hết vụ xuân đã thanh toán sòng phẳng, Lương quản sự không thể chối cãi!”
Mặt Lương Quảng Tài hơi biến sắc, khóe môi giật giật, nhưng lão vẫn ngoan cố cãi chày cãi cối:
“Được! Cho là khoản lãi cũ đã trừ xong! Nhưng còn phụ phí giải khế ba tiền và tiền tổn thất do tất toán sớm thì sao? Khố phòng họ Lương mở ra không phải để cho phường chân lấm tay bùn các ngươi thích vay thì vay, thích trả lúc nào thì trả!”
Tạ Cảnh khẽ cười nhạt, chàng lật mở cuốn sổ tay bìa xanh ghi chép điển lệ triều đình, ngón tay thon dài lướt trên từng điều khoản được chép ngay ngắn bằng mực nho:
“Lương quản sự, ngài chớ quên điều thứ tư mươi hai trong chương Hộ Luật của Đại Lương Điển Lệ: ‘Phàm các khoản vay mượn điền sản dân sự, người vay có quyền chuộc lại khế ước bất kỳ lúc nào khi gom đủ nợ gốc, chủ nợ chỉ được phép thu lãi theo số tháng thực tế đã phát sinh, tuyệt đối nghiêm cấm việc đặt ra các danh mục phụ phí giải khế, phí lưu kho hay tiền phạt chuộc non’. Hơn thế nữa, chính trong bản văn tự nợ mới do ngài ký tên ngày hai mươi sáu tháng giêng trước sự chứng giám của Cụ Bảy và Trưởng thôn, điều khoản thứ ba đã ghi rõ: ‘Hủy bỏ vĩnh viễn phụ phí bảo quản văn tự ba phần trăm và nghiêm cấm đặt thêm bất kỳ khoản phụ phí nào khác ngoài số nợ gốc bảy lượng’.”
Tạ Cảnh ngừng lại một nhịp, ánh mắt lạnh băng xoáy thẳng vào gương mặt đang xám ngoét của đối phương:
“Ngài Lương, ngài muốn tự tay xé bỏ khế ước đã có triện của lý điếm thôn, hay muốn chúng ta cùng mang bản văn tự này lên nha môn huyện Vân Thủy để Tri huyện đại nhân định đoạt xem khố phòng họ Lương có to hơn luật pháp của triều đình hay không?”
Hai chữ “nha môn” thốt ra như một đòn giáng nặng nề khiến Lương Quảng Tài run rẩy bờ vai. Lão nhớ lại bận trước suýt chút nữa bị lột trần mưu mô câu kết ngầm hòng cướp ruộng, nếu vụ việc này bị đẩy lên quan phủ, cái ghế đại quản sự của lão chắc chắn sẽ khó giữ nổi trước cơn thịnh nộ của Lương lão gia. Quan huyện Vân Thủy xưa nay vốn nổi tiếng nghiêm khắc với các vụ việc cho vay nặng lãi vi phạm điển lệ, nếu để kinh động đến quan trên, khố phòng họ Lương không chỉ mất bạc mà còn bị phạt trượng tước quyền kinh doanh điền sản.
Cụ Bảy trên ghế tràng kỷ lúc này đập mạnh chiếc gậy đầu rồng xuống sàn đá ong kêu cắc một tiếng vang rền, giọng nói sang sảng đầy uy quyền của bậc trưởng thượng vang dội khắp gian nhà:
“Lương quản sự! Dòng họ Diệp chúng ta tuy nghèo nhưng sống có đạo lý, có lệ làng phép nước! Năm ngoái gia đình Diệp Thành gặp hoạn nạn, cắn răng vay bạc của các người, chưa từng trễ hẹn một ngày nộp lãi, cũng chưa từng làm mất một hào thể diện của chủ nợ! Nay con cháu nhà họ Diệp làm ăn chân chính, gom đủ bạc ròng chuộc đất, ngươi lại dùng thói gian thương ép uổng đòi thêm phụ phí vô lý ngay trước hương linh tiên tổ ta sao? Đừng tưởng dân Thanh Khê này hèn yếu mà muốn đè đầu cưỡi cổ thế nào cũng được!”
Trưởng thôn Phạm Đức Thuận cũng đứng phắt dậy, mặt nghiêm nghị quở trách:
“Lương quản sự! Bản hương ước thôn Thanh Khê và con dấu lý triện của ta không phải trò đùa! Hôm nay có mặt toàn thể bô lão, nếu ngươi còn cố tình vòi vĩnh phụ phí trái luật, ta lập tức lập biên bản giải lên Ty Tuần Kiểm huyện thành xử lý tội nhũng nhiễu lương dân!”
Trước sức ép ngàn cân từ luật lệ triều đình, uy thế của dòng họ và sự phẫn nộ bừng bừng của dân làng đang vây kín ngoài hiên, mồ hôi hột trên trán Lương Quảng Tài túa ra như tắm. Lão gượng gạo nuốt khan một ngụm nước bọt, chiếc quạt trên tay run rẩy cụp lại, mặt mày xám xịt không còn chút khí thế hống hách ban đầu.
“Được... được rồi! Các ngươi... các ngươi đừng mang nha môn ra dọa lão phu!” Lương Quảng Tài lắp bắp, giọng nghẹn lại trong cổ họng. “Nếu... nếu Đại Lương Điển Lệ đã định như thế, họ Lương ta là gia tộc danh giá, chẳng thèm chấp nhặt ba tiền bạc lẻ ấy làm gì! Đưa đủ bảy lượng bạc gốc ra đây!”
Tiểu Mãn không để lão kịp thở phào lấy lại bình tĩnh. Nàng bước tới, hai tay mở tung chiếc tay nải gấm hoa.
Ánh sáng ban mai rọi qua ô cửa sổ con chấn song gỗ của từ đường chiếu thẳng vào mặt bàn gụ, làm bừng lên sắc trắng tinh khiết của thỏi bạc nén hai lượng móng ngựa vuông vắn, vây quanh bởi mười nén bạc vụn năm tiền sáng loáng tinh ròng từ hiệu bạc quan phủ. Mười nén bạc năm tiền là đúng năm lượng, cộng với thỏi hai lượng ở giữa vừa vặn chạm khít con số bảy lượng bạc trắng tinh khiết, không pha lẫn một hạt bụi than hay xỉ đồng.
“Xin mời Lương quản sự cho gia đinh đặt lên cân tiểu ly, kiểm định đủ phân đủ lạng!” Giọng Tiểu Mãn trong trẻo, vang vọng khắp gian từ đường.
Tên gia đinh run rẩy nhìn sắc mặt chủ, vội vàng mang chiếc cân đồng ra, đặt đĩa cân thăng bằng trên mặt bàn. Chiếc cần cân bằng xương khẽ lắc lư, từng quả cân bằng đồng chuẩn xác được đặt xuống. Tên gia đinh kiểm tra kỹ lưỡng từng vết cắt, gõ nhẹ thỏi bạc vào nhau nghe tiếng kêu trong veo, soi độ tinh khiết của bạc dưới ánh mặt trời rồi cúi đầu lí nhí bên tai Lương Quảng Tài:
“Bẩm quản sự... bạc ròng mười phần không hao hụt... đủ đúng bảy lượng không thiếu một ly, một hào nào ạ.”
Từng lời của tên gia đinh như ngàn mũi kim châm vào lòng tự ái của gã quản sự xảo quyệt. Lương Quảng Tài biết đại thế đã mất, không còn bất kỳ kẽ hở nào để lão có thể trì hoãn hay lật lọng được nữa.
“Được... bạc đủ lạng!” Lương Quảng Tài nghiến răng ken két, tự tay vơ lấy số bạc nén nhét vào chiếc túi vải điều của mình.
“Khoan đã!” Tạ Cảnh cất tiếng dõng dạc, ngăn bàn tay của lão lại. “Lương quản sự, nhận bạc rồi thì phải làm tròn bổn phận! Bản văn tự vay nợ gốc và giấy tất toán đâu?”
Dưới sự giám sát nghiêm mật của Trưởng thôn Phạm Đức Thuận và ánh mắt sắc như dao cau của Cụ Bảy, Lương Quảng Tài nuốt cục tức nghẹn ứ nơi cổ họng, run rẩy thò tay vào hộp sơn đen rút ra tờ văn tự nợ ố vàng năm ngoái—tờ giấy từng gieo rắc bao cơn ác mộng kinh hoàng cho cả gia đình họ Diệp suốt ba năm qua.
Trước sự chứng kiến của toàn thể dân làng, Lương Quảng Tài cắn răng, dùng hai tay xé đôi tờ văn tự cũ toạc một tiếng ròn rã!
Tiếng xé giấy ấy vang lên giữa từ đường thanh tịnh, nghe êm tai và sảng khoái đến lạ kỳ. Từng mảnh giấy nợ rách nát rơi lả tả xuống mặt bàn gỗ, chấm dứt hoàn toàn xiềng xích nợ nần đã đè nặng lên lưng gia đình Diệp Thành suốt mấy năm trời.
Chưa dừng lại ở đó, Tạ Cảnh đã mài sẵn mực đen trên chiếc nghiên đá Đoan Khê, nhanh chóng trải ra một tờ giấy bản trắng tinh khiết có tiêu đề lớn: “Thanh Khê Thôn Diệp Tộc Chi Ba Tất Toán Nợ Nần Biên Nhận”. Chàng thư sinh chấm ngọn bút lông thỏ, viết thoăn thoắt từng dòng chữ rồng bay phượng múa, xác nhận khố phòng họ Lương đã thu đủ toàn bộ mười lăm lượng bạc nợ gốc và các kỳ tiền lãi hợp pháp, hai bên từ nay dứt điểm ân oán, ruộng gò Cồn Gió hoàn toàn thuộc quyền sở hữu vĩnh viễn của chi Ba họ Diệp, không ai được phép tranh chấp hay khiếu kiện.
“Mời ngài ký tên và điểm chỉ chu sa vào đây!” Tạ Cảnh đưa nghiên mực và hộp son đỏ tới trước mặt Lương Quảng Tài.
Bàn tay Lương Quảng Tài run rẩy cầm lấy ngọn bút lông, ký nguệch ngoạc tên mình rồi ấn ngón tay cái vào hộp son đỏ, dập mạnh một dấu điểm chỉ đỏ tươi lên góc tờ biên nhận tất toán.
Trưởng thôn Phạm Đức Thuận lập tức bước lên, cầm con dấu lý triện bằng đồng đóng cộp một tiếng đanh gọn đè lên phần giáp lai giữa chữ ký và dấu tay. Cụ Bảy cùng hai vị bô lão lớn tuổi nhất họ Diệp cũng trang trọng bước tới, lần lượt ấn ngón tay điểm chỉ làm chứng.
Biên nhận được lập thành ba bản giống hệt nhau: một bản giao cho Lương Quảng Tài mang về khố phòng, một bản lưu tại từ đường họ Diệp, và bản chính thức được Trưởng thôn hai tay trao tận nơi cho Diệp Tiểu Mãn.
Khi tờ giấy biên nhận tất toán còn thơm mùi mực mới nằm trọn trong lòng bàn tay Tiểu Mãn, Diệp Thành—người đàn ông quanh năm dầm mưa dãi nắng, từng chịu đựng nỗi đau đớn thấu xương tủy khi bị gỗ đè nát chân mà không rơi một giọt nước mắt—bỗng buông rơi chiếc gậy nghiến xuống nền đá.
Ông quỳ sụp xuống trước bàn thờ tổ tiên họ Diệp, hai vai rung lên bần bật, những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên đôi gò má gầy guộc, nhăn nheo khắc khổ:
“Tổ tiên ơi... Con đã giữ được ruộng hương hỏa rồi! Ruộng Cồn Gió của cha ông để lại... từ nay không còn sợ ai cướp mất nữa rồi!”
Tiếng khóc nghẹn ngào vỡ òa của người cha tật nguyền khiến cả gian từ đường bùi ngùi xúc động. Trần A Lan đứng bên ngoài hiên đưa tay lau vội giọt nước mắt lăn trên má; thím Năm, chị Dâu bác Tư cùng những người trong nhóm đổi công đều rưng rưng niềm vui sướng nghẹn ngào thay cho gia đình họ Diệp. Bao nhiêu năm bị áp bức, bị đè nén bởi món nợ địa chủ, hôm nay họ mới được thấy một gia đình nghèo hèn vùng lên rửa sạch tủi nhục một cách đường hoàng, đĩnh đạc đến vậy.
Lương Quảng Tài mặt mày xám ngoét như tro tàn, không dám nán lại thêm một khắc nào giữa chốn này. Lão hậm hực vẫy tay gọi hai tên gia đinh ôm túi bạc lủi thủi bước nhanh ra cổng từ đường như một kẻ bại trận thảm hại, không buồn ngoái đầu nhìn lại.
Thế nhưng, ngay khi bóng dáng Lương Quảng Tài vừa khuất sau rặng tre đầu ngõ, Diệp Tiểu Mãn đã nhanh nhẹn đỡ cha đứng dậy, dìu ông ngồi ngay ngắn vào chiếc ghế gỗ. Nàng không hề chìm đắm trong niềm xúc động nhất thời, mà đôi mắt thông tuệ ấy lập tức ánh lên sự quyết đoán của một người nắm giữ sinh mệnh và tương lai của cả gia tộc.
Tiểu Mãn lại thò tay vào đáy chiếc tay nải gấm hoa, lấy ra một chiếc túi vải thô mộc mạc khác đặt lên trước mặt Trưởng thôn Phạm Đức Thuận.
Khi miệng túi mở ra, bên trong lộ ra những nén bạc vụn năm tiền lấp lánh cùng các xâu tiền đồng Cảnh Hưng đỏ au—đây chính là bốn lượng ba tiền bạc trắng còn dư lại sau khi đã trừ sạch bảy lượng nợ gốc cho nhà địa chủ.
Dân làng lại một lần nữa trố mắt kinh ngạc, tiếng bàn tán lại rộ lên như sóng trào. Họ không ngờ sau khi trả sạch món nợ nghìn cân của họ Lương, nhà Diệp Thành vẫn còn tích lũy được một số tiền lớn đến bực này!
Tiểu Mãn hướng về phía Trưởng thôn Phạm Đức Thuận và các bô lão, giọng nói đĩnh đạc, rõ ràng:
“Thưa Cụ Bảy, thưa Trưởng thôn và các bậc trưởng bối trong làng. Món nợ Lương gia đã dứt điểm, hai mẫu ruộng Cồn Gió đã an toàn. Nay xưởng Diệp Gia Dưa Tương của chúng con đã ký kết hợp đồng cung ứng định kỳ một năm với Tửu lầu Vọng Giang ngoài huyện thành, đồng thời thành lập Mạng lưới Nông hộ liên kết Thanh Khê với mười hai chủ hộ trong làng. Quy mô sản xuất ngày càng mở rộng, kho bãi tại sân nhà không còn đủ chỗ để đặt thêm chum sành và phơi đậu nành đạt chuẩn vệ sinh.”
Nàng dừng lại một nhịp, đưa tay chỉ về hướng dải gò thoai thoải ven dòng suối nhỏ cách từ đường không xa:
“Con được biết thôn ta đang có chủ trương mở thầu khoảnh đất gò hoang năm mẫu cạnh bờ Khe Thanh để lấy kinh phí tu bổ đập nguồn núi Thanh Lĩnh và lợp lại mái đình làng. Hôm nay, trước mặt thần linh tổ tiên và toàn thể dân làng, con xin đại diện cho chi Ba họ Diệp, nộp trước ba lượng bạc trắng này làm tiền đặt cọc để xin nhận thầu khai khẩn vĩnh viễn khoảnh đất gò năm mẫu ấy!”
Cả từ đường như nổ tung trong sự thán phục.
Khoảnh đất gò năm mẫu cạnh Khe Thanh xưa nay vốn là bãi đất hoang mọc đầy cỏ tranh và cây gai dại, đất đai tuy có phù sa bồi đắp từ dòng khe nhưng vì địa thế gồ ghề, sỏi đá nên chưa ai dám đứng ra nhận thầu khai khẩn. Nay Tiểu Mãn không chỉ dám nhận thầu mà còn lập tức bỏ ra ba lượng bạc tươi đặt cọc giúp thôn giải quyết bài toán kinh phí sửa đập nước sinh tử!
Trưởng thôn Phạm Đức Thuận mừng rỡ khôn xiết, hai tay đỡ lấy số bạc nén, cười vang sang sảng:
“Tốt! Tốt lắm! Tiểu Mãn cháu quả thực là bậc nữ nhi có chí khí phi thường! Số tiền ba lượng bạc này của cháu đến đúng lúc như mưa rào gặp nắng hạn, việc đắp lại bờ đập Thanh Lĩnh và đảo ngói mái đình từ nay đã có kinh phí lo liệu! Ta đại diện cho lý điếm thôn Thanh Khê, chính thức tiếp nhận tiền đặt cọc của chi Ba nhà Diệp Thành! Ngay ngày mai, ta sẽ cùng các bô lão cắm cọc mốc ranh giới, làm thủ tục xin cấp văn khế điền thổ chính thức cho gia đình cháu!”
Cụ Bảy gật đầu tấm tắc khen ngợi, chòm râu bạc rung rinh vì hãnh diện:
“Con cháu nhà họ Diệp ta có đứa giỏi giang, biết nghĩ cho đại cuộc của làng xóm như thế này, tổ tiên dưới suối vàng ắt hẳn cũng phải mỉm cười tự hào!”
***
Ở một góc hiên từ đường, nép sau cột đá ong rêu phong xám xịt, có một bóng người đang đứng chết lặng từ đầu đến cuối buổi lễ.
Đó chính là Diệp Đại Phúc.
Người bác cả của Tiểu Mãn, kẻ từng bị phế truất chức vị trưởng chi và phạt cấm túc sám hối vì tội thông đồng lừa gạt đất đai ruột thịt, hôm nay nghe phong phanh chuyện đòi nợ đã lén lút mò đến rình rập. Lão đứng nép ngoài hiên, gương mặt bủng beo nhăn nhúm vì đố kỵ và bẽ bàng tủi nhục.
Lão từng chắc mẩm rằng đứa em trai tàn tật Diệp Thành và đứa cháu gái vắt mũi chưa sạch kia sẽ phải quỳ gối dưới chân Lương Quảng Tài mà van xin khất nợ. Lão từng mơ tưởng đến ngày ruộng Cồn Gió bị siết, lão sẽ đường hoàng dùng vài lượng bạc còm đứng ra chuộc lại dưới danh nghĩa “cứu vớt thể diện dòng họ”, để rồi chiếm trọn hai mẫu đất ấy cho con trai Diệp Văn Long làm vốn ôn thi.
Nào ngờ, trước mắt lão lúc này là một cảnh tượng hoàn toàn trái ngược.
Người em trai mà lão từng khinh khi coi là kẻ phế nhân nay chống gậy đứng thẳng lưng đầy kiêu hãnh. Đứa cháu gái mười bảy tuổi mà lão từng toan gả bán cho con trai tật nguyền nhà họ Tiền nay đứng giữa từ đường, đĩnh đạc dùng luật lệ bẻ gãy mọi nanh vuốt của đại quản sự địa chủ, vung tay trả sạch bảy lượng nợ gốc không chớp mắt, rồi lại nhẹ nhàng rút thêm ba lượng bạc trắng tươi rói ra đặt cọc mua đứt năm mẫu đất gò ven khe!
Dải đất gò năm mẫu ấy... dòng nước Khe Thanh chảy vòng quanh màu mỡ, vị trí đắc địa kề cận đường liên thôn... Gia đình Diệp Thành không những không mất một tấc đất Cồn Gió, mà nay đã chính thức trở thành chủ nhân của một cơ nghiệp điền trang rộng lớn thênh thang!
Nhìn dân làng vây quanh chúc tụng cha con Diệp Thành, nhìn vẻ đĩnh đạc, rạng rỡ và bản lĩnh hơn người của Tiểu Mãn, ngực Diệp Đại Phúc như bị một tảng đá đè nghẹn thở không ra hơi. Cơn đố kỵ hẹp hòi cùng nỗi căm hận vì bị tước đoạt thể diện cuộn trào dữ dội trong bụng lão.
“Con ranh con... Đừng tưởng trả hết nợ họ Lương, mua được dải đất hoang là đã thành phượng hoàng bay lên cành cao!” Diệp Đại Phúc nghiến răng kèn kẹt, ánh mắt ti hí lóe lên tia nhìn độc địa, hiểm độc lén liếc nhìn vóc dáng thanh tú của Tiểu Mãn.
Lão thầm tính toán trong đầu, sự nghiệp của con bé này càng phất lên, danh tiếng xưởng dưa tương càng vang dội, thì cái giá gả bán nó cho các mối nhà giàu trên trấn lại càng thêm béo bở. Nhánh bác cả của lão đã mất hết mặt mũi, muốn gỡ gạc lại thể diện và vơ vét một món hời lớn để con trai Văn Long có tiền chạy chọt thi cử, thì chỉ còn duy nhất một con đường: dùng danh nghĩa trưởng tộc ép gả con bé này vào một mối quyền quý giàu có bậc nhất vùng!
Nghĩ đến đó, Diệp Đại Phúc hậm hực xoay người, lén lút lủi nhanh qua rặng tre để trở về xóm Bắc, trong đầu nung nấu một mưu đồ mới đen tối và toan tính hơn gấp bội phần.
***
Buổi trưa hôm ấy, gian nhà tranh ba gian của gia đình họ Diệp ngập tràn tiếng cười nói hân hoan rộn rã chưa từng thấy.
Mùi thịt lợn ba chỉ kho với tương nếp hoa cau thơm nức mũi lan tỏa từ căn bếp nhỏ, quyện cùng đĩa dưa cải sen nén màu vàng óng, giòn rụm và bát canh rau ngót nấu tôm khe ngọt lịm. Bữa cơm hôm nay không chỉ mừng gia đình chính thức trút bỏ được gánh nặng nợ nần truyền kiếp, mà còn là bữa tiệc ăn mừng bước ngoặt vĩ đại: dải đất gò năm mẫu ven bờ Khe Thanh từ nay đã mang tên họ Diệp.
Nhị Hòa và Tam Nha ngồi bên mâm cơm, vừa ăn vừa hào hứng bàn tính chuyện ngày mai sẽ cùng cha mang cuốc xẻng ra cắm mốc ranh giới, dọn dẹp cỏ tranh để chuẩn bị dựng hàng rào tre cho xưởng chế biến mới. Tiểu Đậu thì cười tít mắt, ôm khư khư chiếc bánh khảo vừng mà Tạ Cảnh vừa mua thưởng cho cậu bé vì đã chăm chỉ tập viết đủ mười trang chữ.
Bên bàn nước ngoài chái hiên, Tạ Cảnh nhẹ nhàng chấm ngọn bút lông thỏ vào nghiên mực đá Đoan Khê, cẩn thận kẻ từng đường nét ngay ngắn trên tờ giấy bản mới tinh:
“Tiểu Mãn, đây là bản phác thảo sơ đồ mặt bằng xưởng chế biến dưa tương trên dải đất gò ven khe mà ta vừa tính toán xong. Khu vực phía nam sát dòng khe có độ dốc thoai thoải, rất thuận tiện để xây mương dẫn nước sạch chảy qua bể lọc đá cát phục vụ việc rửa nguyên liệu. Khoảng đất bằng phẳng ở giữa sẽ đắp nền cao ba thước, lát gạch nung để làm sân phơi đậu nành và giàn ủ mốc hoa cau, tránh hoàn toàn được hơi ẩm từ lòng đất bốc lên. Còn khu đặt năm mươi chiếc chum ngấn nước mới của Đào Tam Nương, chúng ta sẽ dựng nhà mái lá cọ có phên chắn gió bấc hướng bắc...”
Tiểu Mãn ghé sát lại gần, chăm chú lắng nghe từng lời phân tích thấu đáo của Tạ Cảnh. Khoảng cách giữa hai người gần đến mức nàng có thể ngửi thấy mùi mực nho thanh khiết và hơi ấm dịu dàng toát ra từ vạt áo chàm của chàng thư sinh. Nàng khẽ ngước mắt lên, bắt gặp ánh nhìn chan chứa sự tin cậy, ấm áp và một niềm cảm mến sâu kín không lời trong đôi mắt chàng.
“Tạ công tử... suốt thời gian qua, nếu không có chàng hết lòng giúp đỡ sổ sách, luật lệ và cùng gia đình ta trải qua bao phen sóng gió hiểm nguy, có lẽ nhà họ Diệp đã không thể có được ngày hôm nay.” Tiểu Mãn khẽ cất lời, giọng nói nhỏ nhẹ nhưng chất chứa muôn vàn ân tình sâu nặng.
Tạ Cảnh khẽ mỉm cười, đôi mắt sáng như ánh sao đêm:
“Tiểu Mãn muội muội chớ nói vậy. Điền trang này được dựng xây từ chính đôi bàn tay cần cù, khối óc kiên định và chữ tín như vàng của muội. Ta chỉ là kẻ mượn chút chữ nghĩa thánh hiền để cùng muội bảo vệ thành quả lao động chính đáng ấy mà thôi. Chỉ cần muội không chê kẻ thư sinh nghèo này vụng về, con đường phía trước dẫu có gian nan mở rộng xưởng điền trang, Tạ Cảnh này nguyện sẽ luôn kề vai sát cánh cùng muội.”
Một luồng hơi ấm ngọt ngào len lỏi vào sâu trong tim Tiểu Mãn, khiến đôi gò má nàng ửng hồng dưới ánh nắng trưa rực rỡ. Nàng khẽ gật đầu, lòng tràn ngập niềm tin tưởng và hy vọng vô bờ bến vào tương lai tươi sáng của mảnh đất ven khe.
Thế nhưng, niềm thanh thản, yên bình nơi xóm nhỏ vừa chớm nở thì ngoài cổng ngõ bỗng vang lên tiếng lách cách của chiếc then cài tre bị ai đó thô bạo lay mạnh.
Tiếng bước chân dồn dập kèm theo mùi hương phấn rẻ tiền nồng nặc sực nức cả một góc sân.
Diệp Thành chau mày đặt bát cơm xuống, Tạ Cảnh và Tiểu Mãn cũng đồng loạt ngẩng đầu nhìn ra ngõ.
Cánh cổng tre bật mở tanh tách.
Chu Kim Quế bất ngờ dẫn theo một bà mối ăn vận sặc sỡ bước qua cổng ngõ với chiếc khay trầu cau phủ vải đỏ.