Một kiện hàng nhẹ hơn tờ khai
Tại cầu tàu Trạm Linh Vận Bến Lau phủ sương mặn, Đỗ Hoài Nam đặt quả cân đồng thau lên bàn cân gỗ lim để tiếp nhận lô bình đồng chứa sinh cơ chuyển từ mạn thuyền vận tải vào kho.
Sương sớm từ lòng sông Cửu Hà bốc lên cuồn cuộn thành từng dải xám đục, quyện chặt lấy mùi bùn ngấu rữa mục, mùi rong rêu dạt vào mép đá và vị han rỉ nồng nặc của những chiếc cọc sắt cắm sâu ven bến nước. Hơi lạnh ngấm qua lớp vải thô của chiếc áo chàm ngắn tay, bám một lớp ẩm nhờn nhát lên các đầu ngón tay ráp đen vì mực và bụi chì của anh. Chiếc thuyền vận tải đáy bằng mang số hiệu bảy trăm bảy mươi hai của Liên hội Vận Thương vừa dỡ xong đợt hàng cuối cùng của chuyến sớm. Thân thuyền bằng gỗ sao đen sì, ướt sũng nước sông, tựa vào dãy đệm rơm bện đang cọ kẹt theo từng nhịp sóng vỗ ì oạp dưới chân cầu tàu. Ba mươi chiếc bình đồng hình trụ, mỗi chiếc cao chừng hai gang tay, đường kính rộng hơn miệng bát tô, đúc dày dặn với hai quai xách bọc da cá đuối đã mòn bóng, đang nằm chỉnh tề thành ba hàng ngay ngắn trên sàn ván gỗ lim trơn trượt. Miệng mỗi chiếc bình đều được đổ một lớp chì hàn dày cộp, mép chì miết phẳng vào gờ kim loại, bên trên trét một lớp bùn son đỏ au mang con dấu hình hoa lau chìm của trạm kiểm vận Đoan Kiều phía thượng nguồn.
Sinh cơ lỏng chứa bên trong những lớp vỏ kim loại dày không hề phát ra tiếng sóng sánh hay róc rách của nước thông thường. Khi bốn người phu khuân vác mình trần trùng trục, da bọc đầy sẹo kéo lưới, hợp lực vần từng bình đặt lên sàn gỗ lim gần bàn cân, thứ dao động bên trong mang lại một cảm giác nặng trịch, dội thẳng vào xương cẳng tay một chấn động âm ỉ như nhịp đập của tim mạch. Đối với một người phàm chưa từng mở được khiếu huyệt như Nam, thứ chất lỏng này vừa xa lạ vừa mang theo một nỗi áp chế bản năng đáng sợ: đó là tuổi thọ cô đọng, là sinh mệnh tinh thuần bị chiết xuất từ cơ thể sống, được đo lường, quy đổi, đóng dấu và thế chấp theo từng phân, từng chỉ, từng khắc của hệ thống Sinh Khố thuộc các đại môn phái và nha môn cai trị cõi Cửu Hà.
Nam cầm lấy chiếc kẹp sắt dài có tay cầm bọc vải bố, gạt nhẹ chốt hãm bằng then trượt của đòn cân.
Cây kim đồng khắc ba mươi vạch chia khẽ lắc lư, rà qua rà lại trên mặt thước đo khảm bạc đã ngả màu ố vàng theo năm tháng. Nam đứng thẳng lưng, ngón tay thoăn thoắt gạt con chạy bằng đồng thau nặng nửa cân trượt dọc trên sống đòn gỗ nghiến bọc kim khí. Anh ghé mắt nhìn ngang mức thăng bằng, rồi cúi xuống ghi chép tỉ mỉ từng con số vào tờ biên bản sơ bộ kẹp chặt trên tấm bảng gỗ cầm tay: chiếc thứ nhất, mười hai cân tám lượng tư chỉ; chiếc thứ hai, mười hai cân tám lượng năm chỉ; chiếc thứ ba, mười hai cân tám lượng bốn chỉ... Các số liệu hiện ra khớp hoàn toàn với định ngạch tiêu chuẩn của một bình sinh cơ trung cấp dành cho việc duy trì đại trận phòng hộ huyện hạt hoặc cung ứng cho các phòng bế quan tu luyện của đám đệ tử dòng chính tại phủ thành Tĩnh Giang.
Nhưng khi người phu bốc vác cuối cùng kéo lê năm chiếc bình xếp ở góc khuất nhất của khoang mũi — nơi ván thuyền trũng xuống, đọng một vũng nước vàng khè sủi bọt vì rỉ sắt và dầu máy đẩy — cánh tay Nam chợt khựng lại giữa không trung.
Khi Nam cúi người, hai bàn tay luồn vào quai bọc da cá đuối nhấc chiếc bình mang số hiệu Ất-Bảy-Bốn-Chín lên đĩa cân, anh không nghe thấy độ trĩu quen thuộc ép gắt gao lên gân cốt cổ tay. Trọng lượng của nó dường như bị hẫng đi một khoảng vô hình. Anh đặt nó lên đĩa cân gỗ lim, kéo quả cân đồng thau về mốc chuẩn mười hai cân tám lượng.
Đòn cân không thăng bằng. Đầu ngỗng của đòn cân nghểnh cao ngạo nghễ hướng lên trần nhà lợp lá gồi, không chịu hạ xuống vạch chuẩn ngang bằng.
Nam nhíu mày, hơi thở nghẽn lại một nhịp. Ngón tay cái của anh khẽ đẩy con chạy trượt ngược về phía bên trái. Từng khắc, từng chỉ được bớt dần trên thang đo bạc. Một chỉ. Hai chỉ. Ba chỉ... Cho đến khi chiếc kim đồng dừng lại ngay ngắn, run rẩy nằm đúng vào tim vạch sơn trắng đã mòn mép, con chạy đã thụt lùi một khoảng dài: chiếc bình này nhẹ hơn mức chuẩn ghi trên vận đơn chuyển giao đúng ba chỉ mười hai khắc.
Ba chỉ mười hai khắc sinh cơ lỏng, nếu quy đổi theo biểu giá niêm yết đóng khung sắt của Ty Chấp Khế treo ngoài cổng thành Tĩnh Giang, tương đương với trọn vẹn nửa năm dương thọ sung mãn của một người trưởng thành khỏe mạnh, không ốm đau bệnh tật.
Nam cúi rạp người xuống bàn cân, ghé sát mắt vào cổ bình, chóp mũi gần như chạm vào lớp kim loại lạnh toát. Lớp bùn son niêm phong màu đỏ sẫm vẫn còn bóng mịn, mép chì hàn chung quanh phẳng lì, không hề có bất kỳ dấu vết nung chảy lại, cạo sửa bằng dao trổ hay vết dập búa vụng về nào. Con dấu hoa lau bảy cánh của trạm kiểm vận Đoan Kiều phía thượng nguồn vẫn sắc nét từng cánh nhụy, góc cánh hoa phía trên bên trái có một vết lõm rất nhỏ do khiếm khuyết của khuôn dấu gỗ lâu năm — chi tiết mà Nam đã thuộc nằm lòng suốt bốn năm làm chân kiểm sổ tại bến nước này. Anh không nói một lời, vẫy tay ra hiệu cho người phu đò lui ra sau, rồi tự mình nhấc bốn chiếc bình còn lại ở góc khoang lên bàn cân.
Chiếc bình mang ký hiệu Ất-Bảy-Năm-Không: hụt ba chỉ mười một khắc. Ất-Bảy-Năm-Một: hụt ba chỉ mười hai khắc. Ất-Bảy-Năm-Hai: hụt ba chỉ mười ba khắc. Ất-Bảy-Năm-Ba: hụt ba chỉ mười hai khắc.
Cả năm bình nằm ở góc khoang mũi đều có chung một mức hao hụt kỳ dị, dao động sít sao quanh con số ba chỉ mười hai khắc. Nếu đây là sự cố rò rỉ cơ học do va chạm đập đáy thuyền, lớp chì hàn tất phải có vết nứt chân chim hoặc lỗ mọt li ti xì bọt khí mang mùi tanh nồng đặc trưng của tủy sống; nếu là bốc hơi tự nhiên qua kẽ hở phong ấn do nhiệt độ khoang hầm, lớp bùn son tất sẽ đổi màu từ đỏ thắm sang xám tro mục ruỗng do tiếp xúc với linh khí thoát tán ra ngoài không khí. Nhưng mặt son vẫn đỏ thắm, bề mặt trơn láng, lạnh ngắt và câm lặng như đá tảng ngâm dưới đáy sông sâu ngàn năm.
Nam đứng thẳng dậy, vạt áo chàm ngắn tay đung đưa theo cơn gió sông buốt giá. Anh mở chiếc túi da thuộc cũ kỹ đeo bên hông, rút ra tập bản kê xuất bến gửi kèm theo thuyền từ ba ngày trước. Từng tờ giấy bản dày cộp, xơ xác mép, có đóng dấu giáp lai mờ lướt qua dưới những ngón tay khô ráp của anh.
Mã số khắc chìm bằng đục thép trên cổ đồng của năm chiếc bình: "ĐK-Sinh-094" đến "ĐK-Sinh-098".
Nét chạm bằng đục thép hình bán nguyệt hoàn toàn trùng khớp với nét cạo ghi nhận trong biên bản đối chiếu kỹ thuật bến đi gửi bằng bồ câu lúc thuyền nhổ neo. Từng góc bo tròn của nét sổ, độ nghiêng lệch nửa phân của chữ "Sinh" đục theo lối triện thư cổ điển đều không sai lệch một mảy may. Không có dấu hiệu của việc đánh tráo vỏ bình trên suốt chặng đường thủy vượt qua hai trăm dặm sông nước.
Nam mím chặt môi, rút từ ống tay áo ra một chiếc que thăm bằng xương thú mỏng manh như cọng cỏ tranh — dụng cụ đo tầng ngoài chỉ dành riêng cho những người kiểm sổ có thâm niên để kiểm tra độ chìm của phao định mức. Mỗi chiếc bình đồng của Sinh Khố đều có một ống thủy tinh nhỏ bọc đồng bảo vệ gắn dọc sống lưng, bên trong có một viên bi rỗng bằng ngọc tủy nổi lập lờ trên bề mặt chất lỏng. Viên bi ấy sẽ chìm xuống sâu hay nổi lên cao tùy thuộc vào dung lượng và tỷ trọng sinh cơ thực tế bên trong khoang chứa khép kín.
Nam quẹt một que diêm lưu huỳnh, kê sát ngọn đèn dầu lạc leo lét vào rãnh ngắm của bình số Ất-Bảy-Bốn-Chín.
Ánh lửa vàng vọt xuyên qua lớp kính mờ bụi bặm. Vạch chuẩn khắc trên rãnh đồng của Sinh Khố nằm ở nấc thứ bảy tính từ cổ bình trở xuống. Nhưng viên bi ngọc tủy màu xanh nhạt lờ nhờ lại đang lơ lửng bất động ở giữa nấc thứ chín và thứ mười. Nó chìm sâu hơn hẳn định mức cho phép của một bình hàng đạt chuẩn xuất xưởng.
Mức hụt này không phải do tạp chất lắng cặn làm nặng đáy bình, cũng chẳng phải do thuyền tròng trành làm sai lệch độ nổi của bi ngọc. Nó là một khoảng trống rỗng thực sự bên trong lớp vỏ đồng nặng nề. Kẻ nào đó đã rút bớt sinh cơ lỏng, hoặc ngay từ lúc niêm phong ở kho trung tâm thượng nguồn Đoan Kiều, số lượng được rót vào từ các bồn chiết xuất đã không bao giờ đủ như con số khắc trên thân kim loại.
Nam thở nhẹ một hơi dài, làn khói trắng mỏng manh từ lồng ngực anh tan nhanh vào màn sương sớm lạnh buốt. Anh với tay cầm chiếc bút lông thỏ cán trúc, chấm nhẹ đầu lông vào nghiên mực đặc đặt trên bàn gỗ lim, chuẩn bị ghi nhận sự sai biệt vào mục "Hàng nhận thực tế — Chờ giải trình đối chất". Bàn tay cầm bút của anh vững vàng, nhưng các đầu ngón tay hơi siết chặt lại vào thân trúc. Là một người kiểm sổ phàm nhân làm việc cặm cụi tại Trạm Bến Lau suốt bốn năm qua, anh hiểu rõ nguyên tắc đầu tiên và tàn nhẫn nhất của nghề giữ sổ sách khế ước: chữ viết trên giấy bản một khi đã hạ bút điểm son là trở thành bằng chứng pháp lý ràng buộc trách nhiệm bồi hoàn; sai một khắc, người ký nhận sẽ phải gánh bằng bổng lộc cả năm, hoặc tệ hơn, gánh bằng chính thời gian lao dịch sinh mệnh của bản thân trong các hầm mỏ đá linh của phủ thành.
— "Ngòi bút của chú đĩnh đạc gớm nhỉ, Hoài Nam."
Một giọng nói khàn đặc, lẫn trong tiếng rít thuốc lào sòng sọc, ùng ục vang lên từ phía cửa ngách bằng ván ghép thông vào phòng lưu trữ hồ sơ của trạm.
Quản trạm Võ Nghiêm chống một tay lên khung cửa gỗ đã mục rỗng nửa phần dưới, chiếc tẩu đồng hun khói trên tay lão bốc lên một làn khói xanh lờ nhờ khét lẹt mùi lá thuốc tẩm nhựa trám. Lão trạc ngoài ngũ tuần, vóc người đậm đà, đẫy đà bụng dưới, chiếc áo lụa màu hạt dẻ khoác ngoài hơi trễ tràng để lộ dải thắt lưng bằng da bò thuộc dày dặn, đeo lủng lẳng chùm chìa khóa kho bằng đồng thau nặng trịch gõ vào nhau lách cách theo mỗi bước chân. Đôi mắt ti hí ti hí kèm nhèm rỉ mắt của lão lướt qua năm chiếc bình đồng đang nằm tách biệt trên bàn cân, rồi dừng lại trừng trừng trên ngòi bút lông đang lơ lửng ngay phía trên mặt giấy bản của Nam.
Nam không ngẩng đầu lên ngay, bàn tay vẫn giữ nguyên tư thế cầm bút, chỉ từ tốn đặt cán trúc vào chiếc giá đỡ bằng gốm hoa lam sứt mép:
— Chú Nghiêm. Lô ba mươi bình của thuyền số bảy trăm bảy mươi hai có vấn đề nghiêm trọng. Hai mươi lăm bình trước đủ ngạch, trọng lượng chuẩn xác theo biên bản giao nhận. Nhưng năm bình góc khoang mũi nhẹ hơn mức ghi trên vận đơn ba chỉ mười hai khắc mỗi bình. Vạch ngọc tủy chìm sâu quá nấc chín, gần chạm nấc mười. Cháu đang chuẩn bị lập biên bản giữ hàng tạm thời để thuyền trưởng ký nhận đối chất trước khi cho dỡ hàng vào kho bảo quản.
Võ Nghiêm nhả ra một ngụm khói dày đặc mùi khen khét, bước chầm chậm lại gần bàn cân. Tiếng đế giày vải nện lộp cộp, bì bõm trên sàn gỗ lim ẩm ướt đầy nước sương. Lão không thèm nhìn vào đĩa cân, cũng chẳng buồn cúi xuống xem xét vạch ngọc tủy xanh lờ nhờ trong rãnh ngắm, chỉ vươn bàn tay múp míp đầy lông lá ra, dùng đầu ngón tay trỏ có móng tay cáu bẩn gõ cọc cọc lên lớp chì hàn của chiếc bình gần nhất.
— Biên với chả bản. Chú mày làm việc ở cái bến sông này bốn năm ròng rã rồi mà cái đầu vẫn cứng như cọc neo thuyền dưới bãi thế hả Nam? — Võ Nghiêm nheo đôi mắt kèm nhèm lại, giọng hạ thấp xuống vừa đủ để hai người nghe thấy giữa tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền và tiếng la hét của đám phu bốc vác ngoài bến. — Thuyền đi từ Đoan Kiều về đây mất trọn ba ngày hai đêm ngược gió, vượt qua hai con ghềnh đá ngầm dữ dằn, sóng đánh dập dềnh liên miên suốt chặng đường dài. Sinh cơ lỏng chứ có phải nước giếng khơi đâu mà đòi nguyên vẹn từng giọt từng khắc? Đường sông nước chảy xiết, thuyền bè tròng trành rung lắc va đập, hao hụt dăm ba chỉ là chuyện thường tình của tạo hóa tự nhiên. Quy định chung của Ty Chấp Khế đã ghi rõ ràng trong điều lệ vận tải: hạn mức hao hụt đường thủy cho phép dao động đến nửa phân trên tổng trọng tải chuyến hàng. Chú mày bới lông tìm vết làm cái giống gì cho nhọc thân?
Nam ngước mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt bóng nhẫy mồ hôi và vệt tàn thuốc lá bám bên khóe miệng của quản trạm, giọng điệu vẫn bình thản không chút gợn sóng:
— Hạn mức hao hụt nửa phân là tính cho cả kiện ba mươi bình cộng dồn do bốc tán hơi ẩm ngoài vỏ chì và sai số của đòn cân bến bãi, thưa chú. Đằng này chỉ riêng năm bình góc mũi đã hụt gần hai lượng sinh cơ, mà lớp bùn son vẫn còn nguyên vẹn, lớp chì hàn không rạn một đường tơ kẽ tóc. Đây tuyệt đối không phải hao hụt do đường sông xóc nảy. Hoặc là kho trung tâm thượng nguồn đong thiếu ngay từ khâu chiết xuất, hoặc trên đường vận chuyển có người dùng kim đồng nung đỏ chọc rút ruột qua đáy bình rồi dùng bùn son trám lại tinh vi. Nếu cháu ký nhận đủ hàng vào biên bản chính thức, lát nữa xe vận tải của phủ Tĩnh Giang tới chở đi giao nộp cho tổng kho, người kiểm toán của phủ cân lại bằng bàn cân huyền thạch, khoản thiếu hụt gần hai lượng này sẽ treo trên đầu ai? Lương tháng của cả cái trạm này gộp lại ba năm cũng không đủ tiền đền nổi hai lượng sinh cơ lỏng đâu chú.
Nụ cười giả lả thường ngày trên môi Võ Nghiêm lập tức tắt ngấm. Lão rút chiếc tẩu đồng ra khỏi miệng, gõ mạnh tàn thuốc đỏ rực vào cạnh bàn cân gỗ lim. Một đốm lửa tàn bay lả tả, rơi xèo xèo xuống vũng nước ẩm ướt trên sàn ván.
— Chú mày đừng có đem mấy cái quy chế chết tiệt ra dọa tao! — Giọng lão quản trạm đanh lại, gằn từng tiếng qua kẽ răng vàng ố, ánh mắt lộ vẻ bực bội cay cú xen lẫn một thoáng bất an chột dạ rất khó giấu. — Chiếc thuyền này trưa nay phải quay đầu về bến mỏ mạn đông lấy chuyến than luyện khí cho kịp con nước triều chiều. Đoàn xe vận tải của phủ đang đợi ngoài trạm gác đầu làng kia kìa, chỉ chờ bốc hàng là phóng thẳng về phủ thành. Chú mày giam năm chiếc bình này lại, làm trễ hành trình của Liên hội, ai chịu trách nhiệm bồi thường tiền phạt đò ngang và phí lưu bến? Thuyền trưởng Tạ Bách là chỗ quen biết thâm niên của các quan nha môn, người ta chạy hàng cho cả cái lưu vực sông Cửu Hà này bao năm nay, việc quái gì phải đi ăn cắp mấy chỉ sinh cơ của cái trạm hẻo lánh này?
Võ Nghiêm bước tới sát bên Nam, mùi thuốc lào ngột ngạt cùng mùi mồ hôi chua lòm phả thẳng vào mặt anh:
— Ký nhận đủ hàng đi. Ghi đúng số lượng như trên vận đơn Đoan Kiều chuyển tới: ba mươi bình nguyên niêm phong, đủ trọng lượng tiêu chuẩn. Hàng vào kho trưa nay, đầu giờ chiều xe phủ bốc đi luôn, dấu niêm phong bùn son còn nguyên vẹn thì phủ tự đi mà làm việc với bên Đoan Kiều, liên can quái gì đến cái trạm cỏn con này mà chú mày lo bò trắng răng? Đừng có vì mấy nét chữ cứng nhắc mà làm mất bát cơm của cả trạm, nghe chưa? Đắc tội với người của phủ, cái chân kiểm sổ quèn của chú mày cũng không giữ nổi đâu!
Nam nhìn chằm chằm vào tờ giấy bản giao nhận đặt trước mặt. Cán cân trách nhiệm và hiểm họa trong lời nói của Võ Nghiêm hiện ra rõ ràng hơn bao giờ hết: lão quản trạm muốn dùng chữ ký và con dấu kiểm định của một tên kiểm sổ cấp thấp để biến một khoản thâm hụt phi lý thành một chuyến vận chuyển trơn tru hợp lệ, dùng sự "nguyên vẹn của dấu niêm" làm tấm bình phong che đậy cho một lỗ hổng đen ngòm đã tồn tại từ trước khi con thuyền cập bến.
Bàn tay Nam đặt trên mặt bàn gỗ lim hơi lạnh đi. Anh biết rất rõ tính cách và quyền hạn của Võ Nghiêm. Nếu anh cự tuyệt thẳng thừng lúc này, lão hoàn toàn có quyền đình chỉ quyền kiểm sổ của anh ngay lập tức với lý do gây rối trật tự vận tải, tước chùm chìa khóa kiểm vận và giao quyền ký nhận cho một gã sai vặt khác dễ bảo hơn. Khi ấy, anh không những không ngăn được việc gian lận, mà bản thân còn bị đẩy ra rìa, mất đi vị trí duy nhất có thể tiếp cận được hệ thống chứng từ và hồ sơ lưu chuyển của Sinh Khố.
Nam rũ mắt xuống, hàng mi dày che đi tia nhìn sắc lạnh vừa lóe lên trong đáy mắt. Anh khẽ hít một hơi thật sâu, giọng điệu trở lại vẻ cung kính, thận trọng của một kẻ làm công ăn lương an phận:
— Chú Nghiêm đã chỉ dạy thấu đáo thế thì cháu xin nghe theo chú. Cháu phận nhỏ mọn, chỉ sợ cấp trên quở trách việc lơ là cân đo làm mất uy tín của trạm, chứ trạm mình êm thấm chuyển hàng kịp chuyến thì cháu đâu dám gây phiền toái cho chú và anh em phu đò.
Võ Nghiêm nghe vậy liền thở phào một cái thật mạnh, nụ cười xuề xòa lại nở bung trên khuôn mặt ngấn mỡ:
— Thế mới là biết điều chứ! Người thông minh thì phải biết nhìn trước ngó sau. Mau hạ bút rồi đóng dấu đi, cho bọn phu bốc hàng chuyển ngay vào dãy kho Giáp cho ráo nước. Xong xuôi đâu đấy tao bảo thằng bếp mang ra quán đầu cầu đong một ấm rượu nếp cái hoa vàng, chia cho anh em hớp một ngụm làm ấm cái bụng.
Nam cầm lấy chiếc bút lông thỏ, nhúng đẫm mực đen nhánh. Trước ánh mắt giám sát chặt chẽ của Võ Nghiêm, ngòi bút của anh lướt thoăn thoắt trên bản biên bản chính thức bằng những nét chữ chân phương, tề chỉnh: "Tiếp nhận đủ ba mươi bình đồng hàn chì, niêm phong bùn son Đoan Kiều nguyên vẹn, dấu hiệu không suy chuyển, trọng lượng đạt định ngạch." Anh rút chiếc ấn đồng kiểm vận cá nhân đeo bên hông, chấm vào hộp mực son đỏ tươi, ấn thật mạnh vào góc phải phía dưới biên bản. Bốn chữ triện "Bến Lau — Hoài Nam" in hằn rõ mồn một trên nền giấy trắng.
Võ Nghiêm vồ lấy tờ biên bản còn ướt mực, đưa lên miệng thổi phù phù mấy cái cho se bớt, rồi hí hửng nhét cẩn thận vào túi áo trong. Lão quay lưng, vung vẩy chiếc tẩu đồng hun khói đi phăm phăm ra mép cầu tàu, cất giọng the thé chỉ đạo đám phu khiêng hàng.
Ngay khi bóng lưng béo lùn của quản trạm vừa khuất sau cánh cửa ván ghép, vẻ mặt thuần phục, cam chịu của Nam lập tức biến mất hoàn toàn.
Anh nhanh nhẹn kéo chiếc hộc bàn làm việc bằng gỗ lim ra. Dưới đáy chiếc tráp gỗ đựng nghiên mực đá đen có một ngăn bí mật mỏng dính, chỉ vừa đủ để giấu vài mảnh giấy bản mịn đã xén nhỏ. Nam rút ra một mảnh giấy vuông vức bằng bàn tay, lấy chiếc bút lông đầu nhọn như kim châm, chấm một giọt mực thật khô vào đầu ngòi.
Không một động tác thừa thãi, những con số và ký hiệu chính xác được anh chép lại bằng nét chữ nhỏ li ti nhưng sắc sảo như khắc: - Bình ĐK-Sinh-094 đến ĐK-Sinh-098. - Trọng lượng chuẩn: 12 cân 8 lượng. Trọng lượng thực: 12 cân 7 lượng 6 chỉ 4 khắc (hụt bình quân 3 chỉ 12 khắc mỗi bình). - Vạch ngọc tủy: lơ lửng giữa nấc 9 và 10. - Mã thuyền trưởng chuyến hàng: LH-772 (Tạ Bách). - Dấu bùn son Đoan Kiều: hoa lau bảy cánh, nhụy tròn, nét cạo số 4 bị mẻ góc trên bên trái (đúng khuôn dấu lưu trữ tháng này của nha môn Đoan Kiều).
Những chi tiết này chứng minh một sự thật tàn nhẫn và chắc chắn: bùn son không phải bị làm giả bởi bọn trộm cắp vặt dọc đường sông. Con dấu đóng trên lớp bùn ấy là dấu thật của nha môn Đoan Kiều, được đóng bằng chính chiếc triện chính thức của viên chức kiểm duyệt bến đi. Nghĩa là việc rút ruột sinh cơ hoặc cố ý ghi khống định mức đã được phê chuẩn từ tận bên trong những căn phòng làm việc kín cổng cao tường của giới cầm quyền thượng nguồn.
Nam cẩn thận ghé miệng thổi khô từng nét mực đen trên mảnh giấy bản, gấp lại làm tư thật phẳng phiu rồi nhét sâu vào khe hở dưới đáy tráp nghiên mực. Anh đặt chiếc nghiên đá đen nặng trịch trở lại vị trí cũ, chỉnh ngay ngắn chiếc giá gác bút rồi mới đứng dậy.
Anh đứng tựa vào cột gỗ cầu tàu, đưa mắt nhìn theo những người phu bốc vác đang còng lưng khiêng từng chiếc bình đồng nặng trịch vào sâu trong bóng tối ẩm thấp của dãy kho Giáp. Một cảm giác ớn lạnh kỳ lạ bò dọc sống lưng anh, buốt giá hơn cả những cơn gió sông ban sáng. Sinh cơ lỏng không phải là thóc gạo hay dầu thắp để người ta có thể dễ dàng tuồn ra ngoài bán trôi nổi ở chợ đen. Thứ này được Sinh Khố kiểm soát nghiêm ngặt bằng trận pháp cấm chế và sổ sách khế ước ngặt nghèo; mỗi một giọt chảy ra ngoài nhân gian đều phải có một lý do rõ ràng, một cái tên cụ thể, hoặc một bản hợp đồng sinh mệnh tương ứng bù vào. Kẻ nào dám to gan rút bớt gần hai lượng sinh cơ của một chuyến vận chuyển công cộng của phủ? Và quan trọng hơn cả, khoảng trống vô hình bị hụt đi đó... rốt cuộc sẽ được lấy từ đâu, từ sinh mệnh của ai để lấp vào cho đủ sổ sách khi kỳ quyết toán cuối năm của phủ Tĩnh Giang ập đến?
***
Buổi chiều buông xuống Bến Lau trong một màu xám xịt ảm đạm. Bầu trời như sà thấp xuống sát ngọn tre, đục ngầu như bát nước cháo loãng. Gió từ mặt sông Cửu Hà thổi thốc vào rặng sậy bạt ngàn ven bờ, rít lên từng hồi u u, rền rĩ như tiếng còi báo tử của một đám tang nghèo.
Nam khoác chiếc áo tơi bằng lá cọ đã sờn rách hai bên mép vai, cất bước rời khỏi cánh cổng gỗ nặng nề của trạm linh vận sau khi đã bàn giao hòm chìa khóa và sổ ca nhật trình cho người gác đêm. Con đường đất đỏ dẫn từ bến nước về làng Bến Lau chạy ngoằn ngoèo qua những cánh đồng trồng cây chàm và cây vối xơ xác lá. Mùi bùn ướt nồng nặc bốc lên sau trận mưa phùn ban trưa, hòa lẫn với mùi chua gắt đặc trưng của nước ngâm lá chàm bốc lên từ những hố ủ thuốc nhuộm đào sâu dọc hai bên bờ mương dẫn nước.
Bến Lau vốn là một làng thợ lâu đời. Hơn nửa dân số trong làng sống bám vào nghề nhuộm vải cho các thương lái lớn ở phủ thành, nửa còn lại làm phu bốc vác tại bến sông hoặc đan lưới đánh cá dạt theo mùa nước. Gia đình Nam không có ruộng đất canh tác, cha mẹ mất sớm trong một nạn đói năm mất mùa sinh cơ, cả nhà chỉ trông cậy vào đồng lương kiểm sổ còm cõi của anh và xưởng nhuộm thủ công nhỏ do cô em gái Đỗ Hoài An cùng mấy người thợ trẻ trong làng chung vốn dựng nên ở ngã tư phường thợ.
Khi Nam vừa bước chân lên con dốc lát đá hộc trơn trượt dẫn vào đầu làng, bước chân anh chợt khựng lại giữa chừng.
*Keng! Keng! Keng!*
Tiếng chiêng đồng bằng gang thô ráp gióng lên từng hồi dồn dập, chát chúa, xé toạc không gian tĩnh mịch của buổi hoàng hôn tàn tạ. Đó không phải là tiếng chiêng thanh thoát báo động đê vỡ mùa lũ, cũng chẳng phải tiếng kẻng tập hợp phu đò lệ thường của hương lý. Tiếng chiêng này nặng trịch, rền rĩ, khô khốc và mang theo một thứ uy áp sắc lạnh khiến lồng ngực người nghe thắt nghẹn lại — tiếng chiêng của nha môn cưỡng nợ, thứ âm thanh chỉ vang lên khi có kẻ vỡ nợ sinh mệnh.
— "Có lệnh của Ty Chấp Khế phủ Tĩnh Giang! Toàn thể dân phường thợ mau chóng tề tựu tại ngã tư nhận trát!"
Tiếng loa lệnh bằng đồng rống lên từ phía ngã tư, âm thanh ồm ồm như sấm động, xen lẫn tiếng bước chân rầm rập của những đôi giày da đóng đinh sắt nện mạnh trên nền đất nện ẩm ướt.
Nam siết chặt quai chiếc túi da bên hông, rảo bước thật nhanh qua rặng tre ngả nghiêng đầu ngõ. Trong lồng ngực anh, một linh cảm u ám bùng lên dữ dội, thiêu đốt tâm can.
Tại bãi đất trống ở ngã tư làng — nơi phường thợ nhuộm thường dùng làm bãi cắm cọc phơi những dải lụa chàm dài dằng dặc — một toán người mặc đồng phục màu xám tro viền đen đã chiếm trọn khu vực trung tâm. Đó là đội chấp hành của Ty Chấp Khế phủ Tĩnh Giang. Tám gã chấp hành viên lực lưỡng, mình khoác giáp da dán bùa phong tỏa khí huyết màu vàng nhạt, tay lăm lăm những thanh xích câu hồn bằng đồng đen rũ ngoằn ngoèo dưới mặt đất bùn, phát ra những tiếng va chạm loảng xoảng ghê rợn.
Đứng sừng sững phía trước toán người là một thanh niên trạc ba mươi tuổi, dáng người cao gầy, thẳng tắp và lạnh lùng như một ngọn giáo cắm trên nền đá. Hắn mặc chiếc trường bào màu lam thẫm thêu hoa văn sóng nước chìm của bậc Chấp hành chính thức, mái tóc đen búi gọn gàng bằng chiếc trâm sắt hình ngọn bút nhọn hoắt, khuôn mặt góc cạnh không hề có lấy một chút cảm xúc dao động. Đó là Phạm Diên — viên Chấp hành khét tiếng nghiêm cẩn, sắt đá và tàn nhẫn của Ty Chấp Khế phủ Tĩnh Giang, kẻ từng đích thân áp giải hàng chục con nợ tu vi vào cõi lao dịch vĩnh viễn.
Bốn tên lính chấp hành lực lưỡng đang hợp sức khiêng một tấm bảng thông báo bằng sắt đen nặng hàng trăm cân, dộng mạnh chân đế cắm sâu xuống nền đất đá hộc.
*Rầm!*
Đất cát và nước bùn bắn tung tóe ra xung quanh. Tấm bảng sắt đen sừng sững dựng lên giữa ngã tư làng Bến Lau như một tấm bia mộ khổng lồ đen đúa, áp chế toàn bộ không gian xung quanh bằng một luồng âm khí buốt lạnh.
Vây quanh ngã tư, hàng trăm thợ nhuộm, thợ dệt và dân làng Bến Lau đang tụ tập thành từng cụm run rẩy, xô đẩy nhau trong sợ hãi. Những bàn tay dính đầy màu chàm xanh ngắt, màu hồng hoa hiên hay màu vàng nghệ vội vã giấu sau vạt áo cộc rách rưới. Tiếng xì xào hoảng hốt, kinh hoàng lan nhanh như dầu loang trên mặt nước:
— "Ty Chấp Khế về làng? Sao lại kéo về vào cái giờ chết tiệt này?" — "Tháng này phường nhuộm đã nộp đủ ngạch vải dệt vụ thu cho nha môn rồi mà? Khế ước phân phối thuốc nhuộm của Thương hội đâu có nợ nần đồng nào?" — "Nhìn cái bảng sắt kia kìa... Trời đất ơi, bảng sắt đen là lệnh cưỡng thu sinh mệnh! Làng mình có ai trốn nợ tu vi sao?"
Nam cùi chỏ lách người qua đám đông đang nhốn nháo, tim anh đập dồn dập từng hồi bất an, cuống họng khô khốc lại. Ánh mắt anh quét vội qua hàng người phía trước, tìm kiếm bóng hình quen thuộc nhất đối với mình.
Ở ngay mép sân phơi, Đỗ Hoài An đang đứng chắn trước cánh cửa ván gỗ của xưởng nhuộm. Cô gái hai mươi mốt tuổi, vóc người mảnh khảnh nhưng rắn rỏi, ống tay áo chàm xắn cao quá khuỷu tay để lộ đôi cẳng tay lấm lem màu thuốc nhuộm tím sẫm ngấm sâu vào kẽ móng. Khuôn mặt thanh tú, ngày thường luôn rạng rỡ của cô lúc này tái nhợt đi không còn một giọt máu, đôi mày thanh tú chau lại chặt chẽ. Một tay cô nắm chặt chiếc que khuấy vải bằng gỗ nghiến to bản như một thứ vũ khí tự vệ tuyệt vọng, tay kia dang ra che chở cho hai đứa nhỏ học việc đang nép sau lưng mình mà run rẩy khóc không thành tiếng.
Phạm Diên bước lên một bước dài trước tấm bảng sắt đen, hai tay nâng một cuộn trục giấy da viền gấm màu huyết dụ. Giọng nói của hắn không hề quát tháo lớn tiếng, nhưng nhờ có luồng linh lực của cảnh giới Dẫn Tức tầng cuối nâng đỡ từ đan điền, từng âm tiết thốt ra đều rành rọt, nặng trịch như đá tảng đập thẳng vào màng nhĩ của tất cả mọi người có mặt trên bãi đất:
— "Phụng mệnh Chưởng khế phủ Tĩnh Giang Lương Trạch đại nhân, chiếu theo các điều khoản nghiêm ngặt của Thiên Đạo Khế Quy thuộc Sinh Khố cõi Cửu Hà! Nay công bố trát đòi nợ quá hạn và lệnh phong tỏa tài sản sinh cơ đối với toàn bộ các bên chịu nghĩa vụ tại Bến Lau!"
Hắn phất nhẹ tà áo bào màu lam thẫm. Một tên lính chấp hành lập tức bưng ra một chiếc chậu đồng chứa đầy thứ hồ dán đen nhánh trộn mạt sắt và linh dịch kết dính. Tên lính còn lại cầm chiếc chổi lông lớn, quét một đường hồ sắc lẹm, đen sì lên mặt tấm bảng sắt đen, rồi nhanh như cắt dán phẳng phiu một tờ trát lớn bằng giấy bản thượng hạng viền son đỏ chót lên đó.
Màu son đỏ tươi như máu mới chảy rực lên dữ dội dưới ánh hoàng hôn chập choạng, đối lập một cách ghê rợn với nền sắt đen xì lạnh lẽo.
— "Khoản vay sinh cơ mang số hiệu lưu ký: TG-LậpĐài-8812!" — Giọng Phạm Diên đều đều, vô cảm như tiếng dao thép cắt qua lớp vải mục. — "Nguyên chủ khoản vay: Tán tu Tống Lăng, vay mượn hai mươi năm sinh cơ cao cấp từ Sinh Khố phủ Tĩnh Giang để đột phá cảnh giới Lập Đài kỳ vào ba năm trước. Nay hạn kỳ hoàn trả toàn bộ gốc và lãi đã quá hạn mười lăm ngày, đương sự Tống Lăng đã tẩu tán tung tích, bất minh hành chỉ, bị liệt vào diện đào phạm khế ước loại Giáp."
Đám đông thợ nhuộm trố tròn mắt nhìn nhau, những tiếng xầm xì, kinh ngạc càng lúc càng bùng lên hỗn loạn:
— "Tán tu Tống Lăng là thằng nào? Làng Bến Lau mình toàn dân phàm thợ nhuộm với phu đò, đào đâu ra kẻ tu tiên Lập Đài?" — "Đúng đấy! Tu sĩ các người đột phá Lập Đài mắc nợ thì đi mà tìm tu sĩ đòi mạng, vác bảng sắt đen về cắm giữa ngã tư phường thợ này làm cái gì?"
Phạm Diên hoàn toàn không bận tâm đến những tiếng la ó đầy bức xúc của đám dân nghèo. Hắn nâng ngón tay trỏ thẳng tắp, chỉ vào phần phụ lục bằng chữ nhỏ phía dưới tờ trát đòi nợ viền son máu:
— "Căn cứ theo Phụ lục bảo lãnh liên đới mang số Giáp-Tư đính kèm khế ước gốc, được lập và ký nhận tại Trạm Khế Bến Lau vào ngày rằm tháng Chạp năm ngoái: Toàn thể tài sản cố định, quỹ dự phòng tương trợ và quyền thu hoạch sinh mệnh của Phường thợ nhuộm Bến Lau được xác lập làm tài sản bảo đảm vô điều kiện cho khoản nợ nêu trên!"
Một tiếng nổ vô hình như sét đánh ngang tai giáng thẳng xuống đầu toàn bộ thợ thuyền và dân làng. Không khí ngưng đọng lại trong tích tắc, chỉ còn nghe tiếng gió rít qua rặng sậy ven sông.
— "Vu khống! Đồ ngậm máu phun người!" — Hoài An bước phắt lên phía trước hai bước, chiếc que khuấy vải trên tay run lên bần bật vì phẫn nộ cùng cực. Cô giơ bàn tay vấy màu chàm tím ngắt lên chỉ thẳng vào mặt viên Chấp hành. — "Chúng tôi chỉ ký hợp đồng mua nợ ba mươi thùng phẩm nhuộm khoáng chất của Thương hội Hà thị để làm hàng vụ đông! Chúng tôi chưa từng bảo lãnh, chưa từng nghe tên bất kỳ tên tu sĩ nào là Tống Lăng! Đưa bản khế ước gốc ra đây! Ai ký? Ai điểm chỉ? Phường thợ chúng tôi mười hai hộ gia đình, sống chết có nhau bao đời, không một ai điên rồ đến mức đem mạng sống của mình và con cháu đi bảo lãnh cho một kẻ tu tiên xa lạ!"
Phạm Diên lạnh lùng liếc nhìn Hoài An, ánh mắt hắn sắc nhọn và dửng dưng như nhìn một cọng cỏ dại bên vệ đường chuẩn bị bị dẫm nát:
— "Bản khế ước gốc đã được lưu ký vĩnh viễn trong Sinh Khố phủ thành, có đầy đủ dấu triện của Ty Chấp Khế và mã lưu ký bảo mật của trạm địa phương. Phàm nhân các ngươi không có tư cách hay thẩm quyền tra cứu hồ sơ gốc trừ phi có trát lệnh đặc biệt của Tòa Khế thượng cấp. Hôm nay là hạn niêm yết thông báo ba ngày theo đúng quy chế chung. Sau ba ngày, nếu khoản nợ hai mươi năm sinh cơ cùng tiền phạt lãi lũy tiến không được thanh toán đầy đủ bằng sinh cơ lỏng đạt chuẩn, Ty Chấp Khế sẽ khởi động pháp trận cưỡng thu sinh cơ toàn bộ những người có tên trong danh sách bảo lãnh để trừ nợ."
Hắn bước nghiêng sang một bên, để lộ toàn bộ phần danh sách dài dằng dặc được dán ở nửa dưới của tấm bảng sắt đen.
Nam điên cuồng chen lấn qua hai người phu đò vạm vỡ, gạt phăng những cánh tay đang run rẩy của đám đông, lao thẳng lên hàng đầu tiên. Đôi mắt anh mở trừng trừng, dán chặt vào mặt giấy bản viền son đỏ ối đang phập phồng theo gió chiều.
Từng dòng chữ viết bằng mực xạ đen nhánh, sắc lạnh và ngay ngắn hiện ra rõ mồn một trước mắt anh. Phía dưới dòng chữ in đậm "Các bên chịu trách nhiệm bảo lãnh liên đới", tên của Phường thợ nhuộm Bến Lau nằm chình ình ở vị trí đầu tiên.
Và ngay bên dưới đó, ở mục đại diện ủy thác ký tên và chịu trách nhiệm thi hành án sinh mệnh, một cái tên được đóng khung bằng một vòng son đỏ đậm, nét mực dày cộp và chói mắt đến mức rợn người:
**Đỗ Hoài An — Trưởng phường thợ nhuộm Bến Lau.**
Mực trên trát cưỡng thu chưa ráo, nhưng tên Đỗ Hoài An đã bị đóng khung son đỏ bên cạnh một khoản nợ tu vi mà cô chưa từng vay mượn.