Tiểu Thôn Nương Làm GiàuCh.36 / 45
Chapter 36

Nét chữ đầu tiên trên bản khế ước chính thức

Cán bút trúc bóng loáng nằm gọn ghẽ trong lòng bàn tay Diệp Tiểu Mãn. Thớ trúc cật già hanh vàng, qua bao năm tháng mài miũa và mồ hôi tay người cầm đã lên một lớp nước bóng mịn màng, truyền vào da thịt cô một cảm giác mát rượi, vững chãi. Thế nhưng, tận sâu trong lồng ngực mảnh dẻ ẩn sau lớp áo vải thô nhuộm củ nâu, từng nhịp tim của cô gái thôn quê mười bảy tuổi lại đang dồn dập gõ từng hồi gấp gáp. Mùi mực khói thông đen nhánh vừa được mài kỹ trên nghiên đá Đoan Khê tỏa ra một thứ hương trầm ấm, ngai ngái, quyện chặt lấy mùi men rượu nếp cái hoa vàng ủ chum sành từ dưới đại sảnh tầng trệt bốc lên. Mùi vị đặc quánh ấy lượn lờ trong gian nhã các thanh nhã lộng gió của Tửu lầu Vọng Giang, nơi từng chiếc bàn ghế, từng cánh cửa chấn song đều được đẽo gọt từ gỗ lim sẫm màu, bóng ngời lên vẻ giàu sang và bề thế bậc nhất chốn huyện thành.

Bên ngoài chấn song gỗ lim chạm hình hoa cúc dây, dòng sông Vân Thủy đang vào con nước xuân cuồn cuộn chảy xiết về phía đông. Mặt nước mênh mang phản chiếu ánh hoàng hôn đỏ rực đang lặn dần sau rặng núi xa, dát từng dải vàng ròng lấp lánh lên muôn ngọn sóng dập dềnh. Tiếng hò khoan của cánh phu thuyền kéo lưới mạn hạ lưu vẳng lại, hòa cùng tiếng chuông chùa vãn cảnh chiều ngân nga từ mỏm núi sau lưng huyện nha, tạo nên một khúc nhạc chiều vừa trang nghiêm vừa hối hả.

Trước ánh mắt chăm chú, đầy vẻ thấu thị và đợi chờ của Tôn Như Hải – người đàn ông đã nếm trải đủ thăng trầm của thương trường suốt ba thập kỷ, Tiểu Mãn không hề vội vàng chấm mực hạ bút. Cô hít sâu một hơi, kéo luồng khí mát lành của gió sông vào căng lồng ngực, rồi bằng đôi tay vững vàng, cô nâng tờ khế ước viết bằng giấy hoa tiên viền ngân nhũ lên ngang tầm mắt. Từng dòng chữ khải chân phương do chính tay Tôn Như Hải chấp bút đen nhánh, ngay ngắn như những người lính dàn trận trên mặt giấy ngà. Cô cất tiếng đọc dõng dạc, rành rẽ từng câu từng chữ để đối chiếu lại lần cuối cùng trước sự chứng kiến của mọi người trong gian phòng.

Giọng nói của cô gái xứ đồng rừng không hề có lấy một tia run rẩy. Âm thanh trong trẻo, cao vút mà đanh thép, từng thanh âm gãy gọn tựa tiếng ngọc va vào đá, vang vọng khắp bốn bức vách ốp ván mun tĩnh lặng:

“Bản giao kèo cung ứng hàng hóa, đồng thuận thiết lập giữa Tửu lầu Vọng Giang tọa lạc tại bến Nam huyện thành Vân Thủy và xưởng chế biến nông sản họ Diệp thôn Thanh Khê. Thời hạn khế ước: Kể từ tiết Thanh Minh năm Cảnh Hưng thứ tư cho đến hết tiết Xuân Phân năm Cảnh Hưng thứ năm, tròn một niên hạn bốn mùa xoay vần, xuân hạ thu đông thay phiên ứng biến.”

Tiểu Mãn khẽ dừng lại nửa nhịp thở, ánh mắt trong veo lướt qua hàng chữ khải nét mực còn thơm, dừng lại ở điều khoản thứ nhất quy định về khối lượng và chu kỳ giao nhận:

“Điều khoản thứ nhất, về số lượng và chu kỳ phân phối: Mỗi tháng định kỳ bốn đợt giao nhận hàng hóa trọn vẹn, ứng chuẩn vào các ngày mùng một đầu tháng, ngày mùng tám đầu tuần trăng, ngày rằm trăng tròn và ngày hai mươi ba cuối tháng. Tổng sản lượng mỗi tháng bên xưởng họ Diệp có trách nhiệm cung ứng đầy đủ bao gồm: Một trăm sáu mươi thăng tương đậu nành hoa cau thượng phẩm, giá ấn định mười tám đồng tiền kẽm một thăng; hai trăm cân dưa cải sen nén chặt róc ráo nước chua, giá ấn định mười một đồng tiền kẽm một cân; cùng với toàn bộ sản lượng rau cải non trái vụ thu hoạch từ các dải luống bãi bồi ven khe suối Cồn Gió, giá ấn định thu mua trọn gói là hai đồng tám phân cho mỗi cân rau tươi.”

Ngồi đối diện qua chiếc bàn mun rộng thênh thang, Tôn Như Hải nâng chén trà sứ hoa lam lên ngang môi. Hơi khói trà sen nghi ngút phả lên râu le te hoa râm của lão. Lão không uống ngay mà chỉ nhấp một ngụm nhỏ, đôi mắt hẹp dài lóe lên những tia nhìn tán thưởng kín đáo, khẽ gật đầu theo từng nhịp đọc của cô gái nhỏ.

Đứng hơi chếch về phía sau Tiểu Mãn nửa bước chân, Tạ Cảnh đứng sừng sững tựa một cây tùng non bên sườn núi. Vạt áo nho sinh màu xanh nhạt bằng vải thô của chàng khẽ lay động theo ngọn gió sông luồn qua khe cửa gỗ. Dáng người chàng cao ráo, bờ vai rộng vững chãi che chắn một khoảng không gian phía sau lưng Tiểu Mãn. Đôi mắt phượng sáng ngời của chàng thư sinh không rời khỏi gương mặt nghiêm túc của cô lấy một khoảnh khắc; bàn tay chắp sau lưng khẽ siết chặt lại, giấu đi sự xúc động sâu kín đang cuộn trào trong huyết quản. Chàng đứng đó, không cướp lời, không can thiệp, chỉ lặng lẽ làm chỗ dựa vô hình, dùng sự thấu hiểu và tin cậy tuyệt đối để bao bọc lấy từng lời nói, từng bước đi của cô gái mà chàng hằng trân quý.

Tiểu Mãn đưa ngón tay trỏ thon thả nhưng đầu ngón đã hằn rõ những vết chai sần dày cộm – dấu tích không thể xóa nhòa của những năm tháng cầm cuốc xới đất Cồn Gió, bốc vỏ dừa chà chum ủ tương, ngâm tay trong nước lạnh buốt mùa đông – lướt chầm chậm xuống dòng quy chuẩn phẩm cấp:

“Điều khoản thứ hai, về quy cách phẩm cấp và quy chuẩn đóng gói bao bì: Tương đậu nành hoa cau của họ Diệp chế biến phải đạt chuẩn sắc nước nâu vàng óng ả như mật ong rừng cuối thu, sánh quyện không loãng rữa, ngậm sâu vị ngọt thanh tự nhiên của mía nướng lùi tro bếp củi hòa cùng hương thơm nồng ấm của hạt mùi già sao vàng hạ thổ. Tuyệt đối không được lẫn mùi khét do quá lửa, không vướng mốc hoa xám hay tạp khuẩn chua mốc. Toàn bộ tương giao nhận phải được đóng cẩn thận trong chum sành ngấn nước khóa khí chuyên dụng của Phường Gốm Nam Bãi do nghệ nhân Đào Tam Nương chế tác, dung tích mỗi chum tròn hai mươi thăng. Miệng chum phải được chèn vải mộc dày đã tiệt trùng bằng nước lá sả đun sôi, viền rãnh ngấn nước trên miệng chum luôn luôn duy trì đầy đặn nước sạch, tuyệt đối không để lọt không khí hay bụi bặm xâm nhập làm hỏng chất lượng tương bên trong.”

Giọng Tiểu Mãn ngân vang, rành rọt từng chi tiết kỹ thuật mà chính cô và bà ngoại đã đúc kết bằng cả đời kinh nghiệm:

“Về phần dưa cải sen nén: Phải tuyển chọn từ những cây cải sen bẹ dày, lá xanh mướt không sâu bệnh, muối chín tới vào đúng ngày thứ ba trong vại sành ém chặt bằng phên nứa và đá tảng bãi sông. Từng miếng dưa khi giao phải đạt độ giòn rụm sần sật, ngậm đủ vị chua thanh dịu ngọt cùng hơi cay ấm của gừng già thái chỉ, không nhớt nhớt đáy vại, không nổi váng trắng bọt bèo. Trước khi đưa lên bàn cân tại bến thuyền, dưa phải được vớt lên rổ xảo nan thưa để róc sạch toàn bộ nước chua, chỉ cân phần cái thực tế. Về phần rau cải non trái vụ: Phải được thu hái thủ công từ đầu giờ Dần sương mai chưa tan đến trước giờ Mão khi mặt trời chưa rọi sáng ngọn sào, rũ sạch phù sa bãi bồi, dùng lạt giang mềm bó thành từng mớ mười cân đều tăm tắp, chuyển giao nguyên vẹn cuống lá, không giập nát, không héo úa một cọng.”

Đọc đến đây, Tiểu Mãn dừng lại một nhịp, đôi mắt đen láy rời khỏi mặt giấy ngà, ngẩng lên nhìn thẳng vào đôi mắt từng trải của vị đại chưởng quầy:

“Điều khoản thứ ba, về địa điểm giao nhận và phương thức thanh toán tiền hàng: Xưởng chế biến họ Diệp chịu toàn bộ trách nhiệm đóng gói, vận chuyển hàng hóa bằng xe kéo hai bánh cải tiến ra tới tận mạn thuyền tại bến Liễu Kiều vào đúng đầu giờ Thìn của các ngày phiên giao nhận đã định. Kể từ giây phút hàng hóa được bốc dỡ an toàn qua mạn thuyền Liễu Kiều, mọi rủi ro về sóng gió, trắc trở sông nước sẽ hoàn toàn thuộc về trách nhiệm của bên vận tải đường thủy do Tửu lầu Vọng Giang đứng ra bảo chứng và chi trả cước phí. Đội thuyền vận tải phải có nghĩa vụ bàn giao đủ số lượng, nguyên đai nguyên kiện tại cầu tàu bến Nam huyện thành trước giờ Tỵ ba khắc cùng ngày. Việc thanh toán sẽ được thực hiện dứt điểm một lần bằng bạc trắng nén phân lượng chuẩn mực hoặc tiền đồng kẽm niên hiệu Cảnh Hưng nguyên chất đủ cân đủ lạng vào ngày cuối cùng của mỗi tháng âm lịch, căn cứ chuẩn xác theo số lượng ghi nhận trên các thẻ bài giao nhận bằng gỗ sơn then có khắc triện của hai bên.”

Gian nhã các dường như chỉ còn nghe thấy tiếng gió rít qua khe cửa và tiếng dòng Vân Thủy cuộn sóng gầm gừ vỗ vào bờ kè đá hoa cương dưới chân lầu. Tiểu Mãn thẳng lưng, ngực hơi ưỡn về phía trước, ánh mắt ngời sáng vẻ tự tin và kiên định, đọc to điều khoản cốt lõi mang tính sinh tử mà cô và Tạ Cảnh đã thức trắng bao đêm tính toán, tranh đấu từng lời để bảo vệ cho những người dân cày chân lấm tay bùn:

“Điều khoản thứ tư, quy định về trường hợp bất khả kháng do thiên tai địch họa: Nếu trong niên hạn giao kết, trời làm biến động thời tiết cực đoan, gặp tiết đông chí xuất hiện sương muối đại hàn làm táp héo gốc rễ rau non bãi bồi, hoặc mùa hạ mưa lũ giông bão bất ngờ phá vỡ bờ mương đập đá khiến rau tươi bãi bồi thất thu ngoài ý muốn con người, xưởng họ Diệp được quyền dùng số lượng tương đậu hoa cau và dưa cải sen nén có giá trị kinh tế tương đương để hoán đổi, bù đắp đầy đủ cho khối lượng rau tươi bị thiếu hụt. Phía Tửu lầu Vọng Giang tuyệt đối không được viện cớ thiếu hụt rau tươi mà áp dụng điều lệ phạt vạ gấp ba lần như giao ước buôn bán thông thường!”

Khi âm thanh cuối cùng lắng xuống, Tiểu Mãn thong thả hạ tờ giấy hoa tiên đặt xuống mặt bàn gỗ mun láng bóng. Từng hàng chữ mực tàu đen nhánh, sắc nét nằm ngay ngắn trên nền giấy ngà thơm phức mùi hương mộc, tương phản rực rỡ với vết triện son chu sa hình vuông “Vọng Giang Lâu Ấn” đỏ rực như hòn than hồng vừa vớt từ đáy lò.

Bản khế ước rành rẽ phân minh, lớp lang chặt chẽ, không có lấy một kẽ hở cho phường gian xảo lách luật, cũng chẳng có một dòng chữ mờ ám nhằm chèn ép bóp nặn sức lao động của người nông dân như những tờ văn tự vay nợ mà lão địa chủ Lương Quảng Tài từng mang đến quẳng vào giữa manh chiếu rách trong mái nhà gianh xiêu vẹo của gia đình cô ngày nào.

Ngón tay cầm bút của Tiểu Mãn hơi siết lại. Cán trúc trơn bóng dường như nóng bừng lên dưới sức ép của những ngón tay.

Trong thoáng chốc, dòng suy nghĩ của cô gái trẻ vượt qua bức tường gỗ lim của nhã các Vọng Giang Lâu, vượt qua ba mươi dặm đường sông cuộn sóng, bay ngược về những đêm đông buốt giá thấu xương nơi chái hiên sau nhà trọ ẩm thấp của bác Lưu Văn Hòa nơi phố huyện.

Đó là những đêm tháng chạp gió bấc gầm gừ quất từng cơn điên cuồng qua những tấm liếp nứa rách nát. Khi ấy, đôi bàn tay cô tê cóng đến mất cả cảm giác, các khớp ngón tay sưng vù, đỏ ửng nứt nẻ rớm máu vì suốt từ sáng sớm tinh sương đã phải ngâm mình dưới nước lạnh buốt để cọ rửa từng bẹ dưa cải sen bám đầy bùn đất bãi sông. Căn chái hiên hẹp chỉ đủ kê một chiếc bàn con ghép tạm bợ từ ba mảnh gỗ bìa tạp nham, trên bàn leo lét ngọn đèn dầu hạt cải vụn tù mù, khói dầu bốc lên mùi khét lẹt cay xè mắt, muội than bám đen kịt hai cánh mũi.

Chính tại nơi ấy, Tạ Cảnh đã ngồi bên cô. Chàng thư sinh nghèo với chiếc áo vải sờn rách manh nách nhưng tấm lòng sáng tựa gương đài, đã kiên nhẫn nắm lấy bàn tay thô ráp, cứng đờ vì cóng lạnh của cô, cẩn thận nắn nót từng nét gạch ngang, nét sổ dọc, nét phẩy, nét mác. Chàng lấy một chiếc que tre vót nhọn, rải một lớp cát sông mịn màng ra chiếc khay gỗ méo mó, rồi vừa viết vừa giảng giải từng gốc tích của con chữ: Dạy cô nhận mặt chữ “Thấp” tượng trưng cho sự ẩm ướt lầy lội của đất trời mùa nồm, chữ “Táo” tượng trưng cho sự khô nỏ hanh hao của gió bấc mùa khô; dạy cô hiểu thế nào là quy chuẩn đo lường của quan phủ, thế nào là một “Thạch” mười đấu, một “Đấu” mười thăng, một “Thăng” mười hộc, thế nào là chiếc đòn cân nha môn có khắc định chuẩn để những thương lái lọc lừa không bao giờ còn có thể dùng chiếc cân lệch buôn gian bán lận bóp nặn từng giọt mồ hôi của mẹ cha cô.

Có những đêm mệt mỏi rã rời sau cả ngày gồng gánh đôi bồ dưa rau trĩu nặng chạy đôn chạy đáo khắp chợ cầu đá, hai mí mắt Tiểu Mãn díp chặt lại vì kiệt sức, đầu ngón tay run rẩy đánh rơi cây bút lông xuống nền đất nện. Mỗi lần như thế, Tạ Cảnh không hề trách mắng, chàng chỉ lặng lẽ cầm chiếc que sắt nhỏ khêu bấc đèn cho ngọn lửa bùng sáng hơn một chút, rồi tự tay bưng đến cho cô một bát nước vối nóng hổi thơm nồng. Ánh mắt chàng khi ấy ấm áp lạ kỳ, giọng chàng như rót vào lòng cô từng giọt mật:

*“Tiểu Mãn, con chữ của thánh hiền không phải sinh ra chỉ để ghi nhớ những món nợ truyền đời, cũng không phải chỉ để đếm từng thúng thóc người ta bố thí. Người nông dân biết chữ, biết tính toán cái lý của sự vật mới có thể ngẩng cao đầu đứng thẳng giữa trời đất bao la, tự tay nắm giữ và định đoạt lấy sinh kế của chính bản thân mình, vĩnh viễn không bao giờ phải cúi đầu khom lưng van xin lòng thương hại hay sợ hãi những trò ma mãnh của kẻ quyền thế.”*

Từng lời nói mộc mạc mà sâu sắc như khắc cốt ghi tâm ấy đã trở thành nguồn suối ngầm tưới mát tâm can cô gái nhỏ giữa những ngày tháng tăm tối nhất. Cô đã cắn chặt răng, nuốt từng giọt mồ hôi và nước mắt vào trong, dùng chính những ngón tay chai sần thô kệch ấy cặm cụi tập viết. Cô viết lên những mảnh giấy thô sần sùi người ta bỏ đi ngoài cửa thư viện, viết lên những vỏ trấu vàng trên sân đập lúa, lấy mảnh gốm vỡ khắc chữ lên từng thân tre sau bờ ao.

Và giờ đây, ngọn bút lông sói kẹp giữa những ngón tay chai sạn của cô vững vàng như một ngọn giáo cắm sâu vào lòng đất.

Tiểu Mãn nghiêng nhẹ cán bút, chấm ngập đầu lông vào chiếc nghiên đá Đoan Khê đen tuyền lấp lánh vân mây. Cô gạt nhẹ đầu bút vào gờ nghiên cho mực chảy đều, không đọng giọt thừa, rồi hơi nghiêng người, trang trọng đặt ngọn bút xuống khoảng giấy trống bên cạnh dấu triện son chu sa rực rỡ của Vọng Giang Lâu.

Từng nét, từng nét một chậm rãi mà dứt khoát hiện ra.

Nét thảo đầu của chữ “Diệp” vươn ngang mạnh mẽ như những mầm cây cải sen đội lớp đất sỏi bãi bồi vươn lên đón nắng xuân sau những ngày đại hàn buốt giá.

Chữ “Tiểu” hạ xuống với nét sổ móc thanh thoát, khiêm nhường nhưng dẻo dai khôn cùng, tựa như dáng hình mảnh dẻ của người con gái một nắng hai sương không bao giờ chịu khuất phục trước bão giông.

Và cuối cùng, chữ “Mãn” hiện lên tròn trịa, vững chãi, ngập tràn sức sống, nét chấm cuối cùng dằn mạnh xuống mặt giấy như một lời thề son sắt. Đó là ước vọng cháy bỏng cả một đời của người cha Diệp Thành lưng còng vì gánh nợ, của người mẹ quanh năm ho hen bên bếp lửa, của đàn em thơ nheo nhóc ngóng bát cơm đầy, về một ngày gia đình họ Diệp thoát khỏi cảnh bần hàn cùng cực, ruộng đồng bội thu, ấm no sung túc ngập tràn mái ấm.

Ba chữ “Diệp Tiểu Mãn” nằm thẳng hàng, đoan chính, sắc sảo trên nền giấy hoa tiên, tỏa ra một khí phách thanh sạch, ngay thẳng như chính tâm hồn và phẩm hạnh của cô.

Đặt ngọn bút trúc lên chiếc giá đỡ bằng đồng thau hình ngọn núi, Tiểu Mãn đưa ngón tay trỏ bàn tay phải ấn mạnh vào chiếc hộp gốm đựng son chu sa màu đỏ tươi. Lớp son mịn màng, ẩm ướt thấm đẫm từng đường hoa tay. Không một chút ngập ngừng, cô dứt khoát ấn ngón tay xuống ngay phía dưới dòng tên mình.

Vệt son đỏ thắm in hằn từng đường vân thịt rõ mồn một, đỏ tươi nổi bật cạnh nét mực đen tuyền, khóa chặt bản giao kèo kinh doanh lớn đầu tiên trong cuộc đời người con gái xứ đồng rừng Thanh Khê.

Ngay vào khoảnh khắc dấu điểm chỉ vừa hoàn tất, từ góc tối của gian nhã các bỗng vang lên tiếng bước chân dồn dập, bồn chồn. Một bóng người nãy giờ đứng ngồi không yên, vạt áo xốc xếch rảo bước xộc tới cạnh chiếc bàn mun. Đó không phải ai khác mà chính là Phùng Kế Sinh.

Gã thương lái dáng người phục phịch hôm nay khoác chiếc áo lụa xanh màu lá chuối non nhưng hai bên nẹp nách đã bạc màu và ố vàng vì mồ hôi chua. Mặt mày gã vẫn còn tái mét, bọng mắt thâm quầng sau cú ngã đau điếng lúc sáng sớm khi bị Tạ Cảnh và Tiểu Mãn vạch trần trò tung tin đồn nhảm hòng ép giá nông sản tại gốc đa chợ phiên Thanh Khê. Vừa trưa nay, gã đã bị đích thân đại quản sự bến sông của Vọng Giang Lâu dắt theo bốn tên gia đinh lực lưỡng lôi xềnh xệch từ một kho thuyền dưới chân trấn lên đây theo trát triệu tập khẩn cấp của Tôn Như Hải.

Phùng Kế Sinh đứng nép bên cạnh bàn, hai bàn tay nhớp nháp mồ hôi cứ xoa mãi vào vạt áo lụa. Khóe miệng gã méo xệch, cố nặn ra một nụ cười nịnh bợ nhưng trông còn thảm hại hơn cả mếu. Gã liếc trộm nhìn vào tờ phụ lục nhận thầu vận tải đường sông đặt bên cạnh bản khế ước chính, rồi cất giọng the thé, nhăn nhó phân trần:

“Tôn lão bản... ngài đại lượng mở lòng thương xót kẻ hèn mọn này với! Ngài xem, khúc sông Vân Thủy từ bến Liễu Kiều ngược dòng ba mươi dặm lên tới chân thành huyện này đâu phải là con mương êm đềm trong vườn nhà! Mùa xuân nước xiết cuồn cuộn, lại vướng bao nhiêu đá ngầm lởm chởm ở khúc ghềnh Ba Ngọn danh bất hư truyền. Đã thế, hàng hóa nhà họ Diệp lại toàn là chum sành vại đất ngấn nước nặng như đá tảng, dưa chua ép chặt dễ nứt vỡ rỉ nước. Mức cước khoán trọn gói mà ngài định ra... tám mươi đồng tiền kẽm cho mỗi chuyến thuyền chở sáu mươi thăng tương và tám mươi cân dưa... quả thực... quả thực quá mức ngặt nghèo! Kính xin lão bản rủ chút lòng thương xót kẻ buôn thúng bán bưng, châm chước tăng thêm mười lăm đồng tiền dầu đèn bến bãi, để lũ phu chèo đò chúng con có thêm vài đồng mua nắm muối củ gừng chống rét trên sông...”

“Phùng chưởng quầy chớ vội đem cái nghèo cái khổ ra làm bức bình phong che mắt người đời!”

Một thanh âm trầm ấm nhưng sắc lạnh tựa thép nguội bất ngờ cất lên, cắt ngang chuỗi lời than thở của gã thương lái.

Tạ Cảnh thong thả bước lên một bước, vạt áo nho sinh lay động theo cử chỉ khoan thai. Chàng đưa tay vào trong ống tay áo rộng, rút ra một tờ giấy bản mỏng đã được chàng tỉ mỉ chép tay chi chít những cột số tính toán và những vệt son đỏ chú giải cặn kẽ. Chàng trải tờ giấy lên mặt bàn, ngay trước tầm mắt đang trợn tròn của Phùng Kế Sinh:

“Theo đúng quy chế vận tải thủy trình do đích thân Ty Tuần Kiểm đường sông huyện Vân Thủy niêm yết ban hành từ tiết Lập Thu năm ngoái, một chiếc thuyền nan ba khoang tải trọng hai ngàn cân như đội thuyền của ngươi, khi chạy xuôi dòng từ Liễu Kiều về huyện thành theo con nước mùa xuân chỉ tốn đúng ba công chèo mái dầm. Tiền thuế bến bãi thủy lộ nộp cố định cho nha môn tại cửa cống Nam môn được miễn giảm theo diện nông sản dân sinh, chỉ thu tượng trưng đúng mười hai đồng tiền kẽm cho mỗi lượt cập bến. Chuyến ngược dòng trở về tuy tốn sức kéo chão vượt ghềnh Ba Ngọn, nhưng Vọng Giang Lâu đã đứng tên bảo chứng cho toàn bộ ba cỗ thuyền của ngươi được quyền ưu tiên neo đậu tại bến cảng tư gia của tửu lầu, miễn trừ hoàn toàn khoản phí neo đậu qua đêm mười đồng mà các thuyền buôn tự do khác bắt buộc phải nộp.”

Ngón tay thon dài của chàng thư sinh chỉ thẳng vào từng con số rành mạch trên mặt giấy:

“Với mức giá cước trọn gói tám mươi đồng một chuyến do Tôn lão bản ấn định: Ngươi chi trả hào phóng cho hai phu chèo đò khỏe mạnh ba mươi đồng tiền công nhật, trích mười đồng vào quỹ hao mòn dây chão, cọc chèo và dầu lau ván thuyền, nộp mười hai đồng thuế môn bài bến bãi. Tính toán chi li từng hào từng cắc, ngươi vẫn ung dung đút túi ròng rã hai mươi tám đến ba mươi đồng tiền kẽm lợi nhuận cho mỗi một lượt thuyền cập bến!”

Tạ Cảnh ngước mắt lên, ánh nhìn sắc bén như mũi tên bắn thẳng vào gương mặt đang xám ngoét của Phùng Kế Sinh:

“Mỗi tháng bốn phiên giao nhận định kỳ bất di bất dịch, ngươi cầm chắc trong tay hơn một trăm đồng tiền lời cố định, không phải chịu lấy một tia rủi ro mưa nắng ế ẩm, không lo hàng nông sản lưu kho bị ủng thối hỏng hóc như khi tự mình đi thu gom đầu chợ bán cuối chợ. Chưa kể, chiếc thuyền nan của ngươi sau khi dỡ sạch chum tương vại dưa cho nhà bếp Vọng Giang Lâu, toàn bộ khoang thuyền trống trơn lại được quyền chở muối mỏ, mắm cá và vải vóc của các thương điếm huyện thành chạy ngược về bán lẻ dọc các bến sông Liễu Kiều, thu cước hai đầu trọn vẹn. Một mối làm ăn vững chãi như bàn thạch, tiền vào như nước chảy này, dọc suốt sáu mươi dặm khúc sông Vân Thủy có biết bao nhiêu phường thuyền chài thèm muốn đến đỏ con mắt mà không với tới! Ngươi còn dám đứng đây mở miệng than thở nghèo khổ, đòi tăng cước bến bãi với ai?”

Từng câu, từng chữ của Tạ Cảnh tựa như từng nhát búa nện thẳng vào tim Phùng Kế Sinh. Gã thương lái há hốc mồm, quai hàm trễ xuống, trán lấm tấm những giọt mồ hôi to như hạt đỗ. Gã run rẩy ngước nhìn chàng thư sinh áo vải nghèo nàn trước mặt, trong lòng dâng lên một nỗi khiếp hãi tột cùng. Gã làm sao có thể ngờ được, một kẻ ngày ngày chỉ biết vùi đầu vào đống sách vở thánh hiền nơi xóm núi hẻo lánh lại có thể am hiểu tường tận đến chân tơ kẽ tóc từng điều luật của quan nha, từng luồng lạch con nước, cho đến cả giá thuê nhân công và chi phí hao mòn một sợi dây chão bến sông như thế này!

Chưa kịp để gã kịp hoàn hồn nuốt ngụm nước bọt đang nghẹn ứ nơi cổ họng, một tiếng “cạch” chát chúa, đanh gọn đột ngột vang lên.

Tôn Như Hải đã dằn mạnh chiếc chén sứ hoa lam xuống mặt bàn gỗ mun. Nước trà sen bắn tung tóe ra mặt bàn láng bóng. Bầu không khí trong gian nhã các lập tức chùng xuống, nặng nề và ngột ngạt tựa như trước cơn dông tố mùa hè. Đôi lông mày rậm hoa râm của vị lão bản dựng ngược lên, ánh mắt sắc lẹm như chim ưng nhìn trừng trừng vào gã thương lái đang run rẩy như cầy sấy:

“Phùng Kế Sinh! Lão phu nể tình ngươi lăn lộn chèo chống trên khúc sông này ngót nghét mười năm có lẻ, lại nể ngươi thông thạo từng ghềnh đá ngầm khúc Ba Ngọn nên mới mở lượng hải hà, dành riêng mối vận tải béo bở này cho đội thuyền nhà ngươi! Đó cũng là cơ hội duy nhất mà lão phu ban cho để ngươi đoái công chuộc tội sau trò tung tin thất thiệt, khuấy đảo lòng dân ngoài chợ phiên Thanh Khê sớm nay! Ngươi chê cước tám mươi đồng là ít ỏi? Ngươi chê vại dưa chum tương họ Diệp làm nặng thuyền ngươi? Tốt lắm!”

Tôn Như Hải cười khẩy một tiếng, ngón tay gõ nhịp xuống mặt bàn:

“Ngay dưới chân bến Nam kia kìa, phường chài họ Lý và đội thuyền buôn ngô bãi Hạ có hơn hai mươi cỗ thuyền nan đang chực chờ sẵn lệnh của lão phu! Chỉ cần lão phu phất tay áo một cái, đừng nói là tám mươi đồng, dẫu lão phu ép xuống bảy mươi đồng tiền kẽm một chuyến, bọn họ cũng sẵn sàng quỳ gối dập đầu xin ký giao kèo nhận thầu trọn gói ba năm với Vọng Giang Lâu! Ngươi muốn nhường miếng cơm này cho họ Lý hay họ Trần, nói ngay một lời để lão phu sai gia đinh gọi bọn họ lên đây hạ bút!”

Lời nói thốt ra nhẹ tênh nhưng nặng ngàn cân, tựa hồ sấm sét giữa trời quang giáng thẳng xuống đỉnh đầu Phùng Kế Sinh. Gã lái buôn rùng mình bắn thót một cái, hai đầu gối nhũn ra như bún, suýt chút nữa thì sụp quỳ xuống nền sàn gỗ lim.

Gã thừa hiểu uy lực và thế lực của Tôn Như Hải trên đất huyện thành Vân Thủy này lớn đến nhường nào. Chỉ cần vị lão bản này buông một câu dặn dò xuống các điếm canh bến bãi, đội thuyền ba chiếc – toàn bộ gia sản mồ hôi nước mắt cả đời của gia đình gã – sẽ lập tức bị tước quyền cập bến, bị cấm cửa buôn bán dọc suốt các bến sông từ huyện thành về tới tận miệt hạ lưu. Khi ấy, thuyền của gã chỉ có nước kéo lên bờ làm củi mục đun bếp, đường sinh sống của cả nhà coi như đứt đoạn!

“Dạ dạ dạ... Tôn lão bản bớt giận! Cầu xin ngài đại lượng bớt giận cho con nhờ!” Phùng Kế Sinh hồn xiêu phách lạc, luống cuống vớ lấy cây bút lông sói trên giá đồng, bàn tay run lẩy bẩy như người lên cơn sốt rét: “Tiểu nhân có mắt như mù, tiểu nhân lòng lang dạ thú tham lam vô độ! Tạ tướng công dạy chí phải, chí lý lắm ạ! Tiểu nhân xin nhận thầu! Xin nhận thầu trọn gói theo đúng từng điều khoản, đúng giá niêm yết tám mươi đồng mà lão bản đã định ra! Tiểu nhân xin đem cả ba cỗ thuyền và tính mạng cả nhà ra thề độc, mỗi chuyến hàng của Diệp cô nương từ bến Liễu Kiều sẽ được đưa tới chân bếp Vọng Giang Lâu một cách an toàn, mau lẹ nhất! Tuyệt đối một giọt tương không để sánh ra ngoài, một cọng dưa không để giập nát, nếu sai sót tiểu nhân xin đền gấp mười lần!”

Nói đoạn, gã thương lái vội vã cúi rạp người, run rẩy ký nguệch ngoạc tên họ mình vào bản phụ lục vận tải rồi chấm ngón tay cái vào hộp son chu sa, ấn một dấu tay đỏ lòm lên góc giấy. Mặt gã cắt không còn giọt máu, mồ hôi túa ra ướt đẫm cả mảng lưng áo lụa, trông thảm hại như một kẻ vừa bước hụt chân qua miệng vực sâu vạn trượng.

Đứng bên cạnh, Diệp Tiểu Mãn lặng lẽ quan sát toàn bộ màn kịch. Nhìn gã thương lái ngày nào từng nghênh ngang vác quạt xông vào tận sạp dưa của cô ở chợ phiên, cậy thế ép giá sỉ rẻ mạt từng thúng dưa non, từng giở những thủ đoạn đê hèn tung tin đồn dịch bệnh làm náo loạn xóm làng, nay lại phải khúm núm cúi đầu nhận khoán từng chuyến thuyền dưới sự giám sát nghiêm ngặt của khế ước, trong lòng cô dâng lên một niềm cảm khái vô bờ.

Thời thế thực sự đã đổi thay. Người nông dân lam lũ, quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời không còn là kẻ cùng đường mạt lộ để phường gian thương tha hồ bóp nặn, xâu xé. Bằng chính đôi bàn tay lao động chân chính, bằng chất lượng sản phẩm thanh sạch đạt đến độ tuyệt hảo, và bằng sự che chở của tri thức, của sự minh bạch rành rẽ trong từng con chữ, cô đã đĩnh đạc bước lên ngang hàng với các thương nhân lớn, tự tay làm chủ cuộc đời mình.

Tôn Như Hải khẽ phất tay áo ra hiệu. Phùng Kế Sinh như nhận được đại xá, vội vã khom lưng lùi từng bước ra phía cửa, rồi ba chân bốn cẳng lủi mất dạng xuống cầu thang gỗ.

Gian nhã các lại trở về với vẻ tĩnh lặng, trang nghiêm và thoáng đãng vốn có. Gió sông Vân Thủy lại ùa vào mát rượi, xua tan đi mùi mồ hôi chua nhờn nhợt của gã lái buôn vừa rời đi.

Tôn Như Hải quay lại nhìn Tiểu Mãn, nụ cười đôn hậu và ấm áp nở trên gương mặt già nua đầy nếp nhăn. Lão chậm rãi đứng dậy, bước về phía chiếc tủ chè bằng gỗ trắc đen bóng khảm xà cừ ngũ sắc kê sát bức tường hoa văn. Lão rút từ trong dải thắt lưng lụa ra một chiếc chìa khóa đồng nhỏ xíu, tra vào ổ khóa lách cách mở nắp một chiếc tráp gỗ bọc đồng tinh xảo.

Khi nắp tráp bật mở, ánh sáng lấp lánh, mát lạnh của những thỏi bạc đúc rực rỡ hắt lên gương mặt lão chưởng quầy. Lão cẩn thận dùng hai tay bưng ra hai nén bạc lớn hình móng ngựa, đặt trang trọng xuống mặt bàn mun, ngay trước mặt Diệp Tiểu Mãn.

Hai nén bạc trắng tinh ròng, đúc dày dặn, láng bóng không tì vết. Dưới đáy mỗi nén bạc đều có khắc nổi hình ngọn bảo tháp hoa sen bảy tầng – dấu ấn định danh của ngân hiệu quan phủ huyện Vân Thủy, chứng minh đây là loại bạc chuẩn mười phần tuổi, không hề có chút tạp chất hay dấu hiệu cạo gọt gian dối. Mỗi nén nặng đúng năm lượng bạc ròng, hai nén cộng lại tròn vẹn mười lượng bạc trắng sáng chói lòa dưới ánh tà dương.

“Diệp cô nương!” Tôn Như Hải cất giọng chân thành, từng lời nói đều chất chứa sự tôn trọng và gửi gắm sâu sắc: “Mười lượng bạc nén này là tiền đặt cọc vụ mùa mới mà Vọng Giang Lâu ta trân trọng trao cho xưởng chế biến Diệp gia. Trong số này, bốn lượng bạc dùng để cô nương làm vốn lưu động thu mua đậu nành loại một, đặt thêm ba mươi chiếc chum ngấn nước khóa khí từ lò gốm Nam Bãi của Đào Tam Nương; sáu lượng còn lại là phần tiền tạm ứng trước cho ba đợt giao nhận hàng hóa đầu tiên tính từ tiết Thanh Minh sắp tới.”

Lão chưởng quầy dừng lại một nhịp, đưa ánh mắt nhìn sâu vào đôi mắt đen láy, kiên định của Tiểu Mãn:

“Lão phu buôn bán, bươn chải trên đất huyện thành Vân Thủy này hơn ba mươi năm ròng. Đã từng chứng kiến không biết bao nhiêu phường buôn giàu nứt đố đổ vách bỗng chốc tan thành mây khói chỉ vì thói làm ăn gian dối, tráo trở; cũng từng chứng kiến không ít người xuất thân từ chốn bần hàn vươn lên thành rường cột nhờ giữ trọn hai chữ tín nghĩa sắt đá. Chiều hôm nay, tận mắt thấy cô nương không hề hoa mắt trước đống bạc trắng, đĩnh đạc tự tay đọc từng dòng khế ước, hiểu rõ cái đạo của đất trời và lẽ công bằng trong việc buôn bán, lão phu tin chắc rằng tương đậu và dưa muối họ Diệp sẽ không chỉ dừng lại ở căn bếp của Vọng Giang Lâu này đâu!”

Lão vỗ nhẹ lên mặt bàn mun, giọng nói hào sảng vang vọng:

“Cứ giữ vững lấy cái tâm làm nghề thanh sạch, giữ trọn cái quy chuẩn nghiêm ngặt mà bà ngoại cô nương đã truyền thụ lại, thì dẫu cho sóng to gió lớn của thương trường có cuộn trào đến đâu, cơ nghiệp của cô nương và gia đình họ Diệp cũng sẽ vững vàng như rặng núi đá kia!”

Tiểu Mãn xúc động khôn xiết. Cô lùi lại nửa bước, chắp hai tay trước ngực, khom mình cúi đầu thật sâu tạ lễ:

“Đa tạ Tôn thúc đã rộng lòng tin tưởng và nâng đỡ cho con cháu nhà nông. Gia đình họ Diệp chúng cháu từ đời ông bà đến nay chỉ biết lấy mảnh đất bãi bồi làm gốc rễ, lấy hạt đậu cọng rau làm nguồn sống. Có được mười lượng bạc đặt cọc quý giá này, cháu xin thề trước mặt thúc và dòng sông Vân Thủy, từng hạt muối rang trên chảo gang, từng giọt nước giếng đá khơi sâu trên Cồn Gió đưa vào ủ tương sẽ luôn giữ trọn vị thanh khiết nhất, tuyệt đối không bao giờ làm phụ lòng tin cậy của thúc và danh tiếng trăm năm của Tửu lầu Vọng Giang!”

Nói đoạn, cô vươn hai tay đón lấy hai nén bạc móng ngựa.

Kim loại mát lạnh áp vào da thịt, truyền thẳng một luồng sức nặng trĩu hạt vào lòng bàn tay cô. Mười lượng bạc trắng ròng! Một sức nặng hữu hình đè nặng lên từng thớ cơ ngón tay, nhưng lại nâng bổng cả tâm hồn cô bay vút lên bầu trời bao la.

Mười lượng bạc nén!

Món nợ mười lăm lượng bạc của địa chủ Lương Quảng Tài từng như một tảng đá tảng ngàn cân đè nghẹt thở cả gia đình cô suốt hơn một năm ròng rã, từng đẩy cả nhà vào cảnh tan đàn xẻ nghé, suýt nữa cướp đi hai mẫu ruộng Cồn Gió hương hỏa, nay chỉ còn lại bảy lượng nợ sạch hẹn trả vào rằm tháng mười năm nay. Giờ đây, chỉ riêng món tiền cọc trong tay đã là mười lượng bạc!

Cộng với nguồn thu tiền mặt đều đặn, ổn định từ bốn phiên giao hàng mỗi tháng sắp tới, ngày gia đình cô cầm trọn bảy lượng bạc trắng ném thẳng lên bàn trà của lão Lương Quảng Tài, xé nát tờ văn tự nợ nhục nhã, rửa sạch mọi nỗi tủi hờn nơi từ đường họ tộc, và gom đủ bạc mua đứt khoảnh đất gò rộng năm mẫu cạnh con Khe Thanh để dựng xây nên “Thanh Khê Điền Trang” đã không còn là giấc mơ hoang đường xa vời nữa! Nó đã hiển hiện rõ ràng ngay trước mắt, nằm gọn trong tầm tay của cô gái nhỏ!

Tiểu Mãn cẩn thận dùng tấm vải dầu chống thấm bọc kín hai bản khế ước cùng tờ phụ lục vận tải, quấn chặt bằng sợi dây gai se đôi, rồi trân trọng cất sâu vào nẹp áo ngực bên trong, nơi lồng ngực cô đang đập rộn ràng từng nhịp đập của niềm kiêu hãnh. Hai nén bạc nén được bọc kỹ trong chiếc khăn vải mộc, buộc chặt vào dải thắt lưng thô.

Tôn Như Hải đích thân tiễn hai người bước xuống từng bậc cầu thang gỗ lim của tửu lầu. Cánh gia đinh và phu bàn đứng dạt sang hai bên, cúi đầu kính cẩn tiễn vị khách hàng đặc biệt của chưởng quầy – một cô gái thôn quê mặc áo vải thô nhuộm củ nâu nhưng mang phong thái đĩnh đạc tựa bậc danh gia.

Bước ra khỏi cổng lớn của Tửu lầu Vọng Giang, một luồng gió sông lộng lẫy lập tức ùa tới, thổi tung làn tóc mai của Tiểu Mãn.

Bến sông huyện thành Vân Thủy lúc chiều tà tấp nập thuyền bè ngược xuôi cập bến. Ánh hoàng hôn đỏ ối như nhuộm cả một vùng trời nước mênh mông thành một sắc đỏ rực rỡ, tráng lệ. Những người phu chèo đò đang hối hả gác mái chèo, chằng lại dây neo, chuẩn bị cho chuyến đò ngang cuối cùng vượt sông đưa khách bộ hành về phía bờ nam bến Liễu Kiều.

Tạ Cảnh dừng bước trên doi đất cát mịn ven mép nước, quay người lại đối diện với Tiểu Mãn. Gió sông lùa qua vạt áo nho sinh màu xanh nhạt của chàng, làm bay bay hai dải khăn buộc tóc bằng vải mộc đơn sơ. Chàng mở chiếc túi vải đeo bên sườn, cẩn thận lấy ra một vật nhỏ.

Đó là chiếc nghiên mực bằng đá đen hình bầu dục chỉ nhỏ gọn bằng lòng bàn tay – chiếc nghiên mực quen thuộc mòn vẹt mép mà chàng đã dùng suốt những đêm đông buốt giá để dạy cô nắn nót từng nét chữ bên chái hiên nhà trọ họ Lưu.

“Tiểu Mãn.” Tạ Cảnh khẽ gọi tên cô. Thanh âm của chàng trầm ấm, dịu dàng hòa tan vào tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền gỗ.

Khi chàng đưa chiếc nghiên mực sang, những đầu ngón tay ấm áp của chàng khẽ chạm vào mép tay áo vải thô nhuộm củ nâu của Tiểu Mãn. Cú chạm nhẹ nhàng như một cánh chuồn chuồn khẽ lướt trên mặt nước hồ thu, nhưng lại khiến toàn thân Tiểu Mãn khẽ run lên một thoáng. Một luồng hơi ấm dịu dàng, tinh khiết lan tỏa từ đầu ngón tay chàng qua làn vải thô ráp, len lỏi thẳng vào sâu thẳm trái tim cô gái trẻ.

Tiểu Mãn khẽ ngước mắt lên, và bất chợt bắt gặp ánh nhìn của chàng thư sinh. Đôi mắt Tạ Cảnh lúc này không còn vẻ nghiêm cẩn, cẩn trọng thường ngày khi đối diện với các bậc bô lão hay khi đứng trước công đường vạch mặt phường gian xảo.

Đôi mắt ấy sâu thẳm như làn nước mùa thu, lấp lánh phản chiếu ráng chiều hoàng hôn rực rỡ. Trong đáy mắt chàng, chan chứa một niềm kiêu hãnh khôn nguôi, sự kính trọng chân thành xuất phát từ tận đáy lòng, và một niềm rung động kín đáo, sâu sắc mà chàng đã âm thầm giấu kín bấy lâu nay. Chàng đã tận mắt chứng kiến cô từ một cô gái thôn dã chân đất, cắn răng vượt qua bao đòn roi số phận, vượt qua những đêm đông cóng buốt để tự mình đứng thẳng lưng, tự tay nắm giữ vận mệnh của chính mình.

“Tiểu Mãn, chiếc nghiên mực nhỏ này... nàng hãy giữ lấy bên mình.” Giọng Tạ Cảnh thì thầm, ấm áp lạ kỳ: “Hôm nay, ta đã được tận mắt chứng kiến nàng cầm bút viết tên mình trước mặt bàn dân thiên hạ. Nét chữ ấy cứng cỏi, ngay thẳng và trong sạch như chính tâm hồn nàng vậy. Bản khế ước này không phải do sự rủ lòng thương hại của ai ban phát, mà nó được đắp bồi từ từng giọt mồ hôi mặn chát của nàng, từ vết thương rách da rớm máu trên vai nàng trong những đêm mưa giông gánh dưa vượt dốc, từ sự kiên nhẫn phi thường của nàng trước mọi nghịch cảnh đắng cay. Nàng đã tự mình làm chủ được vận mệnh của gia đình họ Diệp rồi.”

Chàng khẽ mỉm cười. Nụ cười hiền hậu, rạng rỡ làm bừng sáng cả gương mặt tuấn tú hơi xanh xao vì những đêm dài miệt mài bên trang sách:

“Hãy giữ lấy chiếc nghiên mực này để tiếp tục ghi chép sổ sách của xưởng, ghi lại từng mẻ tương hoa cau vàng óng, từng vụ thu hoạch dưa cải sen trên bãi bồi. Và... hãy luôn giữ gìn bản khế ước này bên mình thật cẩn thận. Bất kể sau này trên con đường phía trước có gặp thêm bao nhiêu phong ba bão táp, chỉ cần nàng nhớ rằng: Tạ Cảnh này sẽ luôn ở bên cạnh nàng, cùng nàng đối chiếu từng con số, cùng nàng bảo vệ từng tấc đất nơi Cồn Gió.”

Tiểu Mãn đón lấy chiếc nghiên đá nhỏ, nắm chặt trong lòng bàn tay. Mặt đá nhẵn bóng vẫn còn lưu giữ hơi ấm từ bàn tay chàng truyền sang.

Một cảm giác an tâm, vững chãi chưa từng có trong đời bỗng chốc dâng trào, ngập tràn trong huyết quản cô gái trẻ. Bao năm qua, cô luôn phải gồng mình lên gánh vác cả gia đình, luôn phải một mình đứng mũi chịu sào trước những mưu hèn kế bẩn của kẻ xấu, nhưng từ giây phút này, cô biết mình không còn đơn độc nữa.

Bên cạnh cô đã có một người tri kỷ, một người không bao giờ nhìn cô bằng ánh mắt định kiến khinh miệt của thế gian dành cho phận nữ nhi nghèo khó, mà luôn thấu hiểu, trân trọng từng ước mơ tự lập, luôn lặng lẽ nâng niu từng bước trưởng thành của cô.

“Tạ đại ca...” Tiểu Mãn ngước nhìn chàng, đôi gò má ửng hồng dưới ánh ráng chiều rực rỡ, khóe môi khẽ nở một nụ cười rạng rỡ như hoa xuân chớm nở: “Đa tạ huynh. Nếu không có huynh kiên nhẫn cầm tay dạy từng nét chữ, nếu không có huynh chỉ vẽ từng phép tính chi li để muội hiểu rõ giá trị thực sự của công sức người nông dân, thì một đứa con gái quê mùa như muội sao có thể có ngày hôm nay đứng vững vàng trước mặt Tôn lão bản để hạ bút ký tên. Chiếc nghiên mực này... muội sẽ trân trọng giữ gìn suốt cả cuộc đời.”

Hai người cùng sóng bước bước xuống con thuyền gỗ nhỏ đang bập bềnh đợi sẵn nơi mép nước. Tiếng mái chèo gỗ khua nước bì bõm, rẽ đôi làn sóng biếc dát vàng, đưa con thuyền lướt êm ả xuôi dòng về phía bờ nam. Huyện thành Vân Thủy hoa lệ với những mái ngói rêu phong và những tửu lầu cao vút dần dần lùi lại phía sau lưng, nhường chỗ cho bến Liễu Kiều rợp bóng liễu rủ và con đường mòn quen thuộc dẫn về làng quê Thanh Khê yêu dấu.

Cả đoạn đường ba mươi dặm ngồi trên thuyền rồi rảo bước trên con đường đê đất đỏ, lòng Tiểu Mãn ngập tràn niềm vui sướng và nhẹ nhõm vô bờ. Từng cơn gió đồng nội mơn man thổi qua tà áo, mang theo hương vị ngai ngái quen thuộc của rơm rạ và bùn đất quê hương.

Trong đầu cô gái nhỏ, những phép tính chi tiêu mạch lạc cứ lần lượt hiện ra, rõ ràng như những hàng số trên giấy bản:

Mười lượng bạc nén này, việc đầu tiên là trích ra hai lượng bạc trắng để trả dứt điểm cho ông Hứa tiền mua chịu hai thạch hạt đậu nành khô từ vụ trước, để giữ trọn chữ tín với người già trong họ;

Một lượng bạc sẽ mang sang Phường Gốm Nam Bãi trao tận tay cho Đào Tam Nương để lấy nốt mười lăm chiếc chum ngấn nước khóa khí còn lại đang nằm trên giàn nung;

Nửa lượng bạc dùng để mua thêm hai bao muối biển hạt to trắng tinh đã lọc sạch cát và mấy gánh lá sả phơi khô để mẹ may túi vải bọc miệng chum tiệt trùng;

Số bạc còn lại sẽ trao trọn vẹn cho cha Diệp Thành để cha mua thêm nứa tép, dây mây gia cố lại toàn bộ giàn phơi tương sau vườn và mua thêm cây giống chuẩn bị gieo cấy cho lứa rau tiếp theo.

Chỉ cần một vụ mùa mới này thuận buồm xuôi gió, đến rằm tháng mười năm nay, gia đình họ Diệp sẽ chính thức sạch nợ hoàn toàn, ngẩng cao đầu làm chủ hai mẫu ruộng hương hỏa Cồn Gió, không còn một ai có thể dùng mảnh giấy nợ để đe dọa đuổi gia đình cô ra khỏi mảnh đất chôn nhau cắt rốn này nữa!

Trời sẩm tối dần. Bóng chiều chạng vạng buông xuống thung lũng, rặng tre xanh quen thuộc bao bọc đầu thôn Thanh Khê dần dần hiện ra mờ ảo trước mắt hai người.

Gió bấc lạnh buốt thường ngày dường như đã ngừng thổi tự lúc nào. Thế nhưng, thay vì sự mát mẻ dễ chịu của tiết trời cuối xuân, một luồng không khí khô khốc, ngột ngạt đến kỳ lạ của buổi giao mùa bỗng ùa tới, phả vào da thịt một cảm giác bức bối, hanh hao khó tả.

Tiểu Mãn bước nhanh hơn, đôi quang gánh không vắt vẻo trên vai khẽ đung đưa theo nhịp chân thoăn thoắt.

Thế nhưng, ngay vào khoảnh khắc đôi chân cô vừa bước qua mố cầu đá cổ dẫn vào con đường trục chính của xóm Bãi, niềm hân hoan rạng rỡ trong lòng Tiểu Mãn bỗng chốc đông cứng lại.

Không gian quanh mố cầu im lìm một cách đáng sợ.

Trước mắt cô, không còn tiếng nước róc rách, ríu rít trong trẻo quen thuộc của dòng suối đầu làng – âm thanh thân thương đã nuôi dưỡng tâm hồn cô từ thuở lọt lòng.

Con Khe Thanh – mạch sống thiêng liêng duy nhất tưới tắm cho hàng chục mẫu ruộng màu mỡ của cả thôn Thanh Khê suốt bao đời nay – lúc này hiện ra trước mắt cô trần trụi và xơ xác đến bàng hoàng.

Lòng khe cạn trơ đáy đá sỏi!

Những tảng đá cuội xám xịt, lởm chởm phơi mình trơ trọi, khô khốc dưới ánh trăng non le lói vừa nhô lên khỏi rặng tre. Đáy khe nơi từng có dòng nước xanh ngắt chảy tràn trề nay chỉ còn là những vũng bùn non nứt toác thành những khe rãnh chằng chịt, sâu hoắm tựa như những vết nứt trên mai rùa già. Từng đàn cá mương, cá cờ nhỏ xíu chết khô queo, dính chặt vào những đám rêu xanh úa vàng đang bốc lên một mùi tanh nồng, ngai ngái đến lợm giọng trong bầu không khí đặc quánh.

Đầu nguồn Khe Thanh đã hoàn toàn đứt mạch!

Mùa hạn hán khốc liệt và tàn khốc nhất trong vòng mười năm qua đã bất ngờ ập xuống thung lũng Thanh Khê sớm hơn dự liệu thường niên tới nửa tháng trời.

Một tai họa thời tiết khủng khiếp mới toanh đang giáng thẳng xuống ruộng đồng quê hương, đe dọa thiêu rụi toàn bộ những mầm rau non xanh mướt vừa mới nhú mầm trên dải đất bãi bồi Cồn Gió – nơi đang gánh trên mình toàn bộ hy vọng, mồ hôi và bản khế ước sinh tử vừa mới ký kết của gia đình họ Diệp.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories