Sổ Nợ Trường Sinh — Phần 1: Người Đòi Nợ TrờiCh.2 / 38
Chapter 2

Tên người trên giấy đỏ

Trước cửa xưởng nhuộm bốc mùi chàm nồng nặc, Đỗ Hoài An đứng chắn trước sân phơi vải, hai bàn tay siết chặt lấy thanh khuấy thuốc nhuộm bản lớn đẽo bằng gỗ nghiến sẫm màu, gườm gườm đối mặt với toán sai nha mang giáp sắt viền xám tro của Ty Chấp Khế.

Gió lạnh từ khúc quanh sông Cửu Hà thốc mạnh qua bãi sậy rậm rạp ngoài đê, cuốn theo hơi nước đục ngầu phù sa lẫn mùi mặn chát của đầm lầy sú vẹt, rồi tạt thẳng vào khoảng sân đất nện rộng chưa đầy nửa mẫu. Trong khoảng không gian chật hẹp ấy, bầu không khí quánh đặc thứ mùi chua nồng của nước vôi ngâm tro cỏ tranh rữa mục, mùi hăng gắt của vỏ vẹt giã nhỏ cùng hơi khét ngai ngái bốc lên từ những vạc chàm đại cỡ đang sôi liu riu dưới bếp trấu. Những dải vải thô màu lam thẫm vừa vớt khỏi vạc đang được giăng kín trên hàng chục giàn phên nứa, rỏ từng giọt chất lỏng xanh đen tí tách xuống nền đất ướt nhão. Giữa cái rét hanh hao của buổi chập tối, từng làn khói ấm mỏng manh lượn lờ bốc lên từ thớ vải ướt át, bện chặt lấy những khuôn mặt hốc hác, lem luốc vệt chàm tím của mười mấy người thợ nhuộm.

Họ đứng ken đặc sau lưng Hoài An, mình mặc áo vải bố cộc tay tơi tả, để lộ những cánh tay gân guốc bị thuốc nhuộm ăn sâu vào từng nếp gấp da thịt, biến móng tay thành những mảnh sừng đen đúa không cách nào cọ sạch. Trong tay những người phu thợ ấy là đòn gánh tre đực, xẻng xúc xỉ than, những thanh giằng phên tre vót nhọn và gậy khuấy vải bằng gỗ lim nặng trịch. Đôi mắt họ vằn lên những tia đỏ quạch của nỗi kinh hoàng tột độ lẫn sự liều lĩnh của loài thú bị dồn vào ngõ cụt.

Đỗ Hoài Nam gạt phăng đám đông đang tụ tập nhớn nhác ngoài ngõ xóm, thở dốc bước vội vào sân. Lồng ngực anh nhói buốt sau chặng đường dài chạy bộ dọc triền đê đất đỏ, hai bắp chân căng cứng và đôi giày vải thô bám đầy bùn non nhão nhoẹt. Anh chưa kịp ổn định hơi thở thì Hoài An đã quay phắt lại.

Dưới mái tóc đen nhánh được búi vội bằng một chiếc trâm tre gọt dở còn nguyên xơ gỗ, gương mặt cô gái hai mươi mốt tuổi tái nhợt như tờ giấy bản ngâm nước, nhưng khóe môi mím chặt thành một đường thẳng tắp, bướng bỉnh và không có lấy nửa phần run rẩy.

— "Anh Nam!" — Hoài An hạ thấp giọng, nhưng từng từ nhả ra đều đanh thép như tiếng đe búa nện sắt. — "Em nói rồi, phường mình không ai điên! Không ai dám ký vào thứ giấy tờ quỷ quái để rước họa diệt môn cả! Tờ trát sắt dán ngoài bảng thông báo ngã tư kia là trò bậy bạ của lũ quan nha!"

Nam bước nhanh tới cạnh em gái. Bàn tay gầy guộc vương vệt mực đen khô ráp của anh vươn ra, giữ chặt lấy phần đầu thanh gỗ nghiến mà cô đang ghì đến trắng bệch các khớp ngón. Chạm vào thớ gỗ lạnh ngắt, anh cảm nhận được từng đợt rung rần rật truyền qua thân gậy — nhịp tim dồn dập, căng thẳng cực độ của một đứa con gái đang cố gồng mình chống chọi với cả một cỗ máy áp bức khổng lồ.

Nam nhìn sâu vào mắt Hoài An, ghìm giọng thật thấp, trầm và dứt khoát:

— "Bình tĩnh lại. Nói rõ từng chuyện cho anh nghe. Từ tháng Chạp đến giờ, xưởng mình qua lại những giấy tờ gì với bên ngoài? Ai đứng ra nhận, ai đóng dấu, từng chữ trong đó ghi những gì?"

Hoài An hít sâu một hơi, lồng ngực phập phồng dữ dội dưới lớp áo nâu vá vai. Cô chỉ tay về phía chiếc rương gỗ bọc da cóc sứt sẹo đặt ngay bậu cửa gian kho chứa hàng:

— "Chỉ có duy nhất một khế ước mua nợ vật tư! Đầu vụ đông năm ngoái, các chủ thuyền trên mạn ngược dồn vải mộc về bến quá nhiều, đơn hàng gấp gáp mà vùng đồi bồ kết với chàm rừng ngoài ải lại mất mùa. Giá bột khoáng phẩm nhuộm tại các hiệu thuốc lớn ở phủ tăng gấp đôi ngày thường, xưởng mình cạn kiệt vốn lưu động, không gom đủ bạc mặt để lấy hàng. Em buộc phải thay mặt phường thợ ký một hợp đồng tín dụng thương mại ngắn hạn với phòng giao dịch chi nhánh của Thương hội Hà thị đóng tại hạ lưu. Mua chịu ba mươi bao bột chàm khoáng loại ba và mười lăm thúng muối mỏ để cố định màu sợi!"

Giọng cô gái nghẹn lại một thoáng, hai cánh mũi phập phồng vì uất ức:

— "Tổng giá trị tính theo thời giá bấy giờ quy ra đúng bốn mươi lượng bạc trắng nguyên bảo! Hạn trả nợ được chia đều làm bốn kỳ trong vòng hai năm ròng rã, điều khoản thanh toán ghi rõ là cấn trừ dần bằng các kiện vải nhuộm thành phẩm giao thẳng xuống thuyền buôn của họ tại bến sông! Có người làm chứng của hội thợ, có sai dịch của phòng thương vụ phủ chứng thực dấu biên nhận giao nhận vật tư đàng hoàng. Trong tờ giấy ấy, viết bằng mực son lẫn mực nho đen, ghi rành rành từng chữ: 'Khế ước mua bán nông phẩm và khoáng dược'. Em đã đọc đi đọc lại không sót một nét sổ, một dấu chấm! Không có lấy nửa câu nào nhắc đến sinh cơ, không có một chữ nào nói về việc phường thợ Bến Lau phải đứng ra bảo lãnh liên đới cho bất kỳ ai, càng tuyệt đối không hề dính líu đến cái tên tán tu Tống Lăng hay chuyện hắn mượn nợ để đột phá cảnh giới Lập Đài kỳ quái quỷ gì đó!"

Đôi mắt Hoài An hoe đỏ, ánh lên sự căm phẫn tột cùng:

— "Bọn em ở đây thức khuya dậy sớm, hai bàn tay ngâm trong nước vôi nước tro buốt đến tận tủy, nhuộm từng thước vải thô chỉ để đổi lấy từng đồng tiền kẽm đong gạo qua ngày! Chúng em là lũ thảo dân chân đất mắt toét, lấy tư cách gì, lấy tài sản gì mà dám đứng ra gánh món nợ hai mươi năm tuổi thọ của một vị tiên gia tu sĩ trên trời?"

Nam siết chặt thanh gỗ nghiến trong tay em gái, ánh mắt anh tối sầm lại. Trong đầu anh, những con số sắc lạnh vừa nhìn thấy trên tấm bảng sắt đen ngoài ngã tư lập tức xoay chuyển, ghép nối vào nhau như những bánh răng rỉ sét đang rít lên ken két.

Mã khế ước TG-LậpĐài-8812. Khoản nợ gốc hai mươi năm sinh cơ cao cấp. Tại sao một văn tự mua nợ nguyên liệu nhuộm vải trị giá vỏn vẹn bốn mươi lượng bạc của một phường thợ phàm nhân lại có thể biến thành một phụ lục bảo lãnh liên đới bằng tuổi thọ cho một tu sĩ ngoại lai? Bốn mươi lượng bạc trắng đổi lấy hai mươi năm tuổi thọ tiêu chuẩn? Đây không phải là sự nhầm lẫn hành chính thông thường. Đây là một chiếc bẫy cấu trúc nợ được thiết kế vô cùng tinh vi, một sự đánh tráo pháp lý tàn bạo mà chỉ những kẻ nắm trọn hệ thống lưu trữ khế ước trong tay mới dám thực hiện.

"Lách cách... loảng xoảng..."

Tiếng giáp sắt va chạm vào nhau khô khốc cắt ngang dòng suy nghĩ của Nam.

Toán sai nha mặc áo giáp xám viền sắt lạnh lùng rẽ đám đông thợ thuyền, bước từng bước nặng nề tiến sâu vào khoảng sân đất nện. Khí lạnh tỏa ra từ những mảnh giáp kim loại hòa cùng sát khí vô hình khiến những người thợ xung quanh bất giác co rúm lại, lùi dần về phía sau các vạc thuốc nhuộm bốc khói nghi ngút.

Dẫn đầu bọn chúng chính là Phạm Diên.

Lúc này, viên Chấp hành viên không còn vẻ nhàn nhã, dửng dưng như khi hắn giám sát việc cắm bảng sắt ngoài ngã tư thôn lúc xế chiều. Hắn khoác một bộ trường bào màu tro sẫm, bên ngoài lồng giáp hộ tâm bằng đồng hun bóng loáng. Dáng đi của hắn dứt khoát, uy quyền và mang theo sự áp chế tuyệt đối của một kẻ nắm giữ quyền lực sinh sát dân sự trong tay. Bên hông hắn giắt một thanh đoản đao vỏ bọc da cá đuối, tay trái cầm một chiếc ống đồng dài chừng hai thước khắc chằng chịt hoa văn mây lửa, miệng ống niêm phong bằng một khối sáp đen in hình con dấu hình vuông của ty. Tay phải hắn cầm hờ một thẻ đồng lệnh mạ bạc dẹt, dài chừng nửa gang tay — khế bài cưỡng chế trực tiếp của Ty Chấp Khế phủ Tĩnh Giang.

Ánh mắt Phạm Diên lướt qua đám thợ thuyền đang lăm lăm gậy gộc, quét qua những dải vải chàm rỏ nước tong tỏng, dừng lại đúng một thoáng trên gương mặt của Nam, rồi lập tức chuyển thẳng sang Hoài An với vẻ lạnh băng vô cảm:

— "Đỗ Hoài An, người đại diện ủy thác của Phường thợ nhuộm Bến Lau. Theo điều khoản lưu ký tại trát thông báo số 409, thời hạn ba ngày niêm yết ban đầu vốn là dành cho việc tự nguyện nộp sinh cơ hoặc chỉ định tài sản tương đương để cấn trừ vào sổ sách. Tuy nhiên, chiếu theo Lệnh trích thu khẩn cấp ký duyệt bởi Chưởng khế nha môn ban hành trưa nay, khoản vay mang mã hiệu TG-LậpĐài-8812 đã chính thức bị xếp vào diện rủi ro tẩu tán cấp độ một do con nợ chính là tán tu Tống Lăng đã trốn khỏi ranh giới địa phận phủ Tĩnh Giang. Nay Ty Chấp Khế tiến hành cưỡng thu sinh cơ đợt một đối với bên bảo lãnh liên đới để cấn trừ kỳ hạn thứ nhất: đúng hai năm sinh cơ tiêu chuẩn."

— "Các người dựa vào đâu mà cưỡng thu?"

Nam bước lên trọn vẹn một bước dài, đặt cả thân mình chắn ngang giữa Phạm Diên và Hoài An. Ánh mắt anh không hề né tránh, nhìn thẳng vào con ngươi sắc lạnh của viên Chấp hành:

— "Em gái tôi chỉ ký một hợp đồng tín dụng thương mại mua bột chàm với Thương hội Hà thị. Theo luật thương buôn và điển chế hộ tịch của phủ, hợp đồng mua bán vật tư sản xuất thông thường giữa các thương đoàn và phường thủ công không bao giờ được phép tự động chuyển hóa thành nghĩa vụ sinh mệnh, trừ phi có một văn bản bảo lãnh riêng biệt được lập trước sự chứng kiến và phê chuẩn của quan chức giám khế! Các người nói phường thợ Bến Lau bảo lãnh? Đưa bản gốc phụ lục Giáp-Tư ra đây! Ai là người ký tên vào tờ giấy đó? Ai lăn tay điểm chỉ mực đỏ? Ai chứng thực việc chuyển giao trách nhiệm pháp lý này?"

Chân mày Phạm Diên hơi nhíu lại. Đôi mắt sắc lẹm của hắn quét qua chiếc áo vải xanh bạc màu của Nam, nhận ra ngay bàn tay vương mực đen của người thanh niên vừa ký biên bản bàn giao lô bình sinh cơ nhẹ cân ở trạm bến thuyền hồi xế trưa.

Nhưng điều khiến Phạm Diên thấy kỳ lạ là thái độ của Nam. Đây không phải là sự quẫn bách, mù quáng hay hoảng loạn của đám thường dân dốt nát khi nhìn thấy quân lính nha môn. Trong giọng nói của Nam có sự chuẩn xác, rành mạch và soi mói của một kẻ quá đỗi quen thuộc với các điều khoản hành chính — cái nhìn của một kẻ hiểu rõ từng khe hở trong giấy tờ sổ sách.

— "Ngươi là Đỗ Hoài Nam, phu kiểm sổ ở trạm dịch bến đò?" — Phạm Diên cất giọng đều đều, thanh âm không lớn nhưng mang theo áp lực trầm đục của một tu sĩ đã đạt tới Dẫn Tức tầng cuối, khiến màng nhĩ những người xung quanh lùng bùng. — "Nếu ngươi đã làm việc cho trạm vận tải công vụ của phủ, ngươi hẳn phải biết quy tắc hoạt động của nha môn. Hồ sơ khế ước gốc mang mã hiệu TG-LậpĐài-8812, kèm theo toàn bộ hệ thống phụ lục bảo lãnh liên đới và văn bản ủy quyền, đã được chuyển thẳng vào kho lưu ký tuyệt mật của Sinh Khố phủ Tĩnh Giang ngay sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký nợ. Bản phụ lục chứa mã huyết tuyến chứng thực và dấu ấn phù chú của ty, thuộc danh mục bí mật nghiệp vụ tố tụng khế ước. Chỉ có Chưởng khế đại nhân, Thẩm khế Tòa Khế hoặc những người mang lệnh bài thanh tra tối cao mới có thẩm quyền mở niêm phong trích lục. Các ngươi là bên phải thi hành nghĩa vụ bồi hoàn, hoàn toàn không có tư cách đòi xem bản lưu mật."

— "Bí mật nghiệp vụ?" — Hoài An không nhịn được nữa, gạt tay Nam ra, hét lớn từ sau lưng anh. Giọng cô run lên vì uất ức tột cùng: — "Các người đem tính mạng của mười mấy con người trong xưởng chúng tôi ra để xiết nợ, bắt chúng tôi phải chết dần chết mòn thay cho một kẻ chúng tôi chưa từng nghe tên, chưa từng thấy mặt, rồi các người giấu nhẹm tờ giấy đó vào trong hòm sắt và bảo đó là bí mật của nha môn? Các người là quan sai của phủ hay là phường giặc cướp có môn bài?"

— "To gan! Câm mồm lại!"

Một tên lính chấp hành lực lưỡng đứng bên tả Phạm Diên quát lớn như sấm truyền. Bàn tay bọc giáp sắt của gã vỗ mạnh vào chuôi đao lệnh bên hông, sấn tới một bước đầy đe dọa:

— "Dám lăng mạ quan sai đang thừa hành pháp lệnh khế ước của phủ! Chiếu theo luật tư pháp khế ước, tội tăng một bậc, cưỡng trích thêm nửa năm sinh cơ vì hành vi chống đối và nhục mạ công quyền!"

— "Đứng yên!"

Phạm Diên giơ bàn tay mang găng da thuộc màu đen lên, cản tên lính lại. Ánh mắt hắn vẫn dán chặt vào gương mặt bình thản đến lạ lùng của Nam, không một chút gợn sóng:

— "Bổn Chấp hành không đến đây để tranh cãi về nội dung hay tính hợp pháp của khế ước với các ngươi. Nếu các ngươi cho rằng có sự gian lận danh tính, mạo danh chữ ký hoặc sai lệch điều khoản bảo lãnh, các ngươi hoàn toàn có quyền viết đơn khiếu nại nộp lên Tòa Khế phủ Tĩnh Giang sau khi hoàn tất đợt thi hành án kỳ một. Nhiệm vụ duy nhất của ta hôm nay là thực thi mệnh lệnh hành chính: bảo đảm dòng sinh cơ luân chuyển của phủ không bị đình trệ dù chỉ một khắc. Toán một, toán hai! Kích hoạt cọc trận!"

Bốn tên sai nha mang giáp sắt lập tức tách ra làm hai hướng, động tác của chúng đều đặn, lạnh lùng và dứt khoát như những cỗ máy bằng sắt thép đã được tôi luyện hàng trăm lần.

Mỗi tên rút từ bao da dài sau lưng ra một chiếc cọc sắt đen tuyền, dài chừng ba thước, to bằng bắp tay trẻ con. Đầu trên của mỗi chiếc cọc bịt một khối đồng đỏ đúc hình trụ bát giác, trên thân đồng khắc chằng chịt những đường rãnh bùa ngoằn ngoèo phủ một lớp bột khoáng màu xám nhạt — cọc pháp trận câu linh tiêu chuẩn của Ty Chấp Khế, thứ công cụ chuyên dùng để trích xuất sinh mệnh lực từ phàm nhân và tu sĩ cấp thấp.

"Phập! Phập! Phập! Phập!"

Bốn tiếng cắm cọc nặng nề vang lên liên tiếp. Bốn chiếc cọc sắt cắm ngập sâu một thước xuống nền đất nện ẩm ướt ở bốn góc sân xưởng nhuộm, tạo thành một hình chữ nhật hoàn chỉnh bao trọn toàn bộ khoảng không gian nơi mười mấy người thợ đang đứng tụ tập.

Mùi sắt rỉ tanh nồng lập tức bốc lên từ những rãnh bùa khắc trên thân cọc, hòa quyện với mùi hăng nồng của vạc chàm tạo thành một thứ tử khí ngột ngạt, tanh tưởi đến lợm giọng.

Đám thợ thuyền bắt đầu run rẩy hoảng loạn. Họ là những người phàm phu tục tử sống cả đời bên bến sông, cặm cụi với tấm vải, bát cơm manh áo, nhưng cảnh tượng cưỡng thu sinh cơ thì họ đã từng chứng kiến không dưới một lần ở các làng chài và xóm thợ lân cận. Kẻ bị trích xuất sinh mệnh không chết ngay lập tức như bị chém đầu, nhưng sau khi trận pháp rút cạn năm tháng tuổi đời, da dẻ người đó sẽ nhăn nheo như vỏ cây khô, tóc đen hóa bạc, mắt mờ, lưng còng rạp xuống và hơi thở đứt quãng như ngọn đèn cạn dầu leo lét trước gió. Hai năm sinh cơ tiêu chuẩn chia đều cho mười mấy con người ở đây, tính ra mỗi người có thể chỉ mất vài tháng tuổi thọ. Nhưng cái cảm giác phải trơ mắt nhìn tuổi trẻ, nhìn từng nhịp đập của quả tim và hơi ấm trong máu thịt mình bị người ta dùng pháp cụ múc đi như múc nước cặn dưới đáy chum khiến họ phát điên vì sợ hãi.

— "Không được cắm! Đồ quân ăn cướp! Đừng hòng cướp mạng của chúng tao!"

Một tiếng gầm tuyệt vọng, xé lòng bỗng nhiên vang lên xé toạc màn đêm đang buông xuống.

Bác Cửu, người thợ nhuộm lớn tuổi nhất trong phường, mái tóc hoa râm búi lỏng lẻo sau gáy và hai cánh tay gầy guộc chằng chịt gân xanh vì bốn mươi năm dầm mình trong vạc thuốc nhuộm, buông rơi thanh khuấy vải xuống đất nện "chát" một tiếng. Đôi mắt người thợ già đỏ ngầu, hàm răng run bần bật vì phẫn uất. Ông lao vụt ra như một con thú hoang bị dồn vào chân tường, hai bàn tay gầy guộc chộp thẳng vào thân chiếc cọc sắt cắm ở góc sân phía đông, toan dùng toàn bộ sức tàn giật tung nó khỏi mặt đất.

— "Bác Cửu! Đừng chạm vào!" — Nam thét lên, cả người chồm tới phía trước nhưng khoảng cách năm bước chân không đủ để anh kịp ngăn cản.

— "Ngu xuẩn."

Khóe môi Phạm Diên nhếch lên một nụ cười mỏng manh đầy khinh miệt. Ngón trỏ và ngón giữa bàn tay phải của hắn khẽ búng ra một đạo pháp quyết, chỉ thẳng về phía khối đồng đỏ trên đầu cọc phía đông.

"Ong——!"

Một âm thanh trầm đục, rợn người phát ra từ khối kim loại, tựa như tiếng của hàng ngàn con ong vò vẽ đang đập cánh trong một chiếc bình kín.

Những rãnh bùa khắc trên thân cọc sắt đột ngột bừng sáng. Đó không phải là thứ ánh sáng rực rỡ, ấm áp của ngọn lửa hay linh khí tự nhiên, mà là một làn linh quang màu xám tro nhờ nhờ, ẩm ướt và lạnh lẽo thấu xương. Luồng sáng u ám ấy quét ngang qua khoảng không, phát ra tiếng rít xé gió rợn người.

Ngay khoảnh khắc mười đầu ngón tay trần bám đầy phẩm chàm của bác Cửu vừa siết vào thân cọc sắt, toàn thân người thợ già giật bắn lên dữ dội như bị sét đánh giữa trời quang.

Không hề có một giọt máu nào trào ra, không có vết rách nào trên da thịt, nhưng từ mười đầu ngón tay của ông, một làn khói mờ ảo màu xanh lơ nhàn nhạt — thứ sinh khí nguyên bản tinh thuần nhất duy trì nhịp đập của quả tim, hơi ấm của tạng phủ và sự dẻo dai của gân cốt — lập tức bị hút vọt ra ngoài. Dòng sinh khí cuộn xoáy thành một sợi tơ mỏng, rít gào chảy dọc theo những rãnh bùa xám tro rồi biến mất hoàn toàn vào lòng khối đồng đỏ trên đỉnh cọc.

— "Á... a... ặc..."

Tiếng kêu thảm thiết của bác Cửu nghẹn ứ lại nơi cuống họng, biến thành những âm thanh ằng ặc đứt quãng.

Chỉ trong chớp mắt vỏn vẹn ba hơi thở, sắc da ngăm đen, rắn rỏi của một đời lao động lập tức biến mất, thay vào đó là một màu xám ngoét, bủng beo như tro tàn dưới đáy lò gạch nguội ngắt. Những nếp nhăn nơi khóe mắt và vầng trán người thợ già sâu hoắm lại như những rãnh cày trên ruộng nẻ, gò má hóp sụp xuống, đôi môi thâm sì run rẩy bần bật không thốt nên lời.

Bác Cửu ngã vật ra nền đất nện ẩm ướt, hai tay ôm chặt lấy lồng ngực đang co thắt dữ dội. Toàn thân ông run lên từng cơn bần bật, hơi thở hắt ra từng đợt yếu ớt, ngắt quãng tựa như tiếng ống bễ rách trong lò rèn bỏ hoang.

— "Bác Cửu!"

Hoài An hét lên kinh hoàng, không màng đến hiểm nguy lao vụt tới quỳ sụp bên cạnh người thợ già. Nước mắt cô trào ra, đôi bàn tay vấy chàm áp chặt lấy lồng ngực gầy trơ xương của bác. Nhưng thứ duy nhất cô cảm nhận được lúc này không phải là nhịp tim khỏe mạnh của người phu thợ từng cõng cô qua những mùa lũ sông Cửu Hà, mà là một luồng hàn khí buốt giá đến tê dại đang lan tỏa khắp các mạch máu, cùng một nhịp đập thoi thóp, hỗn loạn một cách thê thảm.

Đám thợ thuyền phía sau kinh hãi lùi giật lại, dồn ứ vào góc tường kho, mặt cắt không còn một giọt máu. Những thanh gậy gộc, đòn gánh trong tay họ run rẩy va vào nhau lách cách. Mùi vị của sự bất lực và sợ hãi bao trùm lấy không gian.

Từ bốn chiếc cọc sắt, bốn luồng linh quang màu xám tro bắt đầu đan bện vào nhau trên không trung, tạo thành một bức màn vô hình hình vòm bao trùm lấy toàn bộ khoảng sân. Bức màn ấy phập phồng theo từng nhịp đập u uất, như một cái miệng khổng lồ vô hình đang chực chờ nuốt trọn tuổi thọ của tất cả những ai bị giam hãm bên trong.

— "Hành vi cản trở thi hành pháp lệnh khế ước mang tính bạo lực." — Phạm Diên thu tay về, giọng nói vẫn phẳng lặng như một mặt hồ đóng băng, không chứa đựng lấy một tia dao động. — "Cọc câu linh đã tự động trích xuất ba tháng sinh cơ tiêu chuẩn của kẻ chống đối để cảnh cáo và duy trì năng lượng phong tỏa trận pháp. Đây là cơ chế bảo vệ hợp pháp do Sinh Khố thiết lập. Bất kỳ ai dám chạm tay vào cọc trận một lần nữa, pháp trận sẽ lập tức kích hoạt toàn phần để cưỡng chế triệt để. Bây giờ, toàn bộ những kẻ có tên trong danh sách đinh bạ của phường thợ, đứng yên tại chỗ!"

Trong khi cả xưởng nhuộm chìm trong bầu không khí tuyệt vọng ngột ngạt đến nghẹt thở, Đỗ Hoài Nam không hề lùi lại dù chỉ nửa tấc.

Đôi mắt anh không nhìn vào những thanh đao lệnh sáng loáng của đám lính giáp sắt, cũng không nhìn vào luồng sáng xám tro chết chóc đang lượn lờ trên đỉnh đầu, mà dán chặt vào một vật thể nằm trên tay tên lính chấp hành phụ tá đang đứng cạnh Phạm Diên.

Đó là một chiếc trận bàn cưỡng chế hình tròn đúc bằng đồng thau dày dặn, to bằng chiếc mâm ăn cơm. Chiếc trận bàn ấy nối liền với bốn cọc sắt dưới đất bằng bốn sợi chỉ bạc mảnh như tơ nhện lơ lửng giữa không trung. Mặt trên của trận bàn được bảo vệ bởi một tấm kính pha lê trong suốt, bên dưới là một cây kim chỉ bằng đồng đỏ mỏng manh, đang rung lên bần bật theo từng nhịp thở của cọc trận.

Là một người kiểm sổ tại Trạm Linh Vận suốt bốn năm ròng rã, ngày ngày tiếp xúc với hàng trăm chuyến hàng sinh cơ chuyển từ hạ lưu lên phủ thành, Nam đã nhìn cây kim này hàng ngàn lần. Anh thuộc từng vạch khắc nhỏ li ti, từng ký tự triện cổ biểu thị định mức và dung lượng áp suất trên các bình chứa bằng đồng thau của Sinh Khố.

Lúc này, cây kim đồng đỏ trên mặt trận bàn không nằm ở cung "Thường" — mức trích xuất êm dịu kéo dài vài ngày dành cho việc thu hồi nợ dân sự có thỏa thuận. Cây kim cũng đã vượt qua cả cung "Thứ" — mức thu hồi cưỡng chế thông thường có sự giám sát của quan dịch địa phương.

Nó đã đâm xuyên qua vạch sơn đỏ thứ ba, cắm thẳng vào khu vực góc phần tư phía tây bắc của trận bàn — nơi có khắc sâu ba chữ triện màu máu tươi: "Cấp Cưỡng Thu" (Thu hồi cưỡng chế khẩn cấp).

Ở mức độ này, lưu lượng trích xuất được thiết lập lên tới sáu khắc sinh cơ cho mỗi mười nhịp thở! Đây là mức độ bòn rút tàn bạo, chỉ dùng để thi hành án tử hình hoặc trấn áp những kẻ phạm tội tày đình. Nếu mức trích xuất này được xả van vào mười mấy người thợ nhuộm phàm nhân đang suy kiệt vì lao lực, chỉ cần nửa nén hương, toàn bộ kinh mạch và tạng phủ của họ sẽ bị đông cứng vĩnh viễn, tuổi thọ bị cướp đi không thể bù đắp, biến họ thành những kẻ tàn phế suốt phần đời còn lại.

Lồng ngực Nam căng nghẹn lại. Trí óc anh vận chuyển với tốc độ chưa từng có, lật mở từng trang ký ức đầy bụi bặm của bốn năm vùi đầu vào những tập hồ sơ hành chính, những cuốn luật lệ dày cộp và các văn bản quy chế vận chuyển khế ước.

Bản quy chế niêm yết mức thu tối đa treo tại cửa trạm dịch bến đò Bến Lau!

Bản quy chế bằng đồng thau được đóng dấu nổi của Tòa Khế liên phủ Cửu Hà vào mùa thu năm ngoái — thứ văn bản khô khốc mà lão quản trạm Võ Nghiêm thường lôi ra đập bàn rầm rầm để dọa trừ lương các phu chèo đò mỗi khi họ cằn nhằn về tiền công!

Từng dòng chữ nhỏ li ti khắc bằng lối chữ chân phương ở góc dưới bên trái của tấm bảng đồng ấy hiện lên rõ mồn một trong tâm trí Nam, sắc bén và rực sáng như một nhát chém xé tan màn sương mù bao phủ lấy xưởng nhuộm.

— "Phạm Chấp hành!"

Tiếng quát của Nam đột ngột vang lên, chém ngang bầu không khí im phăng phắc của khoảng sân. Giọng anh không the thé vì giận dữ, cũng không run rẩy vì kinh hãi, mà đanh thép, trầm hùng và dõng dạc đến từng âm tiết, mang theo một sức nặng kỳ lạ khiến toàn bộ toán lính chấp hành đều phải giật mình.

Trước ánh mắt sững sờ của đám lính và cái nhìn bàng hoàng của Hoài An, Đỗ Hoài Nam bước thẳng tới. Anh dừng lại ngay trước lằn ranh mỏng manh của luồng linh quang màu xám tro, chỉ cách cọc sắt phía nam chưa đầy nửa bước chân.

— "Dừng tay lại!" — Nam giơ bàn tay vương mực đen lên, ngón trỏ chỉ thẳng vào mặt kính pha lê của chiếc trận bàn trên tay tên lính phụ tá. — "Ngươi đang thi hành mức thu vượt khung khẩn cấp! Cây kim trên trận bàn đã chạm vào vạch mười hai của cung Cấp Cưỡng Thu! Ngươi định lừa ai ở đây? Mức trích xuất này theo luật định chỉ được phép áp dụng đối với tội phạm phản loạn đào tẩu hoặc những kẻ mang án trọng tội đã bị tước bỏ toàn bộ quyền công dân theo phán quyết của Tòa Khế!"

Tên lính cầm trận bàn giật thót mình. Theo phản xạ của một kẻ thừa hành, gã vội liếc mắt nhìn xuống mặt kính, thấy cây kim đồng đỏ quả thực đang rung bần bật trên vạch mười hai màu đỏ máu, rồi gã hoang mang ngẩng phắt đầu lên nhìn Phạm Diên.

Chân mày Phạm Diên nhíu chặt lại thành một búi. Hắn nhìn Nam bằng ánh mắt hoàn toàn khác trước. Sự khinh miệt ban đầu đã biến mất, thay vào đó là một tia kinh ngạc lẫn cảnh giác sâu sắc:

— "Ngươi là một gã kiểm sổ phàm nhân ở bến đò hẻo lánh, thì biết cái gì về định mức trận pháp của Ty Chấp Khế? Bổn Chấp hành thừa lệnh khẩn từ Chưởng khế nha môn phủ Tĩnh Giang, hoàn toàn có toàn quyền điều chỉnh lưu lượng trận pháp tại hiện trường tùy theo mức độ rủi ro của vụ án. Nha môn không có nghĩa vụ phải giải thích chi tiết kỹ thuật vận hành cho kẻ bị thi hành án!"

— "Ta không cần ngươi giải thích kỹ thuật, ta yêu cầu ngươi tuân thủ đúng pháp quy của Tòa Khế Thượng cấp!"

Nam không hề lùi bước dù chỉ một phân. Anh tiến thêm nửa bước, hơi thở phả ra làn khói trắng giữa cái lạnh buổi tối, giọng nói sắc như lưỡi dao cạo gọt thẳng vào từng kẽ hở pháp lý:

— "Chiếu theo Điều mười hai, Khoản bốn trong 'Quy chuẩn Thi hành Khế ước Cửu Hà' do Tòa Khế Thượng cấp ban hành vào mùa thu năm ngoái, hiện đang được niêm yết công khai tại tất cả các trạm dịch kiểm vận dọc tuyến sông: Mọi đợt cưỡng thu sinh cơ áp dụng mức vượt khung khẩn cấp tại các cơ sở sản xuất thủ công nghiệp đang vận hành, có nguy cơ làm đình trệ chuỗi cung ứng hàng hóa hoặc gây tổn hại vĩnh viễn đến thể chất của người lao động, đều BẮT BUỘC phải có văn bản giám định sức khỏe và xác nhận khả năng chịu tải của một Y quán độc lập có môn bài cấp phủ đi kèm trong hồ sơ thi hành!"

Cả khoảng sân bỗng chốc rơi vào một sự câm lặng đến rợn người.

Gió sông Cửu Hà vẫn thổi hun hút qua bãi sậy ngoài đê, những dải vải chàm trên phên nứa vẫn rỏ từng giọt nước tí tách xuống nền đất, nhưng toàn bộ toán lính mang giáp sắt của Ty Chấp Khế dường như đều bất giác sững sờ.

Tên lính cầm trận bàn lúng túng hạ thấp cánh tay xuống, mặt lộ vẻ bối rối tột độ. Hai tên lính đang đứng giữ cọc sắt ở góc phía tây nhìn nhau ngơ ngác, những ngón tay bọc giáp sắt nới lỏng khỏi chuôi đao.

Nam tiến thêm một bước nữa, ánh mắt anh rực sáng, cắm thẳng vào khuôn mặt đang dần cứng đờ của Phạm Diên:

— "Phạm Chấp hành! Xưởng nhuộm Bến Lau là cơ sở sản xuất đang vận hành thực tế, cung cấp vải thô nhuộm màu cho các tuyến thuyền buôn của Liên hội Vận Thương theo hợp đồng thương mại hợp pháp có đăng ký tại bến đò! Ngươi dẫn quân mang cọc trận đến đây, không đưa ra được hợp đồng bảo lãnh gốc, tự ý kích hoạt mức thu khẩn cấp cấp độ ba, vừa ra tay đã rút cạn ba tháng sinh cơ của một người thợ già khiến ông ấy co giật ngất lịm ngay tại chỗ! Ta hỏi ngươi: Văn bản giám định y chuẩn của ngươi đâu? Con dấu đỏ của Y quán độc lập nằm ở trang nào trong chiếc ống đồng niêm phong kia? Ai là Y quan chịu trách nhiệm ký tên bảo đảm rằng mười mấy con người này có thể sống sót sau đợt trích xuất vượt khung của ngươi?"

Từng câu, từng chữ của Nam như những nhát búa tạ nện thẳng vào mặt Phạm Diên.

Bàn tay đang cầm chiếc ống đồng niêm phong của viên Chấp hành khẽ siết chặt lại, khớp xương kêu lên lách cách dưới lớp găng da thuộc.

Phạm Diên thực sự không ngờ tới tình huống này.

Trong suốt sáu năm làm việc cho Ty Chấp Khế phủ Tĩnh Giang, hắn đã từng dẫn quân đi thi hành hàng trăm vụ cưỡng thu sinh cơ lớn nhỏ, từ những xóm chài nghèo xơ xác ven biển, những làng nghề rèn đúc thủ công cho đến các trang trại trồng dược liệu hẻo lánh sâu trong núi. Ở những nơi đó, khi toán lính giáp sắt xuất hiện cùng với bảng trát sắt đen và những chiếc cọc câu linh cắm xuống đất, thứ mà hắn luôn luôn đối mặt chỉ có hai loại: hoặc là sự quỳ lạy van xin trong nước mắt của những kẻ phàm nhân hèn mọn, hoặc là sự chống cự điên cuồng, mù quáng bằng đòn gánh, cuốc xẻng của những kẻ thất học liều chết.

Chưa từng có một ai — chưa từng có một tên phàm nhân áo vải nào — dám đứng thẳng lưng trước mặt một tu sĩ Dẫn Tức tầng cuối, nhìn thẳng vào mắt hắn và trích dẫn rành rọt từng điều, từng khoản, từng chữ trong một bản quy chế hành chính của thượng cấp như thế này!

Và điều tồi tệ nhất, điều khiến Phạm Diên cảm thấy một luồng ớn lạnh chạy dọc sống lưng, chính là: Tên kiểm sổ bến đò này nói hoàn toàn chính xác.

Điều mười hai, Khoản bốn trong Quy chuẩn Cửu Hà thực sự tồn tại. Bản quy chuẩn đó do các vị Thẩm khế đại nhân của Tòa Khế Liên phủ ban hành nhằm kiềm chế sự lạm quyền của các Ty Chấp Khế địa phương, bảo vệ nguồn nhân lực phàm nhân — thứ tài nguyên căn bản nhất để duy trì nền kinh tế và chuỗi cung ứng sản vật cho giới tu tiên.

Thế nhưng, từ nhiều năm nay tại phủ Tĩnh Giang, dưới sự điều hành của Chưởng khế Lương Trạch, để đẩy nhanh tiến độ thu hồi nợ sinh cơ nhằm lấp vào những khoản thâm hụt khổng lồ từ các giao dịch tài chính ngầm của giới tu tiên cấp cao, Ty Chấp Khế luôn cố tình bỏ qua cái bước giám định y chuẩn phiền toái ấy. Họ chỉ việc mang cọc trận đến, vặn van trích xuất lên mức cao nhất để hút cho thật nhanh, ép người ta phải nộp tiền chuộc mạng hoặc vắt kiệt sức lực của họ rồi đem sinh cơ đóng bình chuyển về kho. Dân làng ngu dốt, không ai biết chữ, càng không ai hiểu luật lệ của nha môn, chỉ biết cắn răng chịu đựng hoặc chết trong oan ức.

Nhưng hôm nay, cái quy chuẩn bị cố tình vùi lấp ấy lại bị một gã phàm nhân lôi ra ánh sáng, ngay giữa ban ngày ban mặt, trước sự chứng kiến của hàng chục con người đang sôi sục căm hờn!

— "Nếu không có văn bản giám định y chuẩn của phủ đính kèm theo lệnh cưỡng thu," — Nam tiếp tục cất giọng, dồn ép đối phương đến tận chân tường, không cho Phạm Diên lấy một khắc để thở — "thì toàn bộ đợt thi hành án vượt khung này là hành vi sai phạm quy trình nghiêm trọng! Cưỡng chế trái thẩm quyền! Chiếu theo Điều hai mươi mốt về Trách nhiệm Chấp hành viên trong cùng bộ quy chuẩn: Nếu đối tượng bị cưỡng thu tử vong, tàn phế hoặc suy kiệt kinh mạch vĩnh viễn do việc thi hành sai quy chuẩn mà không có y chứng hợp lệ, thì chính Chấp hành viên trực tiếp chỉ huy đợt thu — là NGƯƠI, Phạm Diên — sẽ bị tước bỏ tư cách chấp hành, đồng thời phải lấy chính sinh cơ tu vi của bản thân ra để bồi hoàn vào sổ tổn thất của Tòa Khế!"

— "Ngươi dám uy hiếp bổn Chấp hành sao?"

Phạm Diên gầm lên một tiếng trầm đục, một luồng kình khí lạnh buốt bộc phát từ đan điền của hắn, làm tà trường bào màu tro sẫm bay phần phật trong gió lạnh.

Nhưng Nam không hề chớp mắt. Anh đứng sừng sững như một tảng đá ngầm giữa dòng nước xiết, lồng ngực ưỡn thẳng, ánh mắt kiên định đến mức đáng sợ.

Bên cạnh anh, Hoài An cũng đã đứng dậy từ bên cạnh bác Cửu. Hai bàn tay dính đầy phẩm chàm của cô nắm chặt lấy thanh gỗ nghiến, bước lên một bước, đứng kề vai sát cánh cùng anh trai mình.

Và không chỉ có hai anh em Nam.

Mười mấy người thợ nhuộm phía sau, khi nhìn thấy viên Chấp hành viên quyền uy tối thượng bỗng nhiên biến sắc, lúng túng và câm lặng trước những lời lẽ sắc bén như gươm giáo của Nam, ngọn lửa hy vọng trong lòng họ bỗng nhiên bùng cháy. Họ hiểu rằng gã quan sai này không phải là thần thánh bất khả xâm phạm. Hắn cũng sợ luật lệ của chính hắn!

Những người phu thợ siết chặt đòn gánh tre đực, xẻng sắt và gậy khuấy vải, từng bước một dồn lên phía trước. Đôi mắt họ không còn vẻ hoảng loạn tột cùng như trước nữa, mà thay vào đó là sự căm phẫn sục sôi. Mười mấy con người vạm vỡ, hai cánh tay nhuộm màu chàm xanh ngắt, tạo thành một bức tường người vững chãi bao vây lấy bốn tên lính chấp hành đang đứng ở các góc cọc trận.

Bầu không khí căng thẳng đến mức ngột ngạt. Tiếng thở dốc nặng nề, tiếng gió rít qua rặng sậy ngoài bến sông và tiếng nước nhỏ tong tỏng từ những tấm vải phơi tạo nên một thứ âm thanh như tiếng trống trận đang dồn dập điểm nhịp.

Tên lính cầm trận bàn nuốt khan một ngụm nước bọt, bước vội lại gần Phạm Diên, ghé sát tai hắn thì thầm với vẻ đầy lo lắng:

— "Diên ca... Tình hình không ổn rồi. Đúng là lệnh cưỡng thu khẩn cấp phát ra từ phủ hồi trưa không hề có đính kèm văn bản y chuẩn của Y quán Tĩnh Giang. Nếu tên này thực sự nắm rõ quy chế và bọn chúng làm loạn lên, kéo người chặn đường thuyền của Liên hội Vận Thương ngoài bến rồi gửi đơn kiện vượt cấp lên Tòa Khế Liên phủ... Biên bản hiện trường này sẽ do chính chúng ta ký tên chịu trách nhiệm. Lúc đó, Chưởng khế đại nhân chắc chắn sẽ phủi tay, đẩy chúng ta ra làm bia đỡ đạn để xoa dịu Tòa Khế thượng cấp..."

Gân xanh trên thái dương Phạm Diên giật giật từng hồi dữ dội.

Hắn nhìn Nam — một gã phàm nhân áo vải nghèo hèn, nhưng lại sở hữu một đôi mắt sắc như dao và một trí nhớ đáng sợ. Hắn nhìn sang đám thợ thuyền đang lăm lăm vũ khí thô sơ vây quanh bốn góc sân, rồi lại nhìn xuống bác Cửu đang nằm thoi thóp trên đất.

Phạm Diên là một Chấp hành viên mẫn cán, một kẻ tin vào sự lạnh lùng của các con số và trật tự tuyệt đối của những bản khế ước sinh tử. Nhưng hắn không phải một kẻ ngu xuẩn. Hắn tu luyện ba mươi năm mới đạt tới Dẫn Tức tầng cuối, chỉ còn một bước nữa là có cơ hội chạm tay vào cánh cửa Trúc Cơ. Hắn tuyệt đối không thể đem mười năm, hai mươi năm tuổi thọ tu vi quý báu của chính bản thân mình ra đánh cược chỉ để thay cấp trên gánh một cái sai phạm thủ tục rành rành giữa chốn đông người thế này!

Sự im lặng kéo dài nặng nề như một khối đá ngàn cân treo trên sợi tóc suốt mười nhịp thở dài dằng dặc.

Cuối cùng, Phạm Diên thở hắt ra một hơi lạnh buốt, làn khói trắng phả ra tan biến vào màn sương tối. Hắn giơ cao chiếc thẻ đồng lệnh mạ bạc lên, trầm giọng gằn từng chữ:

— "Tắt pháp trận. Nhổ cọc."

Bốn tên lính chấp hành như vừa thoát khỏi một gánh nặng ngàn cân, lập tức đưa tay xoay mạnh chiếc chốt ngắt hình hoa mai trên đỉnh khối đồng đỏ.

"Vù..."

Luồng linh quang màu xám tro nhờ nhờ run rẩy một thoáng rồi vụt tắt ngấm. Màn áp chế vô hình trên không trung biến mất, trả lại cho khoảng sân bầu không khí đậm mùi chàm quen thuộc và tiếng gió rít ào ào qua rặng sậy.

Toán lính nhanh chóng dùng sức nhổ bốn chiếc cọc sắt cắm ngập dưới đất lên, lau vội lớp bùn nhão dính ở đầu cọc rồi cắm trở lại vào bao da sau lưng.

Hoài An vội vàng buông thanh gỗ nghiến, cùng hai người thợ nhuộm lực lưỡng chạy lại cẩn thận nâng bác Cửu dậy. Họ khiêng người thợ già vào gian nhà trong ấm áp, vội vã lấy gừng tươi giã nát hòa với rượu trắng để xoa bóp ngực và cạo gió, cố gắng níu giữ chút hơi ấm mong manh còn sót lại trong cơ thể kiệt quệ của ông.

Phạm Diên không nhìn đám thợ thuyền nữa. Hắn chậm rãi cất chiếc thẻ đồng lệnh vào thắt lưng da, cẩn thận cuốn lại tờ lệnh thi hành án bằng giấy hoa tiên đỏ thắm rồi đút sâu vào trong ống đồng, đóng chặt nắp sáp. Từng động tác của hắn đều chuẩn xác, chậm rãi, nhưng toát ra một sự kiềm chế và phẫn nộ bị đè nén đến cực điểm.

Hắn bước tới, dừng lại cách Nam đúng một bước chân.

Khoảng cách gần đến mức Nam có thể ngửi thấy mùi trầm hương đắt tiền quyện với mùi linh thạch ẩm ướt tỏa ra từ vạt áo của viên Chấp hành viên. Đôi mắt sâu hoắm của Phạm Diên nhìn xoáy vào Nam, quét từ vạt áo vải thô bạc màu, khuôn mặt góc cạnh không hề biến sắc, và cuối cùng dừng lại rất lâu trên những ngón tay gầy guộc vương vệt mực đen của người kiểm sổ bến đò.

Một kẻ phàm nhân ở chốn bùn lầy nước đọng, nhưng lại nắm rõ từng ngóc ngách của hệ thống pháp điển khế ước mà ngay cả nhiều viên chức ăn lương trong nha môn phủ thành còn chưa từng đọc hết. Hắn biết đọc những con số, hắn biết đo đếm áp suất sinh cơ, và quan trọng hơn hết thảy: hắn biết đọc những dòng chữ nhỏ li ti bị giấu kín dưới chân trang — thứ mà nha môn luôn tìm mọi cách che đậy bằng những con dấu đỏ chót đầy quyền lực.

— "Đỗ Hoài Nam." — Phạm Diên cất giọng, trầm thấp đến mức chỉ có hai người đứng đối diện mới có thể nghe rõ từng từ. — "Ngươi nói rất đúng về Điều mười hai. Bổn Chấp hành tôn trọng quy chế của Tòa Khế thượng cấp. Ta tạm hoãn đợt cưỡng thu này trong vòng ba ngày để Ty Chấp Khế rà soát và bổ sung văn bản giám định y chuẩn độc lập từ Y quán phủ thành theo đúng trình tự tố tụng."

Khóe môi Phạm Diên khẽ nhếch lên, tạo thành một nụ cười lạnh lẽo không có lấy nửa phần ấm áp:

— "Nhưng ngươi nên nhớ kỹ điều này: Ba ngày sau, khi văn bản y chuẩn có đóng dấu mộc đỏ của Y quan chuyển tới bằng thuyền công vụ, pháp trận câu linh sẽ lại một lần nữa cắm sâu xuống mảnh đất này. Đến lúc đó, dù là Điều mười hai, Điều hai mươi mốt hay bất kỳ kẽ hở thủ tục nào trong bộ quy chuẩn của ngươi, cũng sẽ không thể cứu nổi phường thợ này đâu. Món nợ hai mươi năm sinh cơ kia... nhất định phải có người trả."

Phạm Diên dứt khoát xoay người, vạt trường bào màu tro sẫm quét qua một ngọn gió lạnh buốt. Hắn phất mạnh tay áo ra hiệu cho toán lính:

— "Rút quân!"

Tiếng giáp sắt lách cách lại vang lên đều đặn. Toán sai nha bốn tên mang theo cọc trận và vũ khí nhanh chóng rời khỏi sân xưởng nhuộm, bước đi dứt khoát qua con đường đất ven đê, bóng dáng của chúng mờ dần rồi chìm hẳn vào màn sương tối dày đặc đang bốc lên từ khúc quanh sông Cửu Hà.

Khoảng sân đất nện trước xưởng nhuộm dần lấy lại vẻ tĩnh lặng ban đầu, chỉ còn lại tiếng nước thuốc nhuộm rỏ tí tách từ những dải vải chàm ướt sũng và tiếng thở dài nặng nhọc của đám thợ thuyền đang quây quần bên hiên nhà.

Đỗ Hoài Nam vẫn đứng chôn chân giữa khoảng sân đất ẩm ướt, gió đêm thổi tạt qua làm vạt áo vải thô của anh lạnh ngắt dán chặt vào da thịt. Anh nhìn theo bóng đêm nơi toán lính vừa khuất dạng, hai bàn tay giấu sâu trong tay áo từ từ siết chặt lại thành nắm đấm, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay đau nhói.

Ba ngày.

Anh chỉ vừa mới dùng một kẽ hở thủ tục hành chính để mua lại cho em gái mình và mười mấy con người khốn khổ nơi đây đúng ba ngày thở dốc ngắn ngủi.

Nhưng ba ngày sau, khi cỗ máy nha môn hoàn tất mớ giấy tờ hợp thức hóa kia, chiếc bẫy nợ vô hình mang mã hiệu TG-LậpĐài-8812 vẫn sẽ lạnh lùng sập xuống, nghiền nát tất cả bọn họ thành tro bụi. Trừ phi trong ba ngày này, anh có thể lần theo những con số, xé toạc màn sương mù dối trá của Sinh Khố và tìm ra được sự thật đang bị chôn vùi trong những tập phụ lục tuyệt mật kia.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories