Tiểu Thôn Nương Làm GiàuCh.37 / 45
Chapter 37

Đợt hạn Khe Thanh và bài toán chia nước mùa khô

Nắng đầu hạ như thiêu đốt đổ xuống sỏi đá lòng Khe Thanh, biến con khe róc rách quanh năm thành những vũng nước tù đọng lấp lánh bùn non.

Hơi nóng từ lòng đất bốc lên hầm hập, làm méo mó cả rặng tre già ven đê. Mới chớm tháng tư âm lịch mà bầu trời thôn Thanh Khê đã chẳng lấy nổi một gợn mây trắng, chỉ có vòm trời xanh ngắt thăm thẳm như nung và một vầng thái dương chói chang trút lửa xuống đồng bãi từ tờ mờ sáng tới lúc xẩm tối. Dưới cái nắng quái ác kéo dài ròng rã suốt ba tuần liền, mạch nước nguồn chảy từ các hốc đá trên dải núi Thanh Lĩnh dường như đã bị vắt kiệt tới giọt cuối cùng. Con khe lớn – vốn là mạch máu nuôi sống hơn sáu mươi nóc nhà trong thôn – nay chỉ còn trơ lại lớp sỏi xám xịt lởm chởm, những tảng đá mồ côi phơi mình bỏng rát và những bãi bùn nứt toác thành từng kẽ sâu hoắm như mai rùa già. Đám cá bống, cá cờ chết khô queo dính bết vào rêu úa bốc lên mùi tanh nồng nặc đến nghẹt thở.

Gió từ mạn sườn núi thổi tràn xuống đồng bãi không mang theo chút hơi ẩm nào, chỉ toàn mùi cỏ khô cháy sém và bụi đất đỏ quẩn quanh mù mịt. Dọc bờ khe, cỏ voi, cỏ mần trầu héo rũ, ngọn quăn queo như bị thui trên lửa than. Mấy khóm tre ngà trút lá rào rào, lớp lá khô dày cộp dưới gốc giòn rụm, chỉ cần một tàn lửa nhỏ cũng đủ bốc cháy ngùn ngụt. Đàn trâu gầy guộc của xóm Giếng đứng nép dưới bóng râm còi cọc của cây đa cụt, thè lưỡi thở hồng hộc, mắt vằn lên những tia đỏ vì khát.

Giữa trưa đứng bóng, tiếng thanh la bằng đồng gõ dồn dập ba hồi chín tiếng chát chúa vang lên từ phía bến nước đầu làng.

Tiếng kim loại xé toạc không gian oi ả, dội vào vách núi Thanh Lĩnh rồi dội ngược trở lại, đánh thức nỗi âu lo đang đè nặng lên từng nóc nhà tranh vách đất. Đó là hiệu lệnh triệu tập khẩn cấp của Hội tưới tiêu Thanh Khê – hồi chuông mà bất cứ người làm nông nào cũng nơm nớp lo sợ mỗi mùa nắng hạn. Chẳng mấy chốc, từ khắp các ngõ sâu, đàn ông, đàn bà, từ người già tóc bạc đến lũ trai tráng lực điền lũ lượt kéo về bến đá.

Khuôn mặt ai nấy đều xạm đen vì dãi nắng dầm sương, đôi mắt trũng sâu lộ rõ nỗi hoang mang tột độ. Lưng áo nâu sồng của họ loang lổ những vệt mồ hôi muối trắng phếch, đôi môi nứt nẻ bật máu vì thiếu nước uống. Trên tay họ lỉnh kỉnh đủ thứ nông cụ: những chiếc gàu sòng bằng tre đan trét sơn ta đã sứt cạp, gàu dai buộc dây thừng mòn vẹt, đòn gánh tre dẻo quẹo gánh theo hai chiếc thùng gỗ ghép đai mây kêu lách cách theo từng bước chân vội vã. Họ mang theo nông cụ như thể chỉ cần nghe ngóng được tin tức có dòng nước nào vừa rỉ ra từ kẽ nứt chân đập là sẵn sàng xông vào múc vét, chắt chiu từng gáo bùn lỏng đem về cứu lấy thửa ruộng nhà mình.

Đứng trên phiến đá xanh nhẵn thín nơi mố bến – nơi bao đời nay dùng làm chỗ chia nước và phân xử việc đồng áng – Trưởng thôn Phạm Đức Thuận mặt mày ủ dột như có đám mây đen bao phủ. Chiếc quạt nan rách trên tay ông phe phẩy liên hồi nhưng chẳng xua nổi luồng nhiệt hầm hập phả ra từ lòng khe cạn; mồ hôi hột rịn ra từng hàng, ướt đầm vầng trán nhăn nheo và thấm đẫm cả cổ áo vải bô sẫm màu. Đứng cạnh ông là hai vị bô lão trong Hội đồng Tộc biểu, tay chống gậy trúc, đôi mắt đùng đục nhìn đăm đăm xuống đáy khe cạn trơ sỏi đá mà thở dài thấu ruột thấu gan.

Đợi dân làng từ ba xóm tề tựu đông đủ, chật ních cả một khoảng bờ bến rợp bóng tre khô, Trưởng thôn hắng giọng thật mạnh. Ông giơ chiếc dùi bọc vải gõ mạnh vào mặt thanh la một tiếng “boong” trầm đục kéo dài để vãn hồi trật tự. Tiếng bàn tán xôn xao lắng xuống, chỉ còn lại tiếng gió rít qua kẽ lá tre xao xác và tiếng thở dốc nặng nề của đám đông.

“Bà con xóm trên ngõ dưới lắng tai nghe đây!” Giọng Trưởng thôn khàn đặc vì khát và khói bụi, phải cố gắng lắm mới át được tiếng rì rầm của hàng trăm con người. “Hôm qua, ta cùng hai bô lão trong Hội tưới tiêu đã đích thân đội nắng lội ngược lên tận đập đầu nguồn trên hốc đá Thanh Lĩnh. Tình hình nguy ngập lắm rồi! Mạch nước nguồn trên núi rỉ ra không đầy nửa đốt tay, hộc chứa lớn trên vách đá tích tụ cả vụ đông xuân nay đã cạn trơ đến lớp bùn rêu. Dưới đập chính, lượng nước xả vào mương cái chưa đầy một phần ba so với lệ thường mọi năm. Nếu cứ giữ nguyên quy chế cũ, mỗi tuần mở cống ba ngày cho các xóm lấy nước tràn vào ruộng thì chưa hết tuần này, đến nước nấu cơm, nước cho trâu bò uống cũng chẳng còn lấy một giọt!”

Tiếng ồn ào lập tức bùng lên như chảo dầu sôi gặp lửa. Những người nông dân quanh năm chỉ biết cúi mặt xuống đất, lưng chổng lên trời, nay đứng trước hiểm họa mất trắng mùa màng liền mất hết vẻ nhẫn nhịn thường ngày. Mấy lão nông xóm Đầm đứng ở hàng đầu, mặt đỏ tía tai, nhao nhao lên trước:

“Thế thì tính sao đây hở Trưởng thôn? Mấy mẫu lúa chiêm dưới đồng trũng đang kỳ ôm đòng ngậm sữa, cần nước như con thơ cần sữa mẹ! Đất ruộng mấy hôm nay nứt toác như luống cày, kẹp gãy cả rễ lúa non rồi!”

“Đúng đấy! Lúa chiêm mà nghẹn đòng chết cháy trên chân ruộng thì cả vụ này dân làng lấy gì bỏ vào miệng? Rồi thuế má vụ hè, sưu sai của nha môn trên huyện giáng xuống, chúng tôi biết lấy gì mà nộp? Chẳng lẽ dắt díu nhau đi tha phương cầu thực hay sao?”

Phạm Đức Thuận giơ hai cánh tay gầy guộc lên cao, cố hết sức đè nén làn sóng phẫn nộ đang cuồn cuộn dâng lên từ đám đông đói khát. Ông hít một hơi dài, cao giọng tuyên bố:

“Bởi vậy, Hội tưới tiêu và các bô lão đã bàn bạc kỹ suốt đêm qua bên bàn hương án. Nay hạ lệnh khẩn để giữ lấy cái gốc chung của làng: Toàn bộ phiên lấy nước của các thôn xóm từ nay bị cắt giảm từ ba ngày xuống còn đúng một ngày mỗi tuần! Lại chia theo giờ khắc nghiêm ngặt để tránh giẫm đạp lên nhau: xóm Giếng lấy từ giờ Thìn đến giờ Mùi, xóm Đầm từ giờ Thân đến giờ Dậu. Tuyệt đối cấm các hộ tự ý xẻ bờ be mương, cấm đắp bờ con chặn dòng chảy chung! Ai trái lệnh, Hội tưới tiêu sẽ tịch thu toàn bộ gàu sòng, cuốc xẻng và phạt vạ năm mươi đồng tiền kẽm sung vào quỹ công ích!”

Lời vừa dứt, bến nước như nổ tung bởi hàng loạt tiếng gào thét uất ức.

“Một ngày thì làm sao đủ?” Một gã lực điền xóm Giếng quăng mạnh chiếc gàu sòng xuống nền đá xanh, phát ra một tiếng “chát” chói tai, hai mắt đỏ ngầu trợn ngược. “Mương cái dẫn từ đập chính chảy dài hàng dặm qua bãi sỏi, nước cạn thế kia chảy đến được cửa ruộng nhà tôi thì nắng trời đã liếm sạch mất một nửa! Mở cống một ngày chỉ đủ ướt lớp rêu bám lòng mương chứ thấm tháp vào đâu? Lúa nhà tôi đang kỳ trỗ, khát nước một ngày là hạt lép kẹp thành trấu!”

“Mặc kệ chúng mày, xóm Đầm tao ở mãi cuối mương, nước chảy đến nơi thì chỉ còn cặn bùn! Thiệt thòi bao năm nay rồi, lần này phải cho xóm tao mở cống trước!” Một người đàn ông xóm Đầm sấn sổ bước tới, giơ ngón tay trỏ chai sần chỉ thẳng vào mặt gã thợ cày xóm Giếng.

“Tiên sư nhà mày, xóm trên chưa có nước chảy qua mà đòi xóm dưới chặn dòng à? Mày thử động một ngón tay vào cái phai gỗ xem tao có phang vỡ đầu mày ra không!”

Mấy tay thanh niên xóm Giếng lập tức xốc nách áo nâu, hùng hổ vung đòn gánh lên chực lao vào ăn thua. Những người đàn bà đứng bên cạnh cũng không vừa, túm tụm lại cãi vã the thé, tiếng chửi bới, tiếng khóc mếu chen lẫn tiếng đòn gánh va nhau chan chát. Vài người nóng ruột đã lao xuống lòng khe cạn, dùng gàu sòng tranh giành từng vũng nước đục ngầu còn đọng lại dưới hốc đá, bùn đất bắn tung tóe lên mặt mũi, áo quần. Bụi đất bốc mù mịt trong làn không khí oi nồng nghẹt thở, những cái đầu nóng bốc hỏa như muốn nổ tung. Bờ bến đá thanh bình rợp bóng tre xanh suýt nữa biến thành một bãi hỗn chiến đẫm máu chỉ vì từng bát nước cứu mạng mùa màng.

Giữa lúc dầu sôi lửa bỏng ấy, một bóng người từ mé sau rặng tre lách qua đám đông bước ra. Đó là Diệp Đại Phúc.

Kể từ sau vụ việc bị phế truất chức trưởng chi họ Diệp và bị Hội đồng Tộc biểu phạt cấm túc sám hối vì tội thông đồng với địa chủ Lương Quảng Tài toan siết mẫu ruộng gò Cồn Gió, Diệp Đại Phúc luôn ru rú trong nhà như con rắn độc rúc trong hang tối. Lão ngấm ngầm ôm mối hận thù cay đắng với gia đình người em trai tàn tật Diệp Thành. Mấy ngày nay trời hạn nứt đất, nhìn thấy nhà Diệp Thành không những không lụi bại mà lại vừa ký được khế ước cung ứng rau lớn với Tửu lầu Vọng Giang ngoài huyện, lại thấy những luống rau xanh rì của con cháu gái mồ côi vẫn phơi phới giữa nắng lửa, lòng đố kỵ và cay nghiệt trong lão như ngọn lửa bùng cháy dữ dội. Lão đã rình rập, dò xét suốt từ sáng sớm, và nhận thấy đây chính là thời cơ trời ban ngàn năm có một để mượn tay dân làng đang phát cuồng vì mất mùa dồn nhà họ Diệp vào bước đường cùng.

Diệp Đại Phúc lấy đà nhảy phắt lên một mô đất cao ngay sát mép nước, mặt đỏ gay vì nắng và rượu gắt, hai tay hoa lên múa may, giọng lão the thé gào lớn át cả tiếng ồn ào:

“Bà con cô bác xóm làng ơi! Đừng có xô xát đánh nhau làm sứt đầu mẻ trán mà trúng kế kẻ khác! Nước nguồn trên núi Thanh Lĩnh ít ỏi là một lẽ, ông trời làm hạn là một lẽ, nhưng cớ làm sao nước dẫn vào đồng trũng xóm Đầm, xóm Giếng lại cạn trơ đáy nhanh đến thế? Là vì có kẻ đang lén lút ăn cắp nước đấy! Có kẻ đang bòn rút từng giọt máu của làng ta vào túi riêng của nó!”

Tiếng gào the thé mang theo sự xảo quyệt của lão lập tức thu hút sự chú ý. Đám đông đang xô đẩy giằng co bỗng khựng lại, dạt ra hai bên rồi đồng loạt ngước mắt nhìn lên mô đất.

Thấy mọi ánh mắt đổ dồn về phía mình, Diệp Đại Phúc đắc chí ra mặt. Lão vươn cánh tay dài ngoằng, run rẩy chỉ thẳng ngón tay về phía doi đất cao vút nằm cô quạnh ở rìa đông của làng:

“Bà con thử giương mắt ra mà nhìn xem! Kia kìa! Hai mẫu ruộng gò Cồn Gió của nhà Diệp Thành vốn là đất cát pha khô cằn, sỏi đá lổn nhổn, bao đời nay giữ nước chẳng khác nào cái sàng rách! Ấy thế mà mấy ngày nay, con rãnh nhánh khoét hình chữ V dẫn nước từ mương cái vào gò của nhà nó lúc nào cũng có dòng rỉ rả! Nước khe đã ít như mắt muỗi, lại phải chia sớt, dồn ngược lên tận cái gò cao ấy thì hỏi sao đồng trũng cấy lúa của chúng ta không chết khô chết héo?”

Lão nuốt nước bọt đánh ực một cái, đưa mắt lấm lét đảo quanh một lượt, khéo léo châm ngòi vào nỗi phẫn uất đang âm ỉ của hàng trăm con người:

“Ruộng gò Cồn Gió nhà nó trồng cái gì? Chỉ trồng mấy luống rau cải bẹ, dưa cà vặt vãnh của đứa con gái ranh ma chưa ráo máu đầu! Ta hỏi thật bà con: Mấy mớ rau non, mấy quả cà ấy có nuôi sống được ai qua mùa giáp hạt này không? Trong khi hàng chục mẫu lúa chiêm dưới đồng trũng kia là hạt ngọc nhà trời, là bát cơm manh áo, là tính mạng của con em cả làng Thanh Khê này! Ta đề nghị Trưởng thôn và toàn thể bà con: Ngay trưa nay, lập tức vác cuốc xẻng kéo nhau ra đắp đập bịt kín con mương nhánh dẫn vào Cồn Gió! Cấm tiệt dòng chảy rẽ vào ruộng nhà Diệp Thành! Phải dồn toàn bộ giọt nước cuối cùng để cứu lấy những bông lúa đang nghẹn đòng của làng!”

Lời lẽ thâm hiểm của Diệp Đại Phúc như ngọn đuốc ném thẳng vào đống rơm khô. Trong cơn quẫn bách vì nguy cơ mất trắng bát cơm, người nông dân dễ dàng bị dẫn dắt bởi sự thù ghét. Đám đông bắt đầu xao động dữ dội, những gương mặt tối sầm lại vì căm phẫn, nhiều tiếng gầm gừ phụ họa vang lên từ khắp phía:

“Phải đấy! Lão Đại Phúc nói có lý! Lúa là gốc gác, rau cỏ chết thì thôi chứ lúa mà chết là cả làng chết đói rũ xương!”

“Bịt mương lại! Đắp phai chặn con rãnh Cồn Gió lại ngay!”

“Đi! Sang Cồn Gió xúc đất đắp đập! Không thể để mấy luống rau hút hết nước của đồng lúa được!”

Làn sóng phẫn nộ chuyển hướng, biến thành một mũi dùi nhọn hoắt chĩa thẳng vào gia đình Diệp Thành.

Đứng nép bên chiếc xe kéo gỗ chất đầy thùng rỗng của gia đình ở rìa bến đá, Diệp Nhị Hòa nghe thấy những lời vu vạ ác độc nhằm triệt hạ cơ nghiệp mà cả nhà đã đổ mồ hôi nước mắt gầy dựng, lồng ngực cậu thiếu niên phập phồng dữ dội. Hai bàn tay nắm chặt lấy chiếc đòn bẩy bằng gỗ nghiến đến trắng bệch các khớp ngón tay, đôi mắt mười bốn tuổi đỏ hoe vì uất nghẹn. Cậu không thể nhẫn nhịn được nữa, dợm bước lao ra chắn trước mặt đám đông hung hãn để phân bua:

“Bác cả ăn nói hồ đồ ngậm máu phun người! Rãnh dẫn nước nhà cháu đã tự bỏ công lót đất sét chống thấm từ tháng trước, phiên nước đêm của nhà cháu là do Hội tưới tiêu công nhận bằng thẻ bài...”

“Nhị Hòa, đứng lại!”

Một bàn tay thon thả nhưng rắn rỏi đặt lên vai Nhị Hòa, lực giữ tuy nhẹ nhưng dứt khoát lạ thường, ghìm chặt bước chân đang chực lao tới của cậu thiếu niên.

Diệp Nhị Hòa giật mình quay lại, nhìn thấy chị gái mình.

Diệp Tiểu Mãn bước lên phía trước. Nàng vận chiếc áo vải thô màu nâu sồng giản dị đã bạc màu ở hai bên vai, mái tóc đen nhánh được vấn gọn gàng sau gáy bằng một chiếc trâm tre nhẵn bóng. Dưới ánh nắng chói chang giữa trưa, trên vầng trán thanh tú của nàng lấm tấm những giọt mồ hôi trong suốt, nhưng đôi mắt nàng lại phẳng lặng và sâu thẳm như mặt hồ đá không một gợn sóng. Sự bình thản toát ra từ vóc dáng mảnh mai của cô gái trẻ giữa bến nước đang sục sôi giận dữ khiến cho tiếng gào thét của Diệp Đại Phúc bỗng nghẹn lại ở cổ họng, như một kẻ vừa nuốt phải hòn than nóng.

Tiểu Mãn không thèm liếc nhìn Diệp Đại Phúc lấy một lần. Nàng điềm đạm bước từng bước vững chãi lên phiến đá bậc thấu bờ khe, nơi Trưởng thôn và các bô lão đang đứng lúng túng. Nàng dừng lại trước mặt Trưởng thôn Phạm Đức Thuận và toàn thể bà con đang lăm lăm cuốc xẻng trên tay, khẽ cúi đầu hành lễ theo đúng phép tắc của kẻ hậu bối đối với các bậc bề trên. Đoạn, nàng ngẩng cao đầu, cất giọng trong trẻo, mạch lạc truyền đi rành rọt khắp bến đá:

“Trưởng thôn, các cụ bô lão trong Hội đồng Tộc biểu, và toàn thể bà con cô bác xóm làng! Cháu xin mọi người hãy bớt giận, lắng lòng lại mà nghe cháu giãi bày đôi lời.”

Tiếng ồn ào gắt gỏng từ từ nhỏ dần rồi im bặt. Người trong thôn Thanh Khê giờ đây chẳng ai còn xa lạ gì với Diệp Tiểu Mãn. Từ việc nàng thức trắng đêm dùng khói hun và tro bếp cứu cả vườn mầm rau non qua đợt sương muối độc hại hồi đầu xuân, đến việc nàng hướng dẫn đàn bà trong thôn muối những vò dưa cải sạch mang ra chợ huyện bán đắt như tôm tươi; rồi chính nàng dám đứng ra giữa từ đường vạch trần gian lận khế ước nợ của địa chủ, ký được hợp đồng giao rau với đại tửu lầu Vọng Giang danh tiếng ngoài trấn... Từng việc nàng làm đều minh bạch, ngay thẳng, có lý có tình và chưa từng làm tổn hại đến một ai trong làng. Uy tín vô hình ấy như một bức tường vững chắc, khiến đám đông hung hãn bất giác hạ đòn gánh và cuốc xẻng xuống, im lặng chờ đợi xem nàng sẽ nói gì.

Tiểu Mãn vươn tay, hướng về phía những cánh đồng lúa chiêm đang rạn nứt nẻo xa dưới chân trời mờ mịt khói bụi:

“Bác cả vừa nói một câu rất đúng: Lúa chiêm dưới đồng trũng là lương thực sống còn của cả làng ta. Cả năm sáu mươi nóc nhà trông vào hai vụ chiêm mùa, nếu lúa nghẹn đòng mà chết rũ thành rơm rác thì mùa đông tới làng ta sẽ có nhà đứt bữa, người già ốm đau không có cháo húp, con trẻ phải ăn cháo cám trừ cơm. Nhà cháu cũng là nông hộ, cha cháu cả đời gắn bó với mảnh ruộng chân đê, đôi chân tàn tật của cha cháu cũng từ bùn đất mà ra. Nỗi xót xa nghẹn thắt ruột gan khi thấy từng gốc lúa nứt chân chim của bà con cô bác, gia đình cháu thấu hiểu sâu sắc từ tận đáy lòng.”

Nghe những lời chân thành, thấu tình đạt lý ấy, những người nông dân chất phác của xóm Đầm khẽ chùng nét mặt. Vài người thở dài, ánh mắt bớt đi vài phần gay gắt thù hằn. Diệp Đại Phúc thấy gió đổi chiều, sợ kế hoạch kích động của mình bị phá sản, vội nhảy cẫng lên mô đất quát the thé:

“Mày đừng có ở đấy mà khua môi múa mép, giở giọng văn hoa đạo đức giả! Muốn xót xa cho làng xóm thì mau mở mồm bảo cha mày nhường toàn bộ nước mương ra đây! Nói suông thì ai chẳng nói được!”

Tiểu Mãn quay ngoắt sang nhìn thẳng vào mắt Diệp Đại Phúc. Ánh mắt nàng sắc sảo, lạnh lùng và trong suốt như một lưỡi dao băng, khiến lão chột dạ, nuốt nghẹn lời định nói tiếp rồi bất giác lùi lại nửa bước suýt ngã khỏi mô đất. Không để lão kịp định thần, Tiểu Mãn quay lại nhìn Trưởng thôn Phạm Đức Thuận:

“Thưa Trưởng thôn! Chiếu theo Tộc Ước Sinh Kế và Thẻ Bài chia nước mà Hội tưới tiêu đã cấp hồi đầu xuân, nhà cháu đã đóng góp trọn vẹn sáu ngày công lực điền nạo vét ba mươi trượng mương ngầm đoạn Cây Gạo, được trọn quyền lấy nước vào các ngày quy định trong tháng mà không ai có quyền cấm đoán. Thế nhưng, trước tai ương đại hạn mười năm mới thấy một lần này, nếu nhà cháu cứ khư khư ôm lấy cái lý của riêng mình mà trơ mắt nhìn ruộng lúa của xóm giềng khô cháy, thì lương tâm nhà họ Diệp cháu chẳng bao giờ thanh thản được.”

Nàng hít một hơi thật sâu, lồng ngực mảnh mai vươn lên kiêu hãnh, dõng dạc tuyên bố từng lời rành rọt giữa bến nước:

“Bắt đầu từ giờ khắc này, nhà họ Diệp cháu xin tự nguyện nhường toàn bộ phiên nước tưới tràn ban ngày của hai mẫu ruộng gò Cồn Gió cho các hộ cấy lúa dưới đồng trũng xóm Đầm và xóm Giếng!”

Cả bến nước ồ lên một tiếng kinh ngạc tột cùng.

Hàng chục cặp mắt trố tròn nhìn cô gái mười bảy tuổi. Những tiếng xì xào bàn tán nổi lên như ong vỡ tổ. Nhường phiên nước ban ngày? Giữa lúc hạn hán khốc liệt, một gáo nước quý như một giọt dầu thơm thế này, nhường phiên nước tràn đồng nghĩa với việc hai mẫu rau Cồn Gió sẽ chẳng có lấy một dòng nước mát nào chảy vào rãnh luống! Đất cát pha ở gò cao phơi dưới nắng ba ngày là thành tro bụi, rau nào mà sống cho nổi?

Trưởng thôn Phạm Đức Thuận chấn động tâm can, bước vội tới sát mép đá, nhìn Tiểu Mãn đầy vẻ không tin nổi, hỏi dồn dập:

“Tiểu Mãn! Cháu nói thật đấy chứ? Đây là chuyện sống còn của cả gia đình cháu đấy! Nhường phiên nước tràn ban ngày thì hai mẫu rau non Cồn Gió nhà cháu lấy gì mà chống chọi qua đợt hạn này? Cháu có biết một khi đã nhường là không thể đổi ý được không?”

Tiểu Mãn khẽ mỉm cười, nét mặt thanh thản như trút được gánh nặng:

“Cháu nói lời chắc như đinh đóng cột, trước mặt Trưởng thôn, các bô lão và toàn thể bà con lối xóm làm chứng, cháu tuyệt đối không nuốt lời. Nhà cháu chỉ xin Hội tưới tiêu duy nhất một điều kiện: Cho phép gia đình cháu được tận dụng vét nước tù đọng dưới đáy mương vào ban đêm, từ giữa giờ Tý đến cuối giờ Dần. Khi ấy, các hộ đồng trũng đã đóng phai, giữ trọn vẹn nước trong chân ruộng lúa; lòng mương cái rảnh rỗi không ai dùng, chỉ có nước rỉ ra từ kẽ đá đọng lại thành vũng. Nhà cháu sẽ chỉ dùng đòn gánh và hai chiếc thùng gỗ để gánh từng gàu nước vét ấy mang lên tưới vào gốc rau. Tuyệt đối không xẻ bờ, không mở cống tràn, không làm hao hụt dù chỉ một bát nước của đồng lúa!”

Nàng dừng lại một nhịp, ánh mắt quét qua từng khuôn mặt đang ngơ ngẩn trong đám đông, rồi cất cao giọng:

“Đêm hôm thanh vắng, bà con cứ cử người ra mương rình xem. Nếu nhà họ Diệp cháu dám mở phai lấy trộm dù chỉ một giọt nước chảy tràn của đồng ruộng, nhà cháu xin nộp phạt gấp mười lần hương ước làng xã, và xin chịu tịch thu vĩnh viễn quyền lấy nước!”

Sự im lặng bao trùm khắp bến nước Khe Thanh. Sự tĩnh lặng đến mức người ta có thể nghe thấy tiếng một chiếc lá tre khô rơi khẽ chạm vào mặt đá nóng.

Những người nông dân nhìn nhau, trong lòng dâng lên một sự cảm phục xen lẫn nỗi hổ thẹn khôn cùng. Ai làm ruộng mà chẳng hiểu rõ: Ban ngày xẻ mương tưới tràn là cách nhàn hạ nhất, nước chảy ồ ạt ngập chân cây, nhưng tốn kém nước gấp trăm lần; còn việc nửa đêm thức trắng, lội xuống lòng mương đá trơn trượt để gánh từng thùng nước vét từ đáy khe lên đỉnh gò Cồn Gió dốc đứng vừa nhọc nhằn, vừa khổ ải cùng cực, đốt cháy từng giọt sức lực của con người. Quan trọng hơn cả, việc gánh nước đêm khi mương ngơi nghỉ chẳng hề làm ảnh hưởng, hao hụt đến một hạt nước nào của ruộng lúa xóm Đầm hay xóm Giếng. Đổi một phiên nước tràn ban ngày lấy việc gánh vét nước ban đêm – đó là sự nhượng bộ quá lớn, thấu tình đạt lý, vị tha đến mức không một ai, dù là kẻ cay nghiệt nhất, có thể cất lời phản bác.

Mấy lão nông xóm Đầm vừa nãy còn đỏ mặt tía tai đòi đập mương, giờ mặt mũi đỏ bừng vì ngượng ngùng. Họ cúi gằm mặt nhìn mũi bàn chân lấm bùn, ấp úng với nhau:

“Con bé... con bé Tiểu Mãn nó hiểu chuyện và biết nghĩ cho làng xóm quá...”

“Đúng là nhà Diệp Thành ăn ở có đức. Nhường phiên nước tràn ban ngày thế này thì cứu sống cả chục mẫu lúa đang ôm đòng của xóm ta rồi! Chúng ta vừa nãy hồ đồ quá...”

Diệp Đại Phúc đứng trơ trọi trên mô đất cao, mặt cắt không còn một giọt máu. Hai hàm răng lão lập cập va vào nhau, miệng há hốc mà không thốt ra được nửa lời. Mưu mô xảo quyệt của lão toan mượn tay đám đông để triệt đường sống của gia đình em trai, nào ngờ bị Tiểu Mãn dùng một đòn nhu thắng cương, lấy sự bao dung và tinh thần vì đại cục hóa giải sạch trơn. Trước ánh mắt khinh bỉ của dân làng, lão bỗng hiện nguyên hình là một kẻ hẹp hòi, ghen ăn tức ở, tiểu nhân bỉ ổi.

Trưởng thôn Phạm Đức Thuận vuốt chòm râu bạc, thở phào một hơi dài nhẹ nhõm như vừa trút được tảng đá ngàn cân đè nặng trên ngực suốt mấy ngày qua. Ánh mắt ông nhìn Diệp Tiểu Mãn chan chứa niềm tán thưởng và kính trọng:

“Tốt! Tốt lắm! Diệp Tiểu Mãn, cháu quả là đứa con gái hiểu đại cục, biết thương xót nỗi khổ của xóm giềng! Hành xử như cháu mới thực là người có phúc có đức! Hội tưới tiêu chấp thuận đề xuất của cháu! Từ hôm nay, phiên nước tràn ban ngày của Cồn Gió bàn giao lại cho xóm Đầm quản lý, còn từ giờ Tý đến giờ Dần ban đêm, cho phép nhà họ Diệp được trọn quyền vét nước rỗi lòng mương. Kẻ nào dám sinh sự cản trở, đừng trách gia pháp dòng họ và hương ước làng xã không nể tình!”

Nói đoạn, Trưởng thôn trừng mắt liếc xéo Diệp Đại Phúc một cái sắc lẹm như dao cạo:

“Còn Diệp Đại Phúc! Ngươi còn đứng trơ trơ ở đấy làm gì? Toan kích động bà con xâu xé lẫn nhau giữa lúc hoạn nạn à? Không mau cút về nhà sám hối đi!”

Diệp Đại Phúc run bắn người, mặt mày xám ngoét, vội vã lủi thủi tụt xuống mô đất rồi co giò chuồn biến vào ngõ vắng sau rặng tre, không dám quay đầu nhìn lại dù chỉ một lần.

Đám đông giải tán trong sự hoan hỷ và nhẹ nhõm. Mọi mối bất hòa được tháo gỡ, ai nấy đều hối hả gánh gàu, vác cuốc chạy về mương cái để đón dòng nước quý giá đổ vào chân ruộng đồng trũng.

Chỉ còn lại ba người bên bờ bến đá: Diệp Tiểu Mãn, Diệp Nhị Hòa và Ngô Quế Hoa.

Ngô Quế Hoa – người đã đem toàn bộ số vốn liếng và hy vọng ký kết giao kèo cung ứng rau non với Tiểu Mãn – bấy giờ mới dám run rẩy bước lại gần. Khuôn mặt người phụ nữ bán rau dạn dày gió sương nay xám ngoét vì hoảng sợ, hai bàn tay thô ráp xoắn chặt vào mép tạp dề:

“Tiểu Mãn ơi là Tiểu Mãn... Cháu hào hiệp với làng nước thì bác phục thật đấy, cả cái làng Thanh Khê này phải đội ơn cháu! Nhưng mà cháu dại quá rồi con ơi! Nhường phiên nước tràn ban ngày đi thì hai mẫu rau bãi Cồn Gió lấy gì mà sống sót qua cái lò lửa này? Mấy sào cải sen của bác ở mép bãi bồi ven sông cũng đang cháy sém từng bẹ lá rồi kia kìa! Không có nước tưới tràn ngập rãnh luống thì đến rằm tháng này, lấy đâu ra năm mươi cân rau non tươi mơn mởn để giao cho Vọng Giang Lâu? Chúng ta đã ký khế ước rành rành rồi, đền hợp đồng gấp ba thì có mà bán cả xới đất hương hỏa đi cũng không đủ trả nợ cho người ta!”

Nhị Hòa cũng sốt ruột bước tới bên chị gái, trán cậu lấm tấm mồ hôi, giọng lo âu:

“Chị ơi, gò Cồn Gió đất pha cát háo nước như họng người ốm sốt. Nước đổ vào như đổ vào sàng rách. Mỗi đêm hai chị em mình gánh gãy cả vai, trầy cả da thịt thì cùng lắm chỉ được vài chục gánh nước vét, làm sao đủ sức tưới ẩm cho cả hai mẫu ruộng? Cứ thế này thì rau chết khô mất thôi!”

Tiểu Mãn quay sang nhìn Ngô Quế Hoa và Nhị Hòa. Nét mặt nàng không hề có lấy một tia hoảng loạn hay hối hận, trái lại ánh mắt nàng tràn đầy sự tự tin, kiên định và một thứ trí tuệ thâm sâu của người thực sự hiểu đất, hiểu cây. Nàng vỗ nhẹ lên mu bàn tay thô ráp, đang run rẩy của Ngô Quế Hoa, mỉm cười trấn an:

“Bác Quế Hoa, Nhị Hòa, hai người đừng cuống cuồng lên như thế. Cây rau không giống như cây lúa nước. Lúa cần ngâm chân trong nước phù sa để nuôi đòng trỗ hạt, còn cây rau cải nếu cứ xả nước ồ ạt chảy tràn giữa trời nắng gắt thế này thì nước trong đất sẽ bị mặt trời hun nóng lên như nước sôi, làm rễ non bị luộc chín và thối ủng ngay trong lòng đất! Nước nhiều vào lúc này chỉ giết chết cây nhanh hơn mà thôi! Bà ngoại cháu ngày xưa từng dạy: Mùa đại hạn không cầu nước nhiều, chỉ cầu nước đọng lại được ở gốc rễ. Nước ít thì ta phải có phép giữ nước!”

Ngô Quế Hoa ngơ ngác chớp chớp mắt:

“Phép giữ nước? Giữa cái gò đất cát nung như chảo rang này thì giữ nước bằng cách nào hở cháu?”

Tiểu Mãn quay sang dặn Nhị Hòa:

“Em chạy ngay về nhà nhóm đổi công, bảo thím Năm, chị Dâu bác Tư và A Lan mang theo liềm sắc, cào sắt và toàn bộ quang sọt tập trung ngay ra gò Cồn Gió. Bác Quế Hoa cũng về giục mấy đứa con nhà bác, gom hết toàn bộ rơm rạ mục tích trữ từ vụ gặt năm ngoái trong chuồng bò, góc sân mang hết ra gò cho cháu! Càng nhiều rơm mục càng tốt! Nhanh chân lên, trưa nay chúng ta phải cứu từng gốc rau!”

Nửa canh giờ sau, dưới cái nắng chang chang như thiêu đốt giữa trưa, trên hai mẫu ruộng gò Cồn Gió, một cảnh tượng lao động khẩn trương và lạ lùng bắt đầu diễn ra.

Tiểu Mãn dẫn đầu nhóm phụ nữ gồm Ngô Quế Hoa, Trần A Lan, thím Năm và chị Dâu bác Tư bước ra từng luống rau cải bẹ đang ủ rũ rạp mình dưới ánh mặt trời rực lửa. Đất mặt luống dưới cái nắng tháng tư nung nấu đã bắt đầu đóng váng trắng xóa, khô khốc và nứt nẻ thành những đường chân chim chằng chịt. Từng đọt cải non vốn mơn mởn nay xoăn tít lại, mép lá viền vàng úa như bị lửa thiêu.

Tiểu Mãn ngồi thụp xuống bên một luống cải đầu bờ, với tay nhấc một nắm rơm rạ cũ đã ngả màu xám mục từ trong sọt tre của thím Năm vừa mang tới. Nàng rẽ sợi rơm ra, chỉ cho mọi người thấy độ xốp mềm của lớp rơm đã qua mưa nắng, rồi cẩn thận giải thích:

“Các thím, các chị nhìn kỹ đây. Đất ở gò Cồn Gió nhiều cát, mặt trời chiếu thẳng xuống làm nước bốc hơi nhanh như chớp, đất bị nung nóng thiêu cháy toàn bộ rễ tơ của cây rau. Nếu ta tưới nước lã lên mặt đất trần lúc này, nước chưa kịp ngấm xuống rễ thì nắng đã hút cạn sạch, chỉ tổ làm đất đóng váng cứng ngắc. Bởi vậy, bước đầu tiên để cứu rau là phải ‘mặc áo rơm’ cho đất!”

Nàng thoăn thoắt dùng đôi bàn tay khéo léo rẽ lớp rơm rạ mục, cẩn thận phủ một lớp dày chừng hai đốt ngón tay quanh từng gốc rau cải, trải đều khắp mặt luống nhưng chừa lại một khoảng nhỏ chừng một đốt ngón tay quanh cổ rễ để thân cây non được thông thoáng, tránh ẩm mốc khi gặp nhiệt độ cao.

“Rơm rạ mục này xốp và ngậm ẩm cực tốt,” Tiểu Mãn vừa làm vừa giảng giải cặn kẽ cho từng người. “Lớp rơm này như một tấm chăn che chắn, ngăn ánh nắng mặt trời không cho chiếu trực tiếp xuống mặt đất, giữ cho nhiệt độ của đất dưới gốc rau luôn mát mẻ. Đêm xuống, sương đêm đọng lại trên sợi rơm sẽ từ từ thấm xuống đất mà không bị bốc hơi; đêm nay khi chị em mình gánh nước vét tưới vào, rơm sẽ ngậm giữ nước lại như một miếng xốp, rỉ dần từng giọt nuôi rễ suốt cả ngày mai mà không sợ nắng hút mất!”

Ngô Quế Hoa trố tròn mắt nhìn, nửa tin nửa ngờ. Bà cúi xuống, luồn bàn tay chai sần qua lớp rơm mục mà Tiểu Mãn vừa phủ kín mặt đất. Quả nhiên, lòng bàn tay vừa chạm vào lớp đất bên dưới đã cảm nhận được một luồng khí mát dịu hơn hẳn so với bề mặt đất nung bỏng rát xung quanh. Đôi mắt người bán rau dày dạn kinh nghiệm bỗng sáng bừng lên như bắt được vàng:

“Trời đất quỷ thần ơi! Thế mà bao năm nay bác cứ tưởng rơm rạ mục chỉ để đun bếp với lót chuồng lợn chuồng trâu! Ai ngờ rải một lớp thế này lại ngăn được cái nắng rát của ông trời! Đất bên dưới mát rượi thế này thì rễ cây làm sao mà chết được!”

“Chưa hết đâu bác,” Tiểu Mãn mỉm cười, với tay sang một khóm cải bẹ to bên cạnh. Đôi mắt nàng chăm chú quan sát từng nhánh lá. Nàng dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ bấm dứt khoát vào ba bẹ cải già ngả màu vàng úa nằm sát mặt đất, tách chúng ra khỏi thân cây một cách gọn gàng, không làm xước thân chính.

“Đây là phép thứ hai: Tỉa bớt bẹ già hãm thoát hơi nước.” Nàng giơ những bẹ cải già vừa tỉa lên cho các chị em trong nhóm đổi công nhìn rõ. “Dưới nắng hạn gay gắt, phiến lá càng to thì lượng nước thoát ra ngoài không khí càng khủng khiếp. Cây rau hút được một bát nước từ đất thì mặt trời đã lấy đi mất chín phần mười qua mặt lá! Những bẹ cải già bên ngoài này đã cỗi, phiến lá to nhưng không lớn thêm được nữa, lại tiêu tốn nhiều nước nhất. Ta tỉa sạch các bẹ già này đi, chỉ giữ lại đọt non và ba bốn bẹ bánh tẻ khỏe mạnh ở giữa. Vừa giúp cây giảm bớt gánh nặng thoát hơi nước, vừa dồn toàn bộ nhựa sống và hơi ẩm ít ỏi để nuôi búp non lớn lên!”

Trần A Lan đứng bên cạnh nghe xong thì thích thú vỗ tay đôm đốp, khuôn mặt tròn trĩnh rạng rỡ hẳn lên:

“Hay quá Tiểu Mãn ơi! Mấy bẹ già này tỉa ra đem về rửa sạch bụi cát, phơi héo một nắng là bỏ vào vò làm dưa chua nén được ngay! Đem muối nén với muối hạt và chút nước gừng thì vừa giòn vừa đậm đà, chẳng phí phạm một chiếc lá nào cả!”

“Đúng thế!” Tiểu Mãn gật đầu khích lệ. “Nhóm đổi công chúng ta chia làm hai tốp: tốp thứ nhất do chị A Lan và chị Dâu bác Tư phụ trách, đi trước dùng móng tay bấm tỉa toàn bộ bẹ già, xếp gọn gàng vào sọt mang về sân phơi; tốp thứ hai do cháu, bác Quế Hoa và thím Năm mang rơm mục phủ kín quanh gốc và mép rãnh luống. Cứ làm cẩn thận, tỉ mỉ từng hàng một, trước khi mặt trời lặn phải phủ kín toàn bộ hai mẫu rau!”

Nhìn thấy phương pháp rõ ràng, rành mạch và tràn đầy hy vọng, nỗi hoảng loạn, sợ hãi ban sáng trong lòng mọi người tan biến sạch trơn. Ngô Quế Hoa hăng hái xắn cao ống tay áo, cắm cúi nhặt rơm rải đều tay thoăn thoắt:

“Chị em ơi, làm nhanh tay lên! Cứ theo lời con bé Tiểu Mãn mà làm! Bác nhìn thấy mấy mầm non này chắc chắn sống rồi! Ai dám bảo ruộng rau nhà họ Diệp chết khô nào!”

Tiếng nói cười rộn rã, tiếng sột soạt của rơm rạ mục và tiếng liềm bấm lá tí tách xua tan đi cái ngột ngạt, bức bối của buổi trưa hè oi ả. Mồ hôi ướt đẫm lưng áo của những người phụ nữ lam lũ, nhưng nét mặt ai nấy đều bừng lên niềm tin mãnh liệt vào sự sống đang được hồi sinh dưới từng gốc rạ.

Đến nửa đêm, khi cả thôn Thanh Khê đã chìm sâu vào giấc ngủ tĩnh mịch, chỉ còn tiếng côn trùng kêu rả rích trong đêm hè khô khốc, bóng trăng mùng mười vằng vặc soi sáng khúc mương cái dẫn qua đập Cây Gạo.

Lòng mương cạn khô trơ sỏi đá, các cửa phai gỗ dẫn vào đồng lúa xóm Đầm đã được đóng chặt chẽ bằng then cài, giữ trọn vẹn lớp phù sa lấp xấp mặt ruộng. Dưới đáy mương, tại những hốc đá trũng sâu nhất, dòng nước mạch rỉ rả từ sườn núi Thanh Lĩnh tích tụ lại sau một ngày đêm thành những vũng nước trong vắt, phẳng lặng như gương.

Tiểu Mãn và Diệp Nhị Hòa vai quẩy đòn gánh tre, tay cầm gàu múc bước xuống lòng mương đá. Đêm hè oi ả, gió núi thổi qua mang theo hơi mát hiếm hoi từ các kẽ đá rỉ nước. Hai chị em cẩn thận nghiêng gàu, nhẹ nhàng hớt từng gàu nước mặt trong trẻo, tuyệt đối không làm khuấy động lớp bùn non đáy khe, đổ đầy vào hai thùng gỗ lớn. Đòn gánh tre uốn cong hình cánh cung theo từng bước chân dẻo dai của hai chị em, thoăn thoắt quẩy nước ngược lên đỉnh gò Cồn Gió.

Dưới ánh trăng bàng bạc, từng gáo nước mát lạnh được tưới nhẹ nhàng xuyên qua lớp rơm rạ mục. Làn nước thấm sâu vào lòng đất xốp mịn, được che chở bởi lớp rơm dày nên không hề bị bốc hơi vào không khí khô khan của đêm hè. Đất dưới gốc rau uống no giọt nước ngọt lành, rễ tơ như bừng tỉnh sau cơn khát cháy bỏng. Cả hai chị em thay phiên nhau gánh suốt bốn canh giờ, từ giữa giờ Tý đến tận lúc sao mai le lói cuối chân trời phía đông mới ngơi tay.

Dù đôi vai ê ẩm, trầy xước rát buốt và vạt áo ướt đầm mồ hôi muối, nhưng khi đứng trên đỉnh gò nhìn những hàng rau cải xanh mướt vươn mình đón làn gió sớm trong lành, lòng Tiểu Mãn ngập tràn niềm thanh thản và kiên định.

Ba ngày sau.

Nắng gắt vẫn như trút lửa xuống đồng đất Thanh Khê. Vòm trời không một bóng mây, mặt đất như một cái lò nung khổng lồ nuốt chửng mọi sinh khí. Thế nhưng, khắp cả một vùng gò đồi cằn cỗi Cồn Gió, một khung cảnh kỳ diệu đã hiện ra khiến bất cứ ai đi ngang qua cũng phải sững sờ dừng bước mà dụi mắt nhìn lại.

Trong khi các khoảnh vườn rau xung quanh làng không được che phủ rơm rạ đã cháy táp, lá rau vàng rũ, héo quắt queo như bị luộc chín trên mặt đất nứt nẻ đóng váng trắng xóa, thì hai mẫu ruộng của nhà họ Diệp và bãi bồi của Ngô Quế Hoa vẫn phẳng lặng trải ra một màu xanh biếc mát mắt đến nao lòng. Dưới lớp rơm mục ngả màu xám bạc, từng gốc cải bẹ đã được tỉa gọn gàng vươn lên cứng cáp, cuống lá mọng nước bóng bẩy, những đọt non xanh mướt mọc vươn thẳng lên trời cao như thách thức sự khắc nghiệt của nắng hạn. Đất bên dưới lớp rơm mục khi bới nhẹ ra vẫn giữ được độ ẩm mịn màng, xốp tơi và mát rượi một cách lạ thường.

Trưởng thôn Phạm Đức Thuận chống gậy trúc đi dọc bờ mương cái để kiểm tra việc đóng mở cống và tình hình dẫn nước của các xóm. Khi bước chân lên mỏm đồi Cồn Gió, nhìn luống rau xanh tốt ngút ngàn vượt qua đợt đại hạn một cách kỳ diệu mà không cần tranh giành một giọt nước tràn nào của làng xóm, ông kinh ngạc đến mức đánh rơi cả chiếc quạt nan trên tay xuống vệ cỏ.

Vị trưởng thôn già bước xuống mép luống, quỳ một gối xuống bới thử một góc rơm mục, sờ bàn tay gầy guộc đầy đồi mồi vào lớp đất ẩm ướt mát lạnh bên dưới gốc rau. Ông ngước nhìn Tiểu Mãn đang lúi húi nhặt cỏ cách đó không xa. Vị trưởng thôn uy nghiêm vốn nổi tiếng kiệm lời bỗng cất tiếng cười vang, gật đầu tấm tắc khen ngợi không ngớt:

“Giỏi! Giỏi lắm Tiểu Mãn ơi! Cả đời làm ruộng mấy chục năm nay của ta, nếm trải biết bao mùa hạn hán lụt lội, ta chưa từng thấy đứa con gái nào có trí tuệ và sự thấu hiểu đồng đất sâu sắc như cháu! Cách hành xử nhường nước thì thấu tình đạt lý, thuận lòng dân trên dưới; mà kỹ thuật che rơm ủ ẩm, tỉa cành hãm nước thì tinh diệu vô cùng! Cháu đã cứu lấy cả thôn này khỏi một cuộc xô xát đổ máu vì tranh nước, lại giữ cho ruộng rau nhà mình xanh tốt ngút ngàn thế kia. Lão già này thực lòng bái phục bản lĩnh của cháu!”

Ngô Quế Hoa đang xách sọt rau gần đó nghe thấy Trưởng thôn khen ngợi nức nở, trong lòng vừa tự hào vừa dâng lên niềm cảm kích vô bờ bến đối với cô gái trẻ. Bà chạy vội lại, nắm chặt lấy tay áo Tiểu Mãn, giọng nghẹn ngào rung lên trước mặt Trưởng thôn:

“Trưởng thôn nói đúng từng chữ từng lời đấy ạ! Nếu không có con bé Tiểu Mãn chỉ dạy tận tình từng ngón nghề giữ ẩm, tỉa bẹ già, thì mấy sào rau bãi bồi của nhà tôi đã thành đống cỏ khô đem đốt bếp từ ba hôm trước rồi! Từ nay về sau, trong cái làng Thanh Khê này, ai mà dám mở mồm bảo con gái làm ăn không bằng đàn ông, tôi là người đầu tiên vả vào mặt kẻ đó! Tôi xin theo xưởng rau nhà họ Diệp này suốt đời!”

Tiểu Mãn khẽ mỉm cười khiêm nhường đón nhận lời khen ngợi của Trưởng thôn và sự tin phục tuyệt đối của Ngô Quế Hoa. Sự chân thành, lòng vị tha và nỗ lực bền bỉ không biết mệt mỏi của nàng đã được đền đáp xứng đáng. Danh tiếng và chữ tín của nàng trong lòng bà con thôn Thanh Khê nay đã vững chắc như tảng đá hoa cương ngự nơi đầu ngõ bến nước.

Thế nhưng, khi bóng Trưởng thôn đã khuất sau rặng tre ven đê, nụ cười trên môi Tiểu Mãn dần dần chùng xuống.

Nàng bước chầm chậm dọc theo luống cải sen bánh tẻ, cúi người xuống, cẩn thận dùng tay ngắt thử một khóm cải đưa lên tay ước lượng sức nặng.

Luống rau sống sót kỳ diệu qua đợt đại hạn khốc liệt, đó là sự thật hiển nhiên. Rễ rau vẫn bám sâu vào lòng đất xốp, đọt non vẫn xanh mướt kiên cường. Nhưng vì phải bấm tỉa bớt các bẹ lá già để cứu lấy sự sống của cây, lại chỉ được uống từng gáo nước cầm chừng chắt chiu vào lúc nửa đêm thay vì dòng nước tưới tràn dồi dào phù sa, thân cây cải còi cọc và ngắn hơn hẳn so với vụ mùa năm ngoái. Từng bẹ cải tuy giòn ngọt nhưng phiến lá bị thu hẹp lại đáng kể, trọng lượng của mỗi khóm rau nhẹ hơn dự tính ban đầu rất nhiều.

Tiểu Mãn mang khóm rau về góc lều tạm dựng bằng tre nứa ở đầu gò, đặt lên chiếc cân đòn bằng gỗ lim khảm đồng mà Nhị Hòa đang cầm sẵn trên tay.

Quả cân bằng gang trượt trên cán gỗ khẽ nảy lên rồi dừng lại ở một vạch khắc nhỏ.

Nhị Hòa nhìn những vạch hoa dâu chỉ số cân trên cán đòn gỗ, sắc mặt cậu thiếu niên bỗng chốc tái nhợt đi như người mất máu. Cậu ngước nhìn chị gái, giọng run run nghẹn lại nơi cuống họng:

“Chị ơi... Một gốc cải bánh tẻ đẹp nhất này mà chỉ nặng chưa đầy sáu lạng... nhẹ hơn một nửa so với lứa rau thu hoạch đợt trước... Nếu cắt toàn bộ diện tích cải non đạt chuẩn thu hoạch vào đúng ngày rằm tháng này, tính gộp cả phần bãi bồi của bác Quế Hoa...”

Nhị Hòa nuốt khan một ngụm nước bọt cay đắng, bàn tay cầm cân run rẩy:

“Tổng cộng chúng ta chỉ thu được chưa đầy ba mươi cân rau non tươi. Trong khi khế ước đã ký trắng mực đen với Vọng Giang Lâu... đúng hẹn rằm tháng hai này phải giao đủ năm mươi cân!”

Tiểu Mãn đứng lặng bên bờ ruộng gò Cồn Gió. Tiếng gió hanh khô vẫn rít qua rặng tre già đầu bãi, phả vào mặt nàng luồng hơi nóng hầm hập của đất trời. Dù luống rau đã kiên cường sống sót qua cơn đại hạn, nhưng sản lượng rau tươi thu hoạch thực tế lại không thể nào đủ số lượng như hợp đồng đã cam kết với Vọng Giang.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories