Tiểu Thôn Nương Làm GiàuCh.38 / 45
Chapter 38

Biến nguy thành an: Đơn hàng bù đắp từ tương dưa

Mùi lá cải dốt nắng thơm nồng phảng phất khắp khoảng sân nhà họ Diệp, nơi từng nong rau héo se mặt đang chờ bàn tay muối ghém.

Nắng đầu mùa khô hanh như thiêu như đốt dội xuống dải đất bãi bồi ven chân núi Thanh Lĩnh. Từng luồng gió rộc từ các khe đá cằn cỗi thốc qua rặng tre xao xác, cuốn theo bụi mùn đất cát khô khốc, rát bỏng cả da mặt. Dưới chân gò, dòng Khe Thanh vốn dồi dào nước mát nay đã cạn trơ đáy sỏi, chỉ còn lại vài vũng nước tù đọng lóng lánh bùn non xám xịt. Dù hai mẫu ruộng Cồn Gió của nhà họ Diệp và khoảnh bãi bồi của Ngô Quế Hoa đã nhờ lớp rơm rạ mục phủ dày hai đốt ngón tay cùng những gáo nước chắt chiu từ đáy giếng đá và lòng mương sâu lúc nửa đêm mà kiên cường sống sót qua đợt đại hạn tàn khốc, nhưng cái giá phải trả để duy trì sự sống ấy không hề nhỏ. Để giữ cho rễ cái không bị nhiệt đất chai cứng bóp chết dưới lòng sâu, Tiểu Mãn đã buộc phải chỉ đạo nhóm đổi công bấm tỉa bớt các bẹ lá già cỗi, dồn từng giọt nhựa sống nuôi phần ngọn. Hậu quả là thân cải bị ngót nước nghiêm trọng, phiến lá thu hẹp, bẹ cải mỏng đi trông thấy, và dù đọt non vẫn mướt xanh thanh khiết nhưng còi cọc, nhẹ hẫng hơn hẳn lệ thường.

Ở góc sân đất nện phẳng lì, chiếc cân đòn bằng gỗ lim khảm đồng sáng bóng được kê ngay ngắn trên một đôi ghế con bằng gỗ nghiến. Diệp Nhị Hòa hai tay đỡ lấy đầu đòn cân, mặt mày căng thẳng tột độ. Mồ hôi từ trán cậu túa ra ròng ròng, rịn ướt đẫm cả vạt áo cộc bằng vải thô nhuộm củ nâu đã sờn rách hai bên mép vai.

Quả cân gang đen nhánh trượt lách cách trên từng khấc khắc hoa dâu khảm bạc, phát ra những âm thanh khô khốc giữa bầu không khí oi nồng, rồi ngập ngừng dừng lại ở một mức thấp hơn dự tính rất nhiều.

“Bao nhiêu cân rồi Nhị Hòa?” Tiểu Mãn đứng tựa bên mép giàn phơi, tay cầm cuốn sổ thẻ tre năm cột kẹp một thanh than củi vót nhọn, khẽ ngước mắt hỏi dồn.

Nhị Hòa cắn chặt môi dưới, đầu ngón tay run nhẹ khi gạt quả cân trở về vị trí mốc số không, mắt cậu đỏ hoe vì thất vọng:

“Chị... tính cả số cải non cắt sớm ở bãi của bác Quế Hoa vừa gánh sang ban nãy, rồi dồn hết cả ba sọt vừa trút từ trên gò xuống, tất tần tật mới được có hai mươi tám cân ba lạng. Đợt này hạn dữ quá, rễ cây chỉ đủ sức giữ lấy tim đọt non, bẹ mỏng tang, cầm lên nhẹ bẫng như bấc xốp. Cứ đà này, từ giờ đến đúng rằm giao hàng, chúng ta dù có chắt chiu, gom vét sạch sành sanh từng luống cũng chỉ được chừng ba mươi cân rau non tươi đạt chuẩn. Trong khi khế ước ký trắng mực đen với Vọng Giang Lâu hôm áp tết ấn định mỗi đợt rau non rằm tháng hai phải đủ năm mươi cân tròn trĩnh!”

Tiếng thở dài não nuột của Diệp Thành vang lên bên cạnh. Ông chống chiếc gậy gỗ nghiến, đứng cạnh giàn phơi nứa vừa được gia cố lại bằng mấy thanh tre đực chẻ đôi. Khớp gối của người cha già sau những thang thuốc bắc của thầy lang trong huyện và những bọc lá ngải sao muối giấm do Tiểu Mãn tỉ mẩn chườm mỗi tối đã tiêu hẳn chứng hoại tử sưng phù, việc đi lại đã vững vàng hơn trước rất nhiều, nhưng lúc này gương mặt sạm nắng đầy nếp nhăn của ông vẫn trĩu nặng âu lo. Ánh mắt ông dừng lại trên từng nong cải bánh tẻ đã tỉa bẹ nằm phơi nắng se mặt dọc theo bờ giậu râm bụt, giọng trầm đục và run rẩy:

“Tiểu Mãn à, hay là... hay là chiều nay ta đánh liều ra chợ đình gom thêm rau của các nhà xóm Đầm? Dẫu rau của họ bị táp nắng, ngả màu vàng vọt, nhưng ta chịu khó thức trắng đêm nhặt kỹ từng gốc rễ, cắt bỏ hết cuống úa dập nát rồi rửa sạch bù vào cho đủ số năm mươi cân giao nộp... Dẫu sao cũng là qua mắt được cửa khẩu cân hàng của trù phòng...”

“Không được đâu cha.” Tiểu Mãn lắc đầu dứt khoát, ánh mắt kiên định không hề có lấy nửa phần dao động. Nàng khẽ vuốt lại mép áo chàm, giọng nói rành rẽ và dứt khoát từng chữ: “Rau xóm Đầm đợt này thiếu nước tưới trầm trọng, người ta sốt ruột thúc phân tươi bón vội cháy cả chân rễ, cuống nồng gắt lại xơ cứng như rễ tre, cắn vào chỉ thấy vị đắng đót khó nuốt. Rau tươi đưa vào trù phòng Vọng Giang Lâu là để đích thân Trần đại trù xào nấu cho các phường khách thương hồ phương Nam sành miệng, họ trả tiền tươi thóc thật, sành ăn đến từng cọng rau ngọn cỏ non tơ. Nếu xưởng ta vì thiếu hụt vài chục cân mà đi thu gom hàng tạp nham kém sắc kém vị ấy trà trộn vào, chẳng những làm hỏng danh tiếng tửu lầu người ta, mà cái biển hiệu ‘Diệp Gia Dưa Tương’ cùng chữ tín nhọc nhằn gầy dựng bằng mồ hôi nước mắt bấy lâu nay cũng tan tành mây khói trong chớp mắt. Làm ăn như thế là tự bẻ gãy chén cơm của chính mình.”

Tạ Cảnh từ trong chái nhà bước ra sân, trên tay cầm bản sao bản khế ước cung ứng rau củ một năm viết bằng thứ mực nho đen láy trên giấy bản dày dặn, do chính tay chàng phụng thảo từng nét chữ chân phương. Chàng đứng bên cạnh Tiểu Mãn, khẽ gật đầu đồng tình:

“Tiểu Mãn nói rất đúng. Tôn chưởng quầy là người lăn lộn thương trường đất huyện mấy chục năm nay, tính tình tuy rộng rãi nhưng lại cầu toàn nghiêm cẩn bậc nhất. Thứ thương nhân như ông ấy ghét cay ghét đắng không phải là sự hao hụt sản lượng do trời làm hạn hán, mà chính là thói gian dối, tráo trở, đầu trộm đuôi cướp của những kẻ buôn non bán ép hòng qua mặt bạn hàng. Đã cùng nhau ký giao kèo trước bàn thờ tổ nghiệp, chỉ cần sai lệch một cọng rau là mất trọn niềm tin cả đời.”

“Nhưng trong giao kèo có khoản phạt vạ gấp ba...” Nhị Hòa lo lắng thốt lên, giọng nói nghẹn ứ nơi cổ họng. Cậu thiếu niên mười bốn tuổi nhìn chằm chằm vào bản khế ước, hai tay bấu chặt mép quần: “Nếu giao thiếu hai mươi cân rau non, theo lệ thường của giới buôn ngoài bến sông, người ta có quyền bắt bồi thường gấp ba số bạc của phần thiếu hụt! Chưa kể nếu Tôn chưởng quầy nổi giận hủy luôn khế ước cả năm, thì toàn bộ rau cải giống mới trên hai mẫu Cồn Gió của ta biết tính làm sao?”

“Chúng ta tuyệt đối không để đến lúc áp tải thuyền tới bến giao hàng mới mở miệng báo thiếu.” Tiểu Mãn gập tập thẻ tre lại cái cộp, ngẩng đầu nhìn về phía dòng sông Vân Thủy xa xa đang phản chiếu ánh nắng lấp loáng như dát bạc. “Hôm nay mới là sáng mùng năm, còn đúng mười ngày nữa mới đến kỳ hạn rằm tháng hai. Người đàng hoàng không giấu giếm cái khó, cũng không đợi nước tràn mép thuyền mới cuống cuồng tát nước. Nhị Hòa, em vào buồng thu xếp khăn gói ngay lập tức, mang theo bản kiểm kê sản lượng này và hai vò dưa mẫu sành nhỏ, đi chuyến đò sớm nhất qua bến Liễu Kiều lên thẳng huyện thành, vào tận Vọng Giang Lâu trình báo trung thực, thẳng thắn toàn bộ tình hình nắng hạn của Khe Thanh cho Tôn chưởng quầy!”

Cả khoảnh sân nhà họ Diệp bỗng chốc im phăng phắc trước quyết định táo bạo ấy. Tiếng gió rít qua rặng tre dường như cũng chững lại. Ở chốn buôn bán thôn dã này, nông dân hay phường buôn nhỏ lẻ thường có thói quen giấu nhẹm khó khăn, mong đợi một cơn mưa rào bất chợt cứu vãn, hoặc cố tình cù cưa đến sát giờ sát khắc mới tìm đủ thứ cớ để khất nợ hay đổ vạ cho đất trời. Việc chủ động cưỡi thuyền vượt ba mươi dặm đường sông ngược dòng lên tận huyện đường nhận phần thiếu hụt trước mười ngày là một nước đi xưa nay chưa từng có nông hộ nào trong vùng dám nghĩ tới.

Tiểu Mãn quay sang Tạ Cảnh, đôi mắt lánh đen ánh lên vẻ điềm tĩnh và thông tuệ lạ thường:

“Huynh Tạ, huynh còn nhớ điều khoản phụ mà hôm ở tầng hai Vọng Giang Lâu, trước khi điểm chỉ vào khế ước, huynh và muội đã kiên quyết yêu cầu Tôn chưởng quầy ghi thêm vào trang cuối chứ?”

Mắt Tạ Cảnh sáng bừng lên như có ngọn lửa bùng cháy, khóe môi chàng khẽ cong thành một nụ cười tán thưởng vô hạn:

“Điều khoản bất khả kháng! ‘Phàm khi gặp thiên tai sương muối, hạn hán khốc liệt hoặc bão lũ ngập úng làm hư hại mùa màng ngoài ý muốn của sức người, bên cung ứng được quyền dùng sản phẩm chế biến sẵn có giá trị tương đương để thế nợ khối lượng rau tươi thiếu hụt, đôi bên cùng hòa hoãn mà không áp dụng điều khoản phạt vạ gấp ba.’”

“Chính là nó!” Tiểu Mãn gật đầu thật mạnh, bàn tay nàng nắm chặt lấy thanh than củi. “Sản lượng rau non tươi đợt này xưởng ta chỉ có thể gom được chừng ba mươi cân đạt chuẩn loại một nõn nà. Thiếu mất hai mươi cân, nếu tính theo giá khế ước đã định là hai đồng tám phân mỗi cân, thì trị giá khoản thiếu hụt rau tươi là năm mươi sáu đồng tiền kẽm. Thay vì để nhà bếp tửu lầu rơi vào thế bị động rồi ôm bực dọc vì hụt món ăn kèm, ta sẽ bù đắp bằng chính thứ sở trường mạnh nhất của xưởng Diệp gia: thu gom toàn bộ số bẹ cải sen ngót nước đã phơi dốt nắng ngoài sân làm thành dưa nén mặn giòn, đồng thời xuất kho thêm tương đậu nành hoa cau đặc hảo hạng để thế nợ!”

Nàng lia thanh than củi vót nhọn lên mặt sau của chiếc thẻ tre phẳng mịn, tính toán rành rọt từng con số như đã nằm lòng tự bao giờ:

“Mỗi thăng tương hoa cau tầng giữa thơm quánh có giá mười tám đồng tiền kẽm, mỗi cân dưa cải sen nén róc sạch nước giá mười một đồng. Khoản thiếu hụt năm mươi sáu đồng kia, ta đề xuất xuất bù thêm ba thăng tương đặc hảo hạng và bốn cân dưa sen nén loại một, tổng giá trị sản phẩm bù đắp lên tới chín mươi tám đồng tiền kẽm. Phần chênh lệch hơn bốn mươi đồng bạc kẽm ấy, Diệp gia ta cam tâm tình nguyện chịu thiệt để tạ lỗi với tửu lầu vì việc thiên tai làm thiếu hụt số lượng rau tươi ban đầu. Hơn nữa, mùa khô hạn này cả huyện thành Vân Thủy chắc chắn đều khan hiếm rau xanh trầm trọng, dưa sen nén mặn giòn đượm vị gừng ấm và tương đặc sánh ngọt hậu sẽ là món ăn kèm giải ngấy tuyệt hảo cho khách thương hồ ăn cơm, ăn mì. Tôn chưởng quầy là một bậc lão luyện trên thương trường, nghe phương án có lý có tình và nắm chắc phần lợi này, ắt sẽ mười phần ưng thuận.”

Tạ Cảnh khẽ mỉm cười gật đầu, vạt áo nho sinh bay nhẹ trong gió trưa. Không chần chừ thêm một khắc, chàng bước ngay tới chiếc bàn gỗ mộc kê dưới bóng râm giàn mướp cằn, lấy thỏi mực nho mài trên chiếc nghiên đá Đoan Khê nhỏ màu tím sẫm—vật gia bảo mà chàng luôn mang bên mình. Đôi bàn tay thanh tú, ngón tay thon dài cầm cây bút lông đóm, nắn nót viết từng dòng chữ Khải ngay ngắn, sắc sảo lên mặt giấy bản dày dặn. Từng dòng chữ bày tỏ rõ ngọn ngành việc Khe Thanh kiệt nước, các số liệu cân đong thực tế tại sân, cùng phương án bù trừ hàng hóa chi tiết đến từng phân bạc kẽm. Khi nét mực cuối cùng vừa ráo, Tạ Cảnh cẩn thận cuộn bức thư lại, tra vào một ống tre cật bánh tẻ đã vót nhẵn, nút chặt bằng nắp gỗ khít khao có bọc sáp ong.

Nhị Hòa trân trọng nhận lấy ống tre và hai hũ sành mẫu dưa tương từ tay chị gái, ánh mắt cậu thiếu niên bừng lên vẻ kiên nghị, tự tin:

“Chị và huynh Tạ cứ yên lòng! Em sẽ đi đường tắt băng qua đồi Thạch Lĩnh ra bến Liễu Kiều bắt chuyến đò dọc sớm nhất. Chậm nhất là vào cuối giờ Thân hôm nay, em sẽ mang được thư hồi âm của Tôn chưởng quầy về tận xưởng cho cả nhà!”

Dứt lời, Nhị Hòa quàng túi vải chéo vai, bước chân thoăn thoắt dẻo dai lao vút đi, bóng áo nâu sờn nhanh chóng khuất sau rặng tre cằn cỗi đầu ngõ.

Nhìn theo bóng em trai, Tiểu Mãn hít một hơi thật sâu lồng ngực đầy ắp mùi lá cải dốt nắng thơm nồng, ngai ngái quen thuộc. Kế sách đã vạch định đâu vào đấy, lòng dạ đã thông suốt, nhưng công việc khó khăn nhất lúc này mới chính thức bắt đầu: nàng và cả xưởng phải chạy đua với từng khắc thời gian để hoàn thành một mẻ dưa cải sen nén giòn rụm, thơm ngon chưa từng thấy, kịp đóng gói xuất kho trước ngày rằm tháng hai.

***

Đúng như sự liệu đoán của Tiểu Mãn, chỉ sang đến đầu giờ Ngọ ngày hôm sau, tiếng bánh xe lộc cộc quen thuộc đã vang lên đầu con ngõ nhỏ dẫn vào thôn Thanh Khê. Diệp Nhị Hòa nhảy thoăn thoắt từ trên cỗ xe kéo hai bánh của một người quen xuống đất, mặt mũi đỏ gay vì gió bụi đường xa, mồ hôi nhễ nhại chảy dài bên thái dương nhưng nụ cười thì rạng rỡ như hoa nở:

“Chị ơi! Huynh Tạ ơi! Xong xuôi cả rồi!” Nhị Hòa vừa chạy ùa vào cổng vừa huơ cao ống tre khắc hoa văn: “Tôn chưởng quầy đọc xong phong thư của huynh Tạ thì vỗ đùi đánh đét một cái vang cả nhã phòng! Lão chưởng quầy cười lớn, khen chị Tiểu Mãn biết nhìn xa trông rộng, làm ăn đứng đắn đàng hoàng hiếm có trên đời! Ông ấy bảo giữa lúc các mối lái rau cỏ quanh huyện đang nháo nhào trốn nợ vì rau chết khô, không một ai thèm báo trước nửa lời, thì nhà họ Diệp chúng ta báo trước mười ngày tròn lại chủ động đưa ra phương án bồi hoàn vượt giá trị đến bốn mươi mấy đồng. Ông ấy hoàn toàn ưng thuận! Lão chưởng quầy còn dặn dò rất kỹ: chỉ cần chất lượng dưa sen nén đạt độ mặn giòn, dậy mùi gừng thơm như vò mẫu thử mang lên, thì bao nhiêu dưa nén nhà họ Diệp làm ra tửu lầu cũng nhận hết sạch!”

Lời báo tin hồ hởi của Nhị Hòa tựa như một gáo nước mát lành tưới rưới lên khắp gian sân oi bức, xua tan đi toàn bộ bầu không khí ngột ngạt, đè nặng tâm trí mọi người suốt mấy ngày qua. Diệp Thành đứng tựa vào cột hiên, thở phào một hơi nhẹ nhõm đến run cả bờ vai gầy, những nếp nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt ông giãn ra trong nụ cười mãn nguyện của một người cha cả đời tần tảo.

Thế nhưng, Tiểu Mãn không để bản thân chìm đắm trong niềm vui quá một khắc. Nàng hiểu tường tận sự khắt khe của nghề làm dưa tương thủ công: từ giờ cho tới lúc chất hàng lên thuyền chỉ còn vỏn vẹn chín ngày đêm ngắn ngủi. Trong khi đó, dưa cải sen muối nén theo lối ủ chum đất truyền thống của các bà, các mẹ nơi thôn dã thường phải mất từ mười bốn đến mười lăm ngày ròng rã mới có thể ngấu men, róc kiệt nước chát và đạt tới độ chua ngọt hài hòa.

“Nếu muối nén theo cách thức thông thường thì chắc chắn sẽ không kịp ngày rằm.” Tiểu Mãn quay sang nhìn mẹ và Trần A Lan, giọng nói hạ thấp đầy nghiêm cẩn. “Chúng ta phải dùng đến kỹ thuật muối nhanh gia truyền của bà ngoại.”

Lâm Tú Nương khẽ gật đầu, đôi mắt đượm buồn nhưng ánh lên niềm tự hào sâu sắc: “Mẹ nhớ rồi. Ngày trước khi còn ở bên quê ngoại, mỗi bận trong tổng có đám giỗ khao vọng đột xuất cần lượng dưa ghém lớn trong vài ba ngày, bà ngoại con cũng toàn làm dưa nén cấp tốc bằng cách chần qua nước sôi ấm đầu tăm cua rồi nén đá tảng ngâm nước giếng đá. Dưa ép men chua nhanh gấp đôi ba lần mà sắc lá vẫn giữ được màu vàng óng như tơ, cắn vào giòn sần sật chứ tuyệt nhiên không bị ủng mềm hay chua khé cổ.”

Không chậm trễ một khắc nào, xưởng chế biến nhỏ nơi chái nhà họ Diệp lập tức chuyển mình bước vào một guồng quay khẩn trương chưa từng có.

Trần A Lan khoác vội chiếc nón mê rách, nhanh nhẹn chạy đôn chạy đáo khắp xóm Giếng gom đủ nhóm đổi công bốn người gồm thím Năm xóm Cầu Đá, dì Bảy Đậu, cô Ba Thược và chị Dâu bác Tư. Những người phụ nữ nông dân chân lấm tay bùn này đều hiểu rất rõ rằng: chuyến hàng xuất ngoại vượt sông này không chỉ đơn thuần là chuyện cơm áo của riêng nhà họ Diệp, mà nó là sợi dây duy nhất giữ vững giá sàn thu mua rau cho cả thôn Thanh Khê giữa mùa đại hạn. Nếu xưởng Diệp gia gục ngã, mối liên kết với Vọng Giang Lâu đứt đoạn, thì toàn bộ các bãi bồi ven sông sẽ chìm vào cảnh bị thương lái ép giá rẻ mạt như bèo bọt. Vì thế, không ai bảo ai, vừa bước qua ngưỡng cửa sân, bốn người phụ nữ đã xắn cao tay áo, búi gọn tóc sau gáy, sẵn sàng chia việc răm rắp.

Đêm Thanh Khê buông xuống tĩnh mịch, gió hanh hao thổi qua lòng khe cạn trơ đá sỏi. Tiếng côn trùng ri ri kêu khan rát cổ họng ngoài các bờ đất nứt nẻ. Bên hiên nhà họ Diệp, hai ngọn đèn bão thắp bằng dầu lạc chong sáng rực một góc trời, soi rõ những bóng người thoăn thoắt đi lại không ngơi nghỉ.

Khâu đầu tiên là việc phân loại và sơ chế từng bẹ cải sen. Những bẹ cải ngót nước sau hai buổi trưa nằm phơi dốt nắng trên các giàn nứa ngoài sân đã đạt tới độ dẻo lý tưởng: phiến lá hơi co lại, gân lá mềm mại như dải lụa thô, cầm vặn thử không hề phát ra tiếng răng rắc hay gãy dập biểu bì. Thím Năm Cầu Đá và chị Dâu bác Tư ngồi xổm bên hai chiếc chậu gỗ lớn đổ đầy nước giếng khơi trong vắt pha một vốc muối hột. Bàn tay thô ráp của các bà tỉ mỉ cọ rửa từng kẽ bẹ lá, dùng móng tay cạo sạch từng hạt phù sa mịn màng còn bám dính nơi cuống cải, rồi xếp thành từng bó nhỏ bằng bắp tay trẻ con, buộc lỏng bằng một sợi rơm nếp.

Ở gian bếp ngoài, một chiếc chảo gang khổng lồ kê trên miệng bếp lò trấu đang bập bùng ánh lửa đỏ rực. Khói trấu cay nồng phả ra mùi thơm ấm áp, ngai ngái của rơm rạ đồng quê. Lâm Tú Nương trực tiếp đứng canh bên mép chảo, tay cầm một chiếc muôi gỗ dài. Đây chính là công đoạn sinh tử của bí quyết muối nhanh do cố sư phụ Lâm Thu Bà truyền lại qua ba đời: nước chần dưa tuyệt đối không được phép để sôi bùng sùng sục trào bọt, bởi nhiệt độ sôi một trăm độ sẽ làm chín nhũn biểu bì thực vật, phá nát các tế bào xơ giòn. Nước chỉ được đun lăn tăn sủi bọt nhỏ li ti nơi đáy chảo—dân gian gọi là sủi tăm đầu cua—độ nóng ước chừng bảy phần sôi ba phần nguội, tương đương nhiệt độ của một bát cháo hoa vừa bắc xuống.

“A Lan, nhúng từng bó một thôi con, chớ có tham lam nhét nhiều bó cùng lúc mà nhiệt nước bị hạ đột ngột, chín không đều mép lá!” Lâm Tú Nương dịu giọng căn dặn, đôi mắt không rời khỏi mặt nước chảo gang lăn tăn sủi tăm.

Trần A Lan hít một hơi sâu, hai bàn tay thoăn thoắt dùng đôi đũa cả bằng tre đực gắp từng bó cải dốt nắng dìm ngập xuống làn nước nóng ấm.

Một... hai... ba... bốn... năm.

Chỉ đúng năm nhịp thở đồng hồ cát—khi phiến lá xanh sẫm vừa chuyển sang màu xanh ngọc bích tái nhẹ và lớp sáp đắng chát ngoài biểu bì bị nhiệt độ vừa tầm phá vỡ—A Lan đã lập tức vung đũa vớt phắt bó rau ra khỏi chảo, thả tõm ngay vào một chậu nước giếng đá mát lạnh kê sẵn bên cạnh. Nước giếng sâu mát lạnh như ướp tuyết lập tức khóa chặt nhiệt lượng, tạo ra một cú sốc nhiệt đột ngột. Cách biến nhiệt kỳ diệu này ép chặt các thớ xơ của bẹ cải lại, giữ trọn độ giòn đanh như đá, đồng thời làm giãn nở các mao mạch bên trong, dọn đường cho men chua và gia vị muối thẩm thấu sâu vào từng ngõ ngách tế bào mà không làm nát nhũn lá rau.

Sau khi qua bể nước đá làm nguội nhanh, từng bó cải được vớt ra, để cho các bà các thím vắt ráo kiệt từng giọt nước đọng, rồi đặt nằm nghiêng trên những chiếc vỉ tre thưa đan hình mắt cáo cho róc sạch nước gianh.

Phần việc tinh túy và bí truyền nhất—pha chế nước muối và gia giảm hương vị—do chính tay Tiểu Mãn đảm nhận. Đứng bên chiếc bàn gỗ nhỏ kê sát vách, nàng cẩn thận mở chiếc túi vải mộc giấu sâu nơi nẹp áo ngực, lấy ra công thức ghi chép các tỷ lệ cân đong. Nàng dùng thứ muối biển hạt to mang về từ các ruộng muối mạn duyên hải, đã được cho vào chảo gang rang nhỏ lửa suốt nửa canh giờ cho tới khi hạt muối nổ lách tách, bốc hết hơi ẩm và khử sạch vị chát đắng của nước ót. Muối rang vàng được hòa tan vào nước giếng đá trong vắt theo đúng tỷ lệ “Tam diêm thất thủy” gia truyền nghiêm ngặt.

Bên cạnh nàng, Diệp Tam Nha đang lúi húi ngồi thụp bên chiếc cối đá nhỏ, đôi tay nhỏ nhắn thoăn thoắt cầm chày giã dập những củ gừng già cay nồng, vỏ ngoài nhăn nheo nhưng ruột vàng ươm, cùng một nắm hạt mùi khô thơm ngát vừa được sao vàng trên lửa trấu. Nước muối ấm sau khi được lọc trong qua ba lớp vải mộc dày của mẹ dệt, không còn vương một hạt cặn bẩn, liền được Tiểu Mãn hòa thêm vài thìa mật mía nướng lùi tro bếp. Mật mía nướng tro bốc lên mùi thơm ngòn ngọt, thanh tao dịu nhẹ—đây chính là chất xúc tác kỳ diệu nuôi dưỡng các chủng men chua tự nhiên, giúp dưa lên men thần tốc trong thời gian ngắn mà vị chua vẫn thanh thoát như sương mai, không hề có chút gắt cổ hay nồng mùi giấm thanh.

Năm chiếc chum sành ngấn nước của Đào Tam Nương chế tác từ loại men da lươn màu nâu hạt dẻ sáng bóng được kê thành một hàng thẳng tắp ngay ngắn giữa gian hiên nhà. Diệp Thành đã dùng tro bếp mịn và xơ mướp cọ rửa sạch bong kin kít từng ngõ ngách lòng chum từ xế chiều, sau đó tráng qua ba lượt nước lá ổi sôi để tiệt trùng tuyệt đối rồi hong khô dưới nắng gắt.

Tiểu Mãn bước tới trước miệng chiếc chum đầu tiên, nhẹ nhàng quỳ một chân xuống chiếc chiếu cói. Nàng bắt đầu xếp dưa. Từng bó cải sen sau khi vắt kiệt nước được nàng uốn cong khéo léo, xếp vòng tròn khít khao men theo thành chum đất, phần cuống dày hướng ra ngoài, phần ngọn lá mềm mại xếp đan cài vào tâm. Cứ xếp xong một lớp cải dày chừng hai đốt ngón tay, nàng lại rải đều một lớp gừng già đập giập, vài hạt mùi thơm lừng và dăm ba lát ớt chỉ thiên đỏ au tươi rói xắt vát chéo, rồi múc từng gáo nước muối ấm mật mía chan đều khắp mặt rau.

Cứ thế, từng lớp từng lớp cải nén chặt dần lên tới gần sát miệng chum. Khi lớp rau cuối cùng đã yên vị, Tiểu Mãn đặt lên trên cùng hai chiếc vỉ tre cật đan dày hình nan hoa, cài chéo góc để đè chặt toàn bộ khối rau xuống dưới đáy, ngăn không cho một cọng lá nào có cơ hội nổi lơ lửng trên mặt nước.

“Nhị Hòa, khiêng đá cuội suối lại đây cho chị!” Tiểu Mãn cất tiếng gọi.

Nhị Hòa cùng cha cúi người, hợp sức khênh những tảng đá cuội suối tròn nhẵn, to bằng chiếc mũ nồi mùa đông, đã được luộc chín trong nồi nước sôi lá sả rồi để nguội ngắt từ ban chiều. Từng tảng đá nặng trịch được nhẹ nhàng đặt đè lên trên chiếc vỉ tre. Dưới sức nặng ngàn cân của đá cuội suối, cả khối dưa cải sen trong chum bị ép chặt xuống, phát ra những tiếng kêu róc rách khe khẽ khi từng bọt khí li ti cuối cùng bị trục xuất khỏi các thớ lá, trồi lên mặt nước rồi vỡ tan. Nước muối ấm dâng lên ngập lút trên mặt vỉ tre chừng hai ngón tay.

Cuối cùng, Tiểu Mãn dùng một chiếc gáo đồng múc đầy nước giếng đá mát lạnh châm vào phần rãnh ngấn quanh miệng chum sành, rồi úp ngược chiếc nắp khum hình vồng vát mép chụp kín lên trên.

Một tiếng “bục” nhẹ vang lên khi chiếc nắp khum ngập sâu vào ngấn nước, niêm phong kín đặc không gian bên trong lòng chum. Cơ chế khóa khí ngấn nước tuyệt diệu của Đào Tam Nương lập tức phát huy tác dụng thần kỳ: khí carbonic sinh ra trong quá trình lên men mãnh liệt bên trong chum có thể tự do đội bóng nước thoát ra ngoài rãnh ngấn, nhưng không khí khô nóng ngột ngạt cùng các loại nấm mốc tạp nham của mùa đại hạn bên ngoài hoàn toàn không có cách nào lọt ngược vào bên trong làm hỏng mẻ dưa.

Năm ngày đêm tiếp theo trôi qua trong sự hồi hộp và tập trung cao độ của cả gia đình họ Diệp. Xưởng chế biến nhỏ hoạt động nhịp nhàng như một cỗ đồng hồ tinh xảo. Cứ mỗi sáng sớm khi sương chưa tan và mỗi buổi chiều tà khi bóng hoàng hôn buông xuống, Diệp Tam Nha lại xách một chiếc gáo tre nhỏ đi kiểm tra từng ngấn nước quanh miệng năm chiếc chum sành, châm thêm từng gáo nước mát để rãnh khóa khí không bao giờ bị khô cạn dưới sức nóng hanh hao. Bên cạnh giàn phơi râm mát, Lâm Tú Nương cẩn thận lật giở từng góc vải phủ mộc trên những nong ủ mốc hoa cau, dùng nhiệt kế bàn tay kiểm tra độ ấm của các hạt đậu nành Cồn Gió, tuyệt đối không để hơi nóng mùa hè làm chua hỏng mẻ tương đậu.

Đến rạng sáng ngày thứ năm kể từ lúc vào chum, tức ngày mười một tháng hai, bầu không khí quanh năm chiếc chum sành da lươn bỗng có sự chuyển biến rõ rệt.

Từ các ngấn nước khóa khí, những chuỗi bọt khí tròn xoe li ti bắt đầu đùn lên liên tục, phát ra những tiếng nổ lách tách, ùng ục đều đặn và vui tai lạ thường. Một luồng hương thơm chua thanh dìu dịu, ấm nồng mùi gừng già và ngọt mát của mật mía nướng lùi tro len lỏi qua làn nước mát, tỏa ra ngạt ngào khắp khoảng sân đất nện. Mùi hương đặc trưng của dưa cải sen nén chín tới đánh thức cả gian nhà ba gian tĩnh mịch.

Tiểu Mãn thắp một ngọn đèn dầu nhỏ, bước nhẹ chân lại gần chiếc chum số một. Nàng dùng chiếc muôi con múc bớt nước ở ngấn ngoài để tránh nước lã rơi vào lòng chum, rồi khẽ khàng nhấc chiếc nắp khum hình vồng ra.

Một cảnh tượng tuyệt mỹ hiện ra dưới ánh đèn le lói: dưới sức nặng của tảng đá cuội suối, toàn bộ khối dưa nén đã chìm sâu dưới mặt nước trong veo không một gợn váng trắng hay một chấm mốc xanh nào. Những bẹ cải bánh tẻ đã ngả trọn vẹn sang một màu vàng ươm mượt mà, óng ả như những dải lụa tơ tằm thượng hạng vừa dệt xong.

Tiểu Mãn dùng đôi đũa tre sạch gắp một bẹ dưa nằm sát mép vỉ tre đưa ra chiếc đĩa sứ trắng, rồi dùng dao nhỏ cắt một miếng vừa ăn, đưa cho Tam Nha đang đứng hồi hộp chờ đợi bên cạnh nếm thử.

Cô bé mười tuổi há to miệng, cắn ngập chân răng vào miếng bẹ dưa vàng ruộm.

“Rôm rốp!”

Một tiếng vỡ giòn tan ròn rã vang lên đanh gọn giữa bầu không khí tĩnh mịch của buổi sớm mai!

Tam Nha tròn xoe đôi mắt đen láy, hai má phồng lên vì nhai, miệng không ngớt xuýt xoa tán thưởng:

“Trời ơi chị Tiểu Mãn ơi! Giòn rụm luôn! Giòn sần sật như nhai sụn non ấy! Vị chua thanh mát lịm cả cuống họng, đượm sâu vị ấm của gừng già với hạt mùi, tuyệt nhiên không còn chút vị chát ngái hay hăng nồng của cải non ngót nước nữa rồi! Ngon quá đi mất thôi!”

Tiểu Mãn khẽ nhắm mắt, thở phào một hơi dài nhẹ nhõm, nụ cười rạng rỡ bừng sáng trên khuôn mặt lấm tấm mồ hôi sau bao đêm mất ngủ. Bí quyết chần nước ấm bảy phần sủi tăm đầu cua và nén đá tảng ngập nước lạnh của cố sư phụ Lâm Thu Bà quả thực danh bất hư truyền: chỉ trong năm ngày đêm ngắn ngủi, mẻ dưa cải sen ngót nước tưởng chừng bỏ đi vì đại hạn đã lột xác ngoạn mục thành thứ dưa nén mặn giòn thượng hạng, đượm vị sâu cay mà sắc nước lại vàng óng đạt chuẩn mười phần trọn vẹn.

Cùng lúc đó, Tạ Cảnh và Diệp Thành cũng bước tới bên bốn chiếc chum ủ tương đặt ở góc chái nhà râm mát. Khi tấm vải mộc dệt dày được nhấc ra khỏi miệng chum, một lớp tương đậu nành hoa cau sánh quánh như mật ong rừng mùa thu hiện ra trước mắt, sắc nâu hổ phách ánh lên rực rỡ dưới ánh nắng ban mai vừa rọi qua kẽ lá. Mùi tương thơm bùi, ngọt đậm đà, ngầy ngậy hương đậu tằm chín men phả ra ngào ngạt khắp không gian, hoàn toàn nguyên vẹn và đậm đà hơn bao giờ hết, không hề bị ảnh hưởng bởi những ngày nắng gắt nung người vừa qua.

Hàng hóa đã hoàn tất mỹ mãn, hạn giao hàng ngày rằm tháng hai vừa vặn gõ cửa hiên nhà.

***

Sáng sớm tinh mơ ngày mười lăm tháng hai, sương mai bảng lảng trên bến sông Liễu Kiều còn chưa kịp tan biến thì chiếc thuyền buôn mũi nhọn của Phùng Kế Sinh đã thả neo vững chãi sát mép bờ đá xanh.

Thương lái Phùng Kế Sinh mặc áo lụa ngắn tay, đứng trên mũi thuyền phe phẩy chiếc quạt nan tre, nét mặt lộ rõ vẻ bồn chồn và tò mò không giấu giếm. Kể từ sau vụ việc bị Tạ Cảnh và Tôn Như Hải dùng sự chặt chẽ của các điều khoản khế ước và luật lệ của nha môn ép phải ký vào bản giao kèo bao tiêu vận tải độc quyền với giá tám mươi đồng một chuyến khứ hồi, gã thương nhân giảo quyệt này đã không còn dám giở trò ép giá hay gây khó dễ cho xưởng Diệp gia nữa. Thế nhưng, khi nhìn cỗ xe kéo hai bánh của Diệp Nhị Hòa chất đầy những sọt hàng khô ráo, phủ bạt gai dầu quét dầu trẩu tinh tươm lăn bánh xuống bến, gã vẫn không nén nổi sự nghi ngại trong lòng:

“Này Tiểu Mãn cô nương, mấy hôm nay ta xuôi ngược khắp bến sông, nghe đồn Khe Thanh cạn trơ sỏi đá, rau cỏ các nhà quanh vùng đều cháy khô cả cuống rễ. Cớ sao chuyến hàng ngày rằm này của cô nương nom lại gọn gàng, khô ráo thế kia? Không sợ Tôn chưởng quầy nổi giận lôi đình phạt vạ gấp ba vì thiếu hụt rau tươi ru?”

Tiểu Mãn khẽ mỉm cười, bình thản chỉnh lại nút thừng néo bạt gai dầu: “Phùng lão bản cứ việc vững tay chèo lái thuyền cho êm xuôi con sóng là được. Chuyện hàng họ trong khoang thế nào, ta và Tôn chưởng quầy đã có giao ước rõ ràng trên giấy trắng mực đen, tuyệt đối không làm lỡ mất một khắc giờ Thìn khai tiệc của tửu lầu.”

Nhị Hòa và Tạ Cảnh nhanh nhẹn khuân từng vò dưa nén sành nâu và từng hũ tương đất nung xuống khoang thuyền. Hàng hóa được chèn lót cẩn thận bằng những con cúi bện bằng rơm nếp dày dặn hình múi bưởi, dây thừng gai néo chặt theo hình chữ nhân vào các mạn thuyền, vững chãi như bàn thạch không hề xê dịch nửa phân dù sóng dập dềnh.

Con thuyền rẽ sóng Vân Thủy, cánh buồm căng gió xuôi dòng ba mươi dặm, đưa chuyến hàng đặc biệt của xưởng Diệp gia tiến thẳng về phía huyện thành phồn hoa.

Đúng giờ Tỵ ba khắc, mũi thuyền cập sát vào cầu tàu bằng gỗ lim ở bến sau của Tửu lầu Vọng Giang.

Tôn Như Hải đã chắp tay đứng đợi sẵn trên cầu tàu từ bao giờ. Vị đại chưởng quầy mặc chiếc áo dài lụa màu xanh sẫm thêu hoa chìm, ánh mắt sắc sảo và dò xét lướt nhanh qua từng kiện hàng đang được phu thuyền bốc dỡ lên bờ. Mấy ngày nay, cái nóng hạn hán bao trùm khắp toàn bộ huyện lỵ, các mối lái buôn rau quen thuộc từ mạn bắc đưa về đều bị dập nát, thối nhũn hoặc đứt hàng hoàn toàn vì nắng gắt, khiến các trù phòng ở Vọng Giang Lâu lâm vào cảnh thiếu thốn rau xanh nghiêm trọng chưa từng có. Khách khứa phương xa ghé quán ăn thịt béo, cá béo mà không có món rau ghém thanh đạm giải ngấy đâm ra ngán ngẩm, buông đũa than phiền, khiến lão chưởng quầy sốt ruột đến mất ăn mất ngủ suốt mấy đêm liền.

“Tiểu Mãn cô nương, bức thư báo tình hình của cô do cậu em trai mang lên ta đã xem kỹ từng chữ, phương án bù đắp cô đưa ra quả thực rất có tình có lý.” Tôn Như Hải cất giọng trầm tĩnh nhưng ánh mắt không giấu nổi sự khắt khe vốn có của một bậc lão làng trong giới ẩm thực đất huyện. “Thế nhưng, giấy trắng mực đen trên thư từ là một chuyện, hàng thực tế dỡ ra có nuốt trôi được hay không lại là chuyện hoàn toàn khác. Dưa cải sen ngót nước làm cấp tốc trong năm ngày đêm, liệu có thực sự đạt được phong vị giòn đượm như hai hũ mẫu thử hôm trước mang lên?”

“Trăm nghe không bằng mắt thấy, mời Tôn chưởng quầy cứ tự tay nghiệm hàng.” Tiểu Mãn tự tin nghiêng mình, khẽ đưa tay nhường lối.

Nhị Hòa nhanh nhẹn lột bỏ lớp bạt gai dầu, dùng con dao nhỏ cậy nhẹ lớp sáp ong niêm phong miệng của chiếc vò dưa sành đầu tiên.

Khoảnh khắc chiếc nắp khum hình vồng vừa được nhấc ra khỏi miệng vò, một luồng hương chua thanh dịu mát, thoảng mùi gừng già ấm nồng và hạt mùi rang thơm lừng lập tức lan tỏa ngào ngạt khắp mặt cầu tàu, át đi cả mùi tanh nồng của bùn nước bến sông. Tôn Như Hải khẽ giật mình, bước vội lại sát miệng vò, đôi mắt mở to nhìn chăm chú vào lòng đồ gốm: từng bẹ dưa cải sen màu vàng ươm óng ả, xếp đều tăm tắp theo hình xoắn ốc, khô ráo róc sạch từng giọt nước đọng, không hề có một vệt thâm đen hay một chút bọt khí thối rữa nào của thứ dưa muối xổi non ngày.

Lão chưởng quầy đích thân cầm lấy chiếc kẹp gắp bằng tre cật, gắp một miếng bẹ cải bánh tẻ vàng óng đưa lên miệng cắn thử.

“Rôm rốp!”

Tiếng giòn vỡ ròn rã vang lên giòn tan, thanh thoát đến sảng khoái tâm can!

Đôi mày rậm của Tôn Như Hải giãn hẳn ra, hai mắt lão sáng bừng lên vẻ kinh ngạc tột độ. Vị chua thanh dịu mát lập tức đánh thức mọi giác quan nơi đầu lưỡi, tiếp theo đó là vị mặn ngọt đậm đà ngấm sâu vào từng thớ xơ giòn đanh, và cuối cùng là hậu vị ấm nồng, cay nhẹ của gừng già lan tỏa êm ái nơi cuống họng, làm tan biến hoàn toàn cảm giác ngột ngạt, bức bối của buổi trưa hè oi ả.

“Giòn! Quả thực là giòn đến kinh ngạc!” Tôn Như Hải không nén nổi tiếng vỗ tay tấm tắc khen ngợi thành lời. “Thớ rau săn chắc, chua thanh mà không hề gắt cổ, ngọt hậu mà không nồng mùi giấm tạp! Lão già này đã từng nếm qua dưa muối của khắp các danh gia ẩm thực mạn nam bắc bến sông, nhưng chưa từng thấy thứ dưa sen nén nào giữ được sắc vàng óng như tơ và độ giòn đanh tuyệt diệu đến bực này giữa mùa đại hạn cháy da cháy thịt!”

Chưa hết bàng hoàng, lão bước sang hũ tương đậu nành hoa cau, rút chiếc muôi đồng sáng bóng múc thử một muôi tương ở tầng giữa chiếc chum. Dòng tương màu nâu hổ phách chảy xuống chầm chậm, quánh đặc như mật ong rừng mùa thu, bốc lên mùi thơm bùi béo ngậy, ngát lừng cả một vùng trù phòng phía sau bến.

Tôn Như Hải nếm thử một giọt tương trên đầu ngón tay cái, khẽ nhắm nghiền hai mắt thưởng thức thật lâu rồi gật đầu lia lịa:

“Tuyệt phẩm trần gian! Đúng là hạt đậu nành Cồn Gió lên men hoa cau chuẩn chỉ theo bí quyết của nhũ mẫu Lâm Thu Bà năm xưa, lại thêm vị mật mía nướng lùi tro điều hòa âm dương hàn nhiệt, quánh đặc mười phần không sai một ly! Tiểu Mãn à Tiểu Mãn, cô bé nhà nông các ngươi quả thực đã khiến lão già lăn lộn thương trường mấy chục năm nay phải mở rộng tầm mắt!”

Tôn Như Hải quay sang nhìn Tiểu Mãn, giọng nói đầy vẻ nể phục chân thành:

“Các mối buôn lớn nhỏ khác trên huyện thành này, hễ gặp nắng hạn thiên tai là thi nhau ỉm hàng, đội giá rau củ lên gấp đôi gấp ba, hoặc nhẫn tâm đưa thứ rau thối rữa úng ngập trà trộn vào hòng lừa gạt qua mắt trù phòng để kiếm chác. Duy chỉ có xưởng Diệp gia của cô nương, sản lượng hụt thì chủ động báo trước mười ngày tròn, lại dám đem thứ tương đặc hảo hạng và dưa nén thượng phẩm này ra bù đắp giá trị phần thiếu hụt! Chữ tín ấy, bản lĩnh ứng biến khôn khéo ấy, dù là đại thương nhân chốn huyện thành này cũng chưa chắc đã mấy ai bì kịp!”

Lão dứt khoát phất tay áo, quay sang ra lệnh dõng dạc cho đám phụ bếp đang đứng há hốc mồm kinh ngạc phía sau:

“Mau! Chuyển toàn bộ năm vò dưa nén và mười hũ tương đặc này vào ngay trù phòng lớn! Lập tức bảo Trần đại trù dùng dưa này xào với lòng bò hoa, kho một chảo lớn cá trắm sông Vân Thủy, và thái lát mỏng làm món khai vị giải ngấy cho toàn bộ các bàn tiệc trưa nay!”

***

Buổi trưa ngày rằm tháng hai hôm ấy, Tửu lầu Vọng Giang náo nhiệt và huyên náo hơn bất kỳ ngày rằm nào khác trong năm.

Khắp các ngõ phố huyện thành Vân Thủy, các tửu quán bình dân và những tiệm ăn lớn nhỏ đều đang lâm vào cảnh điêu đứng, chật vật vì thiếu hụt nguồn rau xanh. Nắng hạn kéo dài khiến giá rau củ đắt đỏ hơn cả tôm cá dưới sông, mà dẫu có cắn răng bỏ bạc ra mua thì cũng chỉ vơ vẹo được thứ cải ngồng xơ xác, héo úa ủng nước do vận chuyển đường xa. Khách thương hồ từ các thuyền buôn phương Nam vừa cập bến, ai nấy đều mệt mỏi rã rời vì nắng nung ngột ngạt, bước chân vào tửu lầu chỉ khao khát tìm được một món ăn thanh mát để xua tan cảm giác bức bối, ngấy mỡ.

Và món dưa cải sen nén mặn giòn của nhà họ Diệp đã xuất hiện đúng vào thời khắc vàng ngọc ấy.

Từng đĩa dưa nén vàng óng ả như hổ phách, điểm xuyết vài lát ớt đỏ tươi rói và những sợi gừng vàng ruộm được tiểu nhị bưng ra tấp nập khắp các bàn tiệc từ tầng hai lên tới tầng ba. Tiếng nhai dưa “rôm rốp” giòn tan vang lên rôm rả khắp các gian phòng ăn. Khách uống rượu gắp một miếng dưa nén giòn sần sật đưa vào miệng, húp một thìa canh chua nấu cá trắm sông với nước dưa trong vắt ngọt lịm, rồi dùng đũa gắp miếng thịt ba chỉ luộc chấm ngập vào bát tương hoa cau quánh đặc béo ngậy, ai nấy đều phải ngửa mặt vỗ bàn khen ngợi nức nở.

“Chà! Thứ dưa sen nén ở đâu mà giòn đượm vị, thanh tao đến bực này? Giữa mùa đại hạn cháy bãi thế này mà Vọng Giang Lâu kiếm đâu ra món dưa ghém tuyệt phẩm thế này?”

“Cả cái huyện Vân Thủy này đứt sạch nguồn rau xanh tươi non, thế mà tửu lầu của Tôn chưởng quầy lại dọn ra được thứ dưa giòn tương ngọt hảo hạng bực này! Đúng là tửu lầu số một bến sông, danh bất hư truyền!”

Những lời khen ngợi của giới sành ăn và các thương nhân lắm tiền nhiều của truyền tai nhau nhanh như một cơn gió lốc. Chỉ trong vòng chưa đầy hai canh giờ trưa ngắn ngủi, toàn bộ năm vò dưa nén và một lượng lớn tương hoa cau của chuyến hàng Diệp gia áp tải lên đã được trù phòng tiêu thụ sạch nhẵn không còn lấy một bẹ, mang lại doanh thu rực rỡ và củng cố vững chắc ngôi vị tửu lầu số một bến sông của Vọng Giang Lâu trước mọi đối thủ cạnh tranh.

Tại nhã phòng trang trọng trên tầng hai nhìn ra dòng sông Vân Thủy, Tôn Như Hải đích thân rót trà Thiết Quan Âm mời Tiểu Mãn và Tạ Cảnh.

Lão chưởng quầy mỉm cười đầy mãn nguyện, đặt lên mặt bàn gỗ trắc một chiếc tráp nhỏ khảm xà cừ tinh xảo. Khi nắp tráp mở ra, bên trong xếp ngay ngắn những xâu tiền đồng Cảnh Hưng sáng bóng không vướng một hạt bụi, cùng một thỏi bạc nén hai lượng nguyên chất ánh lên sắc bạc tinh khiết—khoản tiền thanh toán sòng phẳng, trọn vẹn cho chuyến hàng ngày rằm, không những không trừ bớt một đồng tiền phạt vạ nào mà còn tính đủ toàn bộ giá trị thặng dư của số tương dưa bù đắp.

Chưa dừng lại ở đó, Tôn Như Hải cẩn thận lấy ra một phong thư dày dặn được niêm phong bằng sáp đỏ có đóng dấu triện của Vọng Giang Lâu, trân trọng trao tận tay Tiểu Mãn:

“Tiểu Mãn cô nương, đây là phong thư riêng do đích thân ta chấp bút gửi cho cô nương. Trong thư này, ta ghi rõ lời biểu dương danh dự của Vọng Giang Lâu dành cho xưởng Diệp gia về sự chuẩn mực, giữ trọn chữ tín như vàng và cách xử lý sự cố hoàn hảo hiếm có. Đồng thời...”

Tôn Như Hải ngừng lại một nhịp, mỉm cười đầy thâm ý, ánh mắt nhìn cô thôn nữ mười bảy tuổi với sự kỳ vọng và nể trọng lớn lao:

“Đợt hạn hán khốc liệt năm nay đã cho thấy nguồn cung rau dưa của các bãi bồi vùng này còn quá đỗi bấp bênh và manh mún. Bản khế ước một năm chúng ta đã ký kết với nhau, nhưng lão già này mong muốn sang năm tới, khi nguồn nước và đất đai của Diệp gia được mở rộng hơn nữa, cô nương hãy đứng ra quy tụ thêm nhiều nông hộ trong vùng, nhân rộng diện tích gieo trồng theo đúng quy chuẩn sạch và kỹ thuật phủ rơm chống hạn này lên gấp năm, gấp mười lần hiện nay. Toàn bộ sản lượng dưa tương chế biến sẵn mà xưởng Diệp gia làm ra đạt chuẩn như thế này, Vọng Giang Lâu chúng ta xin cam kết bao tiêu toàn bộ, không sót một cân!”

Tiểu Mãn cung kính dùng cả hai tay đỡ lấy phong thư dày dặn, cảm nhận rõ rệt sức nặng của niềm tin cậy và một cơ hội làm ăn lớn lao chưa từng thấy đang mở ra trước mắt xưởng nhà họ Diệp. Nàng đứng dậy, cúi đầu tạ lễ theo đúng phép tắc, giọng nói trong trẻo mà đĩnh đạc lạ thường:

“Đa tạ Tôn chưởng quầy đã mở lòng tin tưởng và hết lòng nâng đỡ. Diệp Tiểu Mãn này xin ghi lòng tạc dạ từng lời dặn dò, nhất định sẽ cùng bà con giữ vững chữ tín, không bao giờ phụ sự kỳ vọng lớn lao của tửu lầu!”

***

Chiều muộn hôm ấy, cỗ xe kéo hai bánh của Diệp Nhị Hòa thong thả lăn bánh trên con đường đất đỏ quen thuộc trở về thôn Thanh Khê.

Tin tức về chuyến hàng đồ muối khô ráo của nhà họ Diệp cứu nguy ngoạn mục cho đại tửu lầu Vọng Giang ngoài huyện thành giữa mùa đại hạn, lại được đích thân Tôn chưởng quầy thưởng bạc nén và trao thư khen ngợi nức nở đã theo chân những người đi đò dọc bến Liễu Kiều lan truyền nhanh như bay khắp đầu làng cuối xóm từ lúc nào không hay.

Khi bóng cỗ xe kéo của ba người vừa xuất hiện nơi đầu con ngõ nhỏ, ánh hoàng hôn đỏ ối của buổi chiều tà đang rải dài những vệt nắng ấm áp trên những luống rau xanh mướt được phủ rơm rạ mục của gò Cồn Gió. Khác hẳn với vẻ vắng lặng, trầm mặc thường ngày, khoảng sân đất nện nhà họ Diệp chiều nay đông nghịt bóng người qua lại.

Dưới giàn phơi nứa thơm nồng mùi tre mới, bà con chòm xóm từ xóm Giếng, xóm Đầm cho đến tận xóm Ngoài đang tụ tập đông đủ, tiếng nói cười bàn tán xôn xao làm náo động cả một góc trời quê. Ngô Quế Hoa đứng giữa khoảng sân, một tay chống nạnh, một tay hớn hở chỉ về phía những luống rau xanh tươi mơn mởn nơi bãi bồi của mình, oang oang cất giọng kể lại chuyện dùng rơm rạ mục giữ ẩm chân đất và kỹ thuật tỉa bẹ làm dưa nén cho mọi người cùng nghe.

Nhiều chủ hộ trước kia từng nghi ngại, dè bỉu cách làm nông tỉ mẩn của Tiểu Mãn nay bắt đầu rủ nhau tìm tới tận sân nhà họ Diệp, nét mặt ai nấy đều lộ rõ vẻ háo hức và khát khao, ngỏ lời xin được học cách làm đất, phủ rơm và muối rau chống hạn để cứu vãn những mảnh ruộng đang khô cháy của nhà mình.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories