Sổ Nợ Trường Sinh — Phần 1: Người Đòi Nợ TrờiCh.13 / 38
Chapter 13

Đêm ở trạm trung lập

Ngọn đèn đá trong phòng thẩm định Trạm Trung Lập Tam Bờ rọi những vệt sáng vàng vọt, tù mù lên chiếc bàn gỗ lim đen nhánh khắc đầy dấu niêm phong của ba phủ. Không khí trong căn phòng kín nửa chìm dưới lòng đất ngột ngạt mùi dầu trẩu đốt đèn, mùi đá ẩm lâu năm và hơi lạnh buốt giá rỉ ra từ những phiến đá xanh kè vách sông Cửu Hà. Bên ngoài, cách một lớp tường thành dày ba thước và cửa sắt then cài, tiếng nước sông cuồn cuộn đập vào chân trụ cọc ngầm của âu thuyền vang lên từng nhịp rền rĩ, trầm đục như tiếng kim loại rỉ sét va chạm dưới đáy sâu không cùng. Nước ngấm qua kẽ vữa, đọng thành những giọt dài trượt chậm chạp trên bờ tường đá xám, rơi xuống rãnh thoát nước ngầm bằng một chuỗi âm thanh lách tách, đều đặn đến ghê người.

Viên giám trạm Thôi Chấn ngồi sau chiếc bàn lim dày ba tấc, nửa thân trên bất động như một pho tượng đá tạc dở. Ngón tay y gầy guộc, lớp da bọc xương khô khốc như rễ cây cổ thụ khẽ gõ từng nhịp cộc cộc lên mặt bàn láng bóng vết dầu sáp. Y mặc trường bào màu xám tro không thêu bất kỳ hoa văn phường hội nào của Ty Thẩm Tra Độc Lập thuộc Hiệp ước Liên Phủ, thắt lưng bện bằng dây gai thô đeo một thẻ ngọc hình bán nguyệt mờ đục—vật tượng trưng cho quyền tài phán tạm thời nhưng tuyệt đối tại vùng ngã ba sông giáp ranh giữa Tĩnh Giang, Thượng Lâm và An Độ. Đôi mắt y sâu hoắm dưới đôi mày rậm bạc phếch, nhợt nhạt và lạnh lẽo, chầm chậm đảo qua ba bóng người đang đứng sừng sững trước thềm đá.

Phạm Diên đứng bên mép bàn bên phải, hai chân chôn chặt xuống nền đá ẩm. Thanh trường đao bọc da cá mập lốm đốm hoa văn xám vẫn gài chặt bên hông trái, hai tay y khoanh trước ngực, lớp vải bọc cánh tay căng cứng theo từng đường gân nổi rõ. Ánh mắt đanh thép của viên Chấp hành viên đệ nhất không rời một khắc khỏi chiếc tráp gỗ Nam đang ôm ghì trước bụng; từng hơi thở của y phả ra làn khói mỏng giữa cái lạnh buốt của căn hầm ngầm.

Bên trái, Đỗ Hoài Nam đứng tựa một phần trọng lượng vào chiếc bàn lim. Bộ áo ngắn của phu khuân vác bến bãi bết chặt vào da thịt, đẫm mồ hôi muối, vụn bồ hóng và mùi tanh nồng của khoang cá khô trên thuyền buôn 772. Vết thương cũ nơi lồng ngực sau trận giáp công dữ dội ở Hạ Nham vẫn âm ỉ nhói buốt theo từng nhịp tim đập, nhưng sống lưng anh vẫn cố giữ thẳng tắp. Đôi mắt thâm quầng vì ba ngày đêm không ngủ vẫn giữ nguyên sự tỉnh táo sắc lẹm của một kẻ quen lần mò từng nét bút trên sổ sách kế toán.

Lùi lại nửa bước trong góc khuất của ánh đèn đá mờ ảo là Kỷ Vân. Thanh trường kiếm bọc vải thô ép sát bắp đùi gầy guộc, dải khăn trùm đầu bằng vải gai màu xám tro che khuất nửa khuôn mặt chằng chịt những vệt sẹo lồi màu tím bẫm. Cô đứng bất động, hơi thở nhẹ đến mức gần như triệt tiêu hoàn toàn sự hiện diện của một tu sĩ, im lìm như một bóng ma nấp dưới chân tường đá.

“Đỗ Hoài Nam.” Giọng Thôi Chấn khô khốc vang lên giữa bốn bức tường đá, âm sắc đều đều, bằng phẳng và vô cảm như tiếng hai phiến đá mài cọ sát vào lớp cát sỏi dưới lòng sông. “Ngươi là bị can đào tẩu mang lệnh truy bắt số TG-TruyHồi-104 do đích thân Chưởng khế Lương Trạch của phủ Tĩnh Giang ấn ký chu sa. Chiếu theo thường lệ hiệp ước ba phủ, chỉ cần Chấp hành viên Phạm Diên mang trát áp giải đến tận cửa âu thuyền Trạm Trung Lập Tam Bờ, bản trạm phải lập tức hạ trục khóa cảng, chuyển giao toàn bộ người và tang vật cho nha môn Tĩnh Giang áp giải hồi phủ nội quy án.”

Thôi Chấn dừng lại một thoáng, nhấc chiếc gắp bằng đồng thau dài nửa thước gạt nhẹ tàn bấc đèn đá. Ngọn lửa trẩu bùng lên một tia sáng xanh lét, soi rọi rõ những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh cày trên gò má xám ngắt của y:

“Nhưng Chấp hành viên Phạm Diên đã kích hoạt ngọc phù can thiệp của Điều 15 Hiệp ước Liên Phủ Cửu Hà, viện dẫn Điều 8 Khoản 2 Quy chế Bảo toàn Chứng từ để đòi mở phiên thẩm tra chuỗi lưu ký ngay trong đêm, giữa lúc lệnh phong tỏa bến sông còn chưa dỡ bỏ. Ngươi có hiểu điều đó nghĩa là gì không?”

Nam nuốt một ngụm nước bọt mặn chát, cất giọng khàn đặc: “Bẩm hiểu. Nghĩa là mạng sống của tôi và số phận của những người ở Bến Lau phụ thuộc hoàn toàn vào tính nguyên vẹn của những thứ nằm trong tráp này.”

“Biết thế là tốt.” Ngón tay khô khốc của Thôi Chấn lại gõ lên mặt bàn, âm thanh khô khốc vang dội. “Quy chế ba phủ quy định rất rõ: vật chứng can thiệp khế ước tu luyện chỉ được công nhận giá trị pháp lý tạm thời nếu đương sự chứng minh được tính nguyên vẹn không đứt đoạn qua từng mắt xích lưu chuyển. Nếu trên đường chuyển giao có một khắc không rõ người giữ, một dấu niêm bị rách mà không có chữ ký xác nhận của nhân chứng độc lập, toàn bộ những thứ ngươi mang đến sẽ bị coi là tang vật ngụy tạo nhằm trốn tội. Khi đó, bản trạm sẽ hủy bỏ quy chế bảo hộ, trục xuất các ngươi ra khỏi trạm Tam Bờ ngay lập tức.”

Ánh mắt viên giám trạm dừng lại trên hai bàn tay đầy vết chai sần và vết xước rớm máu của Nam:

“Đặt vật chứng lên bàn. Trình bày chuỗi lưu ký từng mắt xích, từ bãi nhuộm Bến Lau qua kho muối Hạ Nham đến mặt bàn này. Sai một khắc, khuyết một người chứng, phiên thẩm tra lập tức chấm dứt.”

Nam hít một hơi thật sâu. Luồng không khí ẩm mốc của căn phòng ngầm tràn vào cuống họng, buốt lạnh như nuốt phải dăm băng, khiến lồng ngực anh quặn thắt lại. Luồng chân khí Dẫn Tức mỏng manh trong kinh mạch vừa nhúc nhích đã chạm phải vết bầm tím nơi xương sườn, đau nhức nhối. Nhưng hai bàn tay anh không hề run rẩy. Anh bước lên một bước, trịnh trọng đặt chiếc tráp gỗ lim đã nứt toác một góc lên mặt bàn, nhẹ nhàng gạt chốt khóa đồng xỉn màu.

Bên trong tráp lót một lớp vải gai dày tẩm sáp ong để chống ẩm và ngăn cách dao động linh lực rò rỉ. Nam dùng hai ngón tay cẩn trọng nhấc ra một ống ngọc bích dài nửa gang tay. Đầu ống bịt bằng một khối sáp đỏ thẫm dày nửa đốt ngón tay, trên bề mặt sáp in hằn rõ nét những vết răng cưa nham nhở của kìm bấm cơ khí kiểm định kho vận. Bên trong lòng ngọc trong suốt lơ lửng một sợi gân màu đỏ sẫm, mảnh như sợi tóc nhưng ẩn hiện một lớp vân sáng mờ ảo giữa chất lỏng không màu. Tiếp đó, Nam rút ra một xấp giấy bản ngả vàng, mép giấy có vết xé vội vã nhưng những dòng chữ viết bằng mực chu sa và các con dấu mộc triện đỏ tươi vẫn còn nguyên vẹn từng đường nét.

“Thưa Giám trạm đại nhân.” Nam cất giọng, âm điệu rõ ràng, rành rọt từng chữ, nhịp điệu gãy gọn theo đúng khẩu khí của một người kiểm sổ kho vận đã quen với việc đối chiếu từng cân hàng rời giữa mưa gió bến sông. “Vật chứng thứ nhất là ống ngọc chứa sợi huyết tuyến cắt từ cọc phụ tản áp của trận pháp Bát Môn Tỏa Khí. Thời khắc phát sinh: giờ Mùi ngày mười bốn tháng Hai, tại bãi nhuộm phía đông xưởng thợ Bến Lau.”

Phạm Diên nheo mắt lại, bờ vai khẽ động đậy, trầm giọng can thiệp: “Lúc đó ngươi là kẻ can thiệp trận pháp, cắt đứt dây dẫn làm nổ tung cọc trận để giải cứu thợ cả Thuận. Ngươi là kẻ phá hoại tài sản công, ngươi lấy tư cách gì lập biên bản lưu ký?”

“Tôi không lấy tư cách chấp hành, tôi dùng tư cách người kiểm sổ tại chỗ ghi nhận sai lệch hàng hóa.” Nam không hề nao núng nhìn thẳng vào mắt Phạm Diên, ánh mắt đanh lại như thép nguội. “Ngay khi cọc phụ phát nổ, sợi huyết tuyến này văng vào rãnh nước ngầm phía sau vạc nhuộm số ba. Tôi thu hồi nó bằng kẹp sắt gắp than của xưởng nhuộm, không để da thịt tiếp xúc làm nhiễm tạp chất sinh cơ cá nhân. Sáp niêm phong đầu ống ngọc là loại sáp ong rừng pha mỡ rái cá dự trữ của Trạm Linh Vận Bến Lau mang mã số kho BL-Kho-03, loại chuyên dùng để niêm phong các hòm chứa linh thạch thô xuất xưởng. Vết bấm trên sáp là ngàm kìm kiểm định số hiệu mười bảy của tôi—thứ mà Quản trạm Võ Nghiêm đã tước đoạt một giờ sau đó nhưng vết ngàm răng cưa trên sáp thì không thể làm giả.”

Nam quay sang Thôi Chấn, lật mở trang đầu tiên của tập tài liệu đặt bên cạnh ống ngọc:

“Mắt xích thứ hai: Vận chuyển đường thủy từ Bến Lau về Hạ Nham. Giờ Hợi đêm mười bốn, vật chứng được cất trong tráp gỗ dưới sự giám sát trực tiếp của chủ thuyền Tạ Bách thuộc Liên hội Vận Thương trên thuyền buôn số hiệu LH-772. Theo Biên bản thỏa thuận đổi công vận chuyển mang ký hiệu LH-Vận-109, thuyền trưởng Tạ Bách đã ký nhận trách nhiệm bảo quản nguyên trạng chiếc tráp này như một kiện hàng niêm phong đặc biệt, có chữ ký và điểm chỉ của tôi cùng phụ kho Chấn Lùn. Dấu triện mực đen của thuyền 772 đóng đè lên mép giấy bọc vải gai, hoàn toàn trùng khớp với hải trình xuất bến của Chi điếm Vận Thương Bến Lau.”

Thôi Chấn nghiêng đầu, thò tay rút từ trong hộp gỗ trắc ra một chiếc kính lúp bằng thạch anh mài dày cộp. Y đưa mặt kính sát vào mép sáp niêm phong của ống ngọc bích, mắt nheo lại soi từng vết răng cưa li ti in trên lớp sáp đỏ. Đúng như Nam mô tả, vết ngàm răng cưa lệch ba ly ở góc trái khớp hoàn toàn với bản vẽ thiết kế mặt kìm kiểm sổ tiêu chuẩn của lưu vực Cửu Hà, lớp sáp mịn màng không hề có dấu vết cạo gọt, châm kim hay hơ lửa gia nhiệt để đóng lại lần hai.

“Còn tại Hạ Nham?” Thôi Chấn không ngẩng đầu lên, ngón tay gõ nhẹ lên bàn. “Theo bồ câu đưa thư từ trạm tuần kiểm sông, xưởng rèn của một thợ trận tán tu tại chân bến Hạ Nham vừa bị hỏa thiêu thành bình địa trong đêm qua. Khói lửa ngút trời, nha môn địa phương đã phát lệnh niêm phong toàn bộ khu vực bến tàu số ba. Nếu vật chứng bị đưa vào nơi hỏa hoạn hỗn loạn hoặc qua tay tán tu không có ngạch trật của Tòa Khế, chuỗi bảo quản coi như đứt đoạn hoàn toàn.”

“Vật chứng không hề rời khỏi tầm mắt tôi một khắc nào.” Nam chỉ vào vệt sáp thứ hai bọc đè lên thân ống ngọc, màu sáp vàng nhạt hơn lớp sáp đỏ ở miệng ống. “Tại xưởng của thợ trận Lục Sâm ở bến Hạ Nham, chúng tôi chỉ tiến hành trích xuất một phần mười lượng chất lỏng thẩm thấu qua đầu mao dẫn của ống ngọc để nhỏ vào đĩa bạch ngọc chứa dung dịch chu sa ngọc dịch nhằm trắc nghiệm tần số dao động. Sợi huyết tuyến gốc vẫn nằm nguyên trong khoang kín của ống ngọc bích, không hề bị kéo giãn hay dịch chuyển vị trí. Toàn bộ quá trình bóc tách diễn ra trước sự chứng kiến đồng thời của thuyền trưởng Tạ Bách và thợ trận Lục Sâm. Biên bản giám định kỹ thuật lập lúc đầu canh tư có đóng dấu điểm chỉ của Lục Sâm và chữ ký bảo lãnh của Tạ Bách.”

Nam lật tờ giấy thứ hai, mực chu sa còn tươi màu, mùi dầu thông chống ẩm vẫn phảng phất bay lên:

“Ngay khi toán người bịt mặt mang nỏ phá linh phóng hỏa tấn công xưởng rèn, tôi đích thân ôm tráp chạy thẳng ra cầu tàu số ba. Khi chỉ huy toán sát thủ ném Hỏa Phù Lôi Châu cấp bốn nhắm vào nhóm người rút lui tại cầu tàu, chính khoang hàng số hai chứa hơn tám mươi kiện tơ tằm thượng hạng của thuyền 772 đã chịu toàn bộ dư chấn hỏa hoạn để bảo vệ chiếc tráp này. Vỏ tráp lim có vết xém lửa ngoài góc phải, thớ gỗ bị cháy sém một mảng dài ba tấc, nhưng sáp niêm phong bên trong không hề bị chảy biến dạng. Lớp vải gai tẩm sáp ong và mỡ rái cá đã giữ cho nhiệt độ bên trong tráp ổn định tuyệt đối.”

Phạm Diên bước lên nửa bước, tiếng đế giày da dẫm trên nền đá ẩm vang lên nặng nề. Ánh mắt y quét qua tờ biên bản giám định của Lục Sâm, nhìn vào vết mực điểm chỉ đỏ sẫm còn hằn rõ từng đường vân tay của lão thợ trận già. Giọng Phạm Diên trầm xuống, lạnh buốt nhưng không còn vẻ phủ định tuyệt đối như lúc ban đầu:

“Vậy còn mắt xích cuối cùng? Tại cửa sông Tam Hà, khi ta đổ bộ lên thuyền 772 chặn bắt các ngươi?”

“Chính Chấp hành viên Phạm Diên là mắt xích cuối cùng bảo toàn chuỗi lưu ký này.” Nam cất cao giọng, ánh mắt không hề chớp nhìn thẳng vào khuôn mặt vuông vức đầy sát khí của Phạm Diên, ngón tay chỉ thẳng vào con dấu niêm tạm thời bằng phù giấy màu xanh lam dán ngang nắp tráp. “Lúc đầu canh năm, khi ngài dùng trát TG-TruyHồi-104 chặn thuyền tại ngã ba sông, ngài đã đích thân dán lá bùa phong tỏa tạm thời mang số hiệu ChấpHành-Diên-09 lên miệng tráp trước khi ra lệnh dẫn giải thuyền về đây. Vết rách trên góc bùa phong tỏa là do thuộc hạ của ngài mưu toan dùng nỏ phá linh bắn lén hòng thiêu hủy tang vật, nhưng chính đao của ngài đã gạt mũi tên đó ra. Vệt chém sượt ngang mép gỗ lim này khớp hoàn toàn với bản đao da cá mập của ngài.”

Căn phòng rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở. Tiếng bấc đèn trẩu thỉnh thoảng nổ tanh tách, hắt lên vách đá những bóng hình dài ngoằng, méo mó.

Thôi Chấn cúi sát mặt xuống chiếc tráp gỗ lim. Y dùng chiếc kẹp đồng gẩy nhẹ góc lá bùa màu lam, soi kính lúp vào vết cắt ngọt lịm trên thớ gỗ lim cứng như đá, rồi ngẩng đầu nhìn vào lưỡi đao vẫn đang nằm trong bao bên hông Phạm Diên. Từng vết nứt, từng giọt sáp, từng chữ ký từ tay người thợ nhuộm Bến Lau, qua lão chủ thuyền buôn, qua người thợ trận giấu mặt ở bến Hạ Nham, cho đến nhát chém phòng vệ của viên Chấp hành viên đệ nhất phủ Tĩnh Giang... Tất cả khớp nối vào nhau như những bánh răng bằng đồng trong một cỗ máy đồng hồ nước. Không có lấy một khoảng trống mập mờ, không có một khắc nào đồ vật rời khỏi tầm mắt của các nhân chứng độc lập.

“Kỹ năng kiểm sổ kho vận của ngươi quả nhiên không tồi.” Thôi Chấn đặt chiếc kính lúp xuống bàn, phát ra một tiếng ‘cạch’ khô khốc. Trong đôi mắt đục ngầu của y thoáng hiện một tia kinh ngạc hiếm hoi, nhưng biến mất rất nhanh sau lớp màn vô cảm cố hữu. “Từng dấu niêm phong tạm thời, từng thời khắc chuyển giao, từng nhân chứng ký nhận từ phu kho, chủ thuyền đến thợ trận và chính chấp hành viên truy bắt... Chuỗi lưu ký của mẫu huyết tuyến và tập trích lục này hoàn toàn nguyên vẹn về mặt hình thức pháp lý. Không có kẽ hở cho sự tráo đổi.”

Phạm Diên siết chặt nắm tay sau lưng, cơ hàm bạnh ra dưới lớp râu quai nón lởm chởm. Là một Chấp hành viên tôn thờ quy tắc và trật tự của Tòa Khế, y hiểu rõ sức nặng của chuỗi lưu ký này. Trước mặt một viên Giám trạm độc lập của ba phủ, không ai có thể dùng quyền lực hay đao kiếm để xóa bỏ những dấu vết vật chất rành rành đã được ghi nhận vào biên bản.

“Tuy nhiên,” Thôi Chấn đột ngột chuyển giọng, chiếc gắp đồng gõ mạnh xuống khay trà bằng gốm thô, phát ra âm thanh lanh lảnh chói tai. “Chuỗi lưu ký nguyên vẹn chỉ chứng minh sợi huyết tuyến này thực sự đến từ Bến Lau và bản sao nhật ký thực sự lấy từ Hạ Nham. Nó chưa chứng minh được *bản chất kỹ thuật* của sự gian lận. Làm sao một sợi huyết tuyến trích xuất từ bệnh án của người chết lại có thể kích hoạt được trận pháp cưỡng thu của Ty Chấp Khế phủ Tĩnh Giang? Làm sao một bản phụ lục bảo lãnh ngụy tạo có thể qua mặt được các chốt kiểm duyệt tâm linh của con dấu lưu động?”

Viên giám trạm ngước mắt nhìn vượt qua vai Đỗ Hoài Nam, hướng thẳng vào góc tối ẩm ướt nơi bóng người mặc áo choàng thô đang đứng im lìm:

“Kỷ Vân. Ra ánh sáng.”

Bóng dáng trong góc khuất khẽ khựng lại. Đôi vai gầy guộc của Kỷ Vân rung lên một nhịp rất nhẹ dưới lớp áo vải thô dính đầy bụi đường. Tiếng vải cọ ráp vang lên sột soạt khi cô chậm rãi bước từng bước nặng nề ra giữa luồng sáng vàng vọt của ngọn đèn trẩu. Cô dừng lại bên cạnh Nam, đưa bàn tay nổi gân xanh kéo dải khăn trùm đầu xuống.

Dưới ánh đèn, nửa khuôn mặt bên phải của cô lộ rõ những đường sẹo lồi màu tím bầm, vặn vẹo, kéo dài từ xương gò má chạy ngoằn ngoèo qua môi dưới rồi đâm thẳng xuống hõm cổ—dấu tích tàn khốc của một vụ nổ pháp trận sinh cơ do linh lực phản phệ để lại từ nhiều năm trước. Da thịt nơi đó co rút lại, khiến khóe môi cô vĩnh viễn bị kéo xếch lên trong một nụ cười cay đắng, méo mó. Đôi mắt bên phải của cô mờ đục như phủ một lớp sương mù của người mù lòa, không còn chút sinh khí nào của một tu sĩ từng ngưng tụ Lập Đài, chỉ có sự lạnh lẽo đến tận cùng của kẻ đã từng bước chân qua cửa tử mà không thể quay đầu.

“Cựu chấp hành viên bậc hai Kỷ Vân.” Thôi Chấn mở một cuốn sổ da bìa đen đặt sẵn bên góc bàn, lật giở từng trang giấy dày cộp, giọng y đều đều như đọc cáo trạng trước giờ hành quyết. “Ngươi từng phục vụ sáu năm trong Ty Chấp Khế phủ Tĩnh Giang, từng chỉ huy ba tiểu đội cưỡng thu lưu động trước khi bị xóa tên khỏi ngạch sau vụ biến động ba năm trước. Ngươi được triệu tập với tư cách nhân chứng chuyên môn để làm rõ cơ chế kỹ thuật đánh tráo phụ lục trong hồ sơ này.”

Kỷ Vân không nhìn Thôi Chấn, cũng không hề liếc mắt sang Phạm Diên—người đồng liêu cũ đang nhìn cô với ánh mắt phức tạp, nửa căm ghét nửa ngờ vực. Ánh mắt đục ngầu của cô dán chặt vào ống ngọc bích đựng sợi huyết tuyến trên mặt bàn lim.

“Nói đi.” Thôi Chấn gõ móng tay lên mép sổ da. “Họ đã làm thế nào?”

Kỷ Vân khẽ nhắm mắt lại. Lồng ngực cô phập phồng dưới lớp áo thô ráp, như thể cô đang cố nuốt xuống một ngụm đờm đặc lẫn máu từ sâu trong phế phủ. Khi cô mở mắt ra, giọng nói khàn đặc, khô khốc cất lên, từng âm tiết rành rọt như lưỡi dao mổ xẻ tử thi:

“Tách chỉ khâu là bước đầu tiên. Khế ước gốc của Sinh Khố phủ Tĩnh Giang luôn được khâu bằng chỉ gân hươu tuyết ngâm dịch linh thảo ba năm, loại chỉ này có tính đàn hồi cực cao, chịu được lửa ẩm và không bao giờ mục nát. Muốn tháo trang phụ lục bảo lãnh cũ mà không làm xơ rách mép giấy bản, người làm giả phải dùng một con dao cạo bằng ngọc lam mài mỏng như cánh ve sầu, hơ qua ngọn lửa than thông cháy âm ỉ để làm mềm lớp keo da trâu dán gáy sổ.”

Cô đưa tay lên, những ngón tay gầy guộc mô phỏng từng động tác chuẩn xác đến rợn người:

“Rạch từng mũi chỉ từ mặt sau của gáy sách, tuyệt đối không được cắt đứt sợi gân chỉ chính. Chỉ cần rút nhẹ một tao sợi dẫn, toàn bộ tập phụ lục cũ sẽ rời ra mà mép giấy tờ chính không để lại một vết tước hay xơ sợi nào. Sau đó, trang phụ lục mới được lồng vào đúng vị trí, dùng sợi chỉ gân hươu tuyết cũ khâu ngược lại theo các lỗ kim nguyên bản. Lỗ kim không đổi, sợi chỉ không đổi, người kiểm tra thông thường lật qua chỉ thấy gáy sổ vẫn liền mạch như lúc ban đầu.”

Nam đứng bên cạnh nín thở lắng nghe, từng thớ cơ trên mặt anh giật nhẹ. Anh nhớ lại tập hồ sơ của Phan Vĩnh và Trần Thụ mà anh từng lén kiểm tra trong kho lưu trữ Tĩnh Giang—những lỗ xâu chỉ quả thực tròn trĩnh, phẳng phiu một cách bất thường, không hề có bất kỳ dấu vết rách toạc nào của việc xé giấy vội vã. Tất cả đều là sản phẩm của một kỹ nghệ thủ công bậc thầy, lạnh lùng và tàn nhẫn.

“Sau khi tách phụ lục cũ, làm sao xử lý mộc giáp lai?” Thôi Chấn hỏi tiếp, ngòi bút lông trên tay y bắt đầu chuyển động, chấm vào nghiên mực chu sa rồi ghi chép thoăn thoắt lên tờ biên bản.

“Cạo xóa mộc giáp lai.” Kỷ Vân tiếp tục, giọng cô đều đều một cách ghê rợn, như thể đang mô tả công việc của một người thợ mộc bào gỗ. “Mực chu sa của Ty Chấp Khế là loại mực luyện từ khoáng thạch đỏ và máu linh thú cấp thấp, ăn sâu vào ba lớp thớ giấy bản dâu tằm. Muốn tẩy mà không làm thủng giấy, phải dùng bột thạch cao nung mịn hòa với dấm thanh mười năm và mật cá chuối nước. Quét một lớp mỏng hỗn hợp này lên vết dấu giáp lai, đợi đúng nửa nén nhang cho chất toan trong dấm làm nhả bớt sắc tố đỏ của chu sa. Sau đó, dùng dao cạo ngọc lam cạo nhẹ từng lớp thật mỏng theo chiều dọc của vân giấy.”

Cô hít một hơi ngắn, ngực nhói lên:

“Vết mực cũ sẽ mờ đi tám phần. Chỗ giấy bị mỏng đi sẽ được bồi thêm một lớp bột vỏ cây dâu tằm non nghiền mịn hòa với hồ nếp cái hoa vàng ép bằng bàn ủi đồng nung ấm. Khi mặt giấy khô và phẳng lại, con dấu lưu động số mười bốn của Ty Chấp Khế được đóng đè lên đúng góc giáp lai đó. Dưới ánh sáng thông thường của ban ngày, mắt thường chỉ thấy một con dấu đỏ tươi trọn vẹn, không ai nhận ra bên dưới lớp mực mới là vết cạo sâu một phần mười ly của mộc giáp lai cũ.”

“Còn sợi huyết tuyến?” Phạm Diên không nhịn được nữa, gằn giọng ngắt lời, bước chân y tiến sát mép bàn, sát khí bốc lên từ thanh đao bên hông. “Trận pháp Bát Môn Tỏa Khí nhận diện huyết mạch vô cùng nghiêm ngặt! Đó là pháp trận được thiết lập theo quy chuẩn phòng vệ của Thượng Viện ba phủ! Nếu không phải máu của người tự nguyện ký khế ước hoặc người có quan hệ huyết thống bảo lãnh trực hệ, làm sao cọc câu linh có thể cắm sâu vào sinh cơ của thợ cả Thuận và dân Bến Lau mà không bị trận bàn phản phệ?!”

Kỷ Vân chầm chậm quay đầu sang nhìn Phạm Diên. Khóe miệng đầy sẹo của cô nhếch lên, tạo thành một nụ cười nửa miệng méo mó, đầy vẻ cay đắng và khinh miệt tột cùng:

“Phạm Diên, ngươi làm chấp hành viên đệ nhất bao năm nay, ngươi ngồi trên chiếu trên của nha môn, ngươi tưởng cọc câu linh thực sự có linh tính phân biệt được lòng người tự nguyện hay ép buộc sao? Nó là khí cụ! Nó chỉ là một khối sắt nguội khắc phù văn! Nó chỉ nhận diện hai thứ: tần số dao động sinh cơ của máu và ấn ký phong tỏa của trận bàn!”

Cô chỉ ngón tay khẳng khiu vào ống ngọc bích trên bàn:

“Máu của thợ cả Thuận hay ba mươi sáu hộ dân Bến Lau thực chất chưa từng chạm vào sợi huyết tuyến đó. Thứ nằm trong ống ngọc là sợi gân của linh dương đầm lầy ngâm trong huyết thanh thu gom từ các y quán công cộng—máu của những bệnh nhân mắc dịch tả ba năm trước đã bị bỏ rơi cho đến chết trong các lán cách ly ngoài bãi tha ma. Máu đó chứa đầy cặn dạ giao đằng và cỏ mê hồn dùng để giảm đau trước khi chết. Kinh mạch của người chết khi ấy đã hoàn toàn tê liệt, khiến dao động huyết tính bị đông cứng ở trạng thái tuyệt vọng, kiệt quệ và phục tùng tuyệt đối.”

Kỷ Vân bước thêm một bước, giọng cô đanh lại, dội vào lồng ngực những người có mặt như từng nhát búa nện:

“Kẻ làm giả chỉ cần lấy một giọt mồ hôi từ dải yếm gai, hoặc một sợi tóc của người bị gài bẫy—thứ mà bọn sai nha bến bãi dễ dàng thu thập được từ xưởng nhuộm hay bến thuyền—đem đốt thành tro tàn rồi hòa vào dung dịch máu phế thải đó. Nhúng sợi gân thú vào dung dịch trong bảy ngày bảy đêm dưới ánh trăng khuyết, phong kín trong ống ngọc bích chôn dưới bùn ẩm.”

Cô thở dốc, mắt long lên sòng sọc:

“Khi cọc câu linh cắm xuống đất, sợi huyết tuyến giả sẽ phát ra tần số cộng hưởng giả mạo, đánh lừa trận bàn rằng mục tiêu đã từng tự nguyện dâng hiến sinh cơ trong cơn mê sảng. Trận pháp sẽ tự động kích hoạt cơ chế cưỡng chế, trích xuất thọ mệnh của người bị hại để bù đắp vào lỗ hổng nợ nần của kẻ khác trên sổ sách. Kỹ thuật này... các đội chấp hành lưu động của phủ Tĩnh Giang đã dùng từ nhiều năm trước. Nó không phải sáng kiến mới của Lương Trạch, nó là ngón nghề gia truyền của Ty Chấp Khế!”

Căn phòng rơi vào một khoảng lặng chết chóc.

Nam cảm thấy máu trong huyết quản mình như đông cứng lại thành băng. Từng lời, từng chữ của Kỷ Vân như những nhát dao lạnh buốt xẻ toang bức màn đen tối đằng sau bộ máy cưỡng thu sinh cơ mà bấy lâu nay anh ngỡ chỉ là sự nhầm lẫn của những con số kế toán hay lòng tham bộc phát của bọn nha dịch địa phương. Không có nhầm lẫn nào ở đây cả. Đây là một quy trình giết người cơ học, được tính toán tỉ mỉ đến từng giọt dấm thanh, từng nhát dao cạo ngọc lam, và tận dụng đến cả giọt máu tàn phế của những kẻ cùng khốn chết vì dịch bệnh. Một guồng máy nghiền nát con người thành những con số thọ mệnh để bù đắp vào kho bạc của các thế gia tu luyện.

Nhưng ngay lúc đó, Thôi Chấn bỗng nhiên dừng bút lông lại.

Mực chu sa trên đầu ngọn bút nhỏ xuống trang giấy một giọt đỏ thẫm như máu tươi. Viên giám trạm ngẩng đầu lên, ánh mắt sâu hoắm rọi thẳng vào gương mặt đầy sẹo biến dạng của Kỷ Vân. Y không hề tỏ ra kinh ngạc hay phẫn nộ trước những thủ đoạn tàn độc vừa được phơi bày. Khóe miệng y khẽ co giật, để lộ một nét cười lạnh lùng, thâm hiểm đến rợn gáy.

“Miêu tả chi tiết lắm.” Thôi Chấn chậm rãi nói, giọng y trầm xuống như tiếng chuông đồng gõ báo tử giữa đêm khuya. “Chi tiết đến mức... giống hệt như một bản tự thú của kẻ đã từng đích thân cầm dao cạo ngọc lam, từng hòa tro tóc vào máu người chết dịch và nhúng từng sợi gân thú.”

Y buông bút lông xuống giá ngọc, thò tay xuống ngăn kéo sâu hoắm dưới gầm bàn lim. Một tiếng ‘cạnh’ nặng nề vang lên. Khi bàn tay y rút ra, trên mặt bàn xuất hiện một tập hồ sơ phủ đầy bụi bặm của kho lưu trữ ngầm, bìa bọc da sơn dương màu đỏ thẫm đã ố vàng, mép da nứt nẻ theo năm tháng. Trên bìa hồ sơ, bốn chữ lớn khắc sâu bằng mực đen đặc quánh như hắc ín: *Thảm án Cầu Tro*.

Kỷ Vân nhìn thấy bốn chữ đó, toàn thân cô run bắn lên dữ dội như bị sét đánh trúng đan điền. Bàn tay đang nắm chặt bao kiếm bọc vải thô của cô siết mạnh đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, móng tay cắm sâu vào da thịt, gân xanh trên mu bàn tay giật giật từng cơn.

‘RẦM!’

Thôi Chấn đập mạnh bàn tay gầy guộc xuống tập hồ sơ da đỏ, làm rung chuyển cả ngọn đèn đá, tàn dầu trẩu bắn tung tóe ra mặt bàn:

“Niên hiệu Khang Định thứ mười, ngày mười chín tháng Bảy âm lịch. Xóm Cầu Tro, ven sông Đáy, thuộc địa hạt phủ Tĩnh Giang. Một tiểu đội chấp hành lưu động gồm bốn người tiến hành cưỡng thu khẩn cấp năm vạn chỉ sinh cơ đối với mười hai hộ dân nghèo làm nghề cào hến. Phương thức thi hành: tách chỉ khâu, cạo xóa mộc giáp lai trên khế ước mua nợ bùn khoáng, nhúng huyết tuyến nhân tạo tẩm dịch độc thảo trích xuất từ y quán chữa dịch tả để ép cọc câu linh hút sạch sinh cơ của người dân bù vào khoản nợ linh thạch của phường đào kênh.”

Thôi Chấn lật phắt trang bìa da đỏ sang trang biên bản tử thương ghi bằng chữ son, từng chữ từng câu đanh thép như búa sắt nện vào đe:

“Hậu quả: Pháp trận nổ tung do huyết tuyến giả bị xung đột dữ dội với địa mạch bùn lầy sông Đáy. Ba người dân nghèo chết ngay tại chỗ vì bị rút cạn sạch sinh cơ trong chớp mắt, hóa thành ba bộ xương khô trắng hếu bên bờ sông. Bảy người khác tàn phế kinh mạch suốt đời, đất đai bãi cào hến bị nha môn tịch biên để bù đắp thiệt hại cọc trận. Đội trưởng chỉ huy đợt cưỡng thu đẫm máu đó... mang thẻ bài Chấp hành viên bậc hai số hiệu TG-ChấpHành-044.”

Thôi Chấn ngước mắt lên, ánh nhìn sắc như mũi dùi đâm thẳng vào đôi mắt đục ngầu của Kỷ Vân:

“Số hiệu đó thuộc về ai, Kỷ Vân? Ai là người đã ký tên điểm chỉ vào lệnh cưỡng thu năm vạn chỉ sinh cơ tại xóm Cầu Tro ba năm trước?!”

Căn phòng ngầm như muốn nổ tung trong sự im lặng nghẹt thở. Hơi lạnh từ vách đá dường như đông cứng lại, đè nặng lên vai từng người.

Phạm Diên trố mắt nhìn Kỷ Vân, bàn tay y bất giác siết chặt lấy chuôi đao bọc da cá mập. Là một Chấp hành viên kỳ cựu của Ty Chấp Khế, y đã từng nghe phong phanh về thảm án Cầu Tro—vụ án đen tối bị Chưởng khế Lương Trạch hạ lệnh phong tỏa hồ sơ tuyệt mật suốt ba năm qua, vụ án mà người ta đồn rằng do một chấp hành viên phản loạn làm nổ trận pháp rồi đào tẩu mang theo sự sỉ nhục của cả một cơ quan hành pháp. Nhưng y chưa từng thấy tập hồ sơ gốc, càng không ngờ kẻ đứng sau số hiệu 044 lại chính là người đàn bà đang đứng trước mặt mình.

Nam đứng chôn chân tại chỗ. Trái tim anh đập thình thịch, đập dồn dập đến mức màng nhĩ lùng bùng như có tiếng trống trận. Một cảm giác lạnh toát, buốt nhói chạy dọc từ thắt lưng lên tận đỉnh đầu, khiến từng sợi lông tơ trên gáy anh dựng đứng. Anh quay sang nhìn người phụ nữ đang đứng bên cạnh mình.

Người phụ nữ này... người đã chỉ dẫn anh từng nhịp thở Dẫn Tức dưới khoang thuyền buốt giá ở Bến Lau, người đã kiên nhẫn lau từng vết dầu máy trên ngực anh, người đã dùng thân mình che chắn quả cầu lửa của sát thủ để anh ôm tráp tài liệu chạy thoát ra cầu tàu số ba... Người mà anh bắt đầu xem là chỗ dựa duy nhất, là người đồng đội đáng tin cậy nhất giữa vòng vây truy sát tàn khốc của Lương Trạch.

“Vân...” Nam thốt lên, giọng anh run rẩy, khô khốc đến mức chính tai anh nghe cũng thấy xa lạ. “Bà Mẫn... không phải... cô...”

Kỷ Vân không nhìn Nam. Cô từ từ cúi gục đầu xuống. Dưới ánh đèn đá vàng vọt, những giọt mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm vầng trán nhăn nheo, lăn dài qua những vết sẹo lồi tím bầm rồi rơi tí tách xuống mặt sàn đá xanh ẩm ướt.

“Tôi...” Giọng cô nghẹn lại trong cổ họng, méo mó, vụn vỡ như tiếng cành cây khô bị bẻ gãy.

“Nói!” Thôi Chấn quát lớn, ngón tay gầy guộc chỉ thẳng vào chóp mũi cô. “Có phải ngươi là người chỉ huy đợt cưỡng thu đó không?! Có phải chính tay ngươi đã cắm những cọc câu linh dùng huyết tuyến nhân tạo xuống đất xóm Cầu Tro không?!”

“Phải!”

Tiếng thét xé lòng của Kỷ Vân vang lên, dội vào bốn bức tường đá hoa cương của căn phòng ngầm, làm rung chuyển cả những giọt nước đọng trên trần đá.

Cô ngẩng phắt đầu lên. Đôi mắt mờ đục giờ đây đỏ ngầu những tia máu, những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gương mặt biến dạng vì tàn phế. Toàn thân cô run rẩy như một chiếc lá khô trước cơn cuồng phong:

“Là tôi! Lệnh cưỡng thu đó... mang chữ ký của tôi! Thẻ bài TG-ChấpHành-044... là của tôi!”

Cô quỳ sụp xuống sàn đá lạnh buốt, hai đầu gối đập mạnh xuống nền đá phát ra một tiếng ‘cộp’ khô khốc. Hai bàn tay đầy sẹo bấu chặt lấy vạt áo gai, giọng nói chìm trong sự thống khổ, nhục nhã và tuyệt vọng cùng cực:

“Ba năm trước... tôi nhận lệnh khẩn từ Chưởng khế Lương Trạch. Tập hồ sơ chuyển đến tay tôi trong đêm đã bị tháo gáy, những dòng chữ cạo xóa mộc giáp lai lộ rõ mồn một dưới ánh đèn... Tôi nhìn thấy! Tôi biết mười hai hộ dân cào hến đó chưa từng ký giấy bảo lãnh cho bất kỳ tu sĩ nào của phường đào kênh! Tôi biết sợi huyết tuyến đó là đồ giả làm từ máu người chết trong dịch bệnh!”

“Biết mà ngươi vẫn làm?!” Phạm Diên gầm lên một tiếng như cọp gầm, sải bước tiến tới, thanh đao bên hông y rung lên bần bật trong bao. “Ngươi là chấp hành viên mang lời thề công minh trước bia đá của Tòa Khế! Ngươi ăn bổng lộc của phủ nội! Tại sao ngươi vẫn hạ lệnh cắm cọc?!”

“Vì chức vị! Vì sáu mạng người trong tiểu đội của tôi!” Kỷ Vân gào lên trong cay đắng, tiếng nấc nghẹn ngào xé rách cổ họng, làm bờ vai gầy rung bần bật. “Lương Trạch nói nếu tôi từ chối thi hành, tiểu đội của tôi sẽ bị tước đoạt ngạch trật, bị điều ra biên giới phía bắc làm bia đỡ đạn cho chiến trận khai hoang của các tông môn! Em trai của một thuộc hạ dưới quyền tôi đang nằm liệt giường vì thối rữa kinh mạch, cần linh dược của Sinh Khố duy trì mạng sống từng ngày! Bản thân tôi sắp đến kỳ sát hạch thăng tiến lên Chấp hành viên bậc nhất... Tôi đã tự lừa dối mình! Tôi tự lừa dối mình rằng đó chỉ là một đợt thu hồi sinh cơ nhỏ, rằng dân nghèo mất vài năm thọ mệnh thì vẫn có thể cào hến sống qua ngày, rồi nha môn sẽ đền bù sau!”

Cô đập mạnh trán xuống nền đá xanh lạnh buốt. Máu tươi rỉ ra từ vết rách trên trán, hòa vào giọt nước ẩm trên sàn đá:

“Nhưng trận pháp đã nổ tung! Máu phế thải trộn độc thảo xung đột với địa mạch sông Đáy... Năm vạn chỉ sinh cơ bị rút cạn trong một khắc! Ba người... ba người đã hóa thành tro bụi ngay trước mắt tôi! Một bà lão mù lòa ôm lấy chân tôi, van xin tôi tha mạng cho đứa cháu nội sáu tuổi... nhưng đứa bé đã chết khô trên tay bà ấy, teo tóp lại thành một bộ da bọc xương trước khi tôi kịp dùng đao chặt đứt cọc trận!”

Kỷ Vân ngẩng mặt lên, máu tươi và nước mắt chảy tràn qua những vệt sẹo tím bầm, đôi mắt trống rỗng nhìn vào khoảng không vô định:

“Linh lực phản phệ của cọc trận xé nát nửa khuôn mặt tôi, phế bỏ hoàn toàn đan điền Lập Đài mà tôi khổ luyện hai mươi năm. Ngay đêm đó, Lương Trạch mang chấp hành viên đến niêm phong hiện trường, đẩy toàn bộ tội lỗi lên đầu tôi, biến tôi thành một kẻ đào tẩu mang tội danh phản loạn ăn cắp bí mật trận pháp... Ba năm qua, tôi sống chui lủi như một con chuột cống dưới đáy cống rãnh, chịu đựng sự hành hạ của kinh mạch đứt đoạn, chỉ để chờ một ngày có thể lật lại hồ sơ, mang cái tên Lương Trạch ra ánh sáng công đường... Nhưng ba mạng người ở Cầu Tro... là do chính bàn tay tôi giết chết. Tôi không chối cãi. Tôi nhận tội!”

Căn phòng chìm vào một khoảng lặng chết chóc kéo dài đến vô tận. Chỉ còn tiếng nước sông Cửu Hà vẫn rầm rì đập vào chân cọc ngầm bên ngoài âu thuyền, lạnh lùng và vô tình như dòng chảy của thời gian.

Đỗ Hoài Nam đứng sững sững bên cạnh chiếc bàn lim, hai tai anh ù đi như có hàng vạn con ong đang vò vẽ bên trong màng nhĩ. Anh nhìn người phụ nữ đang quỳ rạp dưới đất, trán đẫm máu, bờ vai gầy guộc run rẩy trong sự tuyệt vọng và nhục nhã.

Một cảm giác bàng hoàng, ghê tởm xen lẫn phẫn nộ tột cùng trào dâng từ đáy dạ dày lên tận cổ họng anh, đắng nghét và buồn nôn.

Người đồng hành này... người đã từng kéo anh ra khỏi đầm lầy Bến Lau, người đã dạy anh từng nhịp thở Dẫn Tức để chống lại hàn khí tử vong, người mà anh ngỡ là một nạn nhân kiên cường đang cùng anh chiến đấu để bảo vệ những người dân vô tội như Hoài An, như thợ cả Thuận... hóa ra lại chính là kẻ đã từng mang cái chết tàn khốc đến cho những người nghèo khổ ở xóm Cầu Tro.

Cô ta biết hồ sơ là giả. Cô ta biết sợi huyết tuyến là đồ ngụy tạo. Cô ta biết mười hai hộ dân cào hến đó hoàn toàn vô tội. Nhưng cô ta vẫn hạ lệnh cắm cọc. Cô ta đã chọn sự an toàn của bản thân, chọn chức vị chấp hành viên bậc nhất, chọn mạng sống của thuộc hạ mình để giẫm đạp lên mạng sống của những người dân không tấc sắt trong tay.

Bàn tay Nam siết chặt lấy mép bàn lim, móng tay cắm sâu vào thớ gỗ cứng đến mức bật máu tươi, nhưng anh không hề cảm thấy đau đớn. Nỗi đau thể xác chẳng là gì so với sự sụp đổ kinh hoàng của niềm tin bên trong anh. Anh muốn mở miệng mắng chửi, muốn gào lên chất vấn cô ta lấy tư cách gì để nói về đạo lý, lấy tư cách gì để bước cùng anh trên con đường tìm kiếm sự giải thoát cho Bến Lau... nhưng cổ họng anh nghẹn ứ lại, không thể thốt ra một lời nào. Sự thật trần trụi và tàn nhẫn của thế giới khế ước tu tiên này vừa giáng một đòn chí mạng vào tâm thức non nớt của anh. Ở nơi này, không có ai hoàn toàn trong sạch. Mỗi một kẻ sống sót bước ra từ nha môn, từ các trạm khế ước, đều mang trên mình những vết nhơ đẫm máu đồng loại.

Thôi Chấn chậm rãi đặt bút lông xuống giá ngọc bằng đá trắng.

Viên giám trạm nhìn Kỷ Vân đang quỳ rạp dưới đất, rồi liếc mắt nhìn sang Nam đang chết lặng vì bàng hoàng, gương mặt y vẫn giữ nguyên vẻ vô cảm, lạnh lùng của một cỗ máy hành pháp đã nhìn quen cảnh máu chảy đầu rơi:

“Lời khai nhận tội của cựu chấp hành viên Kỷ Vân đã được ghi chép đầy đủ vào biên bản thẩm tra đặc biệt mã hiệu TL-TamBờ-77. Chiếu theo Hiệp ước ba phủ, lời khai này có giá trị xác nhận cơ chế kỹ thuật làm giả khế ước và sợi huyết tuyến là phương thức có thật, mang tính hệ thống và đã từng được áp dụng tại phủ Tĩnh Giang.”

Thôi Chấn cầm lấy con dấu đồng thau nặng trịch của Trạm Trung Lập Tam Bờ, ấn mạnh vào nghiên mực đỏ thẫm rồi đóng một dấu triện vuông vức lên tờ biên bản lưu ký của Nam:

‘CỘP.’

Tiếng dấu mộc nện xuống mặt giấy đanh gọn vang dội khắp căn phòng ngầm.

“Căn cứ vào tính nguyên vẹn của chuỗi lưu ký vật chứng do Đỗ Hoài Nam bảo vệ thành công, kết hợp với lời khai kỹ thuật của nhân chứng Kỷ Vân, bản trạm ra phán quyết sơ bộ:”

Thôi Chấn ngẩng đầu nhìn thẳng vào Phạm Diên:

“Tạm đình chỉ vô điều kiện lệnh truy bắt khẩn cấp số hiệu TG-TruyHồi-104 của Chưởng khế Lương Trạch đối với Đỗ Hoài Nam. Toàn bộ tráp vật chứng, ống ngọc huyết tuyến và bản sao nhật ký mượn dấu được chuyển vào kho lưu trữ niêm phong cấp một của Trạm Tam Bờ, chờ Tòa Khế thượng cấp cử thẩm phán thụ lý chính thức.”

Viên giám trạm quay sang nhìn Nam:

“Đỗ Hoài Nam. Ngươi không còn là tội phạm đào tẩu bị truy nã gắt gao nữa. Bắt đầu từ giờ khắc này, tư cách pháp lý của ngươi được chuyển đổi thành: *Bị can quản thúc dân sự*. Ngươi được quyền tự do di chuyển trong phạm vi khuôn viên Trạm Trung Lập Tam Bờ dưới sự giám hộ của Chấp hành viên Phạm Diên và đại diện Liên hội Vận Thương, chờ ngày Tòa Khế mở phiên điều trần sơ bộ.”

Thôi Chấn hất cằm về phía Kỷ Vân đang quỳ bất động:

“Riêng cựu chấp hành viên Kỷ Vân, chiếu theo tội danh trực tiếp gây ra cái chết của ba thường dân tại xóm Cầu Tro đã tự thú, bản trạm hạ lệnh: xích khóa đan điền, cấm rời khỏi phòng giam giữ đặc biệt của trạm trung lập. Số phận của ngươi sẽ do Tòa Khế liên phủ định đoạt sau khi vụ án Bến Lau kết thúc.”

Cánh cửa sắt của căn phòng ngầm nặng nề mở ra. Hai tên lính canh bọc giáp xám của trạm trung lập bước vào, tay cầm đôi cùm sắt đen ngòm khắc đầy phù văn phong tỏa linh lực, tiến thẳng về phía Kỷ Vân.

Kỷ Vân không hề kháng cự. Cô từ từ đứng dậy, đôi chân run rẩy nhưng vẫn cố gượng vững. Cô đưa hai cổ tay gầy guộc đầy sẹo ra phía trước để lính canh khóa cùm. Tiếng kim loại va chạm ‘lách cách’ vang lên khô khốc, buốt lạnh giữa màn đêm ẩm mốc.

Trước khi bị lính canh áp giải đi qua cánh cửa sắt nặng nề, Kỷ Vân khẽ dừng bước. Cô quay đầu lại, đôi mắt đỏ hoe ngấn lệ nhìn thẳng vào Đỗ Hoài Nam. Đôi môi biến dạng của cô mấp máy như muốn nói một lời xin lỗi, hoặc một lời cầu xin sự thấu hiểu, nhưng rồi cô lại im lặng. Cô cúi đầu, chậm rãi bước tiếp vào bóng tối thăm thẳm của hành lang ngầm dưới lòng sông.

Trong ánh đèn đá chập chờn của phòng thẩm định, Nam đứng chết lặng nhìn theo bóng lưng xiêu vẹo của người phụ nữ vừa bị áp giải đi.

Nhìn người đồng đội từng kề vai chiến đấu, Nam nhận ra vết sẹo trên cổ tay Kỷ Vân không phải do chống lại kẻ ác, mà là dấu vết của dây trói năm xưa cô từng siết vào cổ người vô tội.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories