Kỳ thu bị kéo tới
Tờ công văn khẩn đóng dấu son đỏ chói mang bốn chữ đại tự "Thực Thi Cấp Thiết" được dán đè lên bảng niêm yết bằng gỗ lim của Ty Chấp Khế ngay giữa giờ Thìn, đẩy toàn bộ thành phủ Tĩnh Giang vào một cơn hỗn loạn chưa từng có trong suốt ba mươi năm qua.
Bên ngoài cổng lớn của nha môn, đám đông tụ tập đông nghịt dưới màn mưa bụi xám xịt của tiết giao mùa. Gió lạnh từ lòng sông Cửu Hà thốc ngược lên những con phố lát đá xanh, cuốn theo hơi ẩm tanh nồng của bùn non và mùi mực chu sa còn chưa kịp ráo. Nước mưa rỉ qua mái ngói rêu phong, nhỏ tong tòng lên mặt gỗ bảng cáo thị, khiến những nét chữ son đỏ tươi rực như đang rỉ máu, nhòe nhoẹt loang ra mép giấy bản dầy cộp. Tiếng xì xào bàn tán ban đầu còn dè dặt, ngập ngừng trong sự hoang mang, rồi chẳng mấy chốc đã vỡ òa thành những tiếng gào thét, chửi rủa phẫn uất và van lơn tuyệt vọng của hàng trăm con người đang chen lấn trước thềm đá.
— "Cái gì mà 'nguy cơ vỡ thanh khoản toàn phủ'?" Một lão thợ bạc già nua run rẩy vịn vào bờ tường đá nham nhở, đôi mắt đục ngầu dán chặt vào từng dòng chữ sắc lẹm vừa ráo mực trên mép bảng. Bàn tay khẳng khiu như cành củi khô của lão run lên bần bật, kéo giật mép áo bông sờn rách của người bên cạnh. — "Kỳ thu sinh cơ định kỳ vào ngày rằm tháng Ba... sao lại dời lên trưa nay? Trước tận ba ngày! Tiền công của ta còn chưa lĩnh ở xưởng đúc, thóc thuế dưới thuyền của con trai ta còn chưa kịp dỡ lên kho bãi Đoan Kiều, lấy cái gì mà bù vào số chỉ sinh cơ bị hụt đây các quan lớn ôi?"
— "Tránh ra! Để ta xem! Các người đừng có xô đẩy!" Một phụ nữ lam lũ bế đứa con nhỏ quấn manh tã rách tươm chen lấn qua đám lính canh bọc giáp da trâu. Khuôn mặt chị ta hốc hác, đôi môi nứt nẻ bật máu dưới gió rét, đôi mắt đỏ hoe ngước lên nhìn trân trân vào góc dưới cùng của tờ thị cáo. — "Tên chồng ta... tại sao tên thợ mộc phường Nam lại nằm trong diện bảo lãnh nợ tu vi của quý nhân? Chồng ta chỉ vay mười lượng bạc mua gỗ đóng quan tài cho mẹ già năm ngoái, khế ước ba bên rõ ràng ghi trả bằng công dịch mười năm nơi công xưởng, cớ sao hôm nay lại bị liệt vào diện thu thọ mệnh khẩn cấp? Trời đất ơi, đứa nhỏ này mới tròn sáu tháng tuổi, nếu lấy đi năm năm thọ mệnh của bố nó, lấy ai chẻ củi kéo cưa nuôi mẹ con ta sống qua mùa lũ?"
Đáp lại những cánh tay gầy guộc giơ lên trong khoảng không vô vọng chỉ là những mũi trường thương lạnh toát bằng thép nguội của đội tuần đinh nha môn. Bọn họ dàn hàng ngang bảy lớp, khiên sắt dày nặng nịch dập mạnh xuống nền đá lát phát ra những tiếng *rầm rầm* khô khốc, xua đuổi đám đông dạt ra xa mép bậc tam cấp. Tiếng quát tháo the the của viên tiểu lại phụ trách trật tự vang lên qua lớp mặt nạ đồng:
— "Tất cả lùi lại! Kẻ nào dám vượt qua lằn ranh ba bước trước nha môn, lập tức coi như chống đối quân lệnh của phủ, tội đồ tăng thêm ba bậc nợ! Toàn bộ đều chiếu theo Điều 9 Quy chế Tài khóa Cửu Hà mà thi hành! Không ai được cản trở công vụ!"
Trên tầng lầu cao vút của nha môn Ty Chấp Khế, sau tấm rèm trúc thêu hoa văn sóng nước Cửu Hà uốn lượn bằng chỉ bạc, Chưởng khế Lương Trạch đứng chắp hai tay sau lưng. Ánh mắt ông ta sâu hoắm, lạnh băng như băng kết dưới đáy giếng cổ, lặng lẽ nhìn xuống biển người đang nhấp nhô phẫn nộ bên dưới. Sắc mặt Lương Trạch xám xịt như tro tàn của buổi tàn tiệc, khóe môi giật giật từng cơn, nhưng toàn bộ cơ mặt vẫn căng cứng một vẻ tàn nhẫn cùng đường của kẻ đã leo lên lưng cọp và quyết không chịu ngã xuống trước mũi tên của đối thủ.
Đòn kiểm toán bóc tách thần tốc tại Kho Văn Thư Số Ba của Đỗ Hoài Nam, cùng tập nhật ký công vụ năm năm mà Phạm Diên vừa liều mạng nộp cho Viện Thẩm Khế, đã dồn ông ta vào thế không còn một tấc đất để thoái thác. Những vết nứt bán nguyệt trên con dấu lưu động số mười bốn, sợi chỉ cước phong linh lam ngọc mang đặc trưng của Thanh Đài Tông còn vương trên mép khế ước, và bản cung khai bằng máu của người thợ khắc Ngô Khắc đang từng bước, từng giờ siết chặt lấy cổ họng ông ta như một chiếc thòng lọng bằng gân hươu.
Nhưng một kẻ đã nắm giữ quyền sinh sát về khế ước và tuổi thọ của cả một phủ thành Tĩnh Giang suốt ba mươi năm ròng rã, từng bước leo từ chức lại mục hèn mọn lên đến ngôi vị chưởng khế quyền uy, không bao giờ là kẻ chịu ngồi yên chờ chết trên đoạn đầu đài pháp lý của Tòa Khế.
Lương Trạch đã kích hoạt điều khoản khẩn cấp cấp cao nhất trong hệ thống luật định của Cửu Hà: "Nguy cơ đứt gãy thanh khoản đại trận phòng hộ và cạn kiệt Quỹ Dự Phòng Sinh Khố". Dưới vỏ bọc bảo vệ an ninh trật tự và sự sống còn của toàn cõi, ông ta đã viện dẫn trọn vẹn thẩm quyền độc lập của chức vụ chưởng khế để đẩy sớm kỳ hạn cưỡng thu sinh cơ lên trước ba ngày tròn.
Tính toán của Lương Trạch vô cùng đơn giản nhưng độc địa đến tột cùng: Một khi dòng sinh cơ khổng lồ rút từ hàng vạn sinh linh hạ tầng dân sinh được bơm thẳng vào các khoang tích trữ ngầm của phủ, lấp đầy các tài khoản thiếu hụt mà ông ta đã lén lút chuyển dịch cho các đại nhân vật bên ngoài, thì mọi sai lệch sổ sách, mọi khoảng trống thanh khoản trong đợt thanh tra sẽ lập tức bị xóa sạch bằng thực tế đã rồi. Khi dòng sinh cơ dồi dào ấy đã chảy vào hệ thống hộ trận, ai có thể phân định được giọt nào là chính đáng, giọt nào là bóc lột phi pháp? Sự việc đã an bài, Tòa Khế dù có phát hiện gian lận cũng không thể lật ngược lại một cỗ máy đã vận hành hoàn tất.
Thâm độc hơn cả, Lương Trạch không chỉ phát lệnh thu đối với những kẻ mắc nợ quá hạn thật sự hay giới tu sĩ cùng quẫn. Trong bản danh sách niêm yết dài dằng dặc vừa dán ngoài cổng, tên của hàng trăm hộ dân vô tội Bến Lau, thợ nhuộm phố Đông, phu bốc vác bến Đoan Kiều, thợ rèn Chợ Đổi Niên và hàng loạt các phường thủ công nhỏ lẻ đã bị cố tình xáo trộn, gom góp lại thành từng cụm nợ liên đới khổng lồ.
Các khế ước thương mại mua phẩm nhuộm thông thường, hợp đồng thuê bến bãi đóng cọc, vay nợ lương thảo cứu đói mùa lũ đã bị tráo đổi các tờ phụ lục bảo lãnh ngầm, ghép chung mã số lưu trữ với các hợp đồng vay mượn sinh cơ quá hạn ngập đầu của giới tán tu và môn nhân hạ tầng Thanh Đài Tông.
Một mớ bòng bong khổng lồ về mặt pháp lý và số liệu được tạo ra trong chớp mắt. Trong vòng ba canh giờ ngắn ngủi, không một tòa án, không một ban thẩm khế hay thẩm phán công chính nào trên cõi đời này đủ sức lật giở từng trang chứng từ rách nát để bóc tách xem ai là kẻ trốn nợ thật sự, ai là nạn nhân bị gài bẫy qua những con dấu giả tinh vi. Và khi cỗ máy cưỡng chế của phủ thành bắt đầu lăn bánh, lưỡi hái vô hình của trận pháp viễn trình sẽ càn quét tất cả, nuốt chửng từng năm thọ mệnh của phàm nhân mà không chừa một ai.
Lương Trạch khẽ nhếch mép, buông rèm trúc xuống, ngăn cách hoàn toàn tiếng gào khóc bên ngoài bằng một lớp lụa cách âm dày đặc.
***
Tại tiền sảnh Tòa Khế Tĩnh Giang, không khí ngột ngạt và căng thẳng đến mức tưởng chừng chỉ cần một mồi lửa nhỏ cũng đủ làm nổ tung toàn bộ gian phòng ốp đá hoa cương lạnh lẽo.
Đỗ Hoài Nam đứng tựa vào chiếc cột trụ bằng đá xám tiện tròn, lồng ngực phập phồng theo từng hơi thở dồn dập và nặng nhọc. Cánh tay trái của anh được quấn chặt bằng những lớp băng vải thô tẩm bột thuốc màu vàng nhạt—dấu tích của nhát kiếm độc mà anh đã liều mạng dùng thân mình đỡ thay cho chiếc rương tang vật ở hẻm Cầu Đá một canh giờ trước. Độc tính ăn mòn dù đã được phương thuốc giải độc tạm thời của Viện Thẩm Khế kìm hãm, nhưng từng cơn đau nhức buốt thấu tận tủy xương vẫn giật lên liên hồi theo từng nhịp đập của mạch máu.
Kinh mạch của mười hai chính kinh vừa mới được đả thông gượng gạo nhờ khoản vay ba năm sinh cơ trước đó đang rung lên bần bật như những dây cung căng quá mức. Chân khí của cảnh giới Thông Mạch sơ kỳ hỗn loạn, va đập chát chúa vào các khiếu huyệt chưa kịp củng cố, khiến mồ hôi lạnh rỉ ra ướt đẫm trán anh, chảy dài xuống gò má gầy guộc.
Bên cạnh anh, bà Mẫn chống cây gậy trúc khảm đồng xuống mặt sàn đá bóng loáng. Tấm lưng còng của người cựu thư lại già nua dường như rạp xuống trước sức ép vô hình của cơ chế quyền lực, nhưng đôi mắt sau cặp kính tròn gọng thép vẫn sáng quắc, sắc lẻm như hai lưỡi dao cạo đã mài qua trăm lần đá ráp.
Đỗ Hoài An đứng áp sát ngay sau lưng anh trai, hai bàn tay nhỏ bé siết chặt lấy chiếc tráp gỗ hương đựng những dải vải thô điểm chỉ máu tươi của ba mươi hai hộ dân Bến Lau. Hàm răng cô cắn chặt vào môi dưới đến rớm máu, đôi mắt mở to nhìn quanh sảnh đường với vẻ cảnh giác tột độ.
— "Thẩm khế Tống phu nhân! Đây không phải là hành pháp, đây là hành vi bức tử công khai!"
Giọng bà Mẫn cất lên, khàn đặc vì khói bụi và sương lạnh, nhưng từng âm tiết lại đanh thép, dội vang giữa đại sảnh vắng lặng của phòng phân xử Tòa Khế. Bà vung đầu gậy trúc, chỉ thẳng về phía tờ công văn niêm yết mà một viên thị sát viên vừa mang từ cổng phủ về đặt trên chiếc bàn phụ:
— "Lệnh Thẩm Kê Số Bảy do chính tay người ký và đóng dấu giáp lai bảo hộ vẫn còn nguyên giá trị pháp lý trong trọn vẹn bảy ngày! Lương Trạch lấy quyền hạn gì để kích hoạt điều khoản khẩn cấp nhằm cưỡng thu trước hạn ba ngày? Hắn đang muốn dùng việc đã rồi để tiêu hủy sạch sẽ hiện trường gian lận, dùng dòng sinh cơ bị bòn rút để xóa dấu vết tài khóa, và quan trọng nhất: hắn muốn cưỡng chế rút cạn sinh cơ của chính những người đứng tên trong đơn tố giác trước khi công đường kịp mở phiên đối chất công khai!"
Phía sau chiếc bàn thẩm phán đồ sộ bằng đá cẩm thạch đen vân mây, Thẩm khế Tống Nhược Thủy ngồi ngay ngắn trong bộ phẩm phục màu xanh thẫm viền chỉ bạc lấp lánh—màu áo tượng trưng cho sự lạnh lùng và bất khả xâm phạm của thẩm quyền tài phán Tòa Khế.
Gương mặt người phụ nữ trung niên ấy không hề lộ chút gợn sóng cảm xúc nào, các đường nét nghiêm nghị dường như được đúc bằng đồng nguội. Nhưng ngón tay trỏ của bà đang đặt trên mép cuốn sổ thụ lý vụ án dày cộp hơi siết lại, các khớp xương trắng bệch ra dưới ánh nến chiếu rọi từ trần nhà.
Trước mặt Tống Nhược Thủy không chỉ có ba người bọn họ. Hai bên mép sảnh đường là hơn chục viên thư lại cao cấp của Viện Thẩm Khế, các thị sát viên mang đao bên hông, và ở góc tối phía tây sảnh, một viên chấp chính trung niên mặc cẩm bào màu xanh lục đại diện cho Tông môn Thanh Đài đang đứng chắp tay trầm mặc như một pho tượng đá không hồn, lặng lẽ quan sát từng chuyển động của phiên xử lâm thời.
— "Mẫn thư lại, xin bà giữ đúng sự bình tĩnh và tôn nghiêm trước công đường."
Giọng Tống Nhược Thủy đều đều, âm lượng không lớn nhưng mang theo uy áp trầm trọng của một tu sĩ Trúc Cơ trung kỳ, khiến không khí trong phòng như ngưng đọng lại.
— "Điều khoản khẩn cấp về 'Nguy cơ đứt gãy thanh khoản' là thẩm quyền quản trị tối cao được trao cho chức vụ Chưởng khế Phủ theo Điều 9 Quy chế Tài khóa Cửu Hà, văn bản pháp quy đã được Khế Các trung ương ban hành và áp dụng suốt bốn mươi năm qua. Trừ phi có lệnh đình chỉ chức vụ từ Thượng thừa Tòa Khế liên phủ hoặc có văn bản chứng minh Quỹ Dự Phòng Sinh Khố của phủ đã sụp đổ hoàn toàn trước thời hạn, Chưởng khế địa phương hoàn toàn có quyền đẩy sớm kỳ hạn thu nợ để bảo toàn hoạt động của trận pháp công cộng. Đó là luật định."
— "Nhưng hắn cố tình trộn lẫn!"
Nam bước lên một bước, bàn chân dẫm mạnh xuống sàn đá tạo nên một tiếng vang khô khốc. Anh bỏ qua cơn đau buốt đang cắn xé như xé thịt nơi bắp tay trái, bỏ qua sự run rẩy của kinh mạch bị độc khí xâm lấn, giọng nói vang lên dứt khoát và rành rọt từng chữ:
— "Bản danh sách công bố ngoài cổng nha môn lúc giờ Thìn không chỉ có ba mươi hai hộ Bến Lau đang được tạm thời bảo hộ theo Lệnh Thẩm Kê Số Bảy. Hắn gom cả phường thợ rèn Chợ Đổi Niên, phường dệt Cầu Mới, hơn hai trăm hộ dân nghèo ven sông Cửu Hà vào chung một đợt thu khẩn cấp! Toàn bộ các hợp đồng dân sự ấy đều bị tráo đổi phụ lục, gán ghép vào các gói nợ xấu của giới tán tu! Nếu Tòa Khế không ban bố lệnh đình chỉ mở rộng ngay tức khắc, hàng trăm sinh mạng phàm nhân vô tội sẽ bị đại trận rút cạn tuổi thọ trong vòng vài canh giờ tới!"
Nam đập mạnh bàn tay phải còn lành lặn lên thành lan can gỗ lim ngăn cách trước bàn thẩm phán, mắt nhìn thẳng vào Tống Nhược Thủy không hề chớp:
— "Tôi khẩn thiết yêu cầu Tòa Khế lập tức ban bố Lệnh Đình Chỉ Mở Rộng! Đóng băng toàn bộ hoạt động cưỡng thu trên toàn địa bàn phủ Tĩnh Giang cho đến khi cuộc kiểm toán toàn diện hoàn tất!"
Một khoảng im lặng chết chóc bao trùm toàn bộ gian phòng đá hoa cương. Tiếng kim đồng hồ cát nhỏ giọt trên góc bàn thẩm phán gõ đều đặn từng nhịp khô khốc, tựa như tiếng bước chân của tử thần đang tiến lại gần.
Tống Nhược Thủy nhìn sâu vào mắt Đỗ Hoài Nam. Trong ánh mắt của vị thẩm phán thiết diện vô tư ấy, Nam không tìm thấy sự tàn độc nhớp nhúa của Lương Trạch, nhưng anh nhìn thấy một thứ đáng sợ hơn gấp bội: sự sắt đá tàn nhẫn của một kẻ canh giữ quy trình văn bản.
Bà chậm rãi lắc đầu, ngón tay gõ nhẹ từng nhịp lên mặt bàn cẩm thạch đen:
— "Không thể."
— "Tại sao lại không thể?!"
Đỗ Hoài An không thể kìm nén được nữa. Cô gái mười bảy tuổi bước vụt lên bên cạnh anh trai, lồng ngực phập phồng, giọng nói nghẹn ngào uất ức đến vỡ vụn:
— "Chứng cứ tráo đổi phụ lục các người đã thấy tận mắt! Khuôn dấu giả bằng đồng đen của Ngô Khắc đã bị bắt quả tang! Người của chính các người... Chấp hành viên Phạm Diên đã nộp cả tập nhật ký công vụ ghi lại từng mệnh lệnh miệng phi pháp của Lương Trạch! Các người còn đợi đến khi nào nữa? Đợi toàn bộ dân nghèo chúng tôi bị hút cạn thọ mệnh, biến thành những cái xác khô queo rồi mới mở phiên tòa công lý để ban phát sự thương hại sao?"
— "Đỗ Hoài An! Lùi lại phía sau!"
Bà Mẫn gằn giọng quát khẽ, một bàn tay gầy guộc chộp lấy bả vai cô gái trẻ, kéo giật về phía sau lan can. Bà hiểu Tòa Khế này hơn bất kỳ ai, bà đã dành cả đời để làm việc giữa những trang giấy lạnh lùng này, và bà biết rõ một điều: sự thịnh nộ và nước mắt của kẻ yếu chưa bao giờ có thể xuyên thủng những bức tường thủ tục của cỗ máy cai trị.
Tống Nhược Thủy không hề tức giận trước sự thất lễ của Hoài An. Ánh mắt bà ta lướt qua gương mặt đẫm nước mắt của cô gái, rồi lật mở tập hồ sơ thụ lý dày cộp bọc da bê trước mặt. Giọng nói của vị nữ thẩm phán vang lên, bình thản đến mức tàn nhẫn:
— "Bởi vì giới hạn của quyền tài phán. Lệnh Thẩm Kê Số Bảy được ta ký ban hành dựa trên khoản ký quỹ bảo toàn rủi ro một ngàn lượng bạc trắng bằng hai con thuyền buôn năm trăm thạch của thương gia Tạ Bách và toàn bộ tiền tích lũy của ba mươi hai hộ dân Bến Lau. Phạm vi bảo hộ của nó được ấn định chính xác tuyệt đối theo mã hồ sơ TG-CấpCứu-0419 và dải phụ lục HN-BảoLãnh-401 đến 440. Đó là những người đã có giấy ủy quyền cá nhân hợp pháp nộp tại bàn thư lại, có mẫu chứng cứ đối chiếu trực tiếp từ Kho Muối Hạ Nham và vết nứt khuôn dấu của Ngô Khắc."
Tống Nhược Thủy ngước mắt nhìn Nam, từng lời buông ra như những tảng đá nghìn cân nện thẳng vào lồng ngực anh:
— "Những tài khoản liên kết mới bị sáp nhập... phường thợ rèn Chợ Đổi Niên, phường dệt Cầu Mới, hơn hai trăm hộ dân ven sông mà các người vừa nhắc tới, họ không nằm trong phạm vi khiếu nại ban đầu. Họ không có hồ sơ đối chiếu gốc độc lập đặt tại Viện Thẩm Khế. Họ không có tài sản ký quỹ bảo toàn rủi ro nộp vào ngân khố Tòa Khế. Chiếu theo Luật Khế ước Cửu Hà, một lệnh bảo toàn cũ tuyệt đối không thể tự động phình to để bao trùm các đối tượng mới phát sinh nếu thiếu hồ sơ đối chiếu gốc độc lập và tài sản bảo đảm."
— "Nhưng Lương Trạch cố tình gom họ lại để vô hiệu hóa chính cái lệnh của người!" Nam nghiến chặt răng, cảm giác vị tanh ngọt của máu tràn lên đầu lưỡi. — "Hắn biết rõ chúng tôi không thể nào trong vòng một buổi sáng mà thu thập đủ hồ sơ gốc và gom đủ tiền ký quỹ cho hàng trăm con người!"
— "Đúng vậy, hắn biết rất rõ điều đó." Tống Nhược Thủy lạnh lùng thừa nhận, không một chút lảng tránh. — "Hắn đang dùng chính kẽ hở và sự nghiêm ngặt của luật pháp để phản kích các người. Nhưng Tòa Khế là nơi duy trì trật tự của văn bản và hệ thống khế ước, không phải là nơi ban phát lòng từ bi tôn giáo. Nếu hôm nay ta tùy tiện phá lệ, ký một lệnh đình chỉ mở rộng trên toàn phủ mà không có hồ sơ chứng minh cụ thể và không có tiền bảo toàn rủi ro tương ứng, toàn bộ hệ thống tín dụng hợp pháp của Tĩnh Giang sẽ sụp đổ ngay trưa nay."
Bà vung tay chỉ về phía chiếc cân bạc lớn bằng đồng thau đặt trên giá gỗ sau lưng:
— "Các khoản vay tu luyện của Thanh Đài Tông đang thế chấp bằng dòng sinh cơ luân chuyển, các nguồn năng lượng duy trì hệ thống cống đập ngăn mặn dọc sông Cửu Hà, các quỹ dưỡng lão của quan viên hưu trí... tất cả sẽ lập tức bị đóng băng do thiếu hụt thanh khoản hệ thống. Hậu quả hỗn loạn dây chuyền đó, ai trong các người đứng ra gánh nổi? Cậu gánh nổi, hay số dân nghèo Bến Lau gánh nổi?"
Bà dừng lại một nhịp, ánh mắt sắc như thép nhìn thẳng vào ba người trước mặt:
— "Muốn có lệnh đình chỉ mở rộng bổ sung, các người bắt buộc phải đưa ra được hai điều kiện tiên quyết: Thứ nhất, hồ sơ gốc chứng minh từng hộ gia đình bị gài bẫy gian lận khế ước, có ít nhất hai nguồn chứng cứ độc lập xác nhận tính xác thực của chuỗi bảo quản. Thứ hai, nộp đủ tiền bảo toàn rủi ro tương ứng với giá trị các gói nợ xin đình chỉ theo biểu phí quy định. Các người hiện tại có đủ không?"
Một sự im lặng tuyệt vọng bao trùm gian phòng.
Một ngàn lượng bạc trắng cho ba mươi hai hộ dân Bến Lau đã vét cạn toàn bộ gia sản ky cóp qua ba đời của họ, ép thương gia Tạ Bách phải đem cả hai con thuyền buôn năm trăm thạch là cần câu cơm duy nhất ra thế chấp sống chết. Bây giờ, đối mặt với hàng trăm hộ dân mới bị sáp nhập vào danh sách khẩn cấp của Lương Trạch, số tiền bảo toàn rủi ro theo luật định sẽ lên tới hàng vạn lượng bạc trắng. Đó là một con số hoang đường, một ảo mộng không tưởng đối với những người thợ nhuộm, phu bốc vác, thợ rèn cả đời chỉ tích cóp từng đồng tiền kẽm rỉ sét.
Và nghiệt ngã hơn tất cả: thời gian.
Từ giờ Thìn đến giờ Ngọ—thời điểm cỗ máy cưỡng thu viễn trình vận hành—chỉ còn chưa đầy một canh giờ rưỡi đồng hồ.
Tống Nhược Thủy cụp mắt xuống, ngòi bút lông sói trên tay bà chấm vào nghiên mực đỏ thắm:
— "Lệnh Thẩm Kê Số Bảy vẫn giữ nguyên hiệu lực. Ty Chấp Khế tuyệt đối không được phép chạm vào ba mươi hai hộ dân Bến Lau đã có tên trong danh sách bảo hộ ban đầu. Nhưng đối với toàn bộ các hộ dân còn lại trong danh sách khẩn cấp của Lương Trạch... Tòa Khế không có căn cứ pháp lý để can thiệp. Hết giờ Tỵ, nếu không có chứng cứ mới nộp lên bàn này, trận pháp viễn trình sẽ vận hành theo đúng công văn điều hành của nha môn."
Từng chữ, từng câu của vị thẩm phán rơi xuống mặt bàn đá như những nhát búa nện nát mọi tia hy vọng le lói. Đỗ Hoài Nam đứng chôn chân tại chỗ, các khớp ngón tay siết chặt lấy thanh lan can gỗ đến mức móng tay găm sâu vào thớ thịt, máu từ vết thương ở bắp tay trái lại rỉ ra, thấm đẫm lớp băng vải màu vàng nhạt, nhỏ từng giọt đặc quánh xuống sàn đá hoa cương.
***
— "Em không thể đứng đây nhìn họ chết được!"
Vừa bước chân ra khỏi cánh cổng vòm bằng đá đồ sộ của Tòa Khế, Đỗ Hoài An liền giật phắt cánh tay đang bị Nam giữ lại. Gương mặt cô gái tái nhợt dưới bầu trời u ám, nhưng trong đôi mắt đen láy lại bừng lên ngọn lửa quyết liệt của một đứa con sinh ra và lớn lên giữa những xóm thợ nghèo ven sông Cửu Hà.
Gió mưa quất thẳng vào vạt áo tơi mỏng manh của cô, làm những sợi tóc mai bết chặt vào trán.
— "Ở Bến Lau, đâu phải chỉ có ba mươi hai người nhà chúng ta!" Hoài An hét lên, giọng lạc đi giữa tiếng mưa rơi rào rạt trên mái ngói phố xá. — "Bác Năm chèo đò cả đời chở khách qua sông, dì Bảy gánh nước nuôi ba đứa cháu mồ côi, cả đám thợ trẻ ở lò gạch... tên của họ đều bị dán lù lù ngoài cổng Ty Chấp Khế kia kìa! Khi cọc câu linh của phủ cắm ngập xuống đất làng, trận pháp viễn trình đâu có mắt mà phân biệt ai có tờ giấy bảo hộ của Tòa Khế, ai không? Người già yếu và người bệnh tật sẽ bị hút cạn thọ mệnh ngay đợt quét đầu tiên!"
Không đợi anh trai trả lời, Hoài An vội vã thò tay vào trong tay áo chàm, rút ra ba chiếc ống đồng nhỏ xíu bằng ngón tay út—vật phẩm dùng để đưa thư mật của các phường buôn đường thủy. Cô quay ngoắt sang phía chú Đạt, người thợ nhuộm trung kiên với hai bàn tay nhuộm chàm xanh thẫm, đang đứng cầm dây cương bên cỗ xe ngựa dã chiến dưới gốc cây hòe:
— "Chú Đạt! Thả bồ câu đưa thư về Bến Lau ngay lập tức! Dùng cả ba con chim nhanh nhất, bay theo ba ngả khác nhau để tránh lưới chặn của tuần đinh!"
Hoài An cắn mạnh ngón tay trỏ của mình, dùng máu tươi viết vội ba dòng chữ nguệch ngoạc nhưng rõ ràng lên mảnh lụa mỏng tang đã chuẩn bị sẵn, rồi cuộn tròn nhét vội vào ống đồng:
— "Bảo bác Ba và các tổ tương trợ lập tức hành động! Gom toàn bộ người già, người bệnh, trẻ nhỏ trong làng tập trung ngay vào bên trong Y quán Bến Lau! Đóng chặt cổng gỗ lim, kích hoạt toàn bộ các cọc đá phong tỏa trận pháp độc lập mà anh Lục Sâm đã gia cố tuần trước! Tuyệt đối không một ai được bước chân ra ngoài đồng ruộng hay ven mép nước! Bất kể người của Ty Chấp Khế hay tuần đinh có gõ cửa nói gì, cấm không được mở chốt!"
— "Rõ rồi! Tôi đi làm ngay!"
Chú Đạt nhận lấy ba chiếc ống đồng đẫm máu, siết chặt trong lòng bàn tay thô ráp, xoay người lao vụt vào màn mưa phùn mịt mùng, hướng thẳng về phía chuồng bồ câu liên lạc bí mật của Liên hội Vận Thương nằm sâu trong ngõ Hàng Buồm.
Đỗ Hoài Nam đứng nhìn theo bóng lưng chú Đạt khuất dần sau khúc quanh ngập nước, lồng ngực anh thắt lại một cơn nghẹn đắng.
Y quán Bến Lau thực chất chỉ có một trận pháp bế tỏa phòng hộ quy mô nhỏ, vốn được Lục Sâm cải tạo sơ sài từ trận pháp chống ẩm mốc của kho dự trữ dược liệu, vận hành nhờ vào năng lượng cặn bã của mấy viên hạ phẩm linh thạch đã mòn vẹt. Trận pháp ấy có thể ngăn chặn sự thâm nhập của từ trường câu linh trong một khoảng thời gian ngắn, tạo ra một vùng đệm cô lập tạm bợ cho người trú ẩn bên trong. Nhưng đó chỉ là giải pháp tình thế tuyệt vọng của kẻ cùng đường.
Một khi đại trận Tháp Thu Niên vận hành hết công suất thiết kế, áp lực sinh cơ bị cưỡng bức sẽ nghiền nát những viên linh thạch cặn ấy thành bột mịn trong vòng chưa đầy nửa canh giờ.
— "Nam."
Bà Mẫn bước tới bên cạnh anh, tiếng gậy trúc gõ cộc cộc trên bậc thềm đá ướt lạnh. Hơi thở của người cựu thư lại già trở nên nặng nhọc, đứt quãng sau khi phải leo qua hàng chục bậc thềm đá dốc đứng của Tòa Khế. Gương mặt nhăn nheo hằn sâu những nếp gấp của sự cay đắng và mệt mỏi cùng cực:
— "Thời gian không còn nhiều nữa đâu cậu Nam. Tống Nhược Thủy tuy lạnh lùng, nhưng bà ta đã để lại cho chúng ta một khe hở hẹp: bà ta không thể tùy tiện đình chỉ toàn bộ danh sách khẩn cấp của Lương Trạch, nhưng bà ta đã hứa sẽ ký văn bản bảo hộ khẩn cấp bổ sung cho bất kỳ hồ sơ nào đáp ứng đủ điều kiện kiểm toán tối thiểu."
Bà Mẫn mở chiếc tráp da cũ kỹ đeo bên hông, run rẩy lôi ra một xấp phôi giấy dâu tằm dày dặn, bên mép trên đã được đóng sẵn dấu giáp lai chìm của Viện Thẩm Khế:
— "Cậu phải đưa ra quyết định. Ngay bây giờ, ngay trên bậc thềm này."
Hoài An quay phắt lại, hai mắt đỏ hoe nhìn anh trai với ánh mắt van lơn tha thiết:
— "Anh Nam! Chúng ta vẫn còn giữ danh sách ủy quyền dự phòng của hơn bốn mươi hộ phường nhuộm và phường dệt mà em đã lén ghi chép mấy hôm trước! Hãy điền hết tên của họ vào phôi giấy này đi anh! Điền cả tên bác Năm chèo đò, dì Bảy gánh nước, cả mười mấy hộ thợ rèn Chợ Đổi Niên nữa! Cứ trình hết lên cho Tống phu nhân ký, cứu được thêm ai thì hay người đó! Chúng ta không thể chọn lọc mạng sống của bà con được!"
— "Không được."
Giọng Đỗ Hoài Nam run rẩy, từng đường gân trên cổ anh gồ lên giật giật, nhưng từ ngữ thốt ra khỏi miệng lại dứt khoát và lạnh lùng đến mức tàn nhẫn. Anh nhắm chặt hai mắt lại, cảm giác như chính lưỡi dao tiện bằng thép của Ngô Khắc đang rạch từng nhát sâu hoắm vào tim gan mình.
— "Anh nói cái gì cơ?!"
Hoài An trừng lớn mắt nhìn anh trai, lùi lại nửa bước, ánh mắt tràn đầy sự bàng hoàng và không thể tin nổi:
— "Họ là hàng xóm láng giềng của chúng ta! Mùa đông năm ngoái nhà mình hết gạo, bác Năm đã bớt từng bơ gạo chia cho anh em mình! Khi quân của Ty Chấp Khế lùng sục truy bắt người trốn nợ, chính phường nhuộm đã giấu anh em mình dưới đáy bồn ủ vải chàm suốt ba ngày ba đêm! Bây giờ anh muốn bỏ rơi họ sao? Anh định đứng nhìn họ chết khô trước mắt mình sao Đỗ Hoài Nam?!"
— "Em nghe anh nói đây, Đỗ Hoài An!"
Nam bước tới, đưa hai bàn tay siết chặt lấy bả vai em gái, dùng toàn bộ sức lực còn lại để ép cô phải đứng yên và nhìn thẳng vào mắt mình. Đôi mắt anh lúc này đỏ ngầu, những tia máu li ti vằn lên dữ dội quanh con ngươi:
— "Tống Nhược Thủy không phải là Lương Trạch, nhưng bà ta là một thẩm khế chấp pháp theo nguyên tắc chứng cứ văn bản! Quy chuẩn Tố tụng Cửu Hà quy định rõ như ban ngày: Một kết luận bảo hộ khẩn cấp bổ sung bắt buộc phải dựa trên ít nhất HAI NGUỒN CHỨNG CỨ ĐỘC LẬP có chuỗi bảo quản xác minh được tính chân thực!"
Nam vung tay chỉ thẳng vào xấp phôi giấy dâu tằm trên tay bà Mẫn, giọng anh gằn từng tiếng rành rọt giữa tiếng mưa:
— "Nếu bây giờ chúng ta vì thương cảm, vì mềm lòng mà dùng danh sách ủy quyền khống, nhét bừa tên hàng trăm người không có hồ sơ chứng minh vào đơn thỉnh cầu... Tống Nhược Thủy sẽ lập tức bác bỏ toàn bộ vì khiếm khuyết thủ tục pháp lý nghiêm trọng! Em có hiểu không?! Lương Trạch và tay chân của hắn đang đứng đầy trong nha môn, bọn chúng đang căng mắt ra rà soát từng dấu chấm, dấu phẩy, từng nét mực trong văn bản của chúng ta!
Chỉ cần một cái tên bị phát hiện là khai khống không có chứng cứ gốc đối chiếu, Lương Trạch sẽ lập tức viện cớ đó để tố cáo chúng ta làm giả hồ sơ tư pháp, và hắn sẽ hủy bỏ luôn cả Lệnh Thẩm Kê Số Bảy bảo vệ ba mươi hai hộ ban đầu! Lúc đó, không những không cứu được thêm một ai, mà toàn bộ ba mươi hai người Bến Lau, kể cả bác Ba, kể cả mẹ con chị bán bánh, tất cả sẽ cùng chết chùm!"
Nước mắt Hoài An trào ra xối xả, hòa cùng nước mưa lạnh buốt lăn dài trên đôi gò má lấm lem:
— "Vậy thì... vậy thì những người còn lại phải làm sao đây? Chẳng lẽ chúng ta cứ đứng trơ mắt nhìn họ bị rút tuổi thọ ư anh?"
— "Chúng ta phải vạch ra ranh giới." Nam nói, từng chữ thốt ra nghẹn ứ nơi cổ họng, đắng ngắt như nuốt phải tro tàn. — "Một ranh giới sống còn. Chúng ta chỉ được phép gửi văn bản bảo hộ khẩn cấp cho những hộ dân ĐÃ CÓ ĐỦ HAI NGUỒN CHỨNG CỨ ĐỐI CHIẾU XÁC THỰC!"
Nam quay ngoắt sang bà Mẫn, hơi thở của anh dồn dập nhưng ánh mắt đã trở lại vẻ sắc lạnh, chuẩn xác đến rợn người của một viên thư lại kiểm sổ đang đứng giữa bờ vực sinh tử:
— "Bà Mẫn, mở tráp ra! Rà soát lại toàn bộ tài liệu và chứng từ đối chiếu mà chúng ta đang nắm giữ trong tay! Nguồn thứ nhất: Các biên nhận mua bán vật tư gốc có đóng dấu thu tiền của Thương hội Hà thị mà Hoài An đã liều mạng mang từ bến thuyền lên. Nguồn thứ hai: Tập bản sao trích lục sổ kiểm soát con dấu số mười bốn tại Kho Muối Hạ Nham và các tờ phụ khế có vết mẻ mộc đối bản đồng đen của Ngô Khắc! Những hộ nào có tên TRÙNG KHỚP TRÊN CẢ HAI NGUỒN ĐÓ?"
Bà Mẫn không nói thêm một lời thừa thãi nào. Kinh nghiệm của một đời làm thư lại mách bảo bà rằng lúc này, mỗi một giây chần chừ đều phải trả giá bằng máu và thọ mệnh. Bà ngồi thụp xuống bậc thềm đá lạnh buốt của Tòa Khế, bất chấp nước mưa đọng thành vũng làm ướt sũng vạt áo chàm cũ kỹ. Chiếc tráp gỗ được mở tung ra trên đầu gối.
Những ngón tay gầy guộc, nhăn nheo như những nhánh củi khô bắt đầu lật giở từng trang giấy dâu tằm với một tốc độ kinh hoàng. Từng tờ biên lai ố vàng, từng mảnh giấy bản rách mép có dấu triện mờ được đặt cạnh danh sách trích lục mượn dấu của Lại mục Phan Vĩnh để đối chiếu chéo:
— "Hộ thợ nhuộm Trần Thụ... có biên nhận mua mười bao bột chàm năm Khang Định thứ chín mang dấu Hà thị, có tên trong phụ lục HN-BảoLãnh-409 mượn con dấu số mười bốn bị mẻ... ĐẠT!"
— "Hộ phu thuyền Lê Cương... chỉ có giấy nợ lương thảo viết tay của chủ đò, không có mã hồ sơ đối chiếu trong sổ mượn dấu... LOẠI!"
— "Hộ thợ rèn Lão Đồ... có biên bản kiểm tra chéo phụ thu DV-PhụThu-09 ký với Tạ Bách, có dấu mộc đối bản đồng đen của Ngô Khắc... ĐẠT!"
— "Hộ bà góa xóm Cầu Mới... chỉ có đơn kêu cứu tập thể của xóm, không có chứng từ giao dịch gốc... LOẠI!"
— "Hộ thợ thuộc da Trương Cửu... có biên lai thu thuế bến bãi, nhưng con dấu không trùng khớp với vết mẻ... LOẠI!"
— "Hộ nhà lò gạch Bùi Bính... có hợp đồng cung cấp gạch ngói cho kho muối, có mã số lưu trữ phụ lục trùng khớp... ĐẠT!"
Mỗi một chữ "LOẠI" thốt ra từ đôi môi khô khốc của bà Mẫn như một nhát búa vô hình giáng thẳng xuống số phận của một gia đình. Hoài An ngồi bệt bên cạnh, hai tay ôm chặt lấy mặt, tiếng khóc nấc nghẹn ngào rung lên bần bật theo từng cái lắc đầu của bà Mẫn. Cô gái trẻ hiểu rõ anh trai mình không hề tàn nhẫn, anh đang làm điều duy nhất đúng đắn để cứu vãn những gì còn có thể cứu. Cỗ máy trường sinh và hệ thống khế ước của Cửu Hà chưa bao giờ vận hành bằng lòng trắc ẩn; nó vận hành bằng sự lạnh lùng của giấy trắng mực đen, bằng tính chuẩn xác của các con dấu và quy trình tố tụng. Đưa một cái tên không đủ chứng cứ vào danh sách lúc này không phải là hành vi cứu người, mà là tự tay kéo cả đoàn tàu xuống vực thẳm diệt vong.
Đỗ Hoài Nam nghiến chặt hai hàm răng đến mức bật máu tươi nơi khóe miệng. Anh ngồi xổm xuống bên cạnh bà Mẫn, cầm lấy cây bút lông sói, chấm thẳng vào nghiên mực son đỏ thắm pha sẵn mà bà lão mang theo. Cánh tay trái của anh buốt nhói từng cơn dữ dội, chất độc dường như đang cắn xé các thớ cơ thịt, nhưng ngón tay cầm bút của anh vẫn giữ thẳng băng, không run rẩy dù chỉ một ly.
Tên của từng hộ gia đình có đủ hai nguồn chứng cứ đối chiếu được anh điền nắn nót, chuẩn xác từng nét một vào các ô trống trên phôi giấy dâu tằm mang dấu giáp lai của Tòa Khế.
Mười hộ... mười lăm hộ... mười tám hộ... hai mươi mốt hộ.
Ngòi bút dừng lại ở cái tên cuối cùng.
Chỉ có đúng hai mươi mốt hộ gia đình trong số hàng trăm nạn nhân đang gào khóc ngoài kia đáp ứng được tiêu chuẩn pháp lý nghiệt ngã của Tòa Khế. Hai mươi mốt cái tên đại diện cho hai mươi mốt gia đình được đóng dấu mộc bảo hộ độc lập, kẹp chặt cùng các bản sao chứng từ đối chiếu chéo.
— "Xong rồi!"
Bà Mẫn gập mạnh tập hồ sơ lại, tiếng giấy dâu tằm đập vào nhau nghe đanh gọn. Bà ngẩng đầu lên nhìn Nam, trong đôi mắt già nua đỏ hoe ánh lên một tia kiên định cuối cùng:
— "Đúng hai mươi mốt hộ, không thừa một người, không thiếu một chứng từ! Ta sẽ đích thân mang tập hồ sơ này quay vào phòng phân xử nộp cho Tống Nhược Thủy! Bà ta đã nói trước công đường là sẽ thụ lý nếu có đủ hai nguồn chứng minh độc lập, bà ta không thể nuốt lời trước mặt Viện Thẩm Khế!"
— "Bà Mẫn... trăm sự nhờ cậy cả vào bà!"
Nam thở dốc, hai bàn tay chắp lại, cúi đầu thật sâu trước người phụ nữ cựu thư lại già nua.
Bà Mẫn không ngoái đầu nhìn lại. Bà chống cây gậy trúc khảm đồng, những bước chân khập khiễng nhưng thoăn thoắt dẫm ngược lên từng bậc thềm đá hoa cương ướt đẫm nước mưa, tiến thẳng vào cổng vòm Tòa Khế. Tấm lưng còng queo của bà in hằn trên nền đá xám xịt như một nét mực kiên cường, đơn độc vạch thẳng vào bức tranh u ám của tòa công đường đồ sộ.
***
Nhưng thời gian nghiệt ngã của cỗ máy quyền lực đã không còn kiên nhẫn chờ đợi sự hoàn tất của những trang giấy mỏng manh.
*Ù... Ù... Ù...*
Một âm thanh trầm đục, quái dị bỗng nhiên từ sâu trong lòng đất truyền lên, làm rung chuyển toàn bộ những phiến đá hoa cương dưới chân Nam và Hoài An. Nước mưa đọng trong các rãnh thoát nước bắt đầu nổi sóng lăn tăn, rồi đột ngột bắn tung tóe lên không trung thành những hạt sương mù li ti.
Đỗ Hoài Nam giật mình, toàn thân cứng đờ. Anh ngẩng phắt đầu nhìn về hướng trung tâm của thành phủ Tĩnh Giang.
Nơi đó, sừng sững giữa bầu trời mây xám xịt u ám, là Tháp Thu Niên—trung tâm điều phối, tích tụ và phân phối sinh cơ thọ mệnh của toàn cõi Tĩnh Giang suốt hàng trăm năm qua. Tòa tháp hình bát giác cao chín tầng đồ sộ, xây hoàn toàn bằng đá hắc diệp thạch đen trũi, quanh năm được bao bọc bởi những luồng linh khí mờ ảo trông tựa như một cây cột chống trời.
Nhưng lúc này, từ các ô cửa sổ hình vòm của tháp, từng luồng khói xám xịt dị thường đang cuồn cuộn bốc lên, mang theo một mùi vị tanh nồng của sinh khí bị đốt cháy cưỡng bức.
*OÀNG!*
Một tiếng nổ nghẹn ngào, nặng nề vang lên từ đỉnh tháp, xé toạc bầu không khí ẩm ướt của buổi trưa. Đó không phải là tiếng sấm sét tự nhiên của trời đất, mà là âm thanh gầm rú của một cỗ máy pháp trận khổng lồ đang bị người ta ép buộc vận hành vượt quá công suất an toàn.
Từ đài thông linh mang mã hiệu [Huyền Thủy-01] đặt trên tầng cao nhất của Tháp Thu Niên, một luồng ánh sáng màu xám đục—thứ màu sắc ghê tởm của sinh cơ bị cưỡng đoạt bằng bạo lực và pha tạp oán khí ngút trời—bắn thẳng lên không trung, đâm toạc tầng mây thấp xám xịt đang bao phủ thành phủ.
Luồng sáng xám đục ấy không hề tan biến vào hư không. Khi chạm tới tầng khí quyển bên trên, nó đột ngột uốn cong lại, rồi tản ra thành hàng trăm, hàng ngàn sợi tơ sáng mờ ảo đan xen chằng chịt vào nhau như một tấm mạng nhện khổng lồ chụp xuống toàn cõi Tĩnh Giang.
Đó chính là mạng lưới truyền dẫn sinh cơ viễn trình tối cao của phủ!
Những sợi tơ sáng màu xám đục rẽ gió lao vun vút dọc theo các dòng chảy uốn lượn của sông Cửu Hà. Chúng kết nối chính xác và lạnh lùng về các trạm linh vận vệ tinh đặt rải rác khắp nơi: từ các cọc câu linh cắm sâu dưới lòng đất tại bến Đoan Kiều, qua các bồn chứa của Kho Muối Hạ Nham, vươn dài qua các phường thợ thủ công, và điểm cuối cùng của nhánh sông phía đông... Trạm Bến Lau!
Trận pháp hút cạn tuổi thọ đã được Chưởng khế Lương Trạch chính thức kích hoạt từ xa bằng con Dấu Chủ tối cao mà ông ta mang theo bên mình, bỏ qua hoàn toàn quy trình giám sát ba ngày của Tòa Khế!
Mặt đất dưới chân thành phủ bắt đầu chao đảo nhẹ. Không khí xung quanh Đỗ Hoài Nam và Hoài An bỗng chốc trở nên lạnh buốt thấu xương—không phải cái lạnh của mưa phùn gió bấc mùa xuân, mà là cái lạnh chết chóc đặc trưng của sinh cơ và thọ mệnh bị rút cạn khỏi vạn vật.
Dọc theo hai bên đại lộ dẫn vào nha môn, những rặng cây hòe cổ thụ xanh tốt bắt đầu rũ lá rào rào. Những chậu hoa cúc vừa chớm nở trong các bồn đá trước cửa Tòa Khế lập tức khô héo, cánh hoa thâm đen lại rồi rụng lả tả xuống nền đá trong nháy mắt. Cả thành phủ dường như vừa bị một bàn tay vô hình khổng lồ bóp nghẹt lấy cuống họng.
Đỗ Hoài An ngã quỵ xuống bậc thềm đá ướt lạnh, hai bàn tay nhỏ bé ôm chặt lấy lồng ngực đang co thắt dữ dội. Khuôn mặt cô gái tái mét không còn một giọt máu, đôi mắt mở to nhìn trân trân về hướng dòng sông Cửu Hà phía đông xa xôi, nơi khói xám đang bốc lên ngùn ngụt:
— "Bến Lau... Anh Nam ơi... Bến Lau của chúng ta..."
Giữa bầu không khí nghẹt thở của sự hủy diệt đang bao trùm lên khắp các phố phường, từ đỉnh cao vút của Tháp Thu Niên, một tiếng chuông đồng cổ xưa trầm hùng bất thần gióng lên một hồi dài.
Âm thanh kim khí nặng nề, thê lương ấy xé rách không gian ẩm ướt, mang theo quy chuẩn cưỡng chế lạnh lùng của luật pháp Cửu Hà, dội thẳng vào tâm can, vào từng mạch máu của hàng vạn con người đang run rẩy nơi thành phủ.
*BOONG... GGG!*
Tiếng chuông đồng từ Tháp Thu Niên vang rền khắp bầu trời thành phủ Tĩnh Giang, báo hiệu trận pháp hút cạn tuổi thọ đã chính thức vận hành sớm ba ngày trước hạn định.