Sổ Nợ Trường Sinh — Phần 1: Người Đòi Nợ TrờiCh.18 / 38
Chapter 18

Chữ ký không mua được

Gian kho chứa vải nhuộm nằm ép sát mép con kênh thoát lũ của Liên hội Vận thương phủ Tĩnh Giang, nơi bóng tối dường như chưa từng bị xua tan hoàn toàn bởi ánh mặt trời. Không khí trong kho lúc nào cũng đặc quánh, nồng nặc thứ mùi quen thuộc đến thắt lòng của rễ cây chàm ngâm trong nước vôi nồng, quyện với mùi chua khé của bã đậu lên men và vị mặn tanh của bùn non rúc dưới chân những cột gỗ lim ngâm nước hàng chục năm ròng. Ở một góc khuất sau những kiện vải thô bọc cói dày ba lớp, Đỗ Hoài Nam ngồi tựa lưng vào vách ván ghép. Một bàn tay anh ấn chặt lấy hõm ngực dưới lớp áo vải gai rách tơi tả.

Sau trận vận khí cưỡng cầu đến mức nứt vỡ kinh mạch tại Trạm Trung lập Tam Bờ, hai huyệt Phế Du và Tâm Du của anh như bị hàng trăm mảnh gốm vụn cào xé. Mỗi lần lồng ngực phập phồng hít vào, từng luồng khí lạnh ẩm ướt lùa qua cuống họng lại kéo theo một cơn buốt nhói xộc thẳng lên tận màng óc, để lại vị tanh ngọt nồng nặc nơi cuống lưỡi mà anh phải cắn chặt răng mới nuốt ngược trở vào trong được. Từng đường kinh lạc trong cơ thể anh lúc này tựa hồ những sợi dây đàn quá căng bị giằng đứt, chỉ cần một thoáng sơ sểnh lay động linh lực phàm trần là toàn bộ phủ tạng sẽ rung chuyển như muốn đổ sụp.

Cách đó mươi bước, nơi khung cửa gỗ hé mở nhìn thẳng ra bờ bến đá, tiếng cọc chèo va đập lách cách vào những mạn thuyền bọc sắt phát ra đều đặn, hòa lẫn với tiếng nước vỗ bì bõm vào bậc thềm rêu phong. Tạ Bách đứng chắn ngay bậc cửa, chiếc áo cộc tay phanh ngực để lộ những vết sẹo dài do dây kéo thuyền cọ xát qua nhiều năm tháng bến bãi. Lão vừa phì phèo rít một mẩu thuốc rê khét lẹt, vừa cố tình vung tay gầm gừ mắng mỏ mấy gã phu khuân vác đang lóng ngóng làm rách mép một bao phèn chua. Những câu chửi thề bặm trợn, thô kệch đặc sệt giọng dân sông nước Cửu Hà vang dội khắp khoảng không gian chật hẹp, đánh bạt mọi sự chú ý hướng vào góc tối nhà kho.

Mục tiêu của màn kịch ấy đang đứng cách bậc thềm đúng mười bước chân, nép mình dưới mái hiên của một điếm canh đối diện. Đó là hai gã sai dịch mặc sắc phục màu xám tro của Ban Giám sát Nha môn phủ Tĩnh Giang. Theo điều khoản lưu trú bảy ngày dành cho những kẻ đang mang thân phận nghi can chờ xác minh nguồn gốc khế ước, hai tên kia có quyền bám sát Hoài Nam không rời nửa bước. Bọn chúng khoanh tay trước ngực, đốc kiếm bên hông thỉnh thoảng khẽ đập vào đùi phát ra những tiếng kim loại lách cách khô khốc. Cặp mắt ti hí của chúng như diều hâu rình mồi, liên tục quét qua quét lại từng kẽ hở giữa các kiện hàng, nhưng mũi giày da đanh của bọn chúng tuyệt đối không dám bước qua lằn ranh vôi trắng vẽ trên nền đá lát bến tàu. Đó là ranh giới tài phán bất khả xâm phạm của Liên hội Vận thương—nơi mà quyền lực của Ty Chấp khế Nha môn phủ Tĩnh Giang tạm thời bị chặn lại bởi những khế ước độc quyền vận chuyển hàng hóa phàm trần đã được niêm phong từ ba trăm năm trước.

Tiếng nước dưới lòng con lạch ngầm bỗng dưng chuyển nhịp. Không phải tiếng sóng dập dềnh vỗ mạn thuyền thông thường, mà là một chuỗi thanh âm trầm đục, lướt êm ru như một con cá trắm đen khổng lồ đang rẽ bùn lướt đi dưới đáy nước. Một chiếc thuyền đuôi tôm mũi nhọn bọc kẽm, không cắm bất kỳ lá cờ hiệu nào, chỉ phủ kín những tấm bạt gai xám xịt còn đẫm sương đêm từ từ trườn vào rãnh nước ngầm dẫn thẳng vào lòng nhà kho. Đáy thuyền ma sát với lớp rêu nhớt dưới gầm sàn phát ra một tiếng rít khẽ khàng rồi dừng hẳn lại sát gờ đá ngầm.

Tấm bạt gai bị hất tung sang một bên. Bốn bóng người mặc áo nâu sồng thô kệch, đầu đội nón lá chằm rộng vành che khuất nửa khuôn mặt, thoăn thoắt nhảy vọt lên bờ gạch trơn trượt. Động tác của họ dứt khoát, quen thuộc với từng chuyển động nhấp nhô của con nước, không hề để phát ra một tiếng động thừa thãi nào ngoài tiếng đế giày cỏ chạm vào mặt đá ướt.

Người đi đầu có vóc dáng mảnh khảnh nhưng đôi bờ vai gánh hai kiện hàng lớn bọc lá chuối khô vẫn vững vàng như chôn chân xuống đất. Vừa đặt kiện hàng xuống nền gạch kêu *huỵch* một tiếng nặng trịch, người đó đã đưa bàn tay gầy guộc gạt phăng chiếc nón lá sang bên, để lộ mái tóc đen nhánh được búi gọn gàng sau gáy bằng một chiếc trâm tre thô mộc. Dưới ánh sáng nhập nhoạng của ngọn đèn dầu lạc treo trên xà nhà, khuôn mặt thanh tú nhưng lấm lem bụi chàm và bùn non hiện ra. Đôi mắt nàng sáng quắc, rực lên một ngọn lửa bướng bỉnh dù quầng mắt thâm quầng vì nhiều đêm trắng không ngủ dọc theo đường sông.

"Hoài An!"

Nam bật thốt lên một tiếng, lồng ngực giật thót. Anh toan chống tay vào kiện vải để gượng đứng dậy, nhưng chỉ một cử động nhỏ cũng làm hai huyệt sau lưng co rút dữ dội. Một cơn ho sặc sụa bùng lên từ đáy phổi, kéo theo dòng máu ứ trào lên khóe miệng, khiến anh phải gập người ôm chặt lấy đầu gối.

"Anh Nam, ngồi yên đấy! Đừng có cậy mạnh!"

Đỗ Hoài An lao vội tới, hai đầu gối quỳ hẳn xuống nền gạch ẩm ướt đầy bụi phèn. Đôi bàn tay thô ráp, chai sần vì cọ xát với khung cửi và nhuốm một màu chàm xanh biếc bám chặt vào từng kẽ móng tay của cô vội vã áp chặt lấy bờ vai đang run rẩy của anh trai. Hơi ấm thân thuộc từ cơ thể cô, quyện cùng mùi nắng gắt của bãi bồi ven sông và mùi lá chàm tươi còn đọng lại trên nếp áo nâu phả thẳng vào mặt Nam. Mùi hương mộc mạc ấy tựa hồ một ngụm nước suối nguồn mát rượi rót vào cổ họng đang khô cháy, làm dịu đi phần nào cơn buốt rát xé ruột xé gan đang giày xéo phủ tạng anh.

Phía sau Hoài An, ba người đàn ông trung niên cũng lần lượt cởi bỏ nón lá, để lộ những gương mặt sạm đen vì nắng gió sông Cửu Hà. Đó là bác Ba, người thợ cả chuyên nghề nạo vỏ và ngâm ủ thân chàm; chú Đạt, thợ dệt khung cửi lớn với đôi cánh tay vạm vỡ nhưng lưng đã bắt đầu còng; và anh Thuận nhỏ—con trai của thợ cả Thuận, người suýt chút nữa đã bị cây cọc câu linh tàn độc của Ty Chấp khế cắm thẳng vào đỉnh đầu để rút cạn tuổi thọ ngay tại bãi phơi vải mấy ngày trước. Cả ba người đều đứng lặng, đôi bàn tay gân guốc siết chặt lấy quai gánh, ánh mắt nhìn Nam vừa tràn ngập vẻ xót xa, vừa chất chứa sự phẫn uất cùng cực của những kẻ bị dồn vào chân tường.

"Sao muội lại liều lĩnh mò lên tận đây?" Nam nén cơn đau buốt nơi ngực áo, hạ thấp giọng quát khẽ, thanh âm run rẩy vì vừa giận vừa lo. "Lệnh cưỡng thu tài sản và bắt giữ phàm nhân của Lương Trạch đã phát tán khắp các bến sông từ hạ lưu lên tới tận cửa ngõ nội phủ. Sai nha, trảo nha của Ty Chấp khế giăng lưới dày đặc ở từng trạm kiểm soát. Muội đưa người của phường thợ vào giữa sào huyệt của chúng, chẳng khác nào tự trói mình ném vào miệng cọp!"

"Nếu chúng tôi không chui vào cái rọ này của chúng, thì dân nghèo Bến Lau cũng chỉ còn nước ngồi trơ mắt chờ ngày bị cắm cọc hút sạch từng giọt tủy sống mà chết mục trên bãi phơi vải," Hoài An ngẩng đầu lên, ánh mắt không hề chớp lấy một cái, giọng nói đanh thép như đá tảng va vào nhau. "Chuyến này là chuyến hàng chàm cao cấp giao gấp theo hạn ngạch cho ba tiệm may lớn ở phố Đông nội phủ. Bến Lau đã gom hết số vải nhuộm kỹ nhất, đều màu nhất của cả bốn phường thợ, xin được giấy vận chuyển hàng phàm nhân từ bàn giấy của Quản trạm Võ Nghiêm trước khi lão kịp nhận được trát niêm phong mở rộng của Ty Chấp khế. Chú Bách đã phải lót tay cho viên tuần đinh canh giữ cửa âu thuyền suốt mười lượng bạc trắng để bọn chúng chịu nhắm mắt làm ngơ, coi chiếc thuyền này là thuyền chở vải tiến lễ cho các phủ tu tiên."

Ở góc chiếc bàn gỗ thô ráp đối diện, bà Mẫn nheo mắt nhìn đoàn người vừa cập bến. Cựu thư lại sáu mươi ba tuổi của Tòa Khế vẫn giữ nguyên bộ áo dài màu xám tro không một đường thêu thùa, vạt áo phẳng phiu không một nếp nhăn dù bà đã ngồi thâu đêm suốt sáng bên ngọn đèn dầu lạc. Bàn tay khẳng khiu như cành củi khô của bà chậm rãi lần từng hạt trên chuỗi tràng hạt bằng gỗ mun đã mòn bóng hết các góc cạnh. Bà không cất lời chào hỏi vồn vã, cũng không hề biểu lộ chút thương cảm nào trước bộ dạng lấm lem bùn đất của những người thợ. Đôi mắt già nua đùng đục của bà liếc nhìn những vệt bùn non còn dính trên mép ống quần của chú Đạt và anh Thuận nhỏ, rồi cất lên chất giọng khàn đặc, khô khốc nhưng rành rọt từng từ:

"Đến được tận đây bằng đường luân chuyển hàng hóa phàm trần là một nước cờ khôn ngoan. Nhưng cửa Tòa Khế không phải là nơi xét xử bằng lòng dũng cảm hay sự liều mạng của những kẻ nghèo khổ. Nơi đó chỉ nói chuyện bằng giấy trắng mực đen, bằng những con dấu có khắc tên quan thị giám và niên hiệu triều đình. Giấy tờ các ngươi mang theo đâu?"

Không một động tác thừa thãi, Hoài An lập tức đứng dậy quay lại mép sàn gỗ. Cô cúi người nhấc từ đáy thuyền đuôi tôm lên một chiếc giỏ nan đan bằng tre cật dày cộp, bên ngoài trét một lớp nhựa cây chống thấm nước sẫm màu. Đặt chiếc giỏ lên mặt bàn gỗ kêu *cạch*, cô mở nắp giỏ. Bên trong không có áo quần thay thế, không có lương khô hay tiền bạc, mà chỉ xếp ngay ngắn sáu ống tre bương lớn, vỏ ngoài bóng loáng vì hơi dầu và mồ hôi tay. Cả hai đầu mỗi ống tre đều được trát kín bằng một lớp sáp ong rừng màu nâu thẫm dày đến nửa lóng tay, bên trên bề mặt sáp còn hằn rõ vết khắc chìm của con dấu kiểm hàng thuộc Phường thợ Bến Lau.

Hoài An rút con dao con chuyên dùng để gọt vỏ cây chàm giắt bên hông ra. Cô hơ nhẹ lưỡi dao sắc lẹm trên ngọn lửa đèn dầu leo lét, rồi cẩn trọng đặt mũi dao khía từng đường dứt khoát quanh mép sáp niêm phong. Lớp sáp ong giòn rụm nứt bung ra kêu *tách tách*, tỏa ra một mùi mật khô ngai ngái lẫn với mùi tre hun khói. Cô dốc nhẹ miệng ống bương xuống mặt bàn, cẩn thận rút ra từng cuộn giấy bản ngả màu vàng ố vì khói bếp và hơi ẩm của những mái nhà tranh dựng sát bãi bồi ven sông.

"Đây là toàn bộ chứng từ lưu trữ của phường nhuộm chúng tôi trong suốt ba năm qua," Hoài An vừa cẩn thận trải rộng từng cuộn giấy lên mặt bàn, vừa cất giọng đanh lại, từng thanh âm đều mang sức nặng của sự kiên trì bền bỉ. "Bản hợp đồng đầu tiên: ngày mười sáu tháng Ba năm Khang Định thứ tám, phường nhuộm ký nhận mua ba mươi thùng phẩm nhuộm của Thương hội Hà thị, do tay buôn Hà Duy Thịnh trực tiếp cấp phép và giao nhận tại bến. Đây là các xấp biên lai thanh toán từng quý, mỗi quý thanh toán dứt điểm bằng sáu mươi tấm vải thô và mười lượng bạc trắng đúc hạt đậu, đều có chữ ký nhận tiền của người thu ngân bên phía Hà thị. Còn đây nữa, toàn bộ những tờ biên nhận nợ vật tư phụ phẩm: từ vôi tôi bọc rơm, muối mỏ ướp chàm cho đến phèn chua làm trong nước... từng đồng tiền lẻ, từng cân muối đều có giấy biên nhận riêng của từng gia đình, được cất giữ cẩn thận trong ống nứa dắt trên xà nhà suốt mấy năm trời."

Bà Mẫn đưa tay kéo chiếc kính gọng đồng trễ xuống sống mũi, cúi rạp người sát xuống mặt giấy. Ngón tay trỏ khẳng khiu của bà lướt thoăn thoắt trên từng mép lề giấy, cẩn thận lật giở, soi kỹ từng nét mực chu sa, từng đường thớ sợi của loại giấy dâu tằm hạ đẳng rẻ tiền. Đôi mắt sắc lẹm của cựu thư lại như biến thành một chiếc kính lúp vô hình, bóc tách từng chi tiết nhỏ nhất:

"Mực chu sa gốc thực vật tự nhiên, không hề pha trộn bột khoáng dẫn truyền linh lực. Dấu giáp lai của Thương hội Hà thị đóng bằng con triện gỗ bách cũ, góc trên bên phải bị mẻ một dằm nhỏ chừng nửa hạt gạo—đúng là con triện thương nghiệp được đăng ký mười năm trước tại Đô Ty Tĩnh Giang. Không có dấu vết cạo sửa cơ học trên bề mặt giấy, cũng không có dấu vết ngâm dấm thanh để tẩy xóa chữ viết cũ." Bà Mẫn ngước mắt lên, ánh nhìn xuyên qua tròng kính đồng găm thẳng vào Hoài An với vẻ dò xét khắt khe. "Đám thợ dệt các ngươi, chữ nghĩa bẻ đôi không biết hết, mà lại giữ được những mảnh giấy lộn này cẩn thận đến thế này sao?"

"Dân nghèo Bến Lau chúng tôi không có linh thạch lấp lánh, cũng chẳng có pháp bảo hộ thân như các bậc tu tiên," anh Thuận nhỏ bước lên một bước, lồng ngực phập phồng, giọng nghẹn lại trong cổ họng nhưng nắm tay siết chặt đến trắng bệch các khớp xương. "Thứ duy nhất để bảo đảm chúng tôi không bị người ta vu oan giá họa, không bị bắt bán con trừ nợ chính là những mảnh giấy có chữ ký này. Cha tôi trước khi ngất lịm vì luồng tà khí của cọc câu linh vẫn nắm chặt lấy tay tôi mà dặn: mất nhà thì ra bờ sông dựng lều chòi mà ở, mất trâu mất cày thì lấy sức người ra kéo đất, nhưng nếu làm mất tờ biên nhận đã trả nợ thì muôn đời muôn kiếp con cháu Bến Lau chỉ có nước làm nô lệ trừ nợ cho lũ tu tiên!"

Nam lặng người nhìn những góc giấy quăn queo, sờn rách vì thời gian. Trên bề mặt nhiều tờ biên lai vẫn còn vương lại những vệt bùn khô màu xám xịt và vết ố mồ hôi mặn chát của những người thợ quanh năm ngâm chân dưới dòng nước lạnh ngắt của đầm chàm. Trái tim anh thắt lại như bị ai bóp nghẹt. Đây chính là xương tủy, là mồ hôi nước mắt của cả một làng xóm quê hương anh—những con người chất phác, lam lũ chỉ biết cắm mặt vào thùng chàm từ lúc rạng đông cho đến khi tắt nắng, cả đời chưa từng một lần dám ngước mắt nhìn lên cổng lớn của các phủ tu tiên, thế mà bỗng một ngày tai họa ập xuống, bị gánh lên đầu một bản án thọ mệnh hai mươi năm thay cho một tên tán tu xa lạ nào đó.

Nam hít một hơi thật sâu, cố nén cơn buốt rát đang âm ỉ cắn xé nơi lồng ngực, đưa bàn tay run rẩy với lấy cây bút lông và tờ giấy tuyên bản trắng tinh đặt trên bàn của bà Mẫn:

"Đủ rồi. Chúng ta đã có trong tay đầy đủ biên lai mua bán gốc để đối chiếu, bóc trần sự giả mạo của khế ước ma mang mã hiệu TG-LậpĐài-8812. Ta sẽ viết đơn tố tụng lên Tòa Khế ngay bây giờ." Nam ngước nhìn Hoài An và ba người thợ, ánh mắt kiên định, giọng trầm xuống đầy dứt khoát. "Ta từng làm kiểm sổ viên tại Trạm Linh Vận, nắm rõ từng điều khoản, từng quy chuẩn tố tụng của chín lưu vực Cửu Hà. Bản đơn này sẽ chỉ đứng tên một mình ta—Đỗ Hoài Nam—với tư cách là người đại diện duy nhất khiếu nại cho toàn bộ ba mươi sáu hộ dân Bến Lau. Mọi hậu quả pháp lý, mọi hình phạt bồi hoàn hay đòn trừng phạt tài sản nếu Tòa Khế bác đơn khiếu kiện, một mình ta sẽ đứng ra gánh chịu thay cho toàn bộ dân làng. Các người phải lập tức quay về Bến Lau ngay trong đêm nay."

"Không được!"

Một tiếng đập bàn dứt khoát vang lên làm chiếc đĩa đèn dầu lạc chao đảo, ngọn lửa bùng lên một tia khói đen kịt. Hoài An đứng thẳng người, hai bàn tay chống mạnh xuống mặt bàn gỗ, ánh mắt nhìn thẳng vào anh trai mình. Đó không còn là ánh mắt của một đứa em gái nhỏ ngày nào chỉ biết khóc thút thít nép sau lưng anh mỗi khi có chủ nợ kéo đến đòi tiền thuốc thang, mà là ánh mắt rực lửa, sắc lạnh của một người đang đứng đầu gánh vác sự sống còn của cả một phường thợ.

"Muội nói không là không, anh Nam!"

"Hoài An! Muội có hiểu mình đang nói điều điên rồ gì không?" Nam nhíu chặt mày, giọng gắt lên vì lo lắng tột độ. "Lương Trạch không phải là kẻ biết nói lý lẽ bằng miệng! Hắn có tu vi Lập Đài sơ kỳ, nắm trọn trong tay toàn bộ quyền lực của Ty Chấp Khế và mạng lưới sai nha toàn phủ Tĩnh Giang. Nếu lá đơn này đứng tên của cả làng, một khi Tòa Khế phát lệnh điều tra xác minh, đòn thù đầu tiên của hắn sẽ giáng thẳng xuống đầu từng nóc nhà ở Bến Lau! Chỉ cần một mình anh đứng tên, đối phương cùng lắm chỉ có thể xử phạt hành chính về tội quấy rối công vụ hoặc khép anh vào tội can thiệp trái phép. Nhà cửa ruộng vườn ở quê cũng đã bị niêm phong sạch rồi, anh chẳng còn gì để mất nữa cả!"

"Anh nghĩ mình chết thay cho chúng tôi là xong chuyện sao?" Hoài An không hề lùi lại nửa bước, thanh âm của cô đanh thép, từng lời thốt ra như nhát búa nện thẳng vào sự cố chấp của Nam. "Anh nghĩ mình chỉ cần ưỡn ngực ra làm một vị bồ tát cứu rỗi, một kẻ anh hùng gánh nạn, thì Lương Trạch sẽ rủ lòng từ bi mà buông tha cho ba mươi sáu mái nhà tranh ở Bến Lau hay sao? Anh Nam, anh tỉnh lại đi!"

Cô bước dồn thêm một bước, ngón tay trỏ nhuốm màu chàm chỉ thẳng vào đống chứng từ bằng tre và giấy bản đang nằm la liệt trên bàn:

"Nếu chỉ một mình anh đứng tên làm người đại diện duy nhất, toàn bộ vụ kiện sống còn này sẽ bị trói chặt vào tính mạng của một mình anh! Lương Trạch là loại người nào chứ? Hắn chỉ cần làm một việc đơn giản nhất: sai một tên sát thủ chặn đường đâm chết anh trong một con ngõ tối, hoặc cho người bắt cóc anh tống vào ngục tối rồi dùng nhục hình ép anh ký vào một tờ giấy bãi nại, là toàn bộ hồ sơ khiếu nại của Bến Lau sẽ tự động sụp đổ hoàn toàn vì người đại diện đã chết hoặc tự ý từ bỏ quyền kiện! Khi đó, ai sẽ đứng ra nói thay cho dân làng? Tòa Khế sẽ lập tức đóng hồ sơ lại theo đúng quy trình, và ngay ngày hôm sau, những cây cọc câu linh đẫm máu kia sẽ cắm thẳng vào cổng làng Bến Lau mà không còn bất kỳ một rào cản pháp lý nào ngăn lại được nữa!"

Gian kho chìm vào một khoảng lặng nặng nề đến nghẹt thở. Tiếng nước kênh dập dềnh vỗ vào các chân cọc gỗ lim dưới sàn ván nghe rõ mồn một từng nhịp *óc ách*. Hai gã sai dịch bên ngoài dường như nghe thấy tiếng động lớn, khẽ dịch chuyển bước chân, bóng của chúng in dài trên vách ván ép qua ánh đèn lồng từ xa hắt lại.

Hoài An hít một hơi thật sâu, lồng ngực phập phồng, giọng cô chùng xuống nhưng từng lời từng chữ đều kiên định khôn cùng:

"Từng người thợ ở Bến Lau tự tay ký vào hợp đồng mua phẩm nhuộm, thì từng người phải có quyền ủy quyền riêng cho hồ sơ của chính gia đình mình. Dân làng chúng tôi không phải là những kiện hàng vô tri để anh muốn nhận thay là nhận, muốn vác thay là vác! Mỗi gia đình phải tự chịu trách nhiệm về chữ ký và mảnh biên lai của họ trước công đường. Nếu anh ngã xuống, tôi sẽ đứng lên bước tiếp. Nếu tôi bị bắt giam, bác Ba, anh Thuận, chú Đạt sẽ thay phiên nhau cầm những lá đơn này gõ cửa Tòa Khế! Một thân cây lau đơn độc đứng trước gió bão thì chỉ cần một cơn dông là bị bẻ gãy cái rắc, nhưng nếu là cả một rừng cây lau đan rễ chằng chịt vào nhau dưới bùn sâu, Lương Trạch có dùng đến ngọn lửa Lập Đài kỳ của hắn cũng không bao giờ đốt sạch được!"

Bà Mẫn nãy giờ vẫn im lặng quan sát hai anh em, bàn tay lần chuỗi hạt mun bỗng dừng lại. Khóe miệng nhăn nheo của bà khẽ nhếch lên, bật ra một tiếng cười trầm đục nơi cổ họng. Bà ngẩng đầu lên nhìn Hoài An, trong đôi mắt đùng đục lóe lên một tia tán đồng hiếm thấy:

"Con bé này nói không sai một chữ nào. Trong cái mớ luật pháp khế ước rắc rối của chín lưu vực Cửu Hà này, thứ ngu xuẩn và dễ chết nhất chính là chủ nghĩa anh hùng cá nhân. Cửa Tòa Khế không bao giờ mở ra để đón tiếp những kẻ muốn làm cứu tinh cho thiên hạ. Tòa chỉ thụ lý hồ sơ của những chủ thể có quyền lợi và nghĩa vụ gắn liền trực tiếp với bản khế ước. Cậu Nam, nếu cậu ký thay toàn bộ với tư cách cá nhân, bên Ty Chấp khế chỉ cần chứng minh cậu có tư thù cá nhân với Lương Trạch, hoặc chứng minh cậu từng có hành vi dùng vũ lực chống đối tại bãi nhuộm, là thẩm khế thụ lý hoàn toàn có đủ căn cứ pháp lý để bác bỏ toàn bộ tư cách tố tụng của cậu ngay từ vòng thẩm tra hồ sơ sơ bộ."

Bà Mẫn vừa nói vừa thò tay vào trong tay áo rộng thùng thình, rút ra một xấp giấy bổi dày cộp. Đó là loại giấy chuyên dụng của nha môn, trên mặt giấy có in chìm hoa văn sóng nước cuộn trào của Tòa Khế Cửu Hà:

"Muốn đánh bại một kẻ nắm luật và dùng luật làm công cụ giết người như Lương Trạch, thì phải dùng chính cái gông cùm thủ tục của hắn mà trói chặt tay chân hắn lại. Chúng ta sẽ không làm đơn đại diện toàn quyền, mà phải lập 'Văn bản ủy quyền tố tụng có phạm vi giới hạn'. Từng hộ dân sẽ ký giấy ủy quyền cho Đỗ Hoài Nam và Đỗ Hoài An đồng đại diện tham gia các phiên đối chất và nộp chứng cứ, nhưng quyền định đoạt số phận của khoản nợ gốc, quyền thỏa hiệp, hòa giải hay bãi nại vẫn phải nằm nguyên trong tay của từng chủ hộ có tên trong danh sách. Không một ai có quyền bán đứng ai, và không một ai—kể cả hai đứa các ngươi—có thể bị mua chuộc hay bị bức tử để xóa sạch toàn bộ vụ án này."

Ánh mắt Nam dao động kịch liệt. Nhìn đôi bàn tay nhỏ nhắn nhưng thô ráp, nhuốm đầy màu chàm của Hoài An đang run lên vì xúc động nhưng các ngón tay vẫn ghì chặt xuống mặt bàn gỗ như muốn bám rễ vào đó, anh chợt hiểu ra một điều cay đắng mà ấm áp: em gái anh đã thực sự trưởng thành giữa giông bão cuộc đời. Con bé không còn là đứa trẻ cần anh phải che chắn dưới đôi cánh tàn tạ của mình nữa.

"Được rồi," Nam thở hắt ra một hơi dài, buông thõng cây bút lông xuống bàn, khẽ gật đầu. "Nghe theo muội và tiền bối."

Dưới sự chỉ dẫn tỉ mỉ, cặn kẽ từng câu từng chữ của bà Mẫn, góc nhà kho ẩm thấp nhanh chóng biến thành một bàn thẩm tra hồ sơ vô cùng căng thẳng. Chiếc đĩa đèn dầu lạc được châm thêm dầu, ngọn lửa vàng vọt bập bùng soi rõ từng khuôn mặt căng thẳng đến tột độ. Hoài An ngồi xuống đối diện với bà Mẫn, hai người cẩn thận mở từng cuộn biên lai, từng tờ giấy nợ của từng hộ dân để đối chiếu với Bảng kê nhân sự ba mươi sáu người mà phường thợ Bến Lau đã bí mật lập ra từ trước.

"Điều khoản ủy quyền phải được ghi chép thật chuẩn xác, không được sai lệch dù chỉ một nét chữ," bà Mẫn vừa chấm ngọn bút lông vào nghiên mực đen đặc quánh, vừa cất giọng răn đe. "Phạm vi ủy quyền đại diện chỉ được phép giới hạn trong ba việc: thứ nhất, yêu cầu giám định tính hợp pháp của con dấu lưu động số mười bốn do Thương hội Hà thị sử dụng; thứ hai, yêu cầu niêm phong và đối chiếu mẫu huyết dịch lưu trữ tại Y quán công Tĩnh Giang để xác định tư cách con nợ thật sự; thứ ba, đề nghị Tòa Khế tuyên bố vô hiệu toàn bộ phần phụ lục bảo lãnh vô căn cứ thuộc dải hồ sơ HN-BảoLãnh-401 đến 440. Tuyệt đối không được phép ghi những câu từ mơ hồ như 'toàn quyền xử lý mọi tranh chấp phát sinh', kẻo bên Ty Chấp khế sẽ lập tức vin vào kẽ hở đó để ép các ngươi phải bồi thường những khoản thiệt hại ngoài phạm vi vụ kiện."

Tuy nhiên, khi quá trình rà soát đi sâu vào từng bộ hồ sơ cụ thể, sự nghiệt ngã đến tàn nhẫn của quy trình pháp lý Cửu Hà mới thực sự lộ rõ nanh vuốt.

Đến bộ hồ sơ thứ mười bảy—hồ sơ mang tên chủ hộ Lâm Quỳ, một thợ nhuộm già có thâm niên hơn bốn mươi năm trong nghề, ngón tay của bà Mẫn đột ngột khựng lại giữa không trung. Bà nhấc tờ biên nhận lên sát ngọn đèn dầu, ngón tay cái miết nhẹ vào mép giấy bị cháy sém mất một góc:

"Biên nhận mua ba thùng phẩm nhuộm này thiếu mất con dấu mộc triện của người thu ngân bên phía Hà thị. Trên mặt giấy chỉ có một chữ ký tắt ngoằn ngoèo bằng mực đen thông thường."

"Đó là chữ ký của tên cai kho bên Hà thị mà bà!" Anh Thuận nhỏ vội vàng chồm người tới, giọng nói gấp gáp giải thích. "Hôm giao nhận hàng đó trời đổ mưa rào ngập cả bến sông, tên cai kho lười lội nước vào lán mở hòm sắt lấy con triện đồng, nên hắn chỉ dùng bút lông ký tạm một nét ngoặc vào góc giấy, hẹn sáng hôm sau tạnh mưa sẽ đóng dấu bù cho chú Quỳ. Nhưng rồi hôm sau việc bến bãi bề bộn, hắn quên bẵng đi mất..."

"Tòa Khế không quan tâm trời mưa hay trời nắng," giọng bà Mẫn lạnh như băng tuyết mùa đông trên đỉnh núi đá. "Không có mộc triện chính thức của thương hội đã đăng ký với Đô Ty, cũng không có dấu lăn tay điểm chỉ đối chứng của người thu ngân, tờ giấy này trước mắt Thẩm khế Tống Nhược Thủy chỉ là một mảnh giấy vụn không hơn không kém. Nó không có bất kỳ giá trị chứng minh pháp lý nào về sự tồn tại của một giao dịch mua bán hợp lệ. Nếu chúng ta cố tình đưa tờ biên nhận này vào tập đơn khiếu nại, ty chấp pháp của Lương Trạch sẽ lập tức chộp lấy điểm yếu này để vu cáo chúng ta ngụy tạo chứng cứ, từ đó làm hoen ố và vô hiệu hóa toàn bộ chuỗi tài liệu trung thực còn lại!"

"Nhưng nhà chú Quỳ thực sự chỉ mua nợ có mười lượng bạc tiền chàm thôi mà!" Hoài An nghẹn ngào, hai hốc mắt đỏ hoe, giọng run rẩy van nài. "Nếu gạt tên gia đình chú ấy ra khỏi danh sách khiếu nại đợt này, cây cọc câu linh của Lương Trạch sẽ cắm thẳng vào đầu chú ấy, hút sạch mười lăm năm tuổi thọ của một ông già gần đất xa trời mất!"

"Muốn cứu được người khác, thì trước hết phải giữ cho chiếc thuyền chở tất cả mọi người không bị đắm chìm giữa dòng xoáy," bà Mẫn gằn từng tiếng, ánh mắt già nua kiên định đến mức tàn nhẫn, không hề có một chút lay chuyển trước những giọt nước mắt. "Một vết nứt nhỏ bằng sợi tóc cũng đủ sức làm đắm cả một chiếc thuyền đang chở ba mươi mấy sinh mạng. Gạt tờ giấy này ra!"

Bàn tay khẳng khiu của bà vung lên, tờ biên nhận của nhà Lâm Quỳ bị đẩy dạt sang một góc mép bàn, nằm trơ trọi, cô độc như một bản án tử hình vô hình đang lơ lửng treo trên đầu người thợ già nơi bến sông xa xôi.

Công việc rà soát tiếp tục kéo dài qua canh ba, rồi đến canh tư. Thêm ba trường hợp đau lòng nữa lần lượt bị bà Mẫn thẳng tay loại bỏ: một hộ bị mất toàn bộ biên lai gốc do trận nước lũ tràn qua bến bãi vào mùa thu năm ngoái, hiện chỉ còn lại một bản chép tay nguệch ngoạc không có xác nhận; hai hộ khác ký kết hợp đồng mua vật tư thông qua lời nói miệng của một gã thương buôn trung gian chứ không hề lập văn bản giao kết có chữ ký hai bên. Mỗi một lần một tờ giấy bị gạt sang bên rìa bàn, không khí ngột ngạt trong gian kho lại chùng xuống nặng nề như có một tảng đá ngàn cân đè nghiến lên lồng ngực của từng người có mặt.

Anh Thuận nhỏ và chú Đạt cắn chặt môi dưới đến mức rỉ máu tươi, hai bờ vai run lên bần bật trong bóng tối. Nhưng không một ai dám cất tiếng phản đối thêm một lời nào nữa. Sống dưới ách thống trị của trật tự tu tiên suốt bao đời nay, họ cay đắng thấu hiểu rằng luật lệ của Tòa Khế là một cỗ máy nghiền nát sắt đá, nơi nước mắt và sự thống khổ của phàm nhân chưa từng có lấy một ly trọng lượng.

Từ con số ba mươi sáu hộ dân ban đầu, danh sách hồ sơ đủ điều kiện pháp lý để thiết lập văn bản ủy quyền độc lập bị thu hẹp lại, chỉ còn vỏn vẹn đúng ba mươi hai hộ.

"Ba mươi hai bộ hồ sơ," bà Mẫn thở hắt ra một hơi dài, cẩn thận đặt cây bút lông xuống chiếc giá đỡ bằng đồng thau đã xỉn màu. "Đầy đủ hợp đồng mua phẩm nhuộm nguyên bản, đầy đủ các biên lai thanh toán định kỳ có đóng mộc triện còn nguyên vẹn của thương hội, không có bất kỳ kẽ hở nào về mặt đối chiếu dòng tiền và thời gian giao nhận. Ba mươi hai hộ này đã có đủ tư cách pháp lý để hình thành một liên danh khiếu nại độc lập trước Tòa Khế."

Hoài An lặng lẽ lau khô những giọt nước mắt nơi khóe mi. Cô cẩn thận trải ba mươi hai dải vải thô màu nâu sồng đã được cắt vuông vức bằng bàn tay lên mặt bàn gỗ. Trên mỗi dải vải, cô dùng ngọn bút lông chấm mực chu sa đỏ thắm, nắn nót viết rõ họ tên của từng chủ hộ, số hiệu hợp đồng mua chàm, và phạm vi ủy quyền giới hạn cho Đỗ Hoài Nam cùng Đỗ Hoài An.

Ba người đại diện của phường thợ—bác Ba, chú Đạt và anh Thuận nhỏ—chậm rãi bước lên phía trước bàn. Không ai bảo ai, họ đồng loạt rút con dao con gọt vỏ chàm ra khỏi thắt lưng. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu, lưỡi dao sắc lẹm khẽ cứa một đường dứt khoát vào đầu ngón tay trỏ của từng người.

Từng giọt máu tươi đỏ thẫm ứa ra từ đầu ngón tay chai sạn, hòa lẫn với thứ cặn màu chàm xanh biếc đã bám sâu vào từng kẽ móng tay qua bao năm tháng ngâm mình dưới đầm, tạo thành một màu đỏ tím sẫm đặc quánh như máu của đất trời.

Từng người một im lặng tiến đến mép bàn, ấn thật mạnh ngón tay trỏ rỉ máu xuống góc dưới dải vải của chính gia đình mình, và của những gia đình đã gửi gắm toàn bộ sinh mạng và niềm tin cho họ trước giờ thuyền rời bến. Từng vết điểm chỉ bằng máu tươi lún sâu, in hằn vào từng thớ vải thô ráp xù xì, rõ ràng, rành mạch và dứt khoát như một lời thề sinh tử không bao giờ đảo ngược.

"Ba mươi hai vết máu này," Hoài An vừa cẩn thận cuộn từng dải vải ủy quyền lại, vừa nghẹn ngào cất tiếng, giọng run run nhưng ánh mắt sáng quắc lạ thường, "chính là ba mươi hai mạng người của Bến Lau gửi gắm trọn vẹn vào tay chúng ta."

Đỗ Hoài Nam run rẩy đưa bàn tay chạm nhẹ vào mặt dải vải thô còn chưa kịp khô vết máu. Một cảm giác tê dại chạy dọc khắp sống lưng, xông thẳng lên đỉnh đầu anh. Đây không còn là những con số vô hồn nằm trên những tờ khai kiểm sổ hàng hóa ở trạm linh vận ngày nào, không phải là những chỉ tiêu hao hụt linh khí có thể dùng một nét mực đỏ gạch bỏ rồi tùy tiện sửa lại theo lệnh quan trên. Đây là sinh mệnh, là thanh xuân, là từng nhịp thở bằng xương bằng thịt của những con người nghèo khổ nhất nơi bến nước quê hương anh—những con người đã tin tưởng trao toàn bộ số phận của mình vào tay anh em anh.

Nhưng đúng lúc Nam vừa cẩn thận xếp ba mươi hai dải vải ủy quyền vào chiếc tráp gỗ bọc da cá đuối, tiếng gõ móng tay khô khốc của bà Mẫn lên mặt bàn lại vang lên, xé toang bầu không khí xúc động đang bao trùm gian kho.

"Đừng vội mừng thầm," bà Mẫn ngả lưng tựa vào vách kho ghép bằng gỗ thông, đôi mắt nheo lại đầy vẻ cảnh giác và mệt mỏi cùng cực. "Hồ sơ ủy quyền này đúng là đã đủ tính pháp lý chặt chẽ để vượt qua được cửa ải thẩm tra sơ bộ của Thẩm khế Tống Nhược Thủy. Với tính khí cứng nhắc và câu nệ quy tắc của con bé đó, nó sẽ không thể tùy tiện gạt bỏ một tập chứng từ có chuỗi lưu ký hoàn chỉnh và có dấu mộc đối chiếu rõ ràng như thế này. Nhưng..."

Bà Mẫn dừng lại, ngón tay ngừng gõ lên mặt bàn, ánh mắt sắc như dao cạo lướt qua gương mặt nhợt nhạt của Nam rồi dừng lại, đóng đinh trên khuôn mặt trẻ trung của Hoài An:

"...Các ngươi có biết điều kiện tiên quyết nhất để Tòa Khế phát lệnh bảo toàn chứng cứ khẩn cấp, tạm thời đình chỉ lệnh cưỡng thu và mở niêm phong kho bệnh án của y quán phủ là gì không?"

Nam siết chặt lấy quai tráp gỗ, lồng ngực lại nhói lên một cơn đau buốt, anh trầm giọng đáp:

"Là khoản tiền bảo toàn rủi ro theo quy chuẩn tố tụng của chín lưu vực Cửu Hà."

"Chính xác," bà Mẫn bật ra một tiếng cười nhạt, nụ cười cay đắng và chua chát của một kẻ đã chứng kiến quá nhiều sự bất công tàn bạo đội lốt sự tôn nghiêm của luật pháp suốt hơn bốn mươi năm ngồi ở bàn thư lại. "Điều ba mươi chín của Luật Khế ước Cửu Hà được các bậc tu tiên đặt ra với những lời lẽ vô cùng hoa mỹ: nhằm tránh việc phàm nhân lợi dụng quyền khiếu nại để làm đình trệ hoạt động tín dụng và tu luyện của các phủ môn, bên nguyên đơn bắt buộc phải nộp một khoản tiền bảo toàn rủi ro trước khi tòa án xem xét thụ lý bất kỳ yêu cầu khẩn cấp nào. Đối với một vụ án liên quan trực tiếp đến khoản nợ cấp độ Lập Đài kỳ như vụ của tên Tống Lăng, số tiền ký quỹ bảo toàn tối thiểu theo luật định không được dưới năm trăm lượng bạc trắng nguyên chất, hoặc năm mươi chỉ sinh cơ nguyên chất nộp thẳng vào quỹ giám sát của Tòa Khế trước khi công đường mở cửa."

"Năm trăm lượng bạc trắng?!"

Anh Thuận nhỏ thất thanh thốt lên, cả người lảo đảo như vừa bị sét đánh trúng đỉnh đầu, sắc mặt tái nhợt như tàu lá chuối úa. Chú Đạt đứng bên cạnh hai chân run lẩy bẩy, phải vội vàng vịn chặt vào mép cọc gỗ lim mới không quỵ ngã xuống sàn kho.

Năm trăm lượng bạc trắng! Đối với những người thợ nhuộm cả đời lam lũ chắt bóp từng đồng tiền kẽm, tích cóp từng xu lẻ để mua mắm mua muối qua ngày, đó là một con số thiên văn nằm ngoài mọi sức tưởng tượng hoang đường nhất của họ. Dù có đem bán sạch toàn bộ khung cửi, thau chậu, bãi phơi vải và cả những mái nhà tranh rách nát của toàn bộ ba mươi sáu hộ dân ở Bến Lau, gom góp hết lại cũng chưa chắc đã nổi một trăm lượng bạc trắng.

"Đó chính là lý do vì sao Lương Trạch dám công khai tráo đổi khế ước, cắm cọc câu linh cướp đoạt thọ mệnh của dân nghèo suốt bao nhiêu năm qua mà không hề sợ bị phanh phui ra ánh sáng," bà Mẫn lạnh lùng tiếp lời, từng lời nói như những nhát dao cứa vào vết thương đang rỉ máu. "Hắn nắm rõ luật pháp hơn bất kỳ ai trong các ngươi. Hắn biết đám dân nghèo các ngươi có thể tìm ra chứng từ, có thể liều mạng vượt sông đưa đơn lên tận phủ thành, nhưng các ngươi sẽ phải chết đứng ngay trước ngưỡng cửa Tòa Khế chỉ vì không thể bước qua nổi cái bậc cửa năm trăm lượng bạc ấy. Không có đủ số tiền bảo toàn nộp vào quỹ giám sát của nha môn trước giờ Thìn sáng ngày mai, Thẩm khế Tống Nhược Thủy dù có muốn làm theo lẽ công bằng cũng buộc phải bác đơn khiếu nại theo đúng trình tự tố tụng. Và khi đó, toàn bộ công sức, máu và nước mắt của chuyến đi đêm này sẽ hoàn toàn tan thành mây khói."

Căn phòng kho rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở, nặng nề đến mức dường như chỉ nghe thấy tiếng tim đập dồn dập trong lồng ngực của từng người. Tiếng gió lạnh rít qua khe cửa ván gỗ hòa cùng tiếng nước triều dâng lên bì bõm dưới gầm sàn, nghe như tiếng thở dài vô vọng của dòng sông Cửu Hà muôn đời câm lặng.

Đỗ Hoài Nam siết chặt nắm tay, mười đầu ngón tay bấm sâu vào lòng bàn tay đến mức bật máu tươi. Trong đầu anh cuộn lên những suy nghĩ điên cuồng: anh toan tính đến việc dùng chính bản thân mình để đi vay một khoản nợ sinh cơ mới từ các chợ đen của giới tán tu—dù anh thừa biết kinh mạch toàn thân mình lúc này đang rạn nứt như gốm vỡ, nếu tiếp tục rút cạn thêm một lượng sinh cơ nào nữa, anh chắc chắn sẽ chết ngay trên bàn ký khế ước.

Nhưng khi Nam vừa hé môi định cất tiếng, thì Hoài An đã chậm rãi bước lên phía trước một bước.

Khuôn mặt của cô gái hai mươi mốt tuổi không hề có lấy một tia hoảng loạn hay tuyệt vọng. Ngược lại, đôi mắt của cô bình thản đến lạ kỳ, trong veo và sâu thẳm như làn nước sông Cửu Hà trong những đêm đông không trăng.

Hoài An lặng lẽ quay người, cúi xuống khoang chiếc thuyền đuôi tôm. Cô cùng với bác Ba và chú Đạt khó nhọc khiêng lên một chiếc hòm gỗ sồi nặng trịch, bốn góc hòm đều được bọc sắt hoen gỉ và chằng néo cẩn thận bằng ba lớp dây thừng gai bện chặt. Đặt chiếc hòm lên mặt bàn gỗ phát ra một tiếng *uỳnh* trầm đục, làm bụi gỗ bay mù mịt trong ánh đèn dầu.

Hoài An rút con dao gọt chàm, dứt khoát cắt đứt từng nút thắt dây thừng gai. Cô đưa hai bàn tay thô ráp bật mở chiếc khóa đồng cũ kỹ, rồi từ từ đẩy nắp hòm gỗ sang một bên.

Bên trong lòng hòm không hề có ánh bạc trắng lấp lánh chói mắt của những thỏi bạc nén mười lượng, cũng tuyệt nhiên không có một viên linh thạch nào tỏa ra luồng linh khí rực rỡ của giới tu tiên.

Nằm chật ních, đầy ắp trong lòng chiếc hòm gỗ sồi là hàng ngàn, hàng vạn những đồng tiền đồng xỉn màu đã mòn vẹt mép; là những mảnh bạc vụn bị cắt nhỏ chỉ bằng hạt tấm, hạt ngô; là những chiếc khuyên tai bạc cũ kỹ cong vênh của các bà mẹ truyền lại từ đời này sang đời khác; là những chiếc vòng bạc tránh gió đã mòn nhẵn hoa văn của những đứa trẻ con vừa dứt sữa mẹ; và cả hàng trăm thỏi chì đổi công nhuốm đầy màu chàm xanh ngắt của những người thợ bốc vác nơi bến sông.

"Đây là Quỹ tương trợ của bốn phường thợ Bến Lau chúng tôi gom góp suốt năm năm qua," giọng nói của Hoài An vang lên đều đặn, rành rọt, từng thanh âm rơi vào khoảng không tĩnh mịch của gian kho như những tiếng gõ chuông đồng ngân vang. "Từng hào tiền lẻ trích ra từ mỗi tấm vải nhuộm bán được cho thương lái, từng đồng tiền công bốc vác đêm của đám thanh niên trai tráng ngoài bến bãi, từng mẩu bạc vụn của các bà, các mẹ, các chị nhịn ăn sáng chắt chiu từng bữa để dành phòng khi trong làng có người ốm đau bệnh tật có tiền mà mua thuốc... Trong này tổng cộng có đúng một trăm bốn mươi lượng bạc lẻ, sáu vạn đồng tiền kẽm và tiền đồng, cùng toàn bộ số bạc trang sức của tất cả phụ nữ trong làng Bến Lau."

Cô ngẩng cao đầu, ánh mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt già nua đầy vẻ ngỡ ngàng của bà Mẫn, rồi nhìn sang người anh trai đang đứng chết lặng bên cạnh:

"Chúng tôi biết mình nghèo hèn. Chúng tôi biết trước cửa phủ tu tiên quyền quý, mạng sống của đám phàm nhân chúng tôi chỉ rẻ mạt như ngọn cỏ rác mọc ven đường đi. Nhưng số tiền này là mồ hôi, là máu, là miếng cơm manh áo của hàng trăm con người ở Bến Lau chắt chiu từng ngày từng giờ để giữ lấy cái quyền tối thiểu nhất: quyền được ngẩng đầu lên làm một con người! Chú Tạ Bách đã nhận lời hứa với dân làng, sẽ dùng toàn bộ uy tín và hạn ngạch vận tải đường thủy của đội thuyền họ Tạ để đứng ra bảo lãnh pháp lý cho phần tiền bảo toàn còn thiếu hụt trước Tòa Khế."

Hoài An đưa bàn tay nhuốm màu chàm vục sâu vào trong lòng hòm, vốc lấy một nắm tiền đồng cũ kỹ. Những đồng tiền xỉn màu, nặng trĩu mồ hôi rơi lách cách qua kẽ tay cô, va vào nhau lách keng rồi rơi trở lại vào lòng hòm gỗ:

"Bến Lau chúng tôi không bao giờ ngồi một chỗ chờ đợi một vị bồ tát nào từ trên trời rơi xuống để cứu rỗi cuộc đời mình. Chúng tôi tự gom góp từng đồng tiền mồ hôi nước mắt của chính mình, để tự mua lấy sự công bằng cho bản thân!"

Đỗ Hoài Nam đứng sững sờ giữa luồng ánh sáng vàng vọt, ấm áp của ngọn đèn dầu lạc. Cơn đau nhức nhối như xé thịt xé da nơi hai huyệt Phế Du và Tâm Du dường như đã bị một dòng nhiệt lưu ấm nóng, cuồn cuộn trào dâng từ tận đáy lòng xua tan đi từ lúc nào không hay.

Nhìn ba mươi hai dải vải thô in hằn những vết điểm chỉ bằng máu tươi đang nằm ngay ngắn bên cạnh chiếc hòm gỗ sồi đầy ắp tiền đồng, Nam hiểu rằng em gái mình đã không còn là đứa trẻ thơ dại cần anh phải che chở nữa. Cô gái ấy, cùng với những người thợ nhuộm lam lũ của bến nước quê hương, đã tự mình đứng dậy, trở thành một điểm tựa vững chãi như bàn thạch cho sự tồn vong của hàng trăm số phận con người.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories