Sổ Nợ Trường Sinh — Phần 1: Người Đòi Nợ TrờiCh.15 / 38
Chapter 15

Cửa phủ mở cho người có bảo lãnh

Thành phủ Tĩnh Giang hiện ra sau ngã ba sông như một pháo đài đá khổng lồ sừng sững giữa trời nước, những mái tông môn dát đồng cao vút chọc thẳng vào tầng mây xám xịt ảm đạm.

Từ mũi chiếc thuyền buôn mang số hiệu 772, dòng nước xiết ngầu bọt của sông Cửu Hà bắt đầu chẻ làm đôi. Một nhánh đổ xối xả, gầm réo vào khu âu thuyền ngoại thành nơi tàu bè neo đậu san sát; nhánh còn lại lững lờ cuộn quanh chân những bức tường thành bằng đá hoa cương xám tro sừng sững cao hơn bốn trượng. Rêu xanh bám thành từng mảng dày cộm vào chân móng, ken chặt lấy từng khối đá tảng thô ráp. Nhưng kỳ lạ thay, phía trên ngấn nước chừng nửa thước, toàn bộ mặt đá dựng đứng đều được mài phẳng lì như gương, khắc chìm hàng vạn đạo phù văn hộ thành đồ sộ. Những rãnh khắc tinh vi ấy phát ra thứ linh quang mờ đục, lấp lánh như vảy cá dưới làn mưa phùn và sương ẩm bốc lên từ mặt sông lạnh ngắt.

Gió đầu mùa từ lòng sông thốc ngược lên mạn thuyền mang theo hơi tanh nồng ngai ngái của bùn lầy bãi bồi, mùi dầu thông cháy dở khét lẹt phả ra từ các ống khói lò hơi vận tải, quyện chặt lấy mùi kim loại rỉ sét ẩm ướt bốc lên từ hàng trăm cọc neo bọc sắt cắm tua tủa dọc bờ kè. Mỗi nhịp dập dềnh của con thuyền gỗ nặng nề khi nó ép sát vào gờ đá Nam Môn đều khiến lồng ngực Đỗ Hoài Nam quặn thắt lại dữ dội. Những dải băng vải thô quấn quanh xương sườn anh từ ba ngày trước đã sớm thấm đẫm mồ hôi lạnh, nham nhở những vệt dịch vàng ố, thít chặt và cọ xát tàn nhẫn vào từng vết nứt toác của hai kinh mạch Phế Du và Tâm Du.

Cơn đau ấy không bùng lên mãnh liệt, chát chúa như khoảnh khắc anh trúng trọn một chưởng lực tu sĩ hất văng vào vách đá dưới căn hầm ngầm ở Trạm Trung Lập Tam Bờ. Cơn đau này quái ác hơn nhiều; nó âm ỉ, dầm dề, buốt nhức buốt nhói vào tận tủy xương, như thể có hàng ngàn mảnh dăm gỗ mục ngâm nước đang chậm rãi cào cấu, xoắn vặn bên trong mỗi một nhịp hít thở ngắn ngủi. Nam phải nghiến chặt quai hàm, bàn tay run rẩy bấu chặt lấy vạt áo vải dâu thô ráp, cố hết sức ghìm lại một cơn ho sặc sụa đang chực trào lên cuống họng. Anh tuyệt đối không được phép ho, bởi chỉ một thoáng sơ sẩy để máu bầm trào ra khóe môi, nó sẽ vấy bẩn lên chiếc tráp gỗ mun nhỏ bé đang được anh ôm khư khư trước ngực — vật chứng duy nhất còn sót lại mang số hiệu TL-TamBờ-77.

Ngay bên cạnh anh, Kỷ Vân đứng bất động như một pho tượng đá tạc giữa mạn thuyền lộng gió. Bộ đạo bào chấp hành viền chỉ bạc rách tơi tả ngày nào giờ đã được thay thế bằng chiếc áo khoác thô màu tro xám rộng thùng thình, bạc phếch vì sương muối. Nhưng dưới hai ống tay áo buông thõng ấy, mỗi cử động nhỏ nhặt nhất theo từng nhịp lắc của con tàu đều làm phát ra những tiếng kim loại va chạm lách cách, khô khốc. Đó là tiếng xích sắt phong linh. Đan điền của cô vẫn bị phong tỏa hoàn toàn bởi chiếc cùm sắt đen trơn nhẵn mang ấn phù trấn áp của Tòa Khế liên phủ, tước đoạt toàn bộ luồng linh lực cuồn cuộn từng giúp cô tung hoành khắp các trạm kiểm soát dọc chín khúc sông. Đôi mắt từng sắc lẻm như lưỡi dao cạo của người cựu chấp hành viên giờ đây trũng sâu hoắm, viền mắt thâm quầng vì kiệt sức, nhưng ánh nhìn rọi về phía cổng thành đá xám phía trước vẫn lạnh lùng đến mức tàn nhẫn. Dường như mọi nỗi nhục nhã ê chề của một kẻ mang thân phận phạm nhân trọng tội chờ ngày đưa ra phiên nghe luận tội đều bị cô nén chặt, giấu kín dưới lớp da thịt chằng chịt những vết sẹo rách toạc do phản phệ khế ước để lại.

Lục Sâm thì lùi lại nửa bước phía sau hai người. Gã thợ trận khom lưng, hai cánh tay gầy guộc gân guốc xách nặng trịch hai bao tải da trâu chứa đầy la bàn đồng, đục sắt, chu sa và vô số công cụ trận pháp hỗn tạp. Gã đảo đôi mắt ti hí nhìn quanh quang cảnh bến tàu với bản năng cảnh giác tột độ của một con chồn hoang vừa bước chân vào hang cọp. Gã thầm tính toán từng tầm bắn của nỏ liên châu trên mặt thành, từng khoảng cách giữa các cột cờ hiệu viền đồng, liếc nhìn từng chiếc thuyền tuần tra bọc vỏ đồng sáng loáng đang thả neo giữ khoảng cách ngoài mép nước, rồi chép miệng lẩm bẩm chửi rủa khe khẽ qua kẽ răng vàng vọt cáu bẩn vì thuốc rê.

Cầu tàu Nam Môn vào giờ Thìn nhộn nhịp đến nghẹt thở, nhưng lại toát lên một trật tự máy móc và lạnh lẽo đến rợn người. Hàng trăm con thuyền vận tải lớn nhỏ chở đầy lúa gạo, quặng thô, vải vóc nhuộm chàm, và cả những bình sinh cơ niêm phong son kín mít từ khắp chín lưu vực sông Cửu Hà đang dồn ứ lại thành từng hàng dài ngoằng trước dãy cọc chắn ngầm bọc thép.

Trên bờ kè lát đá hoa cương phẳng phiu, hai hàng lính gác cổng thành mặc giáp da thú viền nẹp sắt cùng hàng chục nha sai của Ty Chấp Khế phủ Tĩnh Giang dàn thành thế trận hình cánh cung kéo dài dằng dặc. Bọn họ khoác lên mình bộ đồng phục màu lam đậm thêu hình cán cân đồng sáng chói nơi ngực áo bên trái, thắt lưng đeo đao bản rộng, bàn tay lăm lăm câu liêm và những thanh gậy thẩm vấn bịt đồng sáng loáng dùng để câu thúc linh khí kẻ phạm tội.

Ở chính giữa lối đi duy nhất lát bằng đá xanh dẫn thẳng lên cửa vòm Nam Môn, ba chiếc giá gỗ lim đồ sộ cao hơn đầu người nâng đỡ ba tấm Kính Chiếu Linh Khí tròn trịa, to như mặt khiên chiến của kỵ binh. Mặt kính làm bằng thứ thủy tinh dày dặn pha bột thạch anh tím khai thác từ mỏ quặng thượng nguồn, chốc chốc lại rung lên bần bật, lóe ra từng vệt sáng màu xanh lục sắc lẹm, quét trùm lên từng người một vừa bước chân từ bến sông lên bờ. Mỗi khi ánh sáng rọi trúng một phu khuân vác hay một gã lái buôn lén lút giấu linh dược hạ phẩm trong người, hoặc có bất kỳ dấu hiệu khí tức dị thường nào vượt quá hạn mức thông thường, chiếc chuông đồng nặng trịch treo trên đỉnh khung gỗ lập tức phát ra những tiếng *leng keng* chói tai, đanh thép. Ngay sau tiếng chuông là những tiếng quát tháo nạt nộ man rợ của toán nha sai đang chực sẵn, kéo theo cảnh tượng kẻ tình nghi bị túm tóc, lôi xềnh xệch vào trạm xét hỏi bằng gỗ dựng tạm ven đường.

"Xuống thuyền! Toàn bộ đứng yên theo đúng số hiệu ghi trên vận đơn! Cấm xô đẩy!"

Tiếng viên đội trưởng chấp khế đứng trên bục cao vang lên xé toạc bầu không khí ẩm ướt. Giọng gã khàn đặc vì khói thuốc và gió bến bãi, nhưng đanh thép như lưỡi búa gõ vào đe. Trên tay gã cầm một chiếc thước bản dẹp làm bằng gỗ mun có khắc vạch đo linh quang, nhịp đều đặn từng phát mạnh bạo vào thanh chắn bằng gang nguội.

Khi Nam cắn răng bước từng bước nặng trĩu lên bậc đá hoa cương ướt rượt trơn trượt của cầu cảng, tấm kính chiếu linh khí đặt trên chiếc giá gỗ cao nhất bỗng nhiên khựng lại, rồi phát ra một nhịp rung trầm đục nghe như tiếng trống đồng bị rạn vỡ. Ánh sáng tím nhạt từ mặt gương phẳng quét một vệt dài ngang qua lồng ngực anh, nơi có những dòng linh khí phàm nhân đang bị bầm dập, ứ trệ. Ngay khoảnh khắc tia sáng tím chạm vào ngực áo Nam, màu sắc của nó đột ngột biến đổi, chuyển thành một màu vàng sẫm nhờ nhờ như nước bùn đáy sông — dấu hiệu nhận diện bất di bất dịch của một kẻ đang phải chịu sự câu thúc ngặt nghèo của lệnh quản thúc dân sự liên phủ.

Chiếc chuông đồng trên đỉnh khung gỗ lim lập tức gióng lên ba tiếng cộc cằn, chát chúa:

*Keng! Keng! Keng!*

Bốn tên lính tuần đinh đứng gần nhất lập tức biến sắc, bước xéo những bước chân nặng nề mang ủng da bịt sắt tới bao vây. Bốn ngọn câu liêm sắc nhọn tuốt trần chìa thẳng vào yết hầu và ngực Nam, chặn đứng hoàn toàn lối bước tiếp theo.

"Kẻ nào? Mau xuất trình giấy thông hành môn bài!"

Một tên nha sai thuộc Ty Chấp Khế có khuôn mặt gãy gập gồ ghề, trên thắt lưng lủng lẳng một xâu thẻ bài bằng chì đen kịt, sấn bước lại gần. Cặp mắt ti hí của gã nheo lại, soi mói từng vệt máu bầm đã khô cứng bết lại nơi cổ áo vải dâu của Nam, rồi lập tức đảo sang chiếc cùm sắt màu đen lạnh lẽo lấp ló dưới tay áo rộng thùng thình của Kỷ Vân. Giọng điệu của tên nha sai lập tức đanh lại, chất chứa vẻ cảnh giác tột cùng và sự hung hãn thường thấy của loài chó săn chốn nha môn:

"Người mang dấu linh khí quản thúc dân sự liên phủ? Cổng Nam Môn không tiếp nhận bất kỳ bị can vãng lai nào, trừ phi có trát áp giải đặc biệt đóng dấu đỏ của quan nha phủ thành hoặc bản án chuyển giao chính thức từ Thẩm khế đại nhân! Lùi lại! Lùi lại ngay lập tức! Bước thêm nửa bước, trượng câu linh dưới chân sẽ đập gãy xương ống chân của ngươi!"

Nam hít một hơi thật sâu. Lồng ngực rách toạc nhói lên như có ngọn lửa thiêu đốt từ bên trong, khiến anh phải gồng mình nuốt ngược một ngụm đờm đặc lẫn máu tanh xuống cuống họng khô rát. Anh không lùi lại nửa phân, nhưng cũng tuyệt đối không bước tới, hai bàn tay gầy gò vẫn ôm chặt lấy chiếc tráp gỗ mun chứng từ TL-TamBờ-77 vào sát sườn mình. Anh hiểu luật pháp của Tòa Khế hơn bất kỳ ai ở cái bến tàu hỗn tạp này: trong tình trạng đang chịu sự quản thúc dân sự chờ mở phiên điều trần, bất kỳ một hành vi kháng cự bằng vũ lực nào đối với sai nha công vụ — dù chỉ là một cái gạt tay tự vệ — đều sẽ bị ghi vào biên bản là mưu toan đào tẩu. Và một khi cái tội danh ấy bị đóng dấu niêm phong lên hồ sơ, toàn bộ tư cách đối kháng hợp pháp của anh trên công đường sẽ bị tước đoạt sạch trơn ngay tức khắc, biến anh từ một bên đương sự đòi quyền lợi trở thành một tên tội phạm bị tống thẳng vào ngục tối.

"Tránh đường cho mối hàng của Liên hội Vận Thương!"

Một giọng nói sang sảng, vang dội như chuông đồng cất lên từ phía sau mạn thuyền, xua tan ngay bầu không khí ngột ngạt đang chực bùng nổ thành xung đột.

Tạ Bách sải những bước chân dài đầy tự tin vượt lên phía trước đám người. Chiếc áo dài bằng lụa màu hạt dẻ đắt tiền viền chỉ bạc lấp lánh của gã bay phần phật trong gió sông lạnh buốt. Khuôn mặt tròn trịa nhiều thịt, vốn dĩ những ngày lênh đênh trên sóng nước luôn nở nụ cười xuề xòa, dễ dãi của một tay buôn gạo lọc lõi, nay bỗng chốc co lại thành một vẻ uy nghiêm, bệ vệ và trịch thượng tột độ — cái thần thái chỉ có ở những kẻ nắm giữ cả núi tiền bạc và đã quá quen mặt với các bậc quyền quý chốn quan trường.

Tạ Bách thậm chí không buồn liếc mắt nhìn những ngọn câu liêm đang lăm lăm chĩa vào người Nam. Gã thẳng tay thò vào ngực áo trong, rút ra một tấm thẻ bài bằng đồng đỏ dày dặn, viền ngoài cẩn ngọc trắng bóng loáng, giơ thẳng tắp vào giữa mặt tên nha sai mặt gãy.

Dưới ánh sáng nhờ nhợt của buổi sớm sương mù, mặt trước của tấm thẻ bài phản chiếu bốn chữ lớn chạm khắc tinh xảo: *Liên Hội Vận Thương*. Mặt sau của nó là dấu triện đồng khắc nổi hình sóng nước và ấn ký của Thập Nhị Phủ Thương Trưởng, phát ra một luồng linh quang màu trắng đục ôn hòa, đại diện cho quyền lực tài chính tối thượng của giới thương nhân liên tỉnh.

Tên nha sai mặt gãy khựng phắt người lại, ngọn trượng câu linh trong tay bất giác hạ thấp xuống vài tấc. Ánh mắt hung tợn của gã lập tức chùng xuống, xen lẫn vẻ kinh ngạc và kiêng dè sâu sắc khi nhận diện được phẩm cấp tấm thẻ bài trên tay Tạ Bách.

Ở một thương cảng khổng lồ và phức tạp như Tĩnh Giang, việc một tên lính tuần đinh hay một sai nha gác cổng đạp gãy chân một gã lái buôn nhỏ lẻ hay tống giam vài tên phu phen không giấy tờ chỉ là chuyện vặt vãnh thường ngày, chẳng ai thèm đoái hoài. Nhưng gây khó dễ, hống hách với một chủ tàu mang thẻ hội viên chính thức của Liên hội Vận Thương — những kẻ nắm giữ huyết mạch lương thực, than đá và các dòng lưu chuyển bạc nén vào khắp các chợ lớn của phủ thành — thì hoàn toàn là một chuyện khác. Một lá đơn khiếu nại của bọn họ gửi thẳng lên Doanh Vận Ty cũng đủ khiến một viên đội trưởng mất chức, bị điều đi đày ở những chốt trạm xa xôi hẻo lánh ngoài biên ải.

"Thì ra... thì ra là Tạ lão bản của đội thuyền Thất Thất Nhị trứ danh," tên nha sai gượng gạo nuốt một nụ cười lấy lòng, hạ hẳn thanh thước gỗ mun xuống ngang thắt lưng. Dẫu vậy, ánh mắt cáo già của gã vẫn liếc xéo về phía Nam và Kỷ Vân với vẻ hoài nghi không giấu giếm: "Hàng hóa trên thuyền của ngài thì đã có Ty Kiểm Dịch bến ngoài tiếp nhận kiểm kê theo lệ thường. Nhưng tên tiểu tử này... hắn mang dấu vết linh khí quản thúc dân sự loại ba, số hiệu phát tán ra từ Trạm Trung Lập Tam Bờ. Phủ thành dạo này đang siết chặt an ninh đến mức con ruồi bay qua cũng phải soi xét để phục vụ kỳ đại hội đàm phán tín dụng liên bang. Bất kỳ ai mang án tích dân sự hoặc đang trong thời gian câu thúc đều tuyệt đối không được phép đặt nửa bước chân qua cổng Nam Môn, trừ phi có người đứng ra bảo chứng danh phận và chịu trách nhiệm liên đới."

"Ai bảo với ngươi là hắn không có bảo chứng danh phận?"

Tạ Bách cười khẩy một tiếng. Nụ cười của gã vừa đủ mỉa mai, vừa đủ sắc lạnh của một kẻ nắm luật trong lòng bàn tay và biết rõ cái giá của từng điều khoản hơn cả những kẻ đang đứng ra thi hành chúng. Gã quay đầu lại phía sau mạn thuyền, hất hàm ra hiệu cho người phụ kho Chấn Lùn đang đứng chờ lệnh:

"Chấn Lùn! Đem tráp công văn bảo chứng lại đây cho các vị quan nha mở rộng tầm mắt!"

Chiếc tráp da hươu bóng loáng được đặt phịch xuống chiếc bàn kiểm tra bằng đá của trạm gác. Bằng những động tác thành thạo, dứt khoát, Tạ Bách rút ra một xấp giấy hoa tiên dập nổi hoa văn sóng nước màu lam nhạt của Liên hội, đập mạnh xuống mặt bàn, ngón tay trỏ béo múp mang nhẫn ngọc bích gõ côm cốp vào dòng chữ son tươi rói ở ngay đầu trang văn bản:

"Mở to mắt chó của các ngươi ra mà đọc cho kỹ: Căn cứ theo Điều hai mươi mốt Quy chế Lưu thông Dân sự Cửu Hà, kết hợp cùng Nghị định thư Hỗ trợ Thương nghiệp Liên phủ đã được Thẩm khế viện phê chuẩn từ năm ngoái: Thương hội có toàn quyền chỉ định nhân viên chuyên trách đi cùng các lô hàng hóa đang phát sinh tranh chấp pháp lý để phục vụ công tác giám định độc lập, kiểm kê sổ sách và bảo toàn giá trị tài sản. Đây là bản cam kết bảo lãnh tài sản thương hội chịu trách nhiệm dân sự toàn phần do đích thân ta đứng tên!"

Gã nghiêng người tới trước, ép sát khuôn mặt to béo vào mặt tên nha sai đang lúng túng:

"Ta dùng ba chiếc thuyền buôn loại lớn, trọng tải mỗi chiếc năm trăm thạch đang neo đậu đàng hoàng tại bến ngoài, cộng thêm toàn bộ hạn mức tín dụng mười vạn lượng bạc trắng của chi nhánh hiệu buôn Tạ thị tại phủ thành Tĩnh Giang này để bảo lãnh cho sự hiện diện của Đỗ Hoài Nam!"

Nói đoạn, Tạ Bách giật lấy chiếc bút lông ngỗng cài trên giá bút của trạm gác, chấm đẫm vào nghiên mực chu sa đỏ thẫm, ký roẹt một đường nét chữ phóng khoáng, sắc sảo như rồng bay phượng múa. Đoạn, gã rút chiếc ấn đồng cá nhân chạm khắc gia huy họ Tạ từ thắt lưng ra, dùng toàn bộ sức nặng của thân hình to béo ấn mạnh xuống góc dưới tờ văn bản.

*Cộp!*

Một tiếng gõ khô khốc, nặng nề vang lên trên nền giấy hoa tiên dày dặn.

"Hắn bước chân vào phủ thành Tĩnh Giang với tư cách là Nhân viên thẩm định hàng hóa độc lập thuộc đoàn thương nhân của Tạ thị ta," Tạ Bách ngẩng đầu lên, ánh mắt lộ rõ vẻ sắc sảo, lạnh lùng ẩn sâu bên dưới lớp thịt béo tốt của khuôn mặt. "Nếu hắn dám bỏ trốn khỏi thành, hiệu buôn họ Tạ ta chấp nhận nộp phạt bạc trắng theo khung trừng phạt cao nhất của Tòa Khế. Nếu hắn gây ra bất kỳ hành vi phá hoại tài sản nào, ba chiếc thuyền buôn năm trăm thạch của ta lập tức nằm lại bến cho quan nha các ngươi dán niêm phong bán đấu giá. Giờ thì sao? Các ngươi muốn tự tay đóng dấu thị thực vào phiếu nhập thành cho hắn, hay là muốn đích thân ta phải cầm tờ bảo lãnh này lên tận sảnh Doanh Vận Ty, gõ trống hỏi xem từ bao giờ đám lính gác cổng Nam Môn lại có quyền năng đứng trên cả văn bản bảo lãnh có bảo chứng tài sản của Liên hội Thương nhân?"

Tên nha sai mặt gãy đứng chôn chân tại chỗ, cổ họng giật giật rồi nuốt nước bọt một cái *ực* rõ to. Gã cẩn thận, run rẩy nhặt tờ giấy bảo lãnh lên, đưa vào sát bên dưới luồng ánh sáng tím phát ra từ tấm kính chiếu linh khí.

Dấu triện ngọc của Liên hội cùng chữ ký bằng chu sa còn ướt của Tạ Bách lập tức hấp thụ linh quang, bùng lên một quầng sáng đỏ rực, ổn định và sắc nét phi thường. Đó là thứ linh quang bảo chứng tài sản tuyệt đối, không một phường làm giả giấy tờ nào dọc lưu vực sông Cửu Hà có thể mô phỏng nổi. Với một khối tài sản bảo đảm khổng lồ đến mức ngạt thở như thế đè nặng lên một văn bản dân sự, dẫu Nam có là một tên đầu trộm đuôi cướp chuyên nghiệp thì nha môn cũng chẳng mảy may lo sợ việc mất dấu phạm nhân. Bởi lẽ, giá trị thực tế của ba con thuyền buôn cùng mười vạn lượng tín dụng kia thừa sức để nha môn đền bù gấp mười lần cho bất kỳ sai phạm kinh tế nào mà một phàm nhân như Nam có thể gây ra trong bảy ngày tới.

Tên nha sai hậm hực thở hắt ra một hơi, bực bội cầm lấy chiếc ấn vuông bằng đồng đen của Nam Môn dập mạnh xuống mặt tờ giấy thị thực:

"Thị thực tạm trú có thời hạn bảy ngày theo diện bảo lãnh thương nghiệp đặc thù! Tuyệt đối không được phép bước chân ra khỏi ranh giới quy định của phủ thành! Đúng vào giờ Dậu mỗi ngày, phải đích thân đến trình diện tại điểm danh bộ của Ty Chấp Khế phường Nam để đối chiếu linh tức! Nếu trễ một khắc, lệnh truy nã toàn thành sẽ lập tức có hiệu lực! Cầm lấy!"

Một tấm thẻ bài bằng gỗ thị bọc viền sắt đen, bên trên khắc chìm bốn chữ *Lưu Trú Tạm Thời*, bị tên nha sai ném cộc lốc xuống mặt bàn đá, trượt dài về phía Nam.

Nam đưa bàn tay gầy guộc, run rẩy vì kiệt sức nhặt lấy tấm thẻ bài. Hơi lạnh buốt giá của thanh sắt bọc ngoài truyền thẳng qua da thịt, thấm sâu vào lòng bàn tay anh. Anh ngước mắt nhìn Tạ Bách, khẽ gật đầu bằng tất cả sự cảm kích:

"Đa tạ Tạ lão bản đã ra tay bảo lãnh."

"Đừng vội nói lời cảm tạ ở đây," Tạ Bách khẽ nhíu mày, đưa tay túm lấy bắp tay Nam, kéo mạnh anh lệch hẳn sang một góc lán bạt khuất gió của trạm kiểm tra, tách biệt hoàn toàn khỏi tầm tai mắt của đám lính gác cổng đang bực tức.

Ngay khi bóng tối của mái bạt che khuất khuôn mặt, nụ cười niềm nở, đắc ý lúc nãy của gã thương nhân lập tức biến mất sạch sành sanh không để lại một dấu vết. Thay vào đó là một vẻ mặt lạnh lùng, sắc như dao cạo, đậm đặc nét tính toán thực dụng của một kẻ đã dành trọn cả nửa đời người để cân đo đong đếm từng đồng bạc lời lãi giữa chốn thương trường gió tanh mưa máu.

Từ sâu trong tay áo lụa rộng thùng thình, Tạ Bách rút ra một tờ giấy bản khác đã được soạn thảo kỹ lưỡng từ trước. Nét mực đen nhánh trên mặt giấy vẫn còn thoang thoảng mùi keo thông tươi mới.

"Chữ ký vừa rồi của ta trị giá bằng ba con thuyền buôn lớn và một phần ba toàn bộ cơ nghiệp của dòng họ Tạ ở đất Tĩnh Giang này đấy, tiểu tử," Tạ Bách hạ giọng xuống mức thấp nhất, từng lời từng chữ thốt ra đều nặng trịch, dằn mạnh như đá tảng ném xuống bùn sâu. "Ta cứu mạng ngươi ở cửa sông, giấu ngươi trong khoang đáy để kéo ngươi thoát khỏi nanh vuốt của lũ chó săn do Lương Trạch phái tới, rồi bây giờ lại đem cả danh dự và sản nghiệp của thương hội ra để đưa ngươi bình an bước chân qua cánh cổng thành này. Nhưng Đỗ Hoài Nam, ngươi phải khắc cốt ghi tâm lấy một điều: Ta là một thương nhân, không phải là một kẻ làm việc thiện ở cửa chùa."

Gã giũ nhẹ tờ giấy bản, chìa thẳng ra trước ngực Nam. Đó là một bản văn bản giao kết dân sự tư nhân, được viết bằng lối hành văn hành chính vô cùng chặt chẽ.

"Điều khoản giao ước rất rõ ràng sòng phẳng: Đổi lại tờ giấy bảo lãnh tính mạng vừa rồi, ngay khi ngươi dùng tư cách nhân viên kiểm toán độc lập hoặc bất kỳ phán quyết tạm thời nào của Tòa Khế để bước chân vào được kho lưu trữ hồ sơ kho vận của Doanh Vận Ty và Ty Chấp Khế phủ Tĩnh Giang, ngươi bắt buộc phải trích lục toàn bộ và bàn giao độc quyền cho ta bản kết quả kiểm toán tất cả các tuyến vận tải có liên quan trực tiếp đến đội tàu họ Tạ trước tiên. Ta cần biết chính xác tên sâu mọt nào trong nha môn đã cạo sửa mớn nước các thuyền buôn của ta, đứa nào đã cấu kết ăn chặn tỷ lệ hao hụt sinh cơ trên tuyến huyết mạch Đoan Kiều để rồi đổ vấy toàn bộ trách nhiệm bồi thường lên đầu đám thủy thủ đoàn của ta! Ngươi đi tìm công lý cho phường thợ Bến Lau của ngươi, còn ta, ta đi tìm lại những con số sổ sách trong sạch để giữ lấy chén cơm cho con cháu dòng họ ta. Ký tên vào đây!"

Nam cúi đầu chăm chú nhìn vào từng dòng chữ trên tờ giấy giao kết. Các điều khoản ràng buộc quyền lợi và trách nhiệm của anh được thiết lập vô cùng kín kẽ, sắc sảo đến từng dấu phẩy, không để lộ ra bất kỳ một kẽ hở pháp lý nào. Tạ Bách hoàn toàn không đòi hỏi tiền bạc hay châu báu từ anh vào lúc này, bởi gã thừa thông minh để hiểu rằng trong túi Nam giờ đây không có lấy một đồng kẽm rỉ sét. Thứ mà gã thương nhân lọc lõi này thèm khát và đặt cược cả gia sản vào chính là đôi mắt kiểm sổ vô song của Nam — năng lực bóc trần những sự thật tàn nhẫn bị chôn vùi dưới hàng tầng lớp lớp những con số giả mạo trong kho lưu trữ của nha môn.

Không một thoáng do dự, Nam đưa ngón tay cái đã khô ráp, nứt nẻ vì gió lạnh lên miệng, cắn mạnh một nhát. Vị máu tanh nồng lập tức lan tỏa nơi đầu lưỡi. Anh ấn thật mạnh ngón tay rỉ máu tươi xuống góc dưới cùng của tờ giấy giao kết, đè trọn vẹn lên bên cạnh dòng chữ: *Người giao kết: Đỗ Hoài Nam*.

"Thành giao," Nam ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào đôi mắt hẹp dài của Tạ Bách mà không hề chớp mắt. "Chỉ cần tôi còn giữ được mạng sống này để bước chân ra khỏi kho lưu trữ hồ sơ của Ty Chấp Khế, từng con số, từng mớn nước, từng cân sinh cơ bị ăn chặn liên quan đến đội tàu của ông sẽ được hoàn trả lại trên giấy trắng mực đen, không thiếu một hào."

Tạ Bách cẩn thận nâng tờ giấy lên, đưa miệng thổi nhẹ cho vết máu bầm se lại, rồi gấp ngay ngắn nhét sâu vào trong vạt áo ngực. Vẻ mặt căng thẳng của gã lúc này mới hơi giãn ra đôi chút, khẽ gật đầu tán thưởng:

"Tốt lắm. Kẻ nghèo hèn thì nhiều vô kể, nhưng kẻ biết tôn trọng giá trị của từng dòng chữ trên giấy tờ như ngươi thì trên khắp chín khúc sông Cửu Hà này quả thực chẳng còn lại mấy người. Đi thôi, đừng đứng chôn chân ở đây làm mồi ngon cho tai mắt của lũ tuần đinh nữa."

Cả nhóm bốn người rảo bước qua cánh cổng sắt đồ sộ, hoen rỉ của Nam Môn, chính thức đặt chân vào khu chợ bến nằm nép sát ngay dưới chân tường thành phía bên trong.

Vừa bước qua khỏi vòm cổng đá tối tăm, một thế giới hoàn toàn khác lập tức ập vào mọi giác quan của Nam. Đó là một mớ thanh âm hỗn tạp, đinh tai nhức óc và muôn vàn mùi vị nồng nặc: tiếng búa tạ của những người thợ rèn đập chan chát vào những thanh sắt nung đỏ trong các lò rèn dã chiến ven đường, tiếng móng sắt của những đàn lừa thồ quặng gõ lóc cóc dồn dập trên mặt đường lát đá phiến gồ ghề, tiếng cãi vã, ngã giá ỏm tỏi của đám thương lái buôn da cừu và quặng đồng đến từ miền sơn cước, xen lẫn với mùi mỡ cá nướng hành khét lẹt bốc lên nghi ngút từ những hàng quán ăn lụp sụp dựng tạm bợ bằng những tấm phên nứa rách nát.

Tạ Bách dường như quá quen thuộc với từng ngóc ngách của khu chợ bến này. Gã thoăn thoắt dẫn cả nhóm rẽ vào một con hẻm nhỏ, dừng lại trước một quán trà mái lá xụp xệ nằm nép mình dưới bóng mát của một cây đa cổ thụ rễ cây chằng chịt, uốn éo như đàn trăn khổng lồ bò lan trên mặt đất. Quán trà tồi tàn, ẩm thấp, bàn ghế chỉ là những chiếc thùng gỗ thông cũ kỹ đã cáu bẩn vì cặn trà và bụi đường, nhưng lại sở hữu một góc nhìn vô cùng đắc địa: từ đây có thể bao quát toàn bộ con đường đá chính dẫn từ bờ sông thẳng ra cổng Nam Môn mà không sợ bị người khác chú ý.

"Ngồi xuống đây uống tạm ngụm nước nóng cho lại sức đã," Tạ Bách vẫy tay, móc từ thắt lưng ra hai đồng tiền kẽm ném cạch một tiếng xuống mặt thùng gỗ. "Chờ tên Phạm Diên làm xong thủ tục bàn giao văn kiện vận tải với bên giám sát nha môn xong xuôi rồi chúng ta mới tính tiếp đường đi nước bước."

Nam vừa ngồi sụp xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp ọp ẹp, cơn đau dữ dội nơi lồng ngực lại như một đợt thủy triều dâng trào, dội lên từng cơn buốt nhói đến tận óc. Anh khẽ khom người, hai tay ghì chặt lấy xương sườn, hơi thở dồn dập và đứt quãng như người sắp chết đuối.

Kỷ Vân ngồi ở chiếc ghế đối diện, ánh mắt sắc lạnh như băng liếc nhìn qua bàn tay đang run rẩy bần bật của anh, giọng nói trầm thấp, không mang theo nửa phần thương hại nhưng lại chứa đầy sự cảnh tỉnh:

"Kinh mạch Phế Du của anh bị rách toạc chưa hề khép miệng, tuyệt đối không được cố nín thở để ghìm cơn đau. Khí tức của một phàm nhân nếu không được lưu chuyển điều hòa qua hơi thở tự nhiên sẽ nhanh chóng ứ đọng lại nơi lồng ngực, biến thành máu độc tụ lại trong cuống họng. Uống ngay ngụm trà gừng nóng kia đi, để dương khí trong gừng dẫn hỏa bớt ứ trệ."

Nam nghe theo lời cô, run rẩy bưng chiếc bát sành thô kệch đựng nước trà gừng đang bốc khói nghi ngút lên ngang miệng. Vị cay nồng, chát đắng và nóng rẫy của gừng già xộc thẳng lên sống mũi, chạy dọc xuống cổ họng khô khốc, xua tan bớt phần nào cảm giác lạnh buốt thấu xương đang bám riết lấy đan điền và tứ chi của anh.

Đúng lúc đó, từ phía con đường cái dẫn vào chợ, một đứa trẻ trạc mười ba, mười bốn tuổi, mặc chiếc áo cộc tay bằng vải thô nhuộm chàm loang lổ những vệt thuốc nhuộm màu xanh thẫm đặc trưng của phường thợ nhuộm hạ lưu bãi bồi, trên tay cắp một chiếc mẹt tre con đựng đầy những gói kẹo mạch nha bọc lá chuối khô và vài quả hồng chín đỏ, lững thững bước vào quán trà. Thằng bé đi quanh các

bàn mời chào bằng giọng hát ngọng nghịu của dân miền bãi bồi:

"Ai mua kẹo dẻo Bến Lau không... kẹo ngọt đậm đà, vải thô ba lớp nhuộm chàm không phai đây..."

Nghe thấy hai chữ *Bến Lau*, Nam giật thót mình, chiếc bát sành thô kệch trên tay chao đảo, nước trà gừng vàng đục sóng sánh suýt nữa tràn qua mép bát rớt xuống vạt áo nhuộm bụi đường. Anh ngẩng phắt đầu lên, lồng ngực vừa siết lại vì cử động đột ngột liền nhói lên một cơn co giật buốt rát, nhưng ánh mắt anh đã kịp khóa chặt vào bóng dáng nhỏ thó vừa bước qua ngạch cửa bằng gỗ cây vông mục nát.

Đó là một đứa trẻ gầy guộc, hai bắp chân khẳng khiu bám đầy bùn non khô trắng của vùng phù sa cửa sông. Chiếc áo cộc tay bằng vải thô rách tơi tả ở mép gấu loang lổ từng mảng thuốc nhuộm chàm thẫm màu—thứ sắc xanh xỉn, bám chặt vào từng thớ vải và ăn sâu vào tận kẽ móng tay cáu bẩn mà chỉ có những kẻ ngâm mình thâu đêm suốt sáng bên các hố ủ lá vôi của phường thợ hạ lưu mới mang trên mình. Trên chiếc mẹt tre con cắp ngang nách, những thanh kẹo mạch nha kéo dài bằng ngón tay được bọc sơ sài trong mảnh lá chuối héo khô, xen kẽ với mấy quả hồng chín đỏ da đã nhăn nheo vì sương muối bến sông.

Thằng bé bước đi lững thững giữa những dãy bàn kê san sát, miệng không ngớt rao những câu đồng dao vụng về, ánh mắt tưởng như ngơ ngác nhìn trộm những xâu tiền đồng lủng lẳng bên hông khách thương hồ, nhưng thực chất lại cực kỳ sắc sảo và cảnh giác. Mỗi bước chân trần của nó trên nền đất nện ẩm ướt đều không phát ra tiếng động, khéo léo lách qua những gùi hàng gai góc, những bọc hành lý chất đống của đám phu khuân vác đang ngồi thở dốc.

Rồi như một sự tình cờ tuyệt đối của một kẻ bán rong vụng về, mũi chân khẳng khiu của nó va nhẹ vào chân chiếc bàn thông ọp ẹp nơi nhóm người đang ngồi.

Một thanh kẹo mạch nha bọc lá chuối tuột khỏi mép mẹt, rơi cạch xuống nền đất xỉn màu ngay cạnh bàn chân Nam.

"Ai chà, vụng chân vụng tay quá..." Thằng bé lẩm bẩm, miệng xuýt xoa, vội vàng khom người thụp xuống gầm bàn như muốn nhặt lại món hàng mọn.

Trong khoảnh khắc tầm mắt của đám thực khách trong quán bị che khuất bởi mặt bàn gỗ dán dày cộp và chiếc gùi tre của Tạ Bách, đôi mắt đen láy của thằng bé quét qua vết máu khô cứng nơi vạt áo trước ngực Nam, rồi dừng lại trừng trừng trong nửa nhịp thở nơi chiếc tráp gỗ mun đang được anh giữ chặt trên đùi. Không một động tác thừa thãi, không một thoáng run rẩy của kẻ non tay, bàn tay thoăn thoắt đầy những vết xước răm của nó luồn sâu xuống dưới gầm bàn thông, vòng qua mép xà ngang mục ải.

Một bọc vải dầu nhỏ chỉ bằng bàn tay, bề mặt trơn nhẵn bóng nhẫy mỡ lợn và lạnh ngắt hơi ẩm sông hồ, được nhét chuẩn xác vào lòng bàn tay đang buông thõng của Nam.

Cảm giác trơn trượt của lớp mỡ chống thấm chạm vào da thịt khiến các ngón tay Nam theo phản xạ co quắp lại, nắm chặt lấy vật thể lạ.

Thằng bé ngẩng mặt lên trong gang tấc. Dưới gầm bàn tối tăm mờ mịt, ánh mắt nó sáng rực một thứ thần sắc già dặn trước tuổi của những đứa trẻ lớn lên giữa mùi bùn lầy và nước thải thuốc nhuộm bãi bồi. Môi nó mấp máy, thanh âm cực nhỏ nén lại thành một sợi chỉ mỏng manh lọt vào tai Nam bằng thứ thổ ngữ lóng đặc sệt của phường thợ:

"Chị An dặn: Người nhận hàng không được để ướt giấy."

Dứt lời, bàn tay thằng bé đã chộp lấy thanh kẹo dưới đất. Nó bật người đứng thẳng dậy nhanh như một con sóc rừng, mặt mày lập tức đổi thành vẻ bẽn lẽn của đứa trẻ sợ bị mắng mỏ, cất giọng the thé thanh minh với mấy người khách ngồi cạnh:

"Đa tạ các đại gia không trách mắng, tiểu đệ vụng về xin đi bàn khác!"

Nó cắp chiếc mẹt tre con vào nách, quay ngoắt người lách qua khe hẹp giữa hai thùng hàng bằng nan nứa, thoăn thoắt hòa vào dòng người đông đúc xuôi ngược ngoài cửa quán. Chiếc áo cộc nhuộm chàm xanh xỉn nhấp nhô giữa những nón mê, nón chóp rồi biến mất tăm sau khúc ngoặt dẫn về phía chợ phiên bờ sông chỉ trong tích tắc, không để lại bất kỳ một dấu vết nào có thể truy tầm.

Lồng ngực Nam thắt lại, anh nín thở, cơ thể bất động như một bức tượng gỗ. Bàn tay giấu dưới gầm bàn siết chặt lấy bọc vải dầu, cảm nhận được lớp mép gấp được dán kín bằng sáp ong khô cứng bên dưới lớp mỡ trơn.

Lục Sâm ngồi bên cạnh không hề quay đầu lại nhìn theo thằng bé. Gã thợ trận chỉ lẳng lặng nâng bát nước chè tươi lên hớp một ngụm lớn, rồi dùng toàn bộ thân hình hộ pháp bè bè như tảng đá hoa cương của mình hơi ngả sang một bên, giả vờ như với tay lấy chiếc ống đựng tăm tre đặt ở giữa bàn. Bả vai rộng thênh thang và tấm lưng dày cộp bọc trong lớp áo giáp thợ thô kệch của gã tạo thành một bức tường thịt vững chãi, chắn đứng hoàn toàn tầm mắt từ phía con đường cái ngoài cửa quán nhìn thẳng vào góc bàn tối tăm nơi Nam đang ngồi.

Ở phía đối diện, Kỷ Vân cũng phản ứng với sự chuẩn xác lạnh lùng của một cựu chấp hành viên dạn dày kinh nghiệm săn đuổi. Ống tay áo rộng của cô khẽ hạ thấp xuống mặt bàn, che đi tiếng lách cách rất khẽ của chiếc cùm sắt tỏa linh khí đang khóa chặt hai cổ tay. Đôi mắt sắc như dao cạo của cô không nhìn Nam, mà quét một vòng chậm rãi, sắc lạnh qua từng gương mặt thực khách trong quán: từ hai gã buôn muối đang mải mê gieo xúc xắc bên vò rượu, lão lái đò râu ria xồm xoàm đang ngủ gục trên bao tải ngô, cho đến tên tiểu nhị đang lăng xăng châm nước sôi vào ấm trà ở góc quầy. Khi chắc chắn không có bất kỳ ánh mắt khả nghi nào nhắm vào góc bàn này, cô mới khẽ gõ đầu ngón tay trỏ xuống mặt gỗ mục ba nhịp ngắn.

Đó là tín hiệu an toàn.

Nam từ từ rút bọc vải dầu lên, đặt gọn gàng vào khoảng trống giữa mép bàn và thành chiếc tráp mun, hoàn toàn nằm khuất dưới bóng râm của vạt áo ngoài đang rũ xuống. Đầu ngón tay anh khẽ lách vào lớp sáp niêm phong nơi mép gấp. Lớp sáp ong pha mỡ cá giòn rụm nứt ra thành từng mảng nhỏ li ti, để lộ bên trong hai lớp bảo vệ bằng giấy dầu mỏng.

Bên trong bọc vải là hai thứ vật phẩm: một bức mật thư được gấp làm tư, giấy thô màu vàng xỉn viết bằng thứ mực nước vỏ cây chàm pha nhựa dẻo đặc trưng của thợ nhuộm, và một cuộn giấy bản dài dằng dặc, được kẻ ô vuông vức ngay ngắn bằng loại mực đen tự chế từ muội than tro bếp và hồ gạo.

Nam mở bức mật thư ra trước. Mặt giấy thô ráp cọ vào đầu ngón tay anh ráp buốt. Những dòng chữ mảnh dẻ, thẳng hàng nhưng từng nét gãy góc cạnh đều toát lên vẻ cứng cỏi, dứt khoát quen thuộc của Hoài An đập vào mắt anh:

*Anh,*

*Ở Bến Lau, bọn nha sai của Võ Nghiêm và đám tay chân Chấp Khế lùng sục rát lắm. Căn nhà tranh của chúng ta đã bị chúng dán bùa niêm phong ba lớp, cắm cọc sắt giữ đất. Nhưng em và bà con phường nhuộm không trốn. Bác Thuận thợ cả đã tỉnh lại, dù mất hai năm sinh cơ nhưng bác ấy nhớ rõ từng lời anh nói về quy chuẩn y tế.*

*Em đã bí mật tập hợp được người của bốn phường thợ: thợ nhuộm, thợ hồ vải, phu gánh nước tro và người chèo đò bến hạ. Mọi người đều căm phẫn khi biết mình bị gài tên bảo lãnh cho tên tu sĩ Tống Lăng nào đó. Trong cuộn giấy đính kèm là Bảng kê nhân sự do chính tay em cùng các bác thợ cả rà soát thâu đêm suốt ba ngày qua.*

*Anh hãy nhìn kỹ từng cái tên. Bọn chúng nghĩ dân nghèo mù chữ thì không biết ghi nhớ đời mình. Chúng ta có thể nghèo, nhưng chúng ta biết rõ chân mình từng bước đến đâu.*

*Giữ lấy mạng mà về.* *An.*

Từng con chữ như mang theo hơi thở dồn dập, mùi khói rơm rạ ẩm ướt và sự quật cường của những con người lam lũ nơi bãi bồi ven sông. Nam cảm thấy lồng ngực mình nghẹn lại, một cảm giác ấm nóng dâng lên nơi hốc mắt nhưng lập tức bị ý chí sắt đá dằn xuống. Anh có thể hình dung ra cảnh tượng cô em gái nhỏ bé của mình phải nửa đêm lội qua những mương nước thối, chui rúc dưới những hầm ủ vải ngột ngạt mùi amoniac và vôi sống để gặp từng người thợ già, thắp từng mẩu nến vụn để ghi chép lại từng vết tích sinh mệnh của dân làng. Sự kiên cường của cô bé và những người thợ bến sông đang truyền một luồng sinh khí mới vào cơ thể tàn tạ, rách nát vì nội thương của anh.

Anh khẽ hít một hơi sâu, nén chặt cơn đau quặn thắt nơi xương sườn, rồi cẩn trọng trải cuộn giấy bản thứ hai ra ngay trên nắp chiếc tráp gỗ mun, vạt áo ngoài buông xuống che chắn tứ phía như một mái lều con.

Tấm giấy bản thô mỏng nhưng dai, dài gần ba thước, bề mặt được chia thành các cột mục ngay ngắn đến kinh ngạc. Đây là một bảng kê chi tiết toàn diện về ba mươi sáu con người ở Bến Lau bị gắn tên vào các phụ lục bảo lãnh sinh cơ ma quái: từ người thợ nhuộm cả đời ngâm tay trong chậu nước chàm như Trần Thụ, lão Cửu gánh nước tàn tật, cho đến những thiếu niên vắt vải mới mười lăm, mười sáu tuổi.

Bên cạnh họ tên, tuổi tác, vết sẹo nhận dạng và dấu điểm chỉ bằng thứ mực nước chàm xanh ngắt không thể tẩy xóa, là một cuốn nhật ký di chuyển và tình trạng sức khỏe tỉ mỉ đến từng chi tiết trong suốt năm năm qua của từng cá nhân. Từng ngày sốt rét, từng đợt ngã nước sông, từng phiên chợ họ gánh vải đi bán xa nhất là bao nhiêu dặm đều được ghi chép rành rọt, bên dưới mỗi mục đều có chữ ký thô kệch hoặc dấu khắc bằng gỗ ổi của bốn vị trưởng phường thợ chứng thực.

Nam đưa tay lật nhẹ góc khóa đồng của chiếc tráp mun, thận trọng rút ra cuốn *Sổ Đối Chiếu* bọc bìa da rễ cây xù xì cùng tập trích lục mang ký hiệu *TL-TamBờ-77* còn thơm mùi mực son đỏ thắm mà Giám trạm Thôi Chấn đã đích thân đóng dấu thị thực vào chiều ngày hôm qua tại Trạm Trung Lập.

Bàn tay anh run rẩy lướt trên mặt giấy, lần tìm từng dòng mã số khế ước chạy dài từ dải *HN-BảoLãnh-401* cho tới *HN-BảoLãnh-440*.

Trên những tờ công văn tráo đổi bằng giấy xuyến chỉ thượng hạng mà đám sát thủ của Lương Trạch từng liều mạng toan thiêu hủy trong trận phục kích ở Tam Bờ, toàn bộ ba mươi sáu con người bần hàn của Bến Lau đều bị buộc chặt vào nghĩa vụ bảo lãnh sinh cơ cho khoản nợ linh thạch khổng lồ của tên tu sĩ Tống Lăng đào tẩu. Điểm mấu chốt mang tính pháp lý tối thượng để Ty Chấp Khế có thể hạ lệnh cắm cọc câu linh cưỡng đoạt sinh mệnh của họ chỉ dựa vào một căn cứ duy nhất được ghi rành rành ở Điều khoản Dẫn chiếu: *Hồ sơ giám định thể trạng và trích xuất huyết dịch lưu trữ tại Y quán công Tĩnh Giang*.

Mỗi một cái tên trong phụ lục cưỡng thu đều được gắn liền với một mã số lưu trữ bệnh án cụ thể, kèm theo lời chứng thực có đóng dấu tròn của Ty Y tế Phủ thành: "Đương sự đã qua thăm khám lâm sàng, xác nhận thể trạng đủ điều kiện sinh cơ bảo chứng và tự nguyện trích xuất lưu trữ huyết dịch phục vụ công tác điều trị dự phòng dịch bệnh."

Nhưng khi Nam đặt ngón tay đối chiếu từng dòng mã số đó với bản kê khai sinh hoạt thực tế của Hoài An gửi đến, một nghịch lý kinh hoàng, một sự giả mạo ghê tởm đến mức rợn người lập tức phơi bày mồn một dưới ánh sáng ban ngày.

Cái tên đầu tiên: Trần Thụ, bốn mươi hai tuổi, thợ nhuộm bậc ba của phường thợ Bến Lau.

Bảng kê của Hoài An cùng lời làm chứng của bác Thuận thợ cả ghi rõ ràng từng nét mực tro: *Trần Thụ sinh ra tại bãi bồi, từ nhỏ đến lớn chưa từng rời khỏi Bến Lau quá mười dặm đường sông. Ba năm trước, vào đợt đại dịch tả hoành hành hạ lưu sông Tam Hà, cả nhà bốn người đều mắc bệnh, Trần Thụ tự đào rễ cỏ tranh và hái lá ổi non sắc nước uống cầm cự trong chòi canh bãi ngô suốt một tháng ròng rồi tự khỏi. Cả đời chưa từng đặt chân đến phủ thành Tĩnh Giang, chưa từng bước qua ngạch cửa của bất kỳ y quán hay đan phòng nào.*

Thế nhưng, trên văn bản khế ước mang con dấu đỏ chót của Ty Chấp Khế, dưới cái tên Trần Thụ lại hiển hiện một mã số lưu kho bệnh án đầy kiêu hãnh: *TG-YQuán-Huyết-9042*, kèm theo biên bản trích dẫn ghi rõ: "Đã tiếp nhận điều trị nội trú tại Y quán công Tĩnh Giang vào ngày mười bốn tháng Bảy năm Khang Định thứ mười, trích xuất ba chén huyết dịch lưu trữ tại kho bảo quản đan dược số bốn"!

Ngón tay Nam run lên bần bật, anh dời mắt xuống dòng tiếp theo.

Lão Cửu gánh nước, năm mươi chín tuổi. Bảng kê ghi: *Mắt phải mù lòa do vôi bắn vào từ năm hai mươi tuổi, chân trái tật nguyền teo cơ sau một trận ngã giàn phơi, đi lại phải chống gậy tre. Suốt bốn mươi năm chỉ quanh quẩn gánh nước từ bến sông lên các bể ngâm chàm trong phạm vi nửa dặm.*

Vậy mà trên hồ sơ bảo lãnh sinh cơ, lão Cửu lại mang mã số: *TG-YQuán-Huyết-9055*, hồ sơ bệnh án chứng nhận: "Thể trạng sung mãn, huyết dịch thuần hậu, tự nguyện trích huyết hiến tặng"!

Nam cắn chặt môi dưới, lật liên tiếp từng trang, rà soát từng cái tên còn lại. Hai mươi chín con người tiếp theo, không một ai ngoại lệ! Toàn bộ ba mươi sáu con người bần hàn, quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời, chân lội bùn sâu chưa từng một lần nhìn thấy cổng thành Tĩnh Giang vuông tròn ra sao, lại đồng loạt có hồ sơ bệnh án hoàn chỉnh, có ngày giờ khám nghiệm chi tiết, có mã số phân loại huyết dịch nằm ngay ngắn trong hệ thống lưu trữ y tế cấp phủ!

Và khủng khiếp hơn cả: bọn chúng thực sự có mẫu huyết dịch thật để cung cấp cho trận pháp! Không có huyết dịch thật làm chất dẫn, cọc câu linh của Ty Chấp Khế không thể nào khóa chuẩn xác kinh mạch và rút cạn sinh cơ của họ từ khoảng cách hàng trăm dặm.

Một luồng khí lạnh buốt xông thẳng từ sống lưng lên đỉnh đầu Nam. Cơn buốt nhói nơi kinh mạch Phế Du dường như đông cứng lại trước sự bàng hoàng tột độ.

"Lục Sâm... nhìn kỹ chỗ này đi," Nam thì thào, giọng anh khản đặc, nghẹn ứ nơi cuống họng. Anh khẽ đẩy góc cuộn giấy bản và tập trích lục sang bên cạnh, ngón tay run rẩy gõ mạnh vào dãy ký tự *TG-YQuán-Huyết*.

Lục Sâm lập tức cúi thấp đầu, đôi mắt một mí ti hí của gã nheo lại, dán chặt vào từng ký tự viết bằng thứ mực son pha bột khoáng. Hai hàng lông mày rậm rạp như hai con sâu róm của gã thợ trận nhíu chặt lại thành một khối gồ ghề. Gã hít mạnh một hơi khí lạnh qua kẽ răng, phát ra tiếng rít khe khẽ:

"Mã lưu kho của hệ thống Y quán công lập... Mẹ kiếp, hèn chi! Hèn chi cái đêm ở miếu hoang Hạ Nham, khi lão tử dùng dung dịch chu sa nung chảy để bóc tách tàn dư sợi huyết tuyến bám trên đầu ngạnh chiếc cọc câu linh thu được, ta đã thấy màu sắc của nó nhớt quánh một cách kỳ quái. Khi nhỏ giấm thanh vào, tro cốt bốc lên mùi cặn dạ giao đằng, cỏ mê hồn và tro xương cá chuối!"

Gã thợ trận nghiến răng ken két, bàn tay to bè đầy sẹo siết chặt lại đến mức các khớp xương kêu răng rắc:

"Dạ giao đằng để giữ cho máu không đông thành cục, cỏ mê hồn để áp chế tàn dư thần thức của kẻ bị lấy máu, còn bột xương cá chuối là phương thuốc dân gian rẻ tiền nhất mà các y quán dùng để ướp xác và bảo quản mủ máu của các bệnh nhân chết dịch trong mùa nước nổi! Đó hoàn toàn không phải là máu tươi trích xuất trực tiếp từ người sống theo đúng nghi thức khế ước!"

"Điều đó rốt cuộc có nghĩa là gì?" Nam hỏi, giọng anh run rẩy, dù trong đầu một phác giác khủng khiếp đã dần thành hình.

Kỷ Vân ngồi đối diện nãy giờ vẫn im lặng quan sát. Nghe đến đây, bờ vai cô khẽ rung lên. Cô ngước mắt lên nhìn Nam, trong đôi con ngươi xám tro của người từng là chấp hành viên mẫn cán của Ty Chấp Khế bừng lên một thứ hàn quang sắc lạnh, tàn nhẫn và thấu suốt:

"Nghĩa là Lương Trạch và đồng bọn không chỉ đơn thuần là mua chuộc đám sai nha hay trộm con dấu lưu động của một người chết như Phan Vĩnh. Quy mô của vụ này lớn hơn thế gấp mười lần. Bọn chúng đã câu kết chặt chẽ với cả một đường dây trong hệ thống y quán của phủ thành."

Kỷ Vân hơi nghiêng người tới trước, thanh âm hạ thấp xuống mức tối thiểu, lạnh lẽo như tiếng kim loại cọ sát dưới đáy mồ:

"Ba năm trước, trận đại dịch tả tràn qua toàn bộ vùng hạ lưu Tam Hà. Người chết như rạ, xác thả trôi sông không kịp chôn cất, hàng vạn bần dân ngã bệnh nằm la liệt. Khi đó, để dập tắt dịch bệnh và ngăn chặn oán khí hóa thành tà ma, nha môn phủ thành đã lệnh cho hệ thống y quán công lập đồng loạt thu thập mẫu máu, đờm dãi và dịch cơ thể của người dân vùng dịch để các đan sư điều chế linh phù trừ dịch, đồng thời lập kho lưu trữ bệnh án dịch tễ quy mô lớn."

Ánh mắt Kỷ Vân dừng lại trên vết mực son của mã số *TG-YQuán-Huyết*:

"Sau khi dịch tan, kho lưu trữ bệnh án đó đáng lẽ phải được niêm phong hoặc thiêu hủy theo định kỳ. Nhưng bọn chúng đã không làm thế. Lương Trạch và những kẻ đứng sau đã bí mật thọc tay vào kho lưu trữ đó, rút ruột các hũ huyết dịch cũ của những người đã khỏi bệnh hoặc đã chết trôi không ai thừa nhận. Bọn chúng lấy danh sách đinh nam từ sổ hộ tịch của các phường thợ nghèo như Bến Lau—những nơi dân chúng mù chữ, không có tiếng nói—rồi gán bừa tên tuổi của họ vào các mã bệnh án ma có sẵn trong kho. Tiếp đó, bọn trung gian buôn bán nguyên liệu dệt chỉ cần bí mật thu gom tro tóc rụng, mồ hôi trên áo cũ của thợ nhuộm, đem về cho đan sư dùng bí pháp hòa trộn với số huyết dịch cũ kia để tạo thành những sợi huyết tuyến giả mạo mang đầy đủ đặc tính sinh học của người bị hại!"

"Một quy trình hoàn toàn khép kín trên giấy tờ..." Nam lẩm bẩm, hai hàm răng va vào nhau lập cập vì một nỗi phẫn nộ tột cùng dâng trào từ lồng ngực.

Đôi mắt anh rực sáng lên ngọn lửa căm hờn:

"Quan Chấp Khế nắm quyền ban hành lệnh thu hồi nợ; Y quán công lập cung cấp hồ sơ bệnh án giả mạo để hợp thức hóa nguồn gốc mẫu máu; trạm vận tải sông nước thì đóng dấu lưu động xác nhận việc bảo lãnh đã được thông qua hợp lệ. Cỗ máy hành chính này vận hành trơn tru đến mức rợn người! Còn trận pháp Bát Môn Tỏa Khí... nó chỉ là một cỗ máy pháp khí vô tri vô giác. Nó không có mắt để nhìn xem dân làng Bến Lau có ký giấy hay không, nó không có tai để nghe tiếng kêu oan của họ. Nó chỉ nhận diện các đường vân phù văn và sợi dẫn máu. Khi cọc câu linh cắm phập xuống đất Bến Lau, nó chỉ việc thi hành triệt để theo đúng cái mã bệnh án ma quái đã được đóng dấu đỏ thị thực kia!"

Tất cả những mảnh ghép rời rạc, từ những vụ ám sát dọc bờ sông, cái chết bí ẩn của thư lại Phan Vĩnh, dấu niêm phong tráo đổi ở Trạm Tam Bờ, cho đến mùi thuốc an thần rẻ tiền bốc ra từ đầu cọc sắt... lúc này đã hoàn toàn khớp lại thành một bức tranh toàn cảnh trần trụi và tàn khốc.

Manh mối sống còn để giải cứu Bến Lau đã lộ rõ: Muốn lật ngược bản án cưỡng thu, muốn chứng minh sợi huyết tuyến là đồ giả mạo và vô hiệu hóa toàn bộ dải phụ lục *HN-BảoLãnh*, việc Nam cần làm không phải là phí công lặn lội đi tìm tên tu sĩ Tống Lăng đang lẩn trốn nơi chân trời góc bể, cũng không phải là quỳ gối van xin hay cãi lý với đám tuần đinh hung bạo ngoài bến sông.

Cánh cửa duy nhất, mục tiêu duy nhất có thể xoay chuyển càn khôn lúc này chính là: *Kho bệnh án lưu trữ của Y quán Tĩnh Giang*.

Chỉ có ở nơi đó mới tồn tại các cuộn *Sổ Tiếp Nhận Bệnh Nhân Gốc*—những cuốn sổ nhật trình viết tay của các y sinh trực trạm qua từng ngày từng giờ của ba năm trước. Chỉ cần mở được cánh cửa sắt của kho lưu trữ, lôi cuốn sổ gốc đó ra đối chiếu với các mã số ma *TG-YQuán-Huyết*, toàn bộ chuỗi mắt xích ngụy tạo khế ước của Chưởng khế Lương Trạch sẽ lập tức đứt gãy, biến thành đống giấy lộn vô giá trị trước mặt công đường Tòa Khế.

"Nhưng Y quán Tĩnh Giang không phải là cái miếu hoang hay cái chợ cá muốn vào là vào," Kỷ Vân lạnh lùng tạt một gáo nước lạnh vào dòng suy nghĩ đang sôi sục của Nam. Ánh mắt cô sắc như một lưỡi dao mổ, nhìn thấu tâm can anh: "Ngươi tưởng có thể lẻn vào đó trộm sổ sách như một tên đạo tặc sao? Hệ thống y quán của phủ thành Tĩnh Giang không thuộc quyền cai quản hành chính trực tiếp của Ty Chấp Khế, mà nó nằm dưới sự bảo trợ độc quyền của các trưởng lão Tông môn Thanh Đài."

Bàn tay cô khẽ siết lại, chiếc cùm sắt dưới tay áo cọ vào da thịt nghe rát buốt:

"Thanh Đài Tông cung cấp toàn bộ đan dược, nắm giữ y tịch của các y sư, và bố trí riêng một đội đệ tử chấp pháp canh gác ngày đêm tại các kho dược liệu và hồ sơ bệnh án. Động vào kho lưu trữ của Y quán phủ thành, đồng nghĩa với việc ngươi chuẩn bị thò tay vào túi áo của một đại tông môn tu tiên sừng sững hàng trăm năm nay. Chỉ cần một bước chân sai quy định, đệ tử chấp pháp của Thanh Đài có quyền rút kiếm chém chết ngươi ngay tại chỗ mà không cần thông qua xét xử của phủ nha."

Nam siết chặt quai chiếc tráp gỗ mun, chưa kịp cất lời đáp lại thì từ phía ngạch cửa quán trà bỗng vang lên tiếng bước chân nặng nề, dứt khoát giẫm trên nền đá xanh ướt nước.

Tiếng kim loại va chạm leng keng theo từng nhịp bước khiến bầu không khí ồn ào trong quán trà lập tức chùng xuống. Đám thương hồ buôn muối vội vã thu dọn xúc xắc, mấy tên phu khuân vác dạt người sang hai bên nhường lối.

Phạm Diên sải bước bước vào.

Vị chấp hành viên đệ nhất của Ty Chấp Khế vẫn khoác trên mình bộ chiến giáp bằng da thú viền đồng đen thẫm, thẳng thớm và không một nếp nhăn dù vừa trải qua nhiều ngày đêm truy đuổi khốc liệt trên sông nước. Thanh bội đao dài treo ngang hông buông thõng, bàn tay đeo găng da đen đặt hờ lên chuôi đao khắc hoa văn dây xích của Chấp Khế Ty.

Theo sát ngay sau lưng anh ta là hai viên chức giám sát mặc trường bào màu xanh ngọc của Nha môn Phủ Tĩnh Giang. Cả hai người đều trạc tứ tuần, gương mặt lạnh băng vô cảm, tay ôm những tập sổ theo dõi bìa cứng đóng góc đồng và thẻ bài chấp pháp bằng thanh đồng sáng loáng treo lủng lẳng bên thắt lưng.

Phạm Diên bước thẳng đến trước bàn trà của nhóm Nam, dừng lại cách mép bàn đúng ba bước chân. Ánh mắt anh ta đảo nhanh qua chiếc tráp mun đang được Nam ôm chặt, quét qua Lục Sâm và Kỷ Vân, rồi dừng lại thật lâu trên gương mặt tái nhợt, đôi môi rớm máu vì cắn chặt của người kiểm sổ trẻ tuổi.

"Thủ tục bàn giao văn kiện vận tải đã hoàn tất," Phạm Diên mở lời, thanh âm trầm đục, khô khốc như tiếng hai mảnh ngói vỡ cọ vào nhau.

Anh ta hơi nghiêng người, đưa tay chỉ về phía hai viên chức nha môn mang áo xanh ngọc phía sau:

"Chiếu theo biên bản tiếp nhận mang ký hiệu *TL-TamBờ-77* do Trạm Kiểm Soát Trung Lập Tam Bờ ban hành chiều qua, kể từ giờ khắc này, tư cách quản thúc dân sự của Đỗ Hoài Nam và việc giam giữ bảo lưu của Kỷ Vân chính thức được chuyển giao toàn quyền cho Ban Giám sát Nha môn Phủ Tĩnh Giang quản lý. Thuyền tuần tra của Ty Chấp Khế cùng toán chấp hành viên của ta đã hoàn thành nhiệm vụ áp tải theo phận sự, chuẩn bị nhổ neo quay trở lại trạm kiểm soát cửa sông Tam Hà để tiếp tục tuần vụ."

Một trong hai viên chức nha môn áo ngọc bước lên phía trước một bước. Gã không thèm nhìn mặt bất kỳ ai trong nhóm, chỉ lạnh lùng rút ra từ chiếc túi da bên hông một cuốn sổ bộ bìa da vàng bóng lộn, lật mở ra một trang đã viết sẵn những dòng chữ son ngay ngắn, đặt mạnh xuống mặt bàn gỗ thông ọp ẹp.

"Ký tên điểm chỉ xác nhận chuyển giao địa hạt giám sát. Người bảo lãnh ký trước, đương sự ký sau," viên nha chức cất giọng the thé, vô cảm như một cỗ máy phát thanh.

Tạ Bách lập tức đứng dậy, lấy từ túi áo ra chiếc hộp ấn bằng sừng hươu của Liên hội Vận Thương, nhanh chóng ký tên và đóng dấu thị thực tròn trịa của thương hội vào góc dưới tờ biên bản, hoàn tất nghĩa vụ pháp lý của một thương nhân bảo lãnh lộ trình. Nam cũng nén cơn đau nơi lồng ngực, cầm lấy ngọn bút lông thô do viên chức đưa tới, nắn nót ký tên mình vào ô dành cho đương sự chịu sự giám sát dân sự.

Sau khi thu hồi cuốn sổ bộ và kiểm tra kỹ lưỡng từng dấu mực son, hai viên chức nha môn lùi lại phía sau, đứng chắp tay tựa lưng vào cột quán trà cách bàn họ đúng mười bước chân. Bọn họ đứng đó sừng sững như hai bức tượng đá màu xanh ngọc, giữ một khoảng cách đúng chuẩn mực quy định của luật giám sát: đủ xa để không can thiệp vào sinh hoạt cá nhân của đối tượng, nhưng đủ gần để bất kỳ một biến động chân khí hay cử động bỏ trốn nào cũng sẽ bị thẻ bài chấp pháp trong tay họ lập tức phát động trấn áp.

Thế nhưng, Phạm Diên vẫn chưa chịu rời đi.

Vị chấp hành viên đệ nhất vẫn đứng sừng sững bên cạnh bàn trà. Ánh mắt anh ta nhìn chằm chằm vào Nam, sâu thẳm và phức tạp. Khoảng không gian quanh chiếc bàn gỗ như bị đè nặng bởi một áp lực vô hình, im ắng đến mức có thể nghe thấy tiếng nước sôi lục bục phát ra từ chiếc ấm đồng của bà lão bán trà ở đằng xa.

"Ngươi đã đặt chân được vào thành Tĩnh Giang," Phạm Diên cất giọng, âm lượng cực thấp, chỉ vừa đủ để bốn người ngồi quanh bàn trà nghe thấy. "Nhưng đừng ngây thơ nghĩ rằng có sự bảo lãnh của Liên hội Vận Thương và một tờ biên bản thị thực của trạm trung lập là ngươi đã nắm chắc phần thắng."

Nam ngẩng cao đầu, ánh mắt không hề né tránh mà đối diện trực tiếp với người chấp hành viên từng đuổi bắt mình ráo riết từ bãi ngâm chàm Bến Lau cho tới ngã ba sông:

"Phạm chấp hành cho rằng tôi nhất định sẽ thua sao?"

Một tia giễu cợt cực kỳ mờ nhạt thoáng gợn lên nơi khóe môi Phạm Diên, nhưng đáy mắt anh ta lại phủ kín một màn sương u tối, nặng trĩu những trải nghiệm cay đắng của một kẻ đã phục vụ trong guồng quay này quá lâu:

"Ngươi chưa hiểu gì về cái phủ Tĩnh Giang này đâu, Đỗ Hoài Nam. Ở Bến Lau, ngươi nghĩ rằng mình nắm được dăm ba điều luật cơ bản trong cuốn *Quy chuẩn Thi hành Khế ước* là đã có thể ngẩng đầu chặn đứng chiếc cọc câu linh. Nhưng nơi này..."

Phạm Diên khẽ nghiêng đầu, đưa mắt nhìn qua khung cửa quán trà, hướng về phía trung tâm phủ thành—nơi những tòa lầu các nguy nga, những tháp chuông bằng đá hoa cương cao vút của các nha môn và đại tông môn đang ẩn hiện mờ ảo sau làn sương khói xám xịt của buổi sớm:

"...nơi này chưa bao giờ vận hành bằng nắm đấm thô bỉ của một vài tên sát thủ ven sông, và càng không bao giờ vận hành bằng thứ lẽ phải ngây thơ của đám dân bần hàn. Phủ Tĩnh Giang này vận hành bằng một cỗ máy khổng lồ được ghép nối từ hàng vạn điều luật tinh vi, tàn nhẫn và chặt chẽ nhất. Một cỗ máy nuốt sống sinh mạng con người từ đời này qua đời khác mà không nhả ra lấy một mẩu xương vụn."

Phạm Diên hạ thấp người xuống thêm nửa thước, đôi mắt sắc lẹm như lưỡi trảm mã đao nhìn xoáy thẳng vào lồng ngực Nam, nơi lớp áo ngoài đang che đậy những tài liệu vừa được chuyển giao:

"Ta biết rõ các ngươi đang mưu tính nhắm vào cái gì. Máu tươi trên những sợi huyết tuyến chết tiệt kia không thể tự nhiên sinh ra từ hư không, và những dãy mã số lưu kho đóng dấu đỏ kia cũng chẳng thể tự dưng mọc ra trên giấy trắng. Nhưng ta cảnh báo ngươi một lời cuối cùng: Kho bệnh án của y quán phủ thành là cấm địa bất khả xâm phạm. Nơi đó được bao bọc bởi ba tầng phòng thủ kiên cố nhất của đất Tĩnh Giang này: quy định bảo mật y chứng của Phủ nha, lệnh cấm kỵ niêm phong của Tông môn Thanh Đài, và quyền tài phán độc tôn của Tòa Khế."

Bàn tay Phạm Diên siết chặt chuôi đao, giọng nói đanh lại, lạnh lùng và cứng rắn như một thỏi thép vừa tôi qua nước đá:

"Bất kỳ kẻ nào ngu xuẩn dùng sức mạnh cơ bắp hay những trò mưu mẹo hạ lưu để toan xông vào nơi đó, kẻ đó sẽ bị nghiền nát thành tro bụi ngay trên những bậc thềm đá trước khi kịp nhìn thấy gáy cuốn sổ bệnh án. Nhớ kỹ lấy điều này:"

Anh ta ghé sát tai Nam, từng chữ thốt ra như ghim sâu vào tâm khảm người nghe:

"Muốn sống sót mà mở được cửa kho bệnh án, thì tuyệt đối đừng tìm kiếm thanh kiếm. Hãy tìm kiếm quy trình. Một con dấu đóng sai quy trình có thể tước đoạt sinh mạng của một con người, nhưng một quy trình pháp lý được kích hoạt chuẩn xác đến từng dấu phẩy... có thể bẻ gãy hoàn toàn một đạo trát cưỡng thu mang ấn đỏ của chính Chưởng khế Lương Trạch."

Nói xong câu đó, Phạm Diên lập tức thẳng người dậy. Anh ta không hề liếc nhìn Kỷ Vân lấy một lần, cũng chẳng buồn mở miệng chào hỏi Tạ Bách, dứt khoát xoay người cất bước.

Tà áo choàng bằng da đen thẫm của người chấp hành viên phất mạnh trong luồng gió bốc lên từ lòng sông, bóng lưng thẳng tắp, cô độc và lạnh lẽo của anh ta sải từng bước dài dứt khoát ra khỏi quán trà, hòa vào dòng người xuôi ngược rồi nhanh chóng biến mất về phía bến đậu của đội thuyền tuần vụ.

Bên trong quán trà, sự tĩnh lặng ngột ngạt lại bao trùm lấy góc bàn gỗ thông.

Nam ngồi bất động trên chiếc ghế đẩu ọp ẹp, hai bàn tay áp chặt lên mặt gỗ mát lạnh của chiếc tráp mun đặt trên đùi. Những lời nói đanh thép của Phạm Diên như một hồi chuông đại hồng chung liên hồi gióng lên trong tâm trí anh, vang vọng từng câu, từng chữ rõ mồn một:

*Đừng tìm kiếm thanh kiếm. Hãy tìm kiếm quy trình.*

Đó không phải là một lời đe dọa suông. Đó là lời chỉ dẫn xương máu của một kẻ nắm rõ từng ngóc ngách của guồng máy tư pháp này truyền lại cho anh.

Nam chậm rãi quay đầu sang nhìn Kỷ Vân. Người cựu chấp hành viên vẫn ngồi cúi đầu, hai bàn tay đan vào nhau che khuất chiếc cùm sắt tỏa linh khí xám nhạt nơi cổ tay. Nhưng trên gương mặt góc cạnh, lạnh lùng như tượng tạc của cô, khóe môi khẽ giật giật, lẩm bẩm nhắc lại một cái tên với tất cả sự phức tạp, cay đắng và kiêng dè mà cả đời cô chưa từng muốn khơi gợi lại:

"Muốn tìm quy trình để bẻ gãy lệnh cấm địa của phủ... ở khắp cái đất Tĩnh Giang này, chỉ có duy nhất một người biết cách."

"Người đó là ai?" Nam khẽ hỏi, lồng ngực lại nhói lên một cơn đau buốt rát khi anh cố nén tiếng thở dài.

Kỷ Vân từ từ ngước mắt lên. Đôi con ngươi màu xám tro của cô lóe lên một tia sáng kỳ dị, vừa kính sợ vừa chua xót:

"Bà Mẫn."

Cô dừng lại một nhịp, giọng nói hạ thấp đến mức gần như chỉ là tiếng hơi thở thoảng qua mặt bàn:

"Cựu thư lại trưởng của Tòa Khế Tĩnh Giang. Người phụ nữ đã dành trọn vẹn bốn mươi năm cuộc đời chỉ để ngồi trong những căn phòng tối tăm của tòa án, cầm bút lông viết nên hơn một nửa số điều khoản, thủ tục và quy trình khế ước đang vận hành ở cái phủ thành này... và cũng chính là người đã bị cỗ máy khổng lồ đó nghiền nát, rồi lạnh lùng vứt bỏ ra rìa đường như một chiếc giẻ rách đúng mười năm về trước."

Nam nhìn sâu vào mắt Kỷ Vân, trong ánh mắt kiên định của cô, anh hiểu rằng con đường phía trước đã có một hướng đi duy nhất. Không còn đường lùi, cũng không còn chỗ cho sự do dự.

Anh hít một hơi thật sâu, dùng toàn bộ ý chí áp chế cơn đau nhức nhối nơi kinh mạch Phế Du, hai tay ôm chặt lấy chiếc tráp mun chứa đựng sinh mệnh của ba mươi sáu con người Bến Lau, từ từ đứng thẳng dậy.

Tạ Bách lập tức đứng dậy theo, chỉnh lại chiếc gùi tre trên lưng, cùng Lục Sâm kẹp sát hai bên sườn Nam như hai tấm lá chắn sống. Kỷ Vân khẽ nâng vạt áo che kín cùm sắt, bước theo ngay phía sau. Cách đó đúng mười bước chân, hai viên chức giám sát mặc trường bào xanh ngọc của nha môn phủ thành lập tức tách khỏi cột quán, lẳng lặng rảo bước bám theo với cự ly chuẩn xác tuyệt đối, ánh mắt lạnh băng như mắt rắn không rời khỏi lưng họ nửa tấc.

Cả nhóm người bước ra khỏi bóng râm ẩm mốc của quán trà ven sông, tiến thẳng về phía con đường cái lát đá xanh thẫm dẫn vào nội thành.

Cổng đá sừng sững của phủ Tĩnh Giang đổ bóng đen đặc xuống dòng người; Nam ngẩng đầu nhìn những tòa lầu gác cao vút, nơi từng hơi thở của người nghèo đều được niêm yết bằng bạc trắng.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories