Bà thư lại không còn ghế
Hẻm Giấy Vụn nằm khuất sau những bức tường đá rêu phong của Tòa Khế Tĩnh Giang, nơi mùi ẩm mốc của sách cũ quyện với khói bếp nghèo nàn tạo nên một không khí ngột ngạt.
Ở cái thành phủ sừng sững này, người ta quen ngước nhìn những mái ngói cong vút của các phân đường Thanh Đài Tông, hoặc dán mắt vào những tấm bảng đồng bóng loáng niêm yết lãi suất sinh cơ trước cửa Chợ Đổi Niên. Nhưng ít ai để ý rằng, ngay dưới chân bóng râm khổng lồ của Tòa Khế – nơi mỗi ngày ban phát hàng trăm trát định đoạt thọ mệnh con người – lại tồn tại một rãnh thoát chất thải hành chính tồi tàn đến thế.
Gió từ dòng sông thổi luồn qua những con ngõ lát đá nứt nẻ, cuốn theo những mảnh giấy bản vụn, những mép khế ước hỏng bị gọt xén và lớp tro tàn của các bản nháp bị thiêu hủy. Cả con hẻm ngập trong thứ mùi lưu huỳnh chua lòm lẫn với mùn cưa và mực thối. Từng lớp bụi giấy li ti bay lơ lửng trong không khí nhá nhem, bám vào kẽ móng tay, rát buốt nơi khóe mắt và đọng lại trên đầu lưỡi một vị chát đắng nhờ nhợ như nước vôi tôi lâu ngày.
Đỗ Hoài Nam bước thấp bước cao, một tay ôm khư khư chiếc tráp mun trước bụng, tay kia bấu chặt vào góc tường đá xù xì để giữ thăng bằng. Mỗi bước chân giẫm xuống mặt bùn nhão nhoét đầy mảnh vụn vôi vữa là một lần lồng ngực anh quặn thắt dữ dội. Hai huyệt Phế Du và Tâm Du sau lưng nứt toác từ trận tử thủ dưới căn hầm Trạm Trung Lập Tam Bờ như đang có hai mũi dao nung đỏ cắm ngập vào, rỉ máu ngầm theo từng nhịp thở dốc. Khí tức Dẫn Tức vừa nhen nhóm được vài tuần nay đã vỡ vụn hoàn toàn, đan điền trống rỗng phát ra từng cơn co giật buốt giá, khiến hơi lạnh đầu mùa của đất Tĩnh Giang tha hồ luồn qua lớp áo gai thô rách bươm, cắn sâu vào da thịt tái ngắt.
Đi ngay bên cạnh anh, Kỷ Vân kéo sụp vành nón mê, vạt áo choàng dài buông thõng khéo léo che đi chiếc cùm phong linh bằng sắt nguội đang khóa chặt hai cổ tay. Dù linh lực Lập Đài đã bị phế từ năm năm trước và đan điền hiện bị phong tỏa bởi phù triện liên phủ màu lam xám, dáng đi của người cựu chấp hành viên vẫn giữ nguyên thói quen cảnh giác cao độ: mắt luôn liếc về các góc khuất, bước chân lướt êm không một tiếng động trên mặt đá trơn trượt, bờ vai hơi nghiêng để sẵn sàng che chắn cho chiếc tráp mun trong tay Nam nếu có biến cố bất ngờ xảy ra từ các ngách tối.
Cách họ đúng mười bước chân phía sau, hai viên sai dịch của Ban Giám sát Nha môn phủ Tĩnh Giang trong bộ trường bào màu xanh ngọc lầm lũi bám theo. Những chiếc thẻ bài bằng đồng đeo bên hông họ thỉnh thoảng lại va vào chuôi đao phát ra tiếng lách cách khô khốc, rợn người. Đó là cái giá của tấm thẻ lưu trú tạm thời bảy ngày mà Tạ Bách đã phải đem cả ba chiếc thuyền buôn cùng hạn mức tín dụng mười vạn lượng bạc ra bảo lãnh: mọi bước đi của Nam và Kỷ Vân đều bị giám sát chặt chẽ, một cử động lệch khỏi phạm vi bị can dân sự sẽ lập tức kích hoạt còi báo động của nha môn. Riêng Tạ Bách và thợ trận Lục Sâm đã được bố trí ở lại một quán trà đầu hẻm để canh chừng và giữ liên lạc với các chân chạy đường sông.
Kỷ Vân dừng lại trước một căn nhà vách gỗ xiêu vẹo, nằm nép mình dưới bóng một bức tường đá nứt nẻ của kho lưu trữ tòa án. Mái ngói âm dương của căn nhà đã sụp một góc lớn, được chắp vá tạm bợ bằng những tấm ván thông mục và vài lớp bạt dầu rách rưới bám đầy rêu xanh. Trên cánh cửa gỗ đóng then cài chặt, lớp sơn đỏ từng vẽ phù hiệu công quyền của tòa khế đã bong tróc gần hết, chỉ còn trơ lại những vết cào xước nham nhở như móng vuốt thú dữ.
"Chính là chỗ này," Kỷ Vân thì thầm, giọng nói khàn đặc sau tấm mạng che mặt. "Mười năm rồi... ta không chắc bà ấy còn sống để giữ căn nhà này không."
Nam nén một cơn ho khan đang chực trào lên cuống họng, đưa bàn tay run rẩy gõ ba tiếng dứt khoát lên then cửa.
Tiếng gõ vang lên đục ngầu, dội vào khoảng không im lìm của con hẻm. Bên trong không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng sột soạt của giấy má bị xáo trộn vội vã, tiếp theo là tiếng ho sù sụ kéo dài, khô khốc như tiếng cọ xát của hai thanh tre mục giữa ngày đông. Một lát sau, then cài bằng gỗ kêu lên một tiếng *cạch* nặng nề. Cánh cửa hé mở một khe hẹp chừng nửa gang tay, để lộ ra một con mắt đục ngầu, kèm nhèm nhưng sắc lẹm sau những nếp nhăn chằng chịt.
"Hôm nay không mua giấy vụn. Nha môn chưa phát đợt giấy thải tháng này," một giọng nói the thé, lạnh băng như nước giếng mùa đông cất lên từ bóng tối sau khe cửa.
"Bà Mẫn," Kỷ Vân bước lên nửa bước, khẽ vén mép mạng che mặt lên ngang sống mũi, để lộ vết sẹo đỏ sần sùi chạy dọc từ gò má xuống quai hàm. "Là tôi. Kỷ Vân. Chấp hành viên mang số hiệu TG-ChấpHành-044 cũ."
Con mắt sau khe cửa khẽ co rút lại. Ánh nhìn của người đàn bà đảo nhanh từ vết sẹo trên mặt Kỷ Vân xuống chiếc cùm phong linh lấp ló dưới tay áo, rồi dừng lại trên người Đỗ Hoài Nam – kẻ đang thở dốc với sắc mặt tái nhợt và hai tay ôm chặt chiếc tráp mun. Cuối cùng, ánh mắt ấy quét qua hai viên sai dịch nha môn đang đứng tựa lưng vào cột mốc cách đó mười bước chân.
Một thoáng im lặng ngột ngạt trôi qua. Người bên trong thở hắt ra một hơi nồng nặc mùi thuốc rê và dấm thanh.
"Vào đi. Đừng để gió lùa làm ẩm đống giấy của ta."
Cánh cửa mở rộng vừa đủ cho hai người lách qua rồi lập tức sập lại, then cài đóng sập dứt khoát trước mũi hai viên sai dịch bên ngoài.
***
Gian phòng rộng chưa đầy hai trượng vuông ngập ngụa giấy bản ố vàng.
Những chồng hồ sơ, công văn cũ kỹ chất cao từ sàn nhà lên tận xà ngang, tạo thành những hẻm núi giấy chông chênh, chỉ để lại một lối đi hẹp vừa vặn đặt một bàn chân. Trên chiếc bàn gỗ gụ duy nhất đặt giữa phòng, ngổn ngang những nghiên mực khô cạn, hàng chục cây bút lông tưa ngọn cắm trong ống tre, vài con dao cạo bằng đồng mòn vẹt và một ngọn đèn dầu lạc leo lét tỏa ra làn khói đen khét lẹt.
Bà Mẫn ngồi thụp xuống chiếc ghế đẩu duy nhất, kéo lại tấm áo chần bông vá chằng vá đụp quanh đôi vai gầy guộc. Bà đã ngoài sáu mươi, lưng còng rạp xuống như một dấu hỏi lớn do ba mươi năm cặm cụi cúi đầu trên các bàn ký khế ước. Mười đầu ngón tay của bà thô ráp, nứt nẻ, những kẽ móng tay ngấm sâu một màu mực chu sa đen đỏ không bao giờ rửa sạch được.
"Ngươi chưa chết ở Cầu Tro sao, con bé họ Kỷ?" Bà Mẫn không buồn ngước lên, đôi bàn tay gầy như cành củi khô vẫn thoăn thoắt xếp lại những tờ giấy dâu tằm bị rách mép. "Ta tưởng sau cái đêm cọc câu linh nổ tung ở xóm thợ đó, Lương Trạch đã ném xác ngươi xuống cửa sông Tam Hà cho cá rỉa rồi chứ."
"Tôi còn sống để nhìn thấy ngày cái cỗ máy của các người phải đền tội," Kỷ Vân lạnh lùng đáp, dựa lưng vào vách gỗ, hai bàn tay cùm sắt đặt lên đùi.
"Đền tội?" Bà Mẫn bật ra một tiếng cười khục khục trong cổ họng, nghe chát chúa như tiếng mảnh sành cọ vào đáy nồi. "Nha môn Tĩnh Giang này không có tội. Nó chỉ có các điều khoản và những kẻ ngu ngốc tự nguyện ký tên vào đó thôi. Còn cậu trai trẻ này là ai? Trông như một cái xác chết trôi vừa được vớt lên từ bãi bùn Đoan Kiều vậy."
"Cháu là Đỗ Hoài Nam," Nam hít một hơi khó nhọc, đặt chiếc tráp mun lên một khoảng trống hiếm hoi trên mặt bàn, cẩn thận mở chốt đồng. "Cháu từng là người kiểm sổ tại Trạm Linh Vận Bến Lau."
Anh rút từ trong tráp ra cuộn giấy dâu tằm dày dặn bọc da rễ cây sần sùi – cuốn Sổ Đối Chiếu mà thư lại già Trần Định đã đánh đổi cả tính mạng để chuyển giao – cùng với bản sao trích lục hồ sơ TL-TamBờ-77 vừa được Giám trạm Thôi Chấn đóng dấu thị thực.
"Cháu đến đây để nhờ bà chỉ đường. Ty Chấp Khế của Lương Trạch đã dùng một khế ước ma mang mã hiệu TG-LậpĐài-8812 gài bẫy cưỡng thu hai mươi năm sinh cơ lên em gái cháu và ba mươi sáu hộ dân thợ nhuộm Bến Lau. Chúng cháu đã truy ra chuỗi lưu ký: chúng dùng dấu lưu động số mười bốn của Kho Muối Hạ Nham, mượn danh một viên lại mục đã chết ba năm trước, và quan trọng nhất..." Nam hạ giọng, mắt nhìn thẳng vào người cựu thư lại già, "...chúng trích xuất huyết thanh từ kho bệnh án của y quán phủ thành để tạo huyết tuyến giả, đánh lừa cọc câu linh trận pháp."
Nam đẩy cuốn Sổ Đối Chiếu về phía trước: "Cuốn sổ này ghi nhận toàn bộ đường chuyển dịch sinh cơ bất thường từ các bình hàng bị rút ruột ở trạm Bến Lau về thẳng tài khoản dự phòng Sinh Khố TG-NhaMôn-009 của Lương Trạch. Với cuốn sổ này và các chứng từ chuỗi lưu ký đã được Trạm Trung Lập xác nhận, cháu muốn đệ đơn lên Tòa Khế, yêu cầu phát lệnh cưỡng chế mở niêm phong kho bệnh án của y quán phủ để đối chất."
Bà Mẫn dừng tay. Ngọn đèn dầu lạc chao đảo hắt bóng hình còng queo của bà lên bức tường giấy ố vàng. Bà không chạm vào cuốn Sổ Đối Chiếu, chỉ liếc mắt nhìn lớp bìa da sần sùi của nó, rồi chậm rãi ngước lên nhìn Nam.
Khuôn mặt bà không có lấy một tia ngạc nhiên, chỉ tràn ngập sự mỉa mai lạnh lẽo.
"Cậu nói xong chưa?" Bà hỏi.
"Cháu nói xong rồi."
Bà Mẫn vơ lấy một chiếc chổi đót nhỏ trên bàn, phẩy mạnh một cái làm bụi giấy bay mù mịt, hất thẳng một góc cuốn Sổ Đối Chiếu lệch sang một bên, suýt rơi xuống đất nếu Nam không nhanh tay chụp lại.
"Một gáo nước lạnh," bà Mẫn nhổ toẹt một bãi bọt thuốc rê xuống góc phòng. "Cầm lấy mớ rác rưởi đó rồi cút về Bến Lau mà lo mua sẵn ba mươi bảy cỗ áo quan đi là vừa. Cậu tưởng Tòa Khế là cái chợ cá của đám phường thợ các người chắc? Cậu nghĩ chỉ cần ôm một cuốn sổ bìa da không rõ nguồn gốc, chạy đến trước công đường gào khóc rằng mình bị oan, là các vị Thẩm khế sẽ rút lệnh bài điều động quân lính đi phá cửa kho của phủ nha sao?"
Nam siết chặt cuốn sổ trong tay, lồng ngực lại nhói buốt: "Đây không phải sổ không rõ nguồn gốc! Đây là Sổ Đối Chiếu của mạng linh vận Cửu Hà, do chính tay thư lại Trần Định gìn giữ mười hai năm qua! Vết mực máu trên này trùng khớp hoàn toàn với số hiệu bình hàng bị rút ruột..."
"Thì đã sao?" Bà Mẫn cắt ngang, giọng sắc như dao cạo giấy. "Trần Định là ai? Một tên thư lại cấp trạm đã bị xích câu hồn tống giam vào tử lao vì tội làm thất thoát tài sản công! Còn cậu là ai? Một bị can dân sự đang bị giám sát từng bước chân! Còn cuốn sổ này..."
Bà vươn ngón tay trỏ khẳng khiu gõ cồm cộp lên mặt bìa da của cuốn sổ:
"...trước pháp quy toàn cõi Cửu Hà và thể chế tư pháp của phủ Tĩnh Giang này, nó chỉ được coi là một **vật chứng chỉ dẫn nội bộ**. Cậu hiểu bốn chữ đó nghĩa là gì không, cậu bé kiểm sổ?"
Nam cắn chặt môi, im lặng.
Bà Mẫn cười gằn: "Nghĩa là nó chỉ có giá trị làm manh mối phục vụ cho việc điều tra kín của chính cơ quan quản lý mạng vận tải, nếu cơ quan đó *muốn* điều tra. Bản thân nó không có **tư cách tự thân**. Nó không mang ấn triện thụ lý của nha môn, không nằm trong danh mục sổ sách công khai của Doanh Vận Ty, và càng không có hiệu lực pháp lý độc lập để phát lệnh cưỡng chế hay khám xét bất kỳ một kho lưu trữ kín nào của phủ thành!"
Bà đứng dậy, bước từng bước nặng nề đến bên giá sách, lôi xuống một cuộn giấy dày cộp bọc da cừu xám, phủi mạnh lớp bụi dày bám trên bề mặt rồi ném mạnh xuống trước mặt Nam:
"Đọc đi! Quy chế Tố tụng và Bảo toàn Khế ước Phủ Tĩnh Giang, chương ba, điều mười hai: *Kho lưu trữ bệnh án công và kho dự phòng Sinh Khố thuộc diện cấm địa cấp hai, được bảo hộ bởi niêm phong cấp phủ và sự bảo trợ tâm linh của tông môn trấn thủ*. Cậu nghĩ Lương Trạch là ai? Hắn là Chưởng khế ngồi ghế thượng thủ ba mươi năm nay! Mỗi nét bút hắn ký, mỗi con dấu hắn đóng đều nhân danh sự ổn định dòng chảy sinh cơ của cả cái phủ này. Muốn một vị Thẩm khế ký lệnh bẻ gãy niêm phong kho của hắn chỉ bằng một cuốn sổ lưu động chuyền tay? Trừ phi vị Thẩm khế đó muốn tự tay tháo ấn từ quan, bước xuống ngồi chung chiếu với đám phạm nhân như các người!"
Căn phòng rơi vào một khoảng lặng chết chóc. Chỉ còn tiếng bấc đèn cháy lách tách và tiếng thở nặng nhọc vì đau đớn của Nam.
Những lời của bà Mẫn tàn nhẫn, nhưng từng câu từng chữ đều đâm trúng vào điểm mù chết người trong suy tính của anh. Nam đã quen với việc kiểm sổ ở bến tàu – nơi một con số sai lệch trên tờ khai có thể đối chiếu ngay với quả cân đồng trên bàn tiếp nhận. Nhưng đây là phủ thành Tĩnh Giang. Ở đây, sự thật không được đo bằng quả cân hay độ đậm nhạt của vết mực máu; nó được đo bằng thẩm quyền, cấp bậc con dấu và những bức tường thành thủ tục kiên cố.
Kỷ Vân từ nãy đến giờ vẫn đứng im, lúc này mới lạnh lùng lên tiếng:
"Bà Mẫn, bà từng ngồi ở cái ghế Thư lại trưởng suốt ba mươi năm. Bà biết rõ bọn họ đang làm gì. Đừng dùng cái giọng quan liêu đó để đuổi người. Nếu không có đường đi, bà đã không để chúng tôi bước qua cánh cửa này."
Bà Mẫn liếc nhìn Kỷ Vân, khóe mắt giật giật: "Đúng, ta biết. Ta biết rõ hơn bất kỳ ai trên cái đất Tĩnh Giang này. Nhưng chính vì ta biết, ta mới không để một thằng ranh con chưa sạch nước cản đâm đầu vào đá tự sát rồi kéo theo cả mớ giấy lộn của ta vào đống lửa!"
Bà quay sang Nam, ánh mắt bớt đi vài phần chế giễu, thay vào đó là sự nghiêm khắc đến lạnh người của một bậc thầy về tố tụng:
"Cậu muốn mở kho bệnh án được bảo hộ bởi niêm phong cấp phủ đúng không? Được. Vậy thì hãy nghe cho kỹ cấu trúc tố tụng của một vụ khiếu nại cấp phủ. Muốn công đường phát lệnh bảo toàn khẩn cấp – tức là lệnh khám xét và niêm phong kho lưu trữ kín trước khi Lương Trạch kịp tẩu tán tang vật – bên khiếu nại bắt buộc phải lập được **đơn chung của ba bên**."
Bà xòe ba ngón tay gầy guộc, đen đúa ra trước mặt Nam:
"Thứ nhất: **Người chịu nghĩa vụ trực tiếp bị thu nợ**. Tức là những người có tên trong danh sách cưỡng thu, những người đang bị cọc câu linh cắm trước cửa nhà. Đơn phải có chữ ký, điểm chỉ bằng máu và giấy ủy quyền hợp thức của từng người một. Không có chuyện một người đứng ra đại diện khống cho cả phường thợ. Thiếu một dấu vân tay, Lương Trạch sẽ lập tức viện dẫn lý do đơn khiếu nại mạo danh để Tòa Khế bác ngay từ vòng thẩm tra thể thức."
"Việc này cháu có thể làm được," Nam đáp dứt khoát. "Em gái cháu, Hoài An, đang ở Bến Lau. Con bé đang nắm giữ toàn bộ biên nhận gốc và danh sách ủy quyền của ba mươi sáu hộ dân. Chúng cháu có thể tập hợp đủ chữ ký."
"Tốt. Đó mới chỉ là một chân kiềng," bà Mẫn gập một ngón tay lại. "Chân kiềng thứ hai: **Đại diện người góp vốn của Sinh Khố**."
Nam sững sờ: "Người góp vốn? Nhưng người góp vốn của Sinh Khố là các thương gia lớn, các gia tộc tu tiên và Hội đồng Góp vốn phủ Tĩnh Giang! Bọn họ cho vay sinh cơ để lấy lãi tu vi, làm sao họ chịu đứng cùng một lá đơn với đám thợ nhuộm bần hàn?"
"Đó là việc của cậu!" Bà Mẫn đập bàn một tiếng *chát*. "Cậu nghĩ tại sao Lương Trạch lại sợ việc kiểm toán kho? Vì hắn đã rút ruột sinh cơ từ các trạm biên viễn để đắp vào các khoản thâm hụt tu luyện của phe cánh hắn! Sinh Khố không phải là tiền riêng của Lương Trạch; nó là tiền góp của Hội đồng Góp vốn do Lê Hữu Cẩn đại diện. Nếu cậu chứng minh được cho người góp vốn thấy rằng những khế ước ma này đang tạo ra một khoản thâm hụt khổng lồ, đe dọa trực tiếp đến khả năng thu hồi vốn và sự an toàn của toàn bộ hệ thống tín dụng phủ Tĩnh Giang, bọn họ sẽ là những kẻ đầu tiên muốn lột da Lương Trạch ra để kiểm kê kho! Không có chữ ký của bên cấp vốn, Tòa Khế sẽ coi đây là tranh chấp dân sự vặt vãnh giữa chủ nợ và con nợ, và họ sẽ cho phép Ty Chấp Khế tiếp tục thu hồi theo lịch trình đã định."
Bà Mẫn gập ngón tay thứ hai lại, nhìn thẳng vào mắt Nam với ngón tay thứ ba giơ cao:
"Và chân kiềng thứ ba, cũng là cửa ải khó khăn nhất: **Một cơ quan tài phán độc lập phê chuẩn lệnh bảo toàn khẩn cấp**. Ở phủ này, chỉ có duy nhất một người có thẩm quyền ký lệnh phong tỏa tài sản và mở kho trước phiên xử: Thẩm khế Tống Nhược Thủy của Tòa Khế Tĩnh Giang."
Nghe đến cái tên này, Kỷ Vân khẽ biến sắc: "Tống Nhược Thủy? Bà ta nổi tiếng là người cứng nhắc, chỉ nhìn vào chứng cứ văn bản, không bao giờ tiếp nhận bất kỳ một đơn thỉnh cầu nào ngoài giờ hành chính. Năm đó vụ Cầu Tro..."
"Chính vì bà ấy cứng nhắc!" Bà Mẫn gằn giọng ngắt lời Kỷ Vân. "Chính vì bà ấy không nhận hối lộ của Lương Trạch, và cũng không bị sự lộng hành của Ty Chấp Khế làm cho lung lay, nên bà ấy mới là cơ hội duy nhất của các người! Nhược Thủy là học trò cũ của ta ba mươi năm trước. Ta biết rõ tính khí của nó: nó không quan tâm các người khóc lóc thảm thiết ra sao, nó chỉ quan tâm đến thẩm quyền, thời hạn, và quan trọng nhất: *chuỗi bảo quản chứng cứ* có bị đứt gãy hay không."
Bà Mẫn chỉ vào cuộn giấy TL-TamBờ-77: "Bản trích lục của Thôi Chấn ở Tam Bờ là một khởi đầu tốt. Nhưng muốn Nhược Thủy đặt bút ký lệnh khám xét kho bệnh án của y quán Thanh Đài, các người phải chứng minh được: nếu không mở kho ngay lập tức, một thiệt hại không thể khắc phục về tính mạng con người sẽ xảy ra, VÀ các người phải có đủ ba bên cùng đứng tên trong một văn bản duy nhất."
Nam im lặng suy nghĩ. Từng mảnh ghép hỗn loạn trong đầu anh bắt đầu ăn khớp vào nhau dưới sự phân tích sắc sảo, lạnh lùng của người cựu thư lại già.
Không thể dùng nắm đấm. Không thể dựa vào một cuốn sổ đơn độc. Một cỗ máy được dựng lên bằng luật lệ chỉ có thể bị kẹp chặt khi người ta dùng chính các bánh răng của nó để khóa bánh đà. Ba bên: người chịu nợ ở Bến Lau, người nắm vốn ở Sinh Khố, và vị Thẩm khế nắm cán cân công lý của Tòa Khế.
Bất chợt, Kỷ Vân bước lên một bước, ánh mắt sắc như lưỡi dao ghim thẳng vào bà Mẫn:
"Bà Mẫn, giải thích cho tôi một chuyện. Tại sao một quy trình mở kho lại chặt chẽ đến mức ngột ngạt như vậy, nhưng quy trình cưỡng thu sinh cơ lại lỏng lẻo đến mức ghê tởm? Tại sao Ty Chấp Khế có thể tùy tiện dùng dao rạch chỉ gân hươu tuyết, tháo trang phụ lục hợp đồng thương mại ra, rồi dán một trang phụ lục bảo lãnh sinh cơ vào mà hệ thống kiểm soát của Tòa Khế không hề phát hiện ra? Tại sao con dấu lưu động số mười bốn được phép xuất kho đóng khống lên giấy trắng suốt ba năm trời mà không một viên thư lại nào ở Tòa Khế hay Doanh Vận Ty lên tiếng?"
Giọng Kỷ Vân run lên vì căm hận: "Năm năm trước ở Cầu Tro, chính vì cái lỗ hổng phụ lục chết tiệt đó mà lệnh thi hành án rơi xuống đầu tiểu đội của tôi! Chúng tôi đã tin rằng văn bản chuyển đến có dấu đỏ là văn bản hợp pháp! Ai... ai là kẻ đã tạo ra cái kẽ hở thủ tục khốn nạn đó để Lương Trạch biến thành công cụ giết người?"
Đối diện với cơn thịnh nộ của người cựu chấp hành viên, bà Mẫn không hề né tránh.
Gương mặt già nua của bà co rúm lại, những nếp nhăn nơi khóe miệng giật giật trong một nụ cười cay đắng đến cùng cực. Bà buông thõng hai tay xuống đùi, lưng dường như càng còng rạp xuống thấp hơn.
"Ai ư?" Bà Mẫn thì thầm, giọng nghẹn lại trong cổ họng. "Là ta."
Không gian trong căn phòng như đông cứng lại. Nam sững sờ ngước nhìn bà lão, còn Kỷ Vân thì siết chặt nắm tay đến mức những mắt xích của chiếc cùm phong linh nghiến vào nhau ken két.
"Mười lăm năm trước," bà Mẫn ngửa đầu nhìn lên trần nhà mục nát, nơi những giọt nước ẩm ướt đang tí tách nhỏ giọt, "khi phủ Tĩnh Giang mở rộng mạng lưới giao thương Cửu Hà, các chuyến thuyền chở hàng từ thượng nguồn đổ về nườm nượp. Khế ước thương mại phát sinh hàng vạn bản mỗi tháng. Các trạm trung chuyển như Bến Lau hay Hạ Nham liên tục kêu cứu vì thủ tục ký kết quá chậm chạp, thuyền bè ứ đọng, hàng hóa hư hỏng. Quan tài phán cấp trên ép Tòa Khế phải cải cách, phải đơn giản hóa thủ tục bổ sung bảo lãnh để dòng vốn sinh cơ lưu thông nhanh chóng."
Bà Mẫn nhắm nghiền hai mắt lại, hai giọt nước mắt đục ngầu ứa ra từ khóe mi nhăn nheo:
"Chính ta... chính bàn tay này đã ngồi suốt ba tháng ròng rã trong kho án từ, soạn thảo nên 'Quy chế Đăng ký Phụ khế Lưu động'. Ta đã cho phép tách rời trang phụ lục bảo lãnh ra khỏi bản hợp đồng chính để các trạm có thể linh hoạt bổ sung tài sản thế chấp khi thuyền gặp nạn trên sông. Ta đã cho phép sử dụng con dấu lưu động để các lại mục không phải chạy ngược xuôi hàng trăm dặm về phủ xin dấu mỗi khi có tranh chấp khẩn cấp..."
"Bà đã tạo ra một con quái vật," Kỷ Vân nghiến răng thốt lên.
"Ta đã tin vào sự kiềm chế giữa các chức vụ hành chính!" Bà Mẫn đột ngột mở trừng mắt, giọng run rẩy nhưng đanh thép. "Ta đã ngây thơ tin rằng thư lại giữ kho sẽ đối chiếu nhật ký mượn dấu! Ta đã tin rằng chấp hành viên như cô khi cầm lệnh sẽ kiểm tra lại mộc giáp lai! Ta đã tin rằng người kiểm sổ như cậu trai này sẽ dũng cảm vạch trần sai lệch ngay tại cầu tàu! Ta tin rằng hệ thống chia tách quyền lực giữa Ty Chấp Khế, Tòa Khế và Doanh Vận Ty sẽ tự động thanh lọc những kẻ tham tàn!"
Bà vung tay đập mạnh vào chồng giấy bên cạnh, làm những tờ giấy bản bay lả tả như những cánh bướm gãy cánh:
"Nhưng ta đã sai! Khi quyền lực tập trung tuyệt đối vào tay một kẻ như Lương Trạch, khi sự kiềm chế biến thành sự đồng lõa vì bổng lộc và những giọt sinh cơ ban phát, thì cái quy chế 'linh hoạt' mà ta dày công thiết kế đã lập tức biến thành con dao sắc bén nhất để hắn xẻ thịt dân nghèo! Mười năm trước, khi ta phát hiện ra những trang phụ lục bị tráo đầu tiên ở các xóm chài, ta đã viết sớ tố cáo lên quan phủ. Và kết quả là gì? Ta bị tước thẻ bài thư lại, bị đuổi khỏi Tòa Khế, bị tống vào cái xó hẻm Giấy Vụn này để gặm nhấm đống rác rưởi do chính mình tạo ra!"
Bà Mẫn thở dốc, lồng ngực gầy guộc phập phồng dưới lớp áo chần bông. Bà nhìn Kỷ Vân, rồi lại nhìn Nam, ánh mắt chứa chan nỗi đau đớn và mặc cảm của một kẻ cả đời tôn thờ quy tắc, để rồi nhận ra quy tắc của mình đã bị biến thành công cụ tàn sát đồng loại.
"Lỗ hổng đó là do ta tạo ra," bà Mẫn gằn từng tiếng. "Và mười năm nay, không một đêm nào ta ngủ yên. Mỗi khi nghe tiếng còi hú của đội cưỡng thu ngoài bến sông, ta lại ngửi thấy mùi máu trên từng trang giấy mình từng viết."
Nam nhìn bà lão trước mặt. Anh không thấy một kẻ quyền thế thoái vị, cũng không thấy một nạn nhân thuần túy; anh thấy một người thợ đã tự tay rèn nên một chiếc bẫy sắt, để rồi bất lực nhìn người thân và đồng bào của mình lần lượt sa chân vào đó.
Anh chậm rãi quỳ một chân xuống sàn nhà ngổn ngang giấy vụn, đặt chiếc tráp mun ngay ngắn trước mặt bà Mẫn:
"Thưa bà, nếu chính bà là người đã tạo ra chiếc khóa đó... thì chỉ có duy nhất bà mới biết cách bẻ gãy nó mà không làm nổ tung toàn bộ cánh cửa."
Nam ngước lên, ánh mắt kiên định không hề chớp:
"Cháu không đến đây để xin một lời thương hại, và càng không đến để xin một vị cứu tinh. Cháu là người kiểm sổ. Nhiệm vụ của cháu là tìm ra những con số sai lệch và đưa chúng về đúng vị trí. Cháu cần bà hướng dẫn về mặt thủ tục và thẩm quyền: làm thế nào để biến những chứng từ rời rạc này thành một lá đơn tố tụng không thể bị bác bỏ trước mặt Thẩm khế Tống Nhược Thủy. Xin bà giúp chúng cháu."
Bà Mẫn nhìn trừng trừng vào Nam. Gian phòng chìm vào tĩnh lặng, chỉ có tiếng gió rít qua khe cửa gỗ xiêu vẹo ngoài kia.
Một lúc lâu sau, bà Mẫn khẽ thở dài một tiếng thật dài. Sự cay nghiệt trên gương mặt bà dường như tan biến bớt một phần, nhường chỗ cho vẻ nghiêm cẩn lạnh lùng của một viên chức pháp lý kỳ cựu.
"Đứng dậy đi," bà nói cộc lốc. "Ở đây không có thần phật để quỳ. Muốn ta nhận lời hướng dẫn về thủ tục và thẩm quyền, cậu phải chấp nhận hai điều kiện tiên quyết. Không làm được hai điều này, ta sẽ không viết lấy một chữ."
Nam đứng thẳng dậy, nén cơn đau nơi lồng ngực: "Xin bà cứ nói."
"Điều kiện thứ nhất: **Tư cách pháp lý đại diện chính thức**," bà Mẫn giơ ngón tay thứ nhất lên. "Cậu hiện tại chỉ là anh trai của một nạn nhân, lại đang mang thân phận bị can quản thúc dân sự. Cậu không có tư cách thay mặt cho ba mươi sáu hộ dân Bến Lau bước vào Tòa Khế. Cậu phải có được Văn bản Ủy quyền Hợp pháp được lập riêng cho từng hộ, có điểm chỉ máu, có xác nhận hành trình cư trú độc lập từ các phường thợ, và quan trọng nhất: phải chứng minh được họ ủy quyền cho cậu đòi lại sự thật, chứ không phải ủy quyền cho cậu đem mạng sống của họ ra đánh cược. Em gái cậu phải đưa được tập hồ sơ ủy quyền đó vào phủ thành trước phiên điều trần sơ bộ."
"Cháu hiểu," Nam gật đầu. "Hoài An đang chuẩn bị việc đó. Cháu tin con bé sẽ làm được."
"Điều kiện thứ hai tàn khốc hơn nhiều," bà Mẫn nhìn sâu vào mắt Nam, ánh mắt đanh lại. "**Nguồn tiền bảo toàn rủi ro theo luật định**."
Nam cau mày: "Tiền bảo toàn rủi ro?"
"Đúng vậy," bà Mẫn gằn giọng. "Theo Luật Tố tụng Cửu Hà, khi cậu yêu cầu Tòa Khế phát lệnh bảo toàn khẩn cấp – tức là phong tỏa tài sản, tạm đình chỉ cưỡng thu hoặc khám xét kho kín của một cơ quan công quyền trước khi có phán quyết cuối cùng – bên khiếu nại bắt buộc phải ký quỹ một khoản bảo toàn rủi ro. Khoản tiền này dùng để bồi thường thiệt hại cho nha môn nếu kết quả kiểm toán cho thấy khiếu nại của cậu là vô căn cứ, làm gián đoạn việc thu nợ công và tổn hại uy tín Sinh Khố."
Bà Mẫn nhếch mép: "Cậu biết con số đó là bao nhiêu không? Để phong tỏa một cụm khế ước liên quan đến ba mươi sáu mạng người và mở niêm phong kho bệnh án cấp phủ, số tiền ký quỹ tối thiểu là **năm trăm lượng bạc trắng hoặc năm mươi chỉ sinh cơ nguyên chất** nộp thẳng vào quỹ giám sát của Tòa Khế. Nếu cậu thua kiện, toàn bộ số tiền đó sẽ bị sung công, và cậu sẽ bị xử tội vu khống công quyền, nhẹ thì đày đi mỏ muối ba mươi năm, nặng thì xử trảm ngay trước cổng Tòa Khế!"
Năm trăm lượng bạc trắng.
Con số như một tảng đá ngàn cân đập thẳng vào tâm trí Nam. Một phu thợ nhuộm ở Bến Lau làm lụng quần quật cả năm chỉ tích cóp được chưa đầy năm lượng bạc. Năm trăm lượng bạc là cả một gia tài khổng lồ, đủ để mua đứt cả một con thuyền buôn cỡ lớn của Liên hội Vận Thương!
"Cậu có nguồn tiền đó không?" Bà Mẫn lạnh lùng hỏi. "Tạ Bách đã thế chấp ba chiếc thuyền chỉ để bảo lãnh cho cậu bước qua cổng thành; ông ta là thương nhân, ông ta sẽ không bao giờ ném thêm năm trăm lượng bạc vào một canh bạc tố tụng mà phần thắng chưa tới ba phần mười đâu. Cậu lấy gì để đặt cọc cho sinh mệnh của em gái cậu đây?"
Nam siết chặt hai bàn tay. Móng tay ghim sâu vào lòng bàn tay đến ứa máu, hòa cùng cơn đau rát nơi kinh mạch lồng ngực tạo nên một sự tỉnh táo đến gai người.
Anh nhớ đến hình ảnh Hoài An kiên cường đứng trước cửa xưởng nhuộm đối đầu với toán sai nha; anh nhớ đến thợ cả Thuận gầy rộc bên rãnh nước ngầm; anh nhớ đến ba mươi sáu cái tên được viết nắn nót trên mảnh vải thô gửi từ Bến Lau.
"Cháu sẽ tìm ra cách," Nam ngẩng đầu lên, từng chữ thốt ra từ kẽ răng chắc nịch như đinh đóng vào cột gỗ. "Tiền bảo toàn cháu sẽ lo. Tư cách đại diện cháu sẽ lấy được. Xin bà chuẩn bị quy trình."
Bà Mẫn nhìn chằm chằm vào đôi mắt rực lửa của chàng trai trẻ suốt một tuần trà. Cuối cùng, một tia sáng rất khẽ lóe lên nơi đáy mắt đục ngầu của người đàn bà già nua.
Bà khẽ thở dài, xoay người với tay lấy một chiếc ấm sành sứt vòi đặt trên bếp than đã tàn từ lâu. Bà rót một dòng nước nâu sẫm, đặc quánh vào chiếc bát sành mẻ miệng.
Bà Mẫn rót chén trà nguội ngắt, đẩy về phía Nam tập luật lệ dày cộp: ở đất này, muốn lột áo một kẻ ngồi trên công đường, cậu phải thuộc luật của hắn hơn chính hắn.