Một trang đem ra ánh sáng
Gió lạnh từ sông Cửu Hà thốc qua vòm cổng đá xám của Tòa Khế Tĩnh Giang, cuốn theo hơi nước tanh nồng của bến cá sớm và mùi tro than chưa tàn từ các thuyền buôn neo đậu dọc triền đê. Những dải gió buốt luồn lách qua từng khe nứt trên mặt tường thành phủ, đập phần phật vào tấm bảng niêm yết bằng gỗ lim đen trơ trọi cắm bên hông cửa tả.
Mép giấy bản vừa dán bằng hồ nếp sũng nước còn ướt rượt, dán đến đâu hơi sương sớm ngấm vào làm nhũn đến đấy, khiến rìa giấy quăn tít lại dưới từng cơn gió hun hút từ bến Nam Môn dội thẳng vào lòng thành. Đỗ Hoài Nam quỳ một gối trên phiến đá lát ẩm lạnh, ngón tay cái miết thật chậm dọc theo thớ giấy dâu tằm thô ráp. Anh miết từ góc trên bên phải, kéo một đường thẳng tắp xuống góc dưới, ép cho lớp hồ sánh đặc dàn đều dưới mặt giấy, không để sót lại lấy một bong bóng khí nhỏ nhất. Động tác của anh tỉ mỉ, cẩn trọng như thể đang vuốt thẳng một tờ công văn giải ngân sinh cơ cơ mật trong kho lưu trữ, dẫu cho từng ngón tay lúc này đã tê cóng vì gió rét và cặn hồ nếp bắt đầu khô cứng bám trắng vào kẽ móng.
Ngay phía sau lưng anh chưa đầy ba bước, hai tên sai dịch thuộc Ban Giám sát Nha môn phủ Tĩnh Giang đứng sừng sững tựa lưng vào cột đá hoa cương chống mái hiên. Chúng khoác áo giáp da trâu nhuộm đen, ngực thêu hình mắt ưng chắp cánh của ty chấp pháp, bên hông lủng lẳng những ống lệnh bằng đồng thau và xích sắt khóa tay. Hai cánh tay chúng khoanh chặt trước ngực, ánh mắt lạnh tanh không một tia cảm xúc, soi mói từng cử động nhỏ nhất nơi bờ vai, cánh tay và hơi thở của Nam. Bảy ngày quản thúc tư pháp theo lệnh của Ty Chấp Khế đồng nghĩa với việc từng bước chân anh rời khỏi phòng trọ, từng ngụm nước anh uống, từng tờ giấy anh chạm vào đều nằm dưới sự giám sát nghiêm ngặt của những cặp mắt quen mùi ngục tối này. Chúng không ngăn anh dán bảng, bởi điều lệ tố tụng công khai của Tòa Khế cho phép đương sự có quyền niêm yết giải trình sơ bộ trước phiên đối chất ba ngày, nhưng ánh mắt chúng nhìn anh chẳng khác nào nhìn một kẻ đang tự tay thắt thòng lọng vào cổ mình.
Cách đó chừng mười bước chân, dưới mái hiên ngói cong đã ám khói đen kịt của quán trà sớm đối diện cổng công đường, Tạ Bách ngồi một mình bên chiếc bàn gỗ mộc thô sơ. Vị hội chủ Liên hội Vận thương khoác chiếc áo choàng lông cừu viền lụa sẫm màu, hai bàn tay thô ráp ôm lấy chiếc bát sành men da lươn bốc khói nghi ngút. Ông không uống vội, chỉ thỉnh thoảng khẽ nhấp một ngụm trà đắng chát, ánh mắt sắc lẹm như lưỡi dao cạo giấu sau hàng mày rậm rạp, chăm chú quét qua từng tốp người đi chợ sớm, những phu xe đẩy, những người gánh rau và đám thợ thuyền đang lục tục kéo nhau qua cổng vòm. Đôi mắt lão luyện của một kẻ lăn lộn ba mươi năm trên sông nước nhận ra từng dấu hiệu bất thường nhỏ nhất trong nhịp thở của góc phố: bước chân của đám người đi đường đang chậm dần lại, những cái ngoái đầu tò mò dồn về phía bảng gỗ, và một luồng khí ngột ngạt vô hình đang bắt đầu nén chặt dưới vòm trời xám xịt của buổi bình minh.
Tấm bảng gỗ lim sáng nay không dán một lá đơn tố cáo thông thường.
Không có những dòng chữ ngoằn ngoèo kể lể nỗi oan khiên ngút trời, không có những thán từ thống thiết kêu cầu trời cao có mắt, cũng chẳng có một lời oán thán nào về sự tàn độc của Chưởng khế Lương Trạch hay sự mục ruỗng của bộ máy nha môn. Trải dài trên suốt mặt bảng là ba tờ giấy dâu tằm khổ lớn, loại giấy chuyên dụng dày dặn của giới thư lại trung cấp, mực đen sắc sảo và ngay ngắn như những cọc tiêu cắm thẳng giữa lòng sông. Từng dòng chữ, từng con số được phân bổ rành mạch vào các ô, các cột theo đúng chuẩn mực của thể thức kiểm toán độc lập—một văn phong khô khốc, chuẩn xác đến tàn nhẫn mà bà Mẫn, cựu thư lại trưởng Tòa Khế, đã đích thân dùng chiếc thước gỗ gõ đầu Nam, bắt anh thức trắng đêm chỉnh sửa từng nét bút trong căn nhà xiêu vẹo ngập ngụa mùi nấm mốc ở Hẻm Giấy Vụn.
"Muốn đánh rách mặt một kẻ quyền thế, đừng dại dột ném vào mặt hắn một nắm bùn," giọng nói khàn đặc, khô khốc của bà Mẫn giữa canh tư đêm qua, khi ngọn đèn dầu lạc chỉ còn le lói một chấm đỏ quạch, dường như vẫn còn văng vẳng bên tai Nam theo từng cơn gió lạnh. "Ngươi ném bùn, hắn chỉ cần lấy khăn lụa lau đi là xong, rồi quay lại gán cho ngươi cái tội phỉ báng công quyền, chém đầu ngươi thị chúng giữa chợ. Bùn đất trôi đi rất nhanh, nhưng con số thì không. Ngươi phải ném ra một con số. Con số không biết khóc lóc, không biết thù hận, nó không mang cảm xúc của một đứa trẻ mồ côi hay một người thợ nhuộm mù lòa, nhưng một khi đã găm vào mắt người ta, nó có thể bẻ gãy khớp xương của những kẻ đang chễm chệ ngồi trên ghế bọc da cọp."
Bà Mẫn đã thẳng tay gạt phăng bản thảo sơ khai dày cộp mà Nam thức trắng hai ngày để viết, nơi anh gom góp toàn bộ ba mươi hai bộ hồ sơ của phường nhuộm Bến Lau với hàng trăm chữ ký điểm chỉ bằng máu. Bà bắt anh thu gọn lại, cô lập thành một nhánh nhỏ duy nhất: một chuỗi chuyển nợ điển hình, khép kín và không thể chối cãi gồm ba người thợ nhuộm thuộc xưởng chàm Hạ Bến.
Nhưng điều kỳ lạ và gây chấn động nhất đập vào mắt người xem lại nằm ở những khoảng trống. Trên khắp ba trang giấy dâu tằm, toàn bộ tên tuổi thật của ba người thợ, tên cha mẹ, quê quán, cùng mọi chi tiết liên quan đến chứng bệnh ho ra máu, ngày tháng nhập viện, số lượng mẫu máu bệnh án lưu trữ tại Y quán công Tĩnh Giang đều đã bị Nam dùng một chiếc chổi lông nhúng mực tàu quét thành những vệt đen dày đặc, phẳng lì và vuông vức.
Dưới mỗi vệt mực đen kịt ấy, chỉ còn trơ lại những ký hiệu cơ học vô hồn: [Đương sự A-01], [Đương sự A-02], [Đương sự A-03]. Và ngay phía dưới chân mỗi bảng biểu, một dòng trích dẫn pháp lý viết bằng lối chữ chân phương sắc bén đập thẳng vào mắt người đọc: *Tuân thủ Điều 7 Khoản 3 Quy chuẩn Bảo mật Bệnh tịch và Quyền Riêng tư Thể chất Cửu Hà — Nghiêm cấm công khai thông tin bệnh lý cá nhân khi chưa có phán quyết tước quyền dân sự của Tòa Khế.*
"Che đi bệnh án là để cứu chính mạng sống của họ," Nam lẩm bẩm trong miệng, hơi thở phả ra làn khói trắng mỏng manh khi ngón tay anh miết tới góc mép giấy cuối cùng. Nếu để lộ danh tính thật và mẫu máu mang mầm bệnh phong thấp hoại tử của ba năm trước, ba người thợ ấy sẽ không bao giờ có cơ hội bước vào công đường. Xã hội phàm nhân lẫn giới tu sĩ cấp thấp ở Tĩnh Giang sẽ lập tức xem họ như những mầm độc di động, xua đuổi họ khỏi các xưởng thợ, thiêu rụi lều lán của họ trước cả khi Thẩm khế Tống Nhược Thủy kịp gõ chiếc búa gỗ thụ lý hồ sơ.
Thế nhưng, ngoại trừ những vệt đen che chắn thân phận ấy, toàn bộ phần còn lại của văn bản lại phơi bày trần trụi đến mức rợn tóc gáy.
Bằng ba cột số liệu đối chiếu song song chạy dọc từ trên xuống dưới, bản giải trình vạch rõ từng khớp nối cơ học tinh vi của một cỗ máy bòn rút sinh cơ khổng lồ:
Cột thứ nhất ghi rõ mã số kiểm định vận đơn và lượng hao hụt sinh cơ thực tế của năm bình đồng mã hiệu từ ĐK-Sinh-094 đến ĐK-Sinh-098 cập bến Bến Lau vào ngày mười bốn tháng Hai âm lịch vừa qua. Mỗi bình đồng đều bị hụt chuẩn xác ba chỉ mười hai khắc linh sinh cơ lỏng, tổng cộng mười sáu chỉ linh sinh cơ biến mất không dấu vết, dù rằng lớp chì niêm phong mang ký hiệu hoa cúc của Đoan Kiều Thương Hội trên nắp bình vẫn còn nguyên vẹn, không hề có dấu vết cạy phá hay đục khoét cơ học.
Cột thứ hai là trích lục lộ trình và thời gian biểu của chiếc xe công vụ mã hiệu TG-Nội-04 thuộc Nha môn phủ Tĩnh Giang. Chiếc xe bọc sắt này bí mật rời trạm kiểm soát Bến Lau vào đúng canh ba đêm mười bốn, mang theo một chiếc hòm khế ước bọc da bìa đỏ, vượt qua ba trạm gác đêm mà không bị kiểm tra nhờ lệnh bài ưu tiên của Chưởng khế.
Và cột thứ ba—nhát dao chí mạng cắm thẳng vào tim đen của hệ thống hành chính phủ Tĩnh Giang—chính là ngày giờ xác lập các tờ phụ lục bảo lãnh đính kèm: rạng sáng ngày mười lăm tháng Hai. Tức là chỉ chưa đầy hai canh giờ sau khi cỗ xe công vụ TG-Nội-04 lăn bánh qua cổng thành Tĩnh Giang, con dấu sắt lưu động số mười bốn của Kho Muối Hạ Nham đã được đóng đè lên các trang giấy trắng tinh chưa hề viết chữ, gắn toàn bộ nghĩa vụ hoàn trả món nợ hai mươi năm thọ mệnh của tán tu Tống Lăng lên đầu ba người thợ nhuộm vô danh [Đương sự A-01], [Đương sự A-02] và [Đương sự A-03].
Hai mốc thời gian trùng khớp với nhau hoàn hảo tới từng khắc đồng hồ cát. Mã số hao hụt từ bến sông hẻo lánh Bến Lau ăn khớp từng nét gạch với mã số chuyển khoản ngầm đổ thẳng vào tài khoản dự phòng của Sinh Khố phủ Tĩnh Giang mang mã hiệu TG-NhaMôn-009—một tài khoản đặc biệt nằm dưới quyền kiểm soát và chuẩn chi tuyệt đối của Chưởng khế Lương Trạch.
Tiếng xì xào ban đầu chỉ là những lời thì thầm rời rạc của vài người phu khuân vác đang đặt đòn gánh xuống đất nghỉ chân, nhưng rồi nó nhanh chóng bắt lửa, bùng lên như một vệt dầu loang gặp đóm tàn giữa trưa nắng hanh.
"Khoan đã... nhìn cái dòng này xem!" Một tán tu trung niên trạc ngoài bốn mươi, khoác bộ đạo bào màu lam đã rách tơi tả ở gấu áo, bên hông lủng lẳng một thanh phi kiếm hoen gỉ không có bao, chen lấn qua đám đông bước lên phía trước. Đôi mắt đỏ ngầu vì thiếu ngủ của gã dán chặt vào hàng chữ số ở cột thứ nhất, ngón tay run rẩy chỉ vào mặt giấy: "Mã kiểm vận tàu 772... Ngày mười bốn tháng Hai! Đúng là hôm đó rồi! Hôm đó ta chực sẵn ở trạm bến sông suốt từ sáng đến tối mịt để mua hai giọt sinh cơ duy trì kinh mạch, vậy mà quản sự bảo hàng bị tắc ở thượng nguồn, giá sinh cơ chợ đen lập tức vọt lên gấp rưỡi! Hóa ra không phải tắc đường! Bọn chúng rút ruột bình vận chuyển ngay tại bến để đắp vào kho ngầm của nha môn!"
"Không chỉ có thế đâu, các người nhìn cho kỹ cái mã [TG-NhaMôn-009] này đi!" Một chủ tiệm gốm phố Nam, người béo lùn, mặc áo lụa xám có hoa văn chìm, chen lấn đẩy mấy người phu phen ra một bên, đôi mắt ti hí đảo lia lịa trên bảng tính đối chiếu. Giọng ông ta bỗng the thé cất lên, run rẩy vì kinh hãi: "Đây... đây chẳng phải là mã tài khoản bảo chứng ghi trên các tờ kỳ phiếu 'Tích Lũy Diên Thọ' sao? Tháng trước Sinh Khố phát hành đợt kỳ phiếu mới, cam đoan lợi tức ba phần mười mỗi năm bằng sinh cơ nguyên chất, họ rêu rao khắp các phố rằng nguồn thu được bảo chứng bằng khế ước sản xuất vững chắc của các phường thợ thủ công... Hóa ra là khế ước ma! Họ dùng giấy trắng đóng dấu khống, ép đám thợ nhuộm gánh nợ thay cho bọn tán tu vỡ nợ, rồi lấy cái sinh cơ rút ruột đó ra để trả lãi cho chúng ta!"
Lời bàn tán loang nhanh như một cơn lốc quét qua mặt nước sông mùa cạn.
Giới tu sĩ cấp thấp ở thành Tĩnh Giang vốn sống lay lắt dựa vào những giọt sinh cơ nhỏ giọt được mua bằng bạc vụn hoặc vay mượn từ các quỹ công để duy trì cảnh giới Dẫn Tức, kéo dài thêm vài ba năm tuổi thọ còm cõi. Còn giới hộ thương, các phường thủ công buôn thúng bán mẹt thì chắt bóp từng đồng tiền lời từ hạt muối, manh áo, dốc cạn vốn liếng cả đời để mua những tờ giấy hoa tiên mang tên kỳ phiếu Diên Thọ của Sinh Khố, ôm ấp hy vọng khi cha mẹ già yếu hay bản thân lâm trọng bệnh có thể đổi lấy một bình linh dịch kéo dài mạng sống. Suốt hàng chục năm qua, họ sống trong niềm tin tuyệt đối vào vẻ ngoài uy nghiêm của Tòa Khế, tin vào sự bảo chứng thiêng liêng không thể lay chuyển của những con dấu chu sa đỏ chót và danh tiếng lẫy lừng của Thanh Đài Tông bảo trợ phía sau.
Nhưng ba trang giấy dán trên bảng niêm yết sáng nay đã xé toạc tấm rèm nhung lộng lẫy ấy. Bản đối chiếu không hề thóa mạ ai, không hề dùng một từ ngữ kết tội hồ đồ; nó chỉ đặt hai mặt giấy cạnh nhau, lạnh lùng chỉ ra một sự thật trần trụi: sinh cơ không tự nhiên sinh ra từ các pháp trận huyền diệu, và cũng không tự nhiên sinh sôi từ các bản khế ước lấp lánh con dấu—nó bị rút ruột trực tiếp từ cuống họng của những người thợ nhuộm khốn cùng nơi bến sông xa xôi để làm đẹp những con số thặng dư trên bàn sổ sách của nha môn.
"Đến Sinh Khố! Mau đến Sinh Khố kiểm tra lại sổ tiền gửi!" Một tiếng hô xé họng vang lên từ góc ngã tư.
"Rút bạc về! Rút cả kỳ phiếu sinh cơ ra mau! Khế ước ma thế này thì quỹ vỡ nợ đến nơi rồi! Để trễ là mất trắng!"
Đám đông bắt đầu chuyển động như một đàn kiến vỡ tổ. Ban đầu chỉ là vài chục người hoảng hốt rảo bước, rồi tiếng gọi nhau, tiếng đập bàn tính, tiếng người nọ truyền tai người kia biến thành một dòng thác cuồn cuộn đổ dồn về phía đại lộ dẫn tới Sinh Khố phủ Tĩnh Giang. Tiếng gậy gộc gõ cồm cộp xuống mặt đường lát đá, tiếng la hét giục giã, tiếng bước chân rầm rập làm kinh động cả một góc thành phủ vốn còn đang ngái ngủ trong sương sớm.
Hai tên sai dịch giám sát đứng sau lưng Nam biến sắc. Một tên nghiến răng ken két, bàn tay đặt lên chuôi đao siết chặt đến trắng bệch các khớp ngón, hạ giọng đe dọa qua kẽ răng: "Đỗ Hoài Nam, ngươi to gan lắm. Dám đem sổ sách nội bộ ra bêu riếu giữa bàn dân thiên hạ. Ngươi tưởng Tòa Khế sẽ mở cửa cho ngươi kiện cáo sau cái trò bẩn thỉu này sao? Ngươi không muốn sống nữa rồi, ngươi đang tự đào mồ chôn cả cái phường Bến Lau của ngươi đấy!"
Nam không đáp lại một lời. Anh bình thản cúi người nhặt chiếc ống tre đựng hồ nếp dán dở, cẩn thận đậy nút bần lại rồi cài vào thắt lưng. Ngón tay anh vô thức chạm vào vết thương rách toạc nơi hai huyệt Phế Du và Tâm Du sau lưng qua lớp áo vải thô. Cơn đau âm ỉ nhói buốt như có hàng ngàn mũi kim châm nung đỏ nhắc nhở anh về cái giá khủng khiếp mà anh đã phải trả để bước được tới đây. Anh quay đầu nhìn về phía quán trà. Tạ Bách vẫn ngồi đó, nhưng bát trà trên tay người thương nhân già dặn đã nguội ngắt từ lúc nào. Đôi mày rậm của Tạ Bách nhíu chặt lại thành một rãnh sâu hoắm, ánh mắt nhìn theo dòng người đang cuồng loạn lao đi như thiêu thân với một vẻ âu lo sâu sắc đến nghẹt thở.
Sự thật đã được ném ra ngoài ánh sáng. Nhưng thứ ánh sáng ấy chói gắt và tàn bạo đến mức nó bắt đầu thiêu đốt cả những thứ mà Nam chưa từng tính đến trong những cột biểu ngay ngắn của mình.
***
Chưa đầy hai canh giờ sau, hậu quả của cú sốc thông tin bắt đầu giáng xuống các tầng đáy của phủ Tĩnh Giang theo cách khốc liệt và tàn nhẫn nhất.
Cơn hoảng loạn rút vốn lan truyền như dịch bệnh mùa hè. Hàng trăm nhà đầu tư nhỏ—những người nông dân cắn răng bán nửa mẫu ruộng hương hỏa, những tiểu thương ky cóp từng đồng tiền lời từ mẹt rau, gánh bún, những tán tu vét sạch viên linh thạch hạ phẩm cuối cùng—đồng loạt kéo đến vây kín tiền sảnh bằng đá xanh của Sinh Khố phủ Tĩnh Giang. Tiếng đập cửa rầm rầm vào cánh cổng sắt kiên cố, tiếng gào khóc thảm thiết đòi lại tiền gốc xé toạc bầu không khí trang nghiêm thường ngày của cơ quan quản lý tài chính lớn nhất phủ thành.
Để bảo toàn thanh khoản và ngăn chặn nguy cơ sụp đổ dây chuyền có thể đánh sập cả hệ thống tín dụng của toàn phủ, ban điều hành Sinh Khố, dưới sự chỉ đạo khẩn cấp từ phòng Chưởng khế, lập tức kích hoạt điều khoản phong tỏa cấp độ hai. Toàn bộ các dòng tiền lưu động giải ngân ra bên ngoài bị cắt đứt tức thì. Tất cả các két sắt bị niêm phong bằng bùa chú, các lệnh chi trả đều bị đình chỉ vô thời hạn.
Và mắt xích đầu tiên bị nghiền nát vụn vỡ dưới bánh xe thanh khoản tàn nhẫn ấy lại là Y quán Cứu Trợ Tế Dân—một cơ sở y tế liên kết nằm khuất sâu trong một con hẻm ẩm thấp nối liền khu phố nghèo ven sông với thành nội.
Y quán này vốn dĩ không tự chủ được tài chính, nó hoạt động dựa trên một hợp đồng cấp dưỡng sinh cơ định kỳ từ Sinh Khố phủ thành để thu mua thảo dược, chưng cất cao thuốc, duy trì các bình dẫn dịch cầm cự sự sống và phát thuốc miễn phí cho hàng trăm phàm nhân nghèo khổ mắc các chứng nan y không có tiền mua đan dược đắt đỏ của các tông môn tu tiên. Khi dòng tiền lưu động bị nha môn khóa chặt để ưu tiên chi trả cho các chủ nợ lớn có thế lực nhằm dập tắt bạo loạn ở tiền sảnh, kho dược của Y quán Tế Dân lập tức cạn kiệt chỉ sau một buổi sáng.
"Đình chỉ phát thuốc! Tất cả các toa thuốc cầm chừng hôm nay tạm thời đình chỉ theo lệnh của nha môn!"
Tiếng gõ la đà vang lên cùng lời thông báo như sét đánh ngang tai phát ra từ sau cánh cửa gỗ lim khép chặt của y quán. Bên ngoài khoảng sân hẹp, hàng chục con người tiều tụy, áo quần rách rưới đang dìu dắt, cõng bế người thân nằm la liệt trên những chiếc chõng tre bỗng chốc ngơ ngác. Rồi trong chớp mắt, sự ngơ ngác ấy vỡ òa thành nỗi bàng hoàng và tuyệt vọng tột cùng.
Đỗ Hoài Nam đang trên đường cùng Hoài An trở về gian kho chứa vải mộc của Liên hội Vận thương để chuẩn bị tài liệu cho buổi làm việc tiếp theo với Tạ Bách thì bị chặn đứng lại ngay tại ngã ba hẻm Vải Mộc.
Gió từ con ngõ chật hẹp thốc ra mùi nước thuốc sắc dở hăng hắc quyện với mùi tanh tưởi của mủ, máu và mùi hôi hám của những manh chiếu ẩm mục. Chắn ngang lối đi duy nhất của hai anh em không phải là binh lính giáp đen của Ty Chấp Khế, cũng chẳng phải những sát thủ mang phù lôi trận giết người không chớp mắt, mà là một nhóm hơn hai mươi con người lam lũ, mắt đỏ sọc, tay lăm lăm đòn gánh, gậy gộc và những thanh củi gãy nhặt vội bên đường.
Dẫn đầu là một người đàn ông trung niên vạm vỡ nhưng mặt mày xám ngoét vì bụi than, trên người vẫn còn khoác chiếc tạp dề da trâu rách tơi tả của thợ rèn. Đôi mắt trũng sâu của ông ta trợn trừng, long lên những tia máu sòng sọc, cánh tay gân guốc chĩa thẳng chiếc búa gõ xỉ gỉ sét vào mặt Nam.
"Là hắn! Chính là cái thằng kiểm sổ khốn kiếp này!" Tiếng thét của người thợ rèn vỡ òa ra, nghẹn ngào trong sự phẫn uất man dại. "Sáng nay chính mắt tao thấy mặt nó dán giấy ở Tòa Khế! Tên nó rành rành ở góc bảng: Đỗ Hoài Nam!"
Đám đông lập tức dồn tới như một đàn ong vỡ tổ, tạo thành một vòng vây nghẹt thở trong con hẻm chật hẹp chỉ vừa hai cỗ xe ngựa tránh nhau. Những gương mặt hốc hác, nhơ nhuốc nước mắt và cáu bẩn mồ hôi siết chặt vòng vây, từng hơi thở phập phồng mang theo sự tuyệt vọng của những kẻ bị dồn vào chân tường.
"Các vị, xin hãy bình tĩnh nghe tôi giải thích một lời—" Nam vội giơ hai tay lên ngang ngực, lùi nửa bước, cất giọng cố giữ vẻ điềm đạm tối đa.
"Bình tĩnh cái con mẹ mày!" Một phụ nữ gầy rộc như một bộ xương khô bọc da lao vụt ra từ đám đông, chiếc đòn gánh tre trên tay bà ta run lẩy bẩy, đầu tóc rũ rượi xõa xượi che nửa khuôn mặt méo mó. "Mày bới móc sổ sách làm cái gì? Mày vạch trần khống với thật để làm cái gì hả thằng sát nhân? Con gái tao đang nằm thở thoi thóp trong kia kìa! Nó bị chứng phế nhiệt tắc nghẽn, chỉ chờ mỗi ngày nửa bát cao sinh cơ của y quán để giữ lấy hơi tàn! Vừa nãy người ta tống cổ mẹ con tao ra đường vì bảo Sinh Khố bị rút sạch vốn, y quán hết tiền nhập thuốc! Mày cứu ai tao không biết, nhưng mày vừa tự tay bóp chết con gái tao rồi!"
"Đúng! Đồ rỗi việc hại người!" Một lão già ôm bọc chiếu rách bên trong phát ra tiếng thở khò khè yếu ớt như tiếng kéo bễ hỏng gào lên trong nước mắt. "Chúng tao sống yên ổn bấy lâu nay, có nợ nần gì chúng tao tự còng lưng ra kéo cày trả nợ! Mày từ đâu đến xới tung cái phủ này lên, làm người ta đóng cửa y quán, cắt đứt đường sống của cả xóm này!"
"Không phải như các bác nghĩ đâu!" Hoài An hoảng hốt bước vội lên chắn trước mặt anh trai, hai bàn tay còn loang lổ những vệt chàm xanh xòe ra che chắn, giọng cô run rẩy nhưng cố hét lớn: "Anh tôi làm vậy là để cứu những người thợ nghèo bị gài bẫy cưỡng đoạt mạng sống! Thủ phạm cắt thuốc của mọi người là Sinh Khố, là nha môn ăn chặn tiền—"
"Chúng tao không cần biết đứa nào ăn chặn!" Người thợ rèn gầm lên, nỗi đau đớn mất con biến thành ngọn lửa bạo lực mù quáng thiêu đốt mọi lý trí. "Chúng tao chỉ biết trước khi cái bản giấy rách của nó dán lên cổng thành, con tao vẫn có thuốc uống để sống! Giờ không có thuốc, con tao phải chết! Đánh chết mẹ nó đi!"
Chiếc búa thợ rèn nặng trịch xé gió bổ thẳng xuống.
Nam theo phản xạ đẩy mạnh Hoài An ra phía sau bờ tường, nghiêng người né tránh. Cạnh sắt sắc nhọn của chiếc búa sượt qua bờ vai anh, giáng một đòn nặng nề làm rách toạc lớp áo, đập mạnh vào xương quai xanh khiến anh lảo đảo ngã nghiêng. Ngay lập tức, gậy gộc, đòn gánh và những hòn đá tảng nhặt ven rãnh nước trút xuống như mưa rào.
*Bốp!*
Một thanh củi gụ đập trúng trán Nam. Da thịt toạc ra, máu tươi nóng hổi lập tức trào xuống, che mờ một bên mắt trái của anh trong một màn sương đỏ quạch. Cơn đau nhức nhối quen thuộc từ hai huyệt Phế Du và Tâm Du sau lưng bị chấn động mạnh rách toạc ra, khiến khí huyết trong ngực Nam cuộn trào dữ dội như sóng cồn. Một ngụm máu tanh tưởi trào ngược lên tận cuống họng, đắng ngắt nơi đầu lưỡi.
Bên hông Nam, thanh đoản côn gỗ lim bịt sắt—thanh gậy mới được Lục Sâm tỉ mỉ gia cố lại bằng lõi thép đặc—đang nằm im lìm trong đai lưng vải thô.
Chỉ cần rút thanh đoản côn ấy ra, dù kinh mạch đang tổn thương nặng nề, với bộ pháp né đòn và kỹ thuật điểm huyệt mà Kỷ Vân đã truyền dạy suốt những tháng ngày rèn luyện, Nam hoàn toàn có thể đánh gãy xương bánh chè của ba kẻ dẫn đầu trong chớp mắt để mở toang một đường máu thoát thân. Không một kẻ phàm trần nào trong số họ có thể chạm được vào vạt áo anh nếu anh quyết định phản kích.
Nhưng bàn tay Nam run rẩy chạm vào chuôi gậy, rồi dứt khoát buông lỏng ra.
Đây không phải là sát thủ mang giáp đen của Ty Chấp Khế. Đây không phải là lũ tay sai máu lạnh mang phù lôi trận đoạt mạng người ở bến sông. Họ chỉ là những người cha, người mẹ cùng quẫn, những kẻ đang phát điên lên vì nhìn thấy mạng sống của đứa con mình, người thân mình đứt dần từng khúc ruột ngay trước mắt mà hoàn toàn bất lực.
Họ vung gậy gộc đánh anh không phải vì họ đứng về phe Lương Trạch, không phải vì họ bảo vệ sự gian trá của nha môn, mà vì sự thật trần trụi mà anh vừa ném ra đã đập vỡ tan tành cái bát thuốc duy nhất giữ lại hơi thở lay lắt cho gia đình họ.
Nam cắn chặt răng đến bật máu môi, đưa hai cánh tay lên ôm chặt lấy đầu, cong lưng chịu trận. Từng nhát gậy, từng đòn gánh nện xuống bả vai, lưng và mạng sườn anh vang lên những tiếng *thịch, thịch* nặng nề, ghê rợn. Vết rách trên trán túa máu ròng ròng, nhuộm đỏ cả vạt áo vải thô màu nâu nhạt, nhỏ từng giọt đặc quánh xuống những phiến đá ẩm ướt dưới chân.
"Anh Nam! Dừng lại! Xin mọi người dừng tay lại!" Tiếng Hoài An khóc thét lên xé lòng, cô gái nhỏ bất chấp hiểm nguy lao xổ vào ôm chặt lấy lưng anh trai, dùng chính tấm thân mảnh dẻ của mình để che chắn những lằn gậy hung hãn đang giáng xuống.
"Tránh hết ra cho ta!"
Một tiếng quát vang rền như sấm sét rạch ngang con hẻm hẹp, kèm theo tiếng roi da ngựa quất vun vút chát chúa trên đầu tường vôi.
Tạ Bách dẫn theo năm người phu thuyền vạm vỡ của thương hội, tay lăm lăm chèo gỗ bản lớn và dây xích neo thuyền xông thẳng vào đám đông hỗn loạn. Thân hình to lớn như hộ pháp của người thương nhân họ Tạ lao vào như một cỗ xe bọc thép, gạt phăng những chiếc đòn gánh đang giáng xuống, cánh tay sắt đẩy dạt đám người nhà bệnh nhân dạt sang hai bên mép cống rãnh.
"Lũ mù quáng này! Dừng tay lại trước khi ta cho người trói gông từng đứa ném xuống sông Cửu Hà cho cá rỉa!" Tạ Bách gầm lên giận dữ, thanh đao ngắn bên hông tuốt phắt ra nửa tấc, ánh thép sắc lạnh lóe lên dưới ánh sáng ban trưa khiến đám đông thợ thuyền chùn bước, khựng lại trong giây lát.
Hai tên sai dịch nha môn bám đuôi Nam từ sáng lúc này cũng vừa thong thả rảo bước tới đầu ngõ. Nhưng chúng tuyệt nhiên không rút đao, chỉ đứng khoanh tay tựa lưng vào gốc cây liễu rủ, khóe môi nhếch lên một nụ cười khẩy đầy ác độc nhìn cảnh tượng hỗn loạn. Đối với nha môn phủ Tĩnh Giang, việc kẻ tố cáo cứng đầu này bị chính đám dân nghèo đánh chết tươi ở đây sẽ là một kết cục hoàn hảo, tiện lợi và êm thấm nhất mà chúng có thể trông đợi.
Nam ngã quỵ xuống nền đá lạnh lẽo, một tay chống đất để giữ cho cơ thể không đổ sụp, hơi thở đứt quãng phì phò qua kẽ răng nhuốm đầy máu tươi. Hoài An quỳ sụp bên cạnh anh, hai tay run rẩy giật phăng dải khăn chàm trên đầu xuống, gấp vội lại rồi ấn chặt vào vết rách sâu hoắm trên trán anh. Nước mắt cô giàn giụa, nhỏ từng giọt nóng hổi lên mu bàn tay bê bết bụi đất của anh trai.
Đám người nhà bệnh nhân dù bị đẩy lùi nhưng vẫn không hề giải tán. Họ đứng ken đặc ở hai đầu con hẻm, những cặp mắt căm hờn, hoảng loạn và tuyệt vọng vẫn găm chặt vào Nam như những mũi tên độc. Người thợ rèn thở hồng hộc, mũi búa sắt hạ xuống chạm đất nhưng lồng ngực phập phồng dữ dội như ống bễ lò than:
"Các người có tiền, có bè cánh, có tàu to buôn lớn, các người muốn làm trời làm đất gì ở cái phủ này cũng được! Nhưng con tao... con bé chỉ còn sống được đến tối nay thôi! Chúng mày cướp mất bát thuốc của nó, chúng mày đền mạng lại cho con tao đi!"
"Chúng tôi không hề cướp thuốc của ai cả!" Hoài An đứng bật dậy, toàn thân cô run lên bần bật vì phẫn nộ và đau xót, nhưng giọng nói đanh lại, vang vọng khắp con ngõ hẹp. "Các bác mở mắt ra mà nhìn xem! Anh tôi bị các bác đánh đến tóe máu đầu, máu chảy ròng ròng thế này, anh ấy có rút gậy ra đánh trả lại một ai trong các bác không? Nếu anh tôi là kẻ xấu muốn hại người, anh ấy đã mang theo tuần đinh xông vào bắt bớ, đập phá nhà các bác rồi! Chúng tôi đến đây không phải để cướp thuốc của con bác!"
Tạ Bách tiến lên một bước dài, hạ giọng gằn từng tiếng sắc như dao chém vào mặt người thợ rèn: "Lão Đoan, ngươi làm thợ rèn ở phố Đông ba mươi năm nay, chẳng lẽ trong đầu ngươi không có nổi một chút óc để suy nghĩ hay sao? Thuốc của Y quán Tế Dân bị cắt là do Chưởng khế Lương Trạch ra lệnh phong tỏa toàn bộ ngân quỹ để bịt miệng các nhà đầu tư lớn trên phố! Nếu thằng nhóc này không vạch trần vụ án Bến Lau, thì nội trong tháng sau, cái Sinh Khố mục nát đó cũng sẽ tự vỡ nợ, và lúc đó không chỉ riêng con ngươi mất thuốc, mà toàn bộ mạng sống của cả cái xóm này cũng sẽ bị bọn chúng siết nợ sạch sành sanh!"
Người thợ rèn họ Đoan sững sờ. Chiếc búa thợ rèn trên tay ông ta run rẩy, ánh mắt dao động dữ dội nhìn vệt máu đỏ tươi đang loang lổ trên mặt đất dưới chân Nam, rồi nhìn sang gương mặt tái mét nhưng kiên định của Hoài An.
Nam khó nhọc nâng người dậy, một bàn tay bám chặt vào bờ tường vôi mốc meo để lấy điểm tựa. Anh khẽ gạt bàn tay đang run rẩy của em gái ra, chậm rãi, từng chút một đứng thẳng lưng lên. Máu từ vết rách trên trán vẫn rỉ qua lớp vải chàm ướt đẫm, chảy dài xuống gò má, vẽ thành một vệt đỏ lòm ghê rợn cắt ngang khuôn mặt hốc hác, nhợt nhạt vì đau đớn.
Anh nhìn thẳng vào mắt lão Đoan, nhìn vào người phụ nữ gầy guộc đang ôm chiếc đòn gánh tre, và nhìn vào manh chiếu rách nát bọc đứa trẻ đang thở những hơi yếu ớt bên vệ đường. Trong đôi mắt sâu thẳm của người kiểm sổ hai mươi tư tuổi lúc này tuyệt nhiên không có một tia oán hận, không có sự giận dữ hay căm phẫn. Chỉ có một nỗi tự trách sâu sắc, buốt nhói đến tận tâm can.
Bà Mẫn đã dạy anh cách sử dụng quy trình pháp lý như một thứ vũ khí tối thượng. Anh đã cẩn thận che giấu bệnh án để bảo vệ quyền riêng tư và danh dự cho ba người thợ nhuộm. Anh đã tính toán chi li từng ngày, từng khắc, từng con số hao hụt để dồn Lương Trạch và bộ máy nha môn vào chân tường không lối thoát. Nhưng anh đã hoàn toàn mù tịt trước một quy luật tàn khốc của đời sống phàm trần: một hệ thống dù có mục nát, gian trá và bòn rút đến đâu, thì bên dưới những kẽ nứt nhơ nhớp của nó, vẫn có hàng ngàn con người khốn cùng đang bám víu vào đó để thở từng hơi thở lay lắt qua ngày.
Khi anh vung búa đập vỡ cái bình chứa đầy độc dược ấy, những mảnh gốm vỡ và những giọt nước độc bắn ra đã làm bỏng rát, làm rách da rách thịt chính những kẻ vô tội đang run rẩy đứng bên dưới chân thành. Anh chỉ chăm chăm đi tìm kiếm một sự thật tuyệt đối trên trang giấy, mà quên mất rằng sự thật khi ném ra trần trụi giữa chợ đời mà không có một phương án dự phòng để che chắn, cũng có thể biến thành một thứ vũ khí tàn sát đồng loại tàn nhẫn không kém gì gươm đao.
"Lão Đoan..." Nam cất tiếng, giọng anh khàn đặc vì ngụm máu ứ trong cổ họng, nhưng từng âm sắc phát ra vẫn rõ ràng, dứt khoát. "Y quán... cần bao nhiêu tiền bạc để mở lại kho dược khẩn cấp hôm nay?"
Lão Đoan ngẩn người ra như kẻ mất hồn, bờ môi khô nứt nẻ mấp máy: "Mày... mày nói cái gì?"
"Tôi hỏi, cần bao nhiêu bạc để các thầy thuốc phát lại thuốc cầm cự cho những ca đang nguy kịch?" Nam lặp lại câu hỏi, ánh mắt phẳng lặng nhìn thẳng vào người thợ rèn, không hề chớp.
Một phụ dược tuổi chừng đôi mươi, mặc áo vải xanh nhạt lấm lem vết thuốc, từ sau cánh cửa hé mở của Y quán Tế Dân rụt rè thò đầu ra. Thấy đám đông đã ngừng ẩu đả và nghe thấy câu hỏi của Nam, cậu ta bèn đánh bạo bước hẳn ra hiên, cất giọng run run: "Chưởng quầy bảo... tiền mua cao sinh cơ thô và dược liệu tán ứ đợt này thiếu hụt đúng ba mươi lượng bạc trắng. Nếu không nộp đủ tiền mặt cho các tiệm thuốc bắc của Thanh Đài Tông ở phố lớn trước giờ Thân để nhập hàng về chưng cất, thì toàn bộ mười tám ca bệnh nặng trong phòng hồi sức sẽ phải rút ống dẫn sinh cơ... Y quán không thể nợ thêm được nữa..."
Ba mươi lượng bạc trắng.
Con số ấy vang lên như một tiếng chuông đồng gióng giữa khoảng không im ắng. Đối với những gia đình phàm nhân lam lũ nơi xóm nghèo này, ba mươi lượng bạc là một gia tài khổng lồ mà cả đời làm lụng, chắt bóp họ cũng chưa từng được chạm tay vào.
Nhưng đối với Hoài An và Nam, con số ấy đại diện cho một thứ còn khủng khiếp hơn thế. Nó là một phần tư chiếc hòm gỗ sồi nặng trịch mà Hoài An và các đại diện thợ nhuộm Bến Lau đã bí mật vượt sông mang vào phủ thành đêm qua.
Hoài An quay phắt lại nhìn anh trai. Đôi mắt trong veo của cô gái thợ nhuộm mở to hết cỡ, thoáng qua một nét bàng hoàng, đau xót, rồi nhanh chóng chuyển thành sự thấu hiểu sâu sắc đến nghẹn lòng.
Chiếc hòm gỗ sồi ấy chứa đựng một trăm bốn mươi lượng bạc lẻ gom góp từ từng góc tủ, sáu vạn đồng tiền kẽm rỉ xanh và toàn bộ số hoa tai, xuyến bạc cũ kỹ của những người phụ nữ làng Bến Lau tháo ra từ trên người mình. Đó là Quỹ tương trợ gom góp ròng rã suốt năm năm trời của hàng trăm con người lam lũ, nhịn ăn nhịn mặc, chắt chiu từng giọt mồ hôi nước mắt để làm chiếc phao cứu sinh duy nhất: nộp khoản tiền bảo toàn rủi ro năm trăm lượng bạc trước ngưỡng cửa Tòa Khế vào sáng ngày mai nhằm mở kho lưu trữ bệnh án cấp phủ.
Nếu rút ra ba mươi lượng bạc ngay lúc này, khoản tiền bảo chứng mà họ gom góp sẽ bị khoét một lỗ hổng chí mạng. Hạn mức bảo lãnh mà Tạ Bách cam kết bằng giá trị các chuyến tàu hàng sẽ phải gánh thêm một gánh nặng ngàn cân, và nguy cơ bị Thẩm khế Tống Nhược Thủy thẳng tay bác bỏ đơn kiện vì không đủ năng lực tài chính bảo đảm rủi ro sẽ tăng lên gấp bội. Mọi công sức, mọi hy vọng của hàng trăm con người Bến Lau có thể sẽ tan tành thành mây khói ngay trước thềm công đường.
"Anh Nam..." Hoài An khẽ gọi, hai bàn tay cô siết chặt lấy quai chiếc túi vải thô đeo bên hông, giọng nghẹn lại nơi cuống họng.
Nam quay sang nhìn em gái. Dưới vệt máu đỏ quạnh đã bắt đầu khô cứng trên trán, ánh mắt anh phẳng lặng và trong veo như mặt nước sông Cửu Hà lúc chiều buông: "An... chúng ta lặn lội đến đây đòi lại sự thật cho Bến Lau là để người dân quê mình không bị tước đoạt sinh mệnh một cách phi lý. Nếu chúng ta giẫm lên xác của mười tám mạng người ở cái hẻm này để bước vào cửa Tòa Khế, thì cuốn sổ đối chiếu mà bác Trần Định giao cho anh... nó cũng chẳng sạch sẽ hơn những bản khế ước khống của Lương Trạch là bao."
Hoài An nhìn sâu vào mắt anh trai suốt mấy nhịp thở dài dằng dặc. Đôi bờ vai nhỏ bé của cô khẽ run lên, rồi một nụ cười nhạt nhưng kiên định, sáng trong nở bừng trên khuôn mặt lấm lem bụi đường. Cô hít một hơi thật sâu, dứt khoát tháo chiếc túi vải thô dày cộp đeo chéo bên hông xuống, bước từng bước vững chãi tới trước chiếc bàn gỗ mộc đặt ngoài hiên y quán.
Trước ánh mắt sững sờ của lão Đoan, của người phụ nữ cầm đòn gánh và hàng chục con người đang nín thở vây quanh, Hoài An kéo mở sợi dây buộc miệng túi. Cô lôi ra một túi gấm thêu hoa đã sờn rách các góc, nặng trịch, rồi dốc ngược xuống mặt bàn.
*Keng! Keng! Rào rào...*
Những thỏi bạc vụn xỉn màu, những mảnh bạc cắt nhỏ bằng hạt tấm, hạt bắp, những chiếc xuyến bạc gãy đôi và hàng chục đồng tiền đồng nhẵn thín vì mồ hôi rơi lộp độp, đổ dồn thành một đống nhỏ sáng lấp lánh dưới ánh nắng nhạt nhòa của buổi trưa phủ Tĩnh Giang.
"Đây là ba mươi lượng bạc trắng trích từ Quỹ tương trợ của phường thợ Bến Lau chúng tôi," giọng Hoài An vang lên rành rọt, từng lời từng chữ như khắc sâu vào tâm khảm của tất cả những người đang có mặt trong con ngõ hẹp. "Số tiền này là mồ hôi, là nước mắt, là tiền bán lúa giống, bán vòng cưới của hàng trăm người thợ nhuộm quê tôi gom góp để đi tìm lại công lý ở nha môn. Hôm nay, chúng tôi cho Y quán Tế Dân mượn số bạc này để mua thuốc cứu mạng người nhà các bác!"
Không gian trong con hẻm Vải Mộc bỗng chốc rơi vào một sự tĩnh lặng chết chóc. Chỉ còn tiếng gió thổi xao xác qua những mái ngói rêu phong và tiếng khóc ngặt nghẽo yếu ớt của đứa trẻ trong bọc chiếu rách.
Lão Đoan đứng chết trân tại chỗ như một pho tượng đá. Chiếc búa thợ rèn nặng trịch trên tay ông ta buông thõng, rơi thẳng xuống nền đá phát ra một tiếng *keng* khô khốc, vang dội. Người phụ nữ gầy rộc ôm đòn gánh ngã quỵ xuống hai đầu gối, chiếc đòn gánh lăn sang một bên, hai bàn tay thô ráp, nứt nẻ bưng chặt lấy mặt, bật ra tiếng khóc nức nở, nghẹn ngào như một đứa trẻ bị bỏ rơi. Những người thợ phu, những người mẹ nghèo xung quanh nhìn đống bạc vụn nhuốm màu chàm xanh trên bàn, rồi nhìn vệt máu đỏ lòm vẫn đang rỉ ra từ trán Nam, đồng loạt cúi gằm mặt xuống. Không một ai dám ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt hai anh em họ Đỗ thêm một lần nào nữa.
Tạ Bách khẽ thở dài một tiếng nặng trĩu, lắc đầu bước tới bên bàn. Ông rút từ trong ngực áo ra một tờ giấy hoa tiên và chiếc bút lông nhỏ mang theo bên mình, trải phẳng phiu lên mặt bàn: "Lập biên bản giao nhận ngay tại chỗ. Ba mươi lượng bạc này là khoản ứng cứu khẩn cấp từ Quỹ tương trợ thợ nhuộm Bến Lau cho Y quán Cứu Trợ Tế Dân, ghi rõ mục đích duy nhất là thu mua dược liệu cầm cự cho mười tám bệnh nhân nguy kịch trong ngày hôm nay. Lão Đoan, ngươi và người phụ dược này ký tên, điểm chỉ vào đây làm chứng. Tạ Bách ta lấy tư cách hội chủ Liên hội Vận thương đứng ra bảo lãnh tính pháp lý của số tiền này trước ban điều hành y quán."
Cậu phụ dược luống cuống run rẩy chạy tọt vào trong nhà gọi viên thầy thuốc trưởng đang run rẩy trốn sau quầy thuốc ra lập biên nhận, trong khi lão Đoan quỳ rạp cả thân hình vạm vỡ xuống nền đất ẩm ướt, hai bàn tay chai sạn run rẩy vốc lấy một nắm đất dưới chân Nam, giọng nghẹn ngào, nấc lên từng cơn: "Cậu Đỗ... tôi... tôi mắt mù tai điếc... tôi là loài súc sinh... tôi có mắt như mù..."
"Đứng lên đi bác," Nam khó nhọc cúi người xuống, đưa bàn tay đầy vết trầy xước và dính máu đỡ cánh tay thô ráp của người thợ rèn dậy. "Mau đưa thuốc vào trong cứu cháu đi. Thời gian không còn nhiều đâu."
Cánh cổng gỗ của Y quán Tế Dân lập tức mở toang ra. Ba người phu thuyền vạm vỡ của Tạ Bách không đợi giục, lập tức xách túi bạc cùng người phụ dược chạy thốc ra phía đại lộ để hộ tống đi thu mua dược liệu khẩn cấp trước giờ phong tỏa. Những chiếc chõng tre chở người bệnh nằm la liệt ngoài ngõ nhanh chóng được đám đông nâng niu, khiêng trở lại vào trong khoảng sân có mái che để chuẩn bị cứu chữa.
Nam chậm rãi bước qua cánh cổng gỗ lim, bước vào giữa sân Y quán Tế Dân.
Mùi thảo dược đắng ngắt bốc lên nồng nặc từ những chiếc nồi đồng cáu bẩn không tài nào che lấp nổi mùi tử khí ẩm mốc đang lẩn khuất dưới những mái hiên thấp lè tè. Khắp khoảng sân gạch rêu phong ngổn ngang hàng chục chiếc giường tre, manh chiếu rách, nơi những thân xác tiều tụy đang quằn quại rên rỉ từng cơn vì những cơn đau thấu xương và sự thiếu hụt sinh cơ trầm trọng. Tiếng trẻ con khóc ngặt từng hồi vì sốt cao, tiếng thở dốc tuyệt vọng của những người già đang cạn dần từng giọt thọ mệnh cuối cùng, và những ánh mắt lờ đờ, đục ngầu nhìn lên trần nhà vô định... tất cả hòa quyện thành một bức tranh trần trụi, bi thảm về cái giá khủng khiếp mà những kẻ dưới đáy cùng của xã hội phải gánh chịu cho những trò chơi thao túng quyền lực và khống chế dòng tiền của giới tu tiên thượng tầng.
Gió lạnh từ sông Cửu Hà lại một lần nữa thốc qua khoảng sân hẹp, cuốn theo những mảnh bã thuốc khô bay xào xạc trên nền gạch vỡ.
Đứng giữa sân y quán ngổn ngang người bệnh rên rỉ, Nam lau vệt máu trên trán, cay đắng nhận ra sự thật khi ném ra không đúng lúc cũng có thể đoạt mạng người như một nhát dao.