Thợ trận không làm chịu
Căn xưởng sửa chữa khí cụ của Lục Sâm nằm lọt thỏm sau bãi cọc neo thuyền mục nát của bến Hạ Nham, chìm nghỉm giữa một vùng trũng sình lầy nồng nặc mùi lưu huỳnh, mỡ cá thối và dầu thông cháy dở.
Nơi này thuở trước vốn là một vũng cạn thiên tạo dùng để kéo thuyền tải đáy bằng lên cạo hà, trét dầu rái và vá vỏ sau những chuyến ngược thác Cửu Hà gãy dầm gãy mái. Nhưng qua vài mươi năm vật đổi sao dời, các nghiệp đoàn vận tải lớn dời bến về mạn thượng lưu kiên cố, vũng cạn bị bỏ phế và dần biến thành bãi tha ma của đồ sắt rỉ sét, rác thải cơ khí và phế liệu trận pháp tích tụ qua nhiều đời thợ thuyền. Những tấm vỏ thuyền bọc đồng rỉ xanh xếp chồng lên nhau thành từng bức tường tạm bợ xiêu vẹo, ngăn gió lùa nhưng lại giữ rịt lấy thứ chướng khí ẩm thấp từ lòng sông bốc lên. Dưới bùn lầy đen sì quánh đặc, từng đoạn xích kéo neo bằng sắt đen to bằng bắp đùi người lớn nằm cuộn tròn, nửa chìm nửa nổi như xác trăn khổng lồ chết rũ giữa đầm nước. Rải rác khắp các gò đất cao là vô số mảnh vỡ của đĩa đo linh bằng đá xanh, trục đồng hồ nước của các thuyền buôn cũ, cùng những viên đá định trận nứt toác vì phản phệ linh lực, bị vứt chỏng chơ lẫn vào đống vỏ ốc và rơm rạ mục nát.
Không khí ẩm ướt của lòng sông Cửu Hà khi đêm xuống quện chặt với thứ khói hăng nồng bốc ra từ các lò nung xỉ sắt lậu hoạt động chui rúc quanh bãi phế liệu, tạo thành một màn sương nhờ nhờ, vàng vọt và cay xè nơi khóe mắt. Hễ hít sâu một hơi là cuống họng lại ran rát mùi mạt kim loại và acid ngâm gỉ.
Tạ Bách dẫn đường, bước chân thoăn thoắt một cách kỳ lạ dù thân hình gã phốp pháp và cái bụng bia tròn căng cứ nẩy lên sau lớp áo chẽn da bò bạc phếch. Gã quen từng ngóc ngách của cái bãi tha ma này như lòng bàn tay. Đôi bàn tay ngắn củn, thô kệch của gã liên tục vén những dải lưới rách tẩm dầu rỉ rủ xuống từ xà ngang như mạng nhện khổng lồ, thỉnh thoảng lại dùng mũi giày da bọc sắt đá văng một mẩu then cài rỉ sét hay một thanh sắt nhọn hoắt nhô lên khỏi bùn để dọn lối cho Nam và Kỷ Vân bám sát phía sau.
Mỗi bước sải của Tạ Bách đều dứt khoát, nhưng mắt gã không ngừng đảo qua đảo lại, tai giật giật lắng nghe từng tiếng bì bõm của đám ếch nhái hay tiếng vỏ sò vỡ vụn dưới mạn thuyền đỗ xa xa. Gã biết rõ ở cái đất Hạ Nham này, một bước đi hớ hênh giẫm phải cọc ngầm hay lọt vào bẫy răng cưa của dân trộm sắt vụn cũng đủ để mất toi một cẳng chân.
Đỗ Hoài Nam ôm chặt chiếc tay nải bằng vải gai thô trước ngực, hai cánh tay ghì chặt như sợ chỉ một cú sẩy chân là thứ đồ bên trong sẽ rơi tõm xuống vũng bùn lưu huỳnh sủi tăm. Bên trong lớp vải gai dày là cuốn Sổ Đối Chiếu được bọc kín ba lớp da cừu chống nước cùng chiếc hộp sắt đựng mẫu vật anh vừa lấy từ xóm chài Hạ Nham lúc chập tối. Mỗi bước đạp xuống nền đất nhão nhoẹt, trơn tuột như mỡ, vết thương cũ nơi lồng ngực do dư chấn nổ cọc trận ở bãi nhuộm Bến Lau lại nhói buốt lên từng cơn, như thể có một mũi kim gỉ đang ngoáy sâu vào giữa hai lá phổi.
Nam cắn chặt môi dưới, cố ghìm từng tiếng thở dốc. Luồng hơi ấm mỏng manh của thuật Dẫn Tức mà Kỷ Vân chỉ dạy mấy hôm trước đang âm thầm tuần hoàn dưới đan điền, men theo đốc mạch chậm chạp xoa dịu các múi cơ đang căng cứng vì lạnh và kiệt sức. Thứ linh khí mọn mằn của một kẻ phàm nhân nửa mùa chẳng đủ để làm nên trò trống gì trước mặt giới tu giả, nhưng lúc này, nó là sợi dây duy nhất giữ cho anh không gục ngã trước cái lạnh thấu xương của gió sông đêm cuối mùa.
Kỷ Vân lặng lẽ đi sau cùng, cách Nam đúng hai sải chân. Bước chân cô nhẹ bẫng, dẫm lên bùn nhão mà thanh âm phát ra chỉ tựa như tiếng lá rụng. Thanh đoản kiếm của cô vẫn quấn chặt trong nhiều lớp vải bố xám thô kệch, buộc chéo sau lưng bằng dây đay bện chặt, chỉ để lộ phần chuôi kiếm sứt sẹo quấn dây da cá đuối đã mòn bóng. Ánh mắt Kỷ Vân sắc lạnh, phẳng lặng như mặt nước giếng khơi, hoàn toàn phớt lờ những đống sắt vụn bừa bãi dưới chân.
Đầu cô hơi nghiêng, ánh mắt liên tục liếc lên những mép mái hiên tôn rách nát, những đòn tay gãy gục và các giàn cần cẩu gỗ xiêu vẹo xung quanh bãi phế liệu. Cô tìm kiếm những góc chết, những điểm tụ phong có thể bị giới xạ thủ nha môn lợi dụng để đặt trạm bắn tỉa hoặc giăng lưới phù phục kích. Từng là chấp hành viên hạng ba của Ty Chấp Khế, bản năng nghề nghiệp ăn sâu vào từng thớ thịt mách bảo cô rằng một nơi chứa chấp kẻ sửa lậu khí cụ, tháo dỡ phù văn cấm và buôn bán linh tài chợ đen như thế này chưa bao giờ là chốn an toàn để dừng chân quá một tuần trà.
“Đến rồi. Coi chừng đụng trán vào mấy cái giàn treo then khóa mục bên trên,” Tạ Bách hạ giọng càu nhàu, hơi thở phì phò như ống bễ lò rèn. Gã vươn tay gạt phắt một tấm bạt rách phủ đầy muội than và dầu máy sang một bên, để lộ ra một lối vào hẹp chỉ vừa một người lách qua.
Bên trong là một căn lều nửa chìm nửa nổi, nửa phần sau tựa hẳn vào vách đá ngầm của bờ sông, nửa phần trước dựng chắp vá bằng những thanh gỗ sồi mục tháo từ sườn thuyền buôn và những tấm vách sắt rỗ hoa mai vì muối biển. Ánh lửa từ lò rèn đắp bằng đất sét đỏ ở góc trong cùng hắt lên những vệt sáng đỏ quạch, nhảy múa chập chờn trên các mảng tường loang lổ ẩm mốc.
Giữa gian phòng chật chội chưa đầy hai mươi thước vuông kê ngổn ngang đủ thứ đồ nghề: một chiếc đe thép lớn nứt góc kê trên gốc gỗ lim xù xì, một bể đá chứa nước làm nguội đóng váng dầu đen ngòm, và những chiếc kệ gỗ ba tầng đóng bụi dày cộm chứa đầy bình thau, ống nghiệm bằng ngọc cấp thấp, cùng hàng trăm ngăn kéo nhỏ dán nhãn bằng thứ chữ ngoằn ngoèo khó đọc. Mùi chua gắt của giấm thanh dùng để tẩy gỉ hòa lẫn với mùi mỡ cừu sống và mùi khói than đá khiến người mới bước vào không khỏi tức ngực, muốn ho sặc sụa.
Ngồi còng lưng trên chiếc ghế đẩu ba chân trước mặt bàn đá hoa cương dày cộp là một gã đàn ông trạc ba mươi hai tuổi. Gã mặc chiếc tạp dề bằng da bò thuộc dở, bề mặt loang lổ những vệt cháy xém do axit ăn mòn. Hai cánh tay gã trần trụi, gân guốc nổi chằng chịt như rễ si, phủ đầy những vết sẹo bỏng lớn nhỏ do tàn lửa và linh lực nổ cục bộ để lại.
Bên mắt phải của gã đeo một khung kính phóng đại bằng đồng thau nặng trịch, gắn ba tầng thấu kính tròn có thể xoay đổi tiêu cự bằng một bánh răng nhỏ bên thái dương. Bàn tay phải của gã đang cầm một chiếc búa gõ nhỏ chỉ nặng vài lạng, đầu búa bọc đồng đỏ, tỉ mỉ gõ từng nhát cộc cộc cực kỳ chuẩn xác xuống một chiếc đục ngọc nhỏ như que tăm, khắc từng đường vân uốn lượn tinh tế lên bề mặt một phiến đá định trận màu xám tro.
Ngay khoảnh khắc mép bạt lay động và tiếng bước chân lạ vừa chạm vào ngưỡng cửa gỗ mục, bàn tay cầm búa của gã đàn ông lập tức dừng sững lại giữa không trung. Không quay đầu, thậm chí thấu kính trước mắt vẫn không rời khỏi bề mặt phiến đá xám, gã dùng đầu búa gõ cộc cộc hai tiếng đanh gọn xuống mặt đe thép bên cạnh, cất giọng khàn đặc, khô khốc như tiếng hai mảnh ngói vỡ cọ xát vào nhau:
“Nếu là người của tuần đinh trạm muối đến thu thuế đêm, cứ đi vòng cửa sau mà lấy tiền dầu đèn tháng này. Mười lượng bạc vụn nằm sẵn trong cái hũ sành đựng mỡ bò cạnh vách ván, cầm lấy rồi xéo. Nếu là khách thương muốn đến đòi bảo hành cái đĩa ngọc định vị của thuyền buôn rách, tự vác xác về mà chờ. Giấy biên nhận ghi rõ ba mươi ngày, quá hạn một khắc lão tử cũng không sửa không công cho các ngươi.”
Tạ Bách hắng giọng thật mạnh, khạc một bãi nước bọt đặc quánh sang góc vách sắt, cất giọng ồm ồm phá tan bầu không khí ngột ngạt:
“Là ta đây, Lục Sâm. Bớt cái giọng chó cắn áo rách ấy đi, dẹp mấy cái trò dọa ma dọa khỉ ấy vào xó lò rèn.”
Bả vai Lục Sâm khẽ khựng lại một nhịp. Gã chậm rãi đặt chiếc đục ngọc xuống khay gỗ, xoay nhẹ khớp nối đồng để đẩy chiếc kính phóng đại lên trán, để lộ ra một gương mặt gầy guộc, hốc hác với đôi gò má nhô cao và chòm râu quai nón lởm chởm nhuốm đầy bụi than. Đôi mắt trần của gã nhỏ, mí sụp nhưng sâu hoắm và sắc lẹm như hai lưỡi dao cạo vừa mài qua đá bùn. Gã buông chiếc búa đồng đánh 'keng' một tiếng nặng trịch xuống mặt bàn đá.
Thế nhưng, trong khi tay phải buông búa một cách tự nhiên, bàn tay trái của gã lại lặng lẽ, chuẩn xác thu dần về phía dưới gầm bàn đá khoét rỗng. Nam đứng ở góc cửa, với góc nhìn nghiêng và chút ánh lửa lò rèn hắt qua khe hở, thoáng thấy dưới gầm bàn có một rãnh trượt bằng sắt gắn sẵn một ống nỏ ngắn bắn liên châu, trên báng nỏ dán một lá phù nổ màu vàng nghệ đã kích hoạt nửa chừng, đầu mũi tên thép đen ngòm đang chĩa thẳng tắp ra vị trí ba người đang đứng.
“Tạ chủ thuyền?” Lục Sâm nhíu mày, ánh mắt đảo nhanh qua thân hình đẫy đà của Tạ Bách, rồi ngay tức khắc găm chặt vào hai bóng người đứng khuất sau bóng tối của tấm bạt.
Khi ánh mắt gã quét qua vệt sẹo lồi kéo dài từ thái dương xuống tận xương quai hàm của Kỷ Vân—vết tích không thể nhầm lẫn của một vụ phản phệ trận pháp cấp cao—cùng dáng đứng hơi chùng gối, hai bàn tay buông thõng nhưng các khớp ngón tay co lại như móng vuốt của cô, đồng tử của gã thợ trận khẽ co rút lại thành hai chấm nhỏ.
“Ngươi dẫn khách lạ vào xưởng của ta?” Giọng Lục Sâm chùng xuống, mang theo vẻ đề phòng lạnh toát. “Lại còn là cái loại khách mà trên người nồng nặc mùi tro bùa chú trừ tà, mùi thuốc súng của nỏ công phá và cả mùi máu tanh của người nha môn? Tạ Bách, lá gan của ngươi dạo này to ra phết nhỉ, chê khúc sông Cửu Hà này nước chảy chưa đủ xiết để dìm chết thuyền của ngươi sao?”
Gã không chờ Tạ Bách giải thích, vươn thẳng bàn tay cáu bẩn đầy vảy rỉ sắt ra, lật ngửa lòng bàn tay thô ráp, chai sần với những ngón tay khẳng khiu trước mặt tay thương nhân bến bãi:
“Quy củ cũ của xưởng bãi cọc. Khách ngoài luồng bước chân qua cái ngưỡng cửa rách này, trước khi mở miệng trình bày nửa câu, trước khi thở ra một hơi than vãn, đặt trước hai thỏi bạc lót tay lên mặt đe. Không có bạc thì quay gót, bãi cọc ngoài kia nước sâu mười trượng, không thiếu chỗ ném người xuống làm mồi cho lũ cá trê sông Cửu Hà rỉa xác.”
Tạ Bách tặc lưỡi đánh 'chẹp' một cái, lầm bầm chửi rủa trong cổ họng mấy câu tục tĩu của phường chèo đò. Gã thọc bàn tay hộ pháp vào sâu trong túi áo chẽn bằng da, lôi ra hai thỏi bạc vụn méo mó ước chừng năm lượng bạc trắng đã xỉn màu vì mồ hôi, rồi đập mạnh 'chát' một cái xuống mặt đe thép:
“Cầm lấy cho rảnh nợ! Lão tử này buôn bán trên sông ba mươi năm, đã bao giờ quỵt của cái lò rèn rách nát nhà ngươi nửa cắc bạc vụn chưa? Hôm nay ta đưa người đến là vì có việc hệ trọng, cần đến cái tay nghề xoi mói trận pháp của ngươi, chứ không rảnh rỗi dắt người đến đây để nghe ngươi gầm gừ như con chó đói giữ xương.”
Lục Sâm dùng hai đầu ngón tay nhặt bổng hai thỏi bạc lên. Bàn tay gã thuần thục tung nhẹ thỏi bạc trên không, lắng nghe tiếng ngân thanh mảnh của kim loại để thẩm định độ tinh khiết, đoạn ước lượng trọng lượng trong lòng bàn tay rồi nhét tọt vào chiếc túi da may bên hông tạp dề.
Sự lạnh lùng trên khóe mắt gã có phần chùng xuống đôi chút, nhưng bàn tay trái giấu dưới gầm bàn đá vẫn giữ nguyên tư thế nắm chặt báng nỏ, ngón trỏ đặt hờ trên lẫy gạt:
“Nói đi, đừng làm mất thời gian của nhau. Muốn phá then khóa trận của kho muối hay muốn tẩy xóa dấu niêm phong của hòm thư mật bị cướp trên đường vận tiêu? Ta nói trước, nếu đụng tới phù văn niêm phong từ cấp ba trở lên của quan phủ Tĩnh Giang, giá sẽ tính gấp năm lần ngày thường, và sau khi làm xong các ngươi phải biến khỏi xưởng ta trong vòng nửa khắc.”
Đỗ Hoài Nam bước lên nửa bước. Anh hít một hơi thật sâu, nén lại cơn đau nhói ở lồng ngực, cẩn thận đặt chiếc tay nải bằng vải gai lên góc bàn đá. Đôi bàn tay gầy gò của một kẻ quanh năm cầm bút kiểm sổ cẩn thận cởi từng nút thắt dây gai, mở lớp da cừu bọc ngoài, rồi lấy ra một chiếc hộp sắt nhỏ dài bằng bàn tay—loại hộp chuyên dùng của các lại mục trạm linh vận để chứa mẫu vật nghiệm thu—cùng hai tờ giấy bản mỏng tang đã ố vàng vì sương đêm.
Nam nhẹ nhàng mở nắp chiếc hộp sắt, đẩy từ từ về phía trước mặt Lục Sâm.
Bên trong lòng hộp sắt được lót một lớp bông gòn trắng tinh, sạch sẽ. Nằm ngay ngắn trên lớp bông là một đoạn dây màu đỏ sẫm dài chừng nửa gang tay, dày bằng cọng cỏ tranh, cuộn tròn lại như một con sâu máu đang say ngủ. Đó chính là sợi huyết tuyến mà Nam và Kỷ Vân đã dùng kìm bấm thép cắt rời từ cọc phụ xả áp của trận pháp Bát Môn Tỏa Khí tại bãi nhuộm Bến Lau trong đêm đào thoát đầy máu và lửa.
Bên cạnh chiếc hộp sắt, Nam cẩn thận dùng ngón tay vuốt phẳng hai tờ giấy bản. Tờ thứ nhất là bản sao trích lục khế ước gốc của Phan Vĩnh mang mã hiệu TG-CấpCứu-0419, góc dưới còn in hằn dấu điểm chỉ đỏ thẫm của người vợ góa mà anh vừa thu thập được ở xóm chài Hạ Nham. Tờ thứ hai là bản chép tay chi tiết các phụ lục bảo lãnh ngụy tạo từ mã hiệu HN-BảoLãnh-401 đến 440, những con số vô hồn nhưng đã trói buộc sinh mạng của ba mươi sáu hộ dân thợ nhuộm Bến Lau vào bản án tử hình vô hình.
“Tôi không cần anh phá khóa trận, cũng không cần anh tẩy xóa niêm phong hòm thư,” Nam nói, giọng anh trầm thấp, chậm rãi nhưng từng âm tiết phát ra đều vô cùng đanh thép, rõ ràng. “Tôi cần anh dùng kỹ thuật nghiệm chứng trận đạo chuyên sâu nhất của mình để bóc tách các tầng linh tính kết bám trên sợi huyết tuyến này. Hãy xác định xem máu tẩm trên vật dẫn này rốt cuộc thuộc về ai, được thu hoạch bằng phương thức nào, và quan trọng nhất: nó có khớp với cơ chế ký kết khế ước tự nguyện theo quy chuẩn của Khế Luật hay không.”
Lục Sâm ban đầu chỉ liếc mắt nhìn một cách hời hợt, nhưng ngay khi tầm mắt gã chạm vào sợi dây màu đỏ sẫm và những đường vân chìm mờ ảo khắc dọc thân sợi—ký hiệu hoa văn phù triện hình bánh xe răng cưa độc quyền của Ty Chấp Khế phủ Tĩnh Giang—sắc mặt gã bỗng chốc cứng đờ. Chiếc kính phóng đại ba tầng trên trán gã trượt đánh 'tạch' một cái xuống trước mắt phải.
Gã thợ trận chồm người tới trước, hai mắt trừng trừng nhìn vào chiếc hộp sắt như thể vừa nhìn thấy một con rắn độc cực độc đang nhe nanh. Rồi như bị điện giật, gã ngửa phắt người ra sau, chiếc ghế đẩu ba chân nghiến ken két trên nền đất nện. Vẻ thực dụng, hám tiền thường thấy của một gã gian thương chợ đen bỗng chốc tan biến sạch sành sanh, nhường chỗ cho sự kinh hoàng tột độ khiến mồ hôi hột trên trán gã túa ra như tắm.
“Vật dẫn huyết tuyến của trận Bát Môn Tỏa Khí?” Giọng Lục Sâm hạ thấp đến mức gần như nghẹn lại ở cổ họng, rít qua kẽ răng run rẩy vì vừa sợ hãi vừa phẫn nộ. “Các ngươi... các ngươi điên hết rồi sao? Đây là cọc câu linh áp cấp quận của nha môn! Là cấu kiện trung tâm để dẫn truyền thọ mệnh và nguyên khí! Thứ này một khi bị cắt đứt cơ học, pháp trận tổng đài ở phủ thành chắc chắn sẽ ghi nhận dao động phản hồi ngược cực mạnh. Các ngươi dám vác tang vật bị truy nã cấp một của Ty Chấp Khế vào tận hang ổ của ta?”
Gã xua tay lia lịa, bàn tay run bần bật chực đẩy phắt chiếc hộp sắt văng ra khỏi mép bàn đá:
“Thu lại ngay! Thu dọn đống rác chết người này lại ngay lập tức! Lục Sâm ta tuy là một tên tán tu thợ rèn mạt hạng, kiếm cơm thừa canh cặn nhờ mấy món khí cụ lậu và tháo dỡ đồ phế thải, nhưng cái đầu trên cổ ta chỉ có một! Ta tuyệt đối không bao giờ dính vào án chữ lớn của Ty Chấp Khế! Cầm lấy đồ của các ngươi rồi cút xéo khỏi đây trước khi ta kéo còi báo động cho tuần đinh bến sông!”
“Lục Sâm.”
Kỷ Vân bất ngờ cất tiếng. Giọng nói của cô không cao, thậm chí còn nhẹ hơn tiếng gió luồn qua khe vách sắt, nhưng lại lạnh buốt như băng tuyết ngâm ngàn năm dưới đáy vực sâu. Từng lời cô thốt ra không hề chứa đựng sát khí hung hãn, nhưng lại mang theo một sức ép vô hình nặng trịch—thứ uy nghiêm đặc trưng của một kẻ từng nhiều năm ngồi trên ghế thẩm tra hành pháp, nắm giữ quyền sinh sát trong tay:
“Ngươi từng phục vụ tròn ba năm trong đội sửa chữa công cụ và bảo dưỡng trận bàn của Ty Chấp Khế phủ Tĩnh Giang, trước khi bị sa thải nhục nhã vì tội lén lút ăn cắp ba mươi cân linh thạch phế liệu ở kho Đoan Kiều để đem ra ngoài bán cho phường đúc tiền giả. Ngươi là thợ trận, ngươi hiểu rõ cấu trúc của cọc câu linh hơn bất kỳ ai trong căn phòng này.”
Cô tiến lên một bước, ánh mắt như hai mũi dùi thép găm thẳng vào đôi mắt đang dao động dữ dội của Lục Sâm:
“Ngươi thừa biết rằng nếu cọc phụ này bị kích nổ áp suất cục bộ và đứt gãy tại trận địa, trận bàn trung tâm ở phủ thành chỉ ghi nhận đó là một lỗi quá tải nhiệt cơ học thông thường do linh thạch phẩm cấp thấp gây ra, chứ tuyệt đối không thể phát ra tín hiệu định vị tầm xa. Nếu tuần đinh hay chấp hành viên của Ty Chấp Khế nắm được tung tích của sợi huyết tuyến này, bọn chúng đã không để Tạ Bách điềm nhiên lái chiếc thuyền chở đầy tơ lụa đưa chúng ta lọt qua trạm kiểm soát Kho Muối Hạ Nham vào lúc hoàng hôn.”
Lục Sâm đứng chôn chân tại chỗ, ngơ ngác nhìn Kỷ Vân. Gã chăm chú quan sát vệt sẹo sâu hoắm, ngoằn ngoèo như một con rết đỏ chạy dài từ thái dương bên trái kéo thẳng xuống tận xương quai hàm của cô. Những ký ức tăm tối, kinh hoàng của năm năm về trước dường như ùa về trong tâm trí gã như một cơn lũ dữ. Lưng gã từ từ còng xuống, hơi thở trở nên dồn dập, đứt quãng:
“Ngươi... vệt sẹo phản phệ của trận pháp Phong Lôi này... Ngươi là người sống sót duy nhất của tiểu đội Chấp Pháp trong vụ án Cầu Tro năm năm trước?”
“Chuyện cũ năm xưa không cần một kẻ đào ngũ như ngươi phải bận tâm nhắc lại,” Kỷ Vân lạnh lùng cắt ngang, không để cho cảm xúc thừa thãi len lỏi vào cuộc đối thoại. “Ngươi chỉ cần làm đúng bổn phận của một gã thợ trận. Phân tách vật dẫn. Giám định linh tính. Viết ra kết luận kỹ thuật chuẩn xác vào biên bản. Không ai bắt ngươi phải vác mặt ra công đường đối chất làm nhân chứng, và cũng không ai đòi hỏi ngươi phải mạo hiểm bước chân ra khỏi cái xưởng rác này.”
Lục Sâm khoanh hai cánh tay trần đầy sẹo trước ngực, các thớ cơ trên mặt co giật liên hồi. Gã cúi đầu nhìn chằm chằm vào chiếc hộp sắt đựng sợi huyết tuyến, rồi lại ngước lên nhìn vẻ mặt điềm tĩnh đến đáng sợ của Kỷ Vân, sau cùng quay sang nhìn bộ mặt đầy vẻ sốt ruột của Tạ Bách. Gã cười khẩy một tiếng, nụ cười cay đắng và méo mó:
“Đừng có dùng mấy cái lời lẽ đại nghĩa, đừng đem tình cảnh oan khiên của đám dân nghèo Bến Lau hay món nợ cũ ở Ty Chấp Khế ra mà dỗ ngọt ta. Lục Sâm này sống sót chui rúc được ở cái bến sông thối tha này suốt mười năm nay chỉ nhờ vào một nguyên tắc sống duy nhất: thợ trận không bao giờ làm chịu, không bao giờ tin vào những lời hứa hẹn tương lai, và tuyệt đối không bao giờ liều mạng vì món nợ máu của kẻ khác.”
Gã giơ ba ngón tay xương xẩu, đen đúa vì dính đầy muội than lên trước mặt Nam:
“Ba mươi viên hạ phẩm linh thạch nguyên khối. Không nhận ngân phiếu của thương hội, không nhận gán nợ bằng hàng hóa, chỉ lấy linh thạch loại một còn nguyên vẹn linh khí, không sứt mẻ góc cạnh. Thêm vào đó, chiếc thuyền buôn số 772 của Tạ Bách phải nổ máy hơi nước, neo sẵn ở chân cọc số ba ngoài bờ sông. Nếu đêm nay có bất kỳ biến động nào từ phía tuần đinh hay sát thủ, ta phải là người đầu tiên được bước chân lên thuyền rời khỏi đất Hạ Nham này. Thiếu một viên đá, thiếu một điều kiện, mời các ngươi cầm lấy mớ đồ lòng này mà bước ra khỏi cửa.”
Đỗ Hoài Nam siết chặt quai tay nải bằng vải gai, những đầu ngón tay trắng bệch vì dùng lực.
Ba mươi viên hạ phẩm linh thạch! Đó là một con số khổng lồ, một gia tài không tưởng đối với một cựu kiểm sổ viên phàm nhân như anh. Ở bến Bến Lau, một viên linh thạch hạ phẩm đổi ra tiền đồng đủ cho một gia đình thợ nhuộm bốn miệng ăn sống sung túc, no đủ suốt ba tháng ròng. Ba mươi viên linh thạch tương đương với toàn bộ số tiền lương bổng mà Nam phải tích cóp, chắt bóp suốt năm năm trời làm việc cật lực tại trạm linh vận huyện Đoan Kiều nếu không ăn không tiêu một cắc. Hiện tại, toàn bộ tài sản tích lũy cả đời của anh đã bị niêm phong cùng căn nhà tranh ba gian ven sông, trong người anh lúc này ngoài mấy đồng bạc vụn phòng thân thì chỉ còn lại cuốn sổ nợ và bộ quần áo rách rưới đang mặc.
Anh nuốt khan một ngụm nước bọt, quay sang nhìn Tạ Bách bằng ánh mắt đầy vẻ thăm dò và khẩn thiết.
Quả nhiên, vừa nghe đến cái giá ba mươi viên linh thạch, Tạ Bách lập tức nhảy dựng cẫng lên như thể giẫm phải than hồng. Gã hoa chân múa tay, ngón tay mập mạp suýt nữa chọc thẳng vào sống mũi Lục Sâm:
“Ba mươi viên? Mẹ kiếp nhà ngươi, Lục Sâm! Ngươi tưởng ngươi là đại sư trận pháp của Hoàng gia hay sao mà mở mồm ra là đòi ba mươi viên hạ phẩm? Ngươi đi cướp ngân khố của phủ Tĩnh Giang chắc? Chỉ là nhỏ vài giọt thuốc thử rẻ tiền lên một mẩu gân thú rách nát, ngắm nghía vài đường vân mà dám há mồm đòi ba mươi viên linh thạch ròng? Mười viên! Lão tử chỉ trả tối đa mười viên! Không hơn một cắc một đồng nào hết!”
“Mười viên thì ngươi tự vác cái xác mập ú của ngươi đi mà nhỏ nước bọt vào đấy mà giám định!” Lục Sâm không thèm chớp mắt, gằn giọng đốp chát lại ngay tức khắc, không hề nhượng bộ nửa phân. “Đây không phải là trò giám định mấy con dao găm gỉ sét hay mấy cái lư hương đồng rởm của đám mộ tặc! Động tay vào sợi huyết tuyến của nha môn là lão tử đang đem cả hai bàn tay thợ và cái đầu trên cổ này ra đặt cược trên thớt!
Ngươi có biết để mở đĩa ngọc dẫn linh phân tách các tầng linh tính phải tiêu tốn bao nhiêu không? Mất toi mười viên linh thạch để tẩy sạch tạp chất trong đĩa ngọc! Dung dịch chu sa hòa tan ngọc dịch thượng hạng tốn thêm mười viên nữa! Ta chỉ lấy công có đúng mười viên ròng để bù vào cái mạng già này! Thuận mua vừa bán, ngươi ưng thì ta mở lò làm việc, không ưng thì ôm đống giấy lộn và sợi gân máu ấy mà tự bơi qua sông Cửu Hà sang đất phủ mà kêu oan!”
Bầu không khí bên trong căn lều thợ rèn bỗng chốc đặc quánh lại, ngột ngạt đến nghẹt thở. Không ai nói thêm một lời nào. Chỉ có tiếng than củi nổ lách tách trong lò nung, tiếng nước rỉ tong tỏng từ mái tôn mục rơi xuống bể nước làm nguội và tiếng gió sông rít từng hồi qua những khe vách sắt rỉ sét, nghe như tiếng thở dài ai oán của những oan hồn chết đuối dưới đáy Cửu Hà.
Nam bước lên một bước, đứng chắn giữa Tạ Bách và Lục Sâm. Anh nhìn thẳng vào đôi mắt hẹp dài, đầy vẻ tính toán của tay chủ thuyền buôn, giọng nói trầm ổn, dứt khoát đến lạ kỳ:
“Tạ thuyền trưởng. Ông ứng trước số linh thạch này giúp tôi. Toàn bộ ba mươi viên hạ phẩm linh thạch này, xin ông hãy ghi hết vào sổ nợ công dịch giữa cá nhân tôi và đội thuyền vận tải của ông. Khoản nợ kiểm toán kho bãi, đối chiếu sổ sách thất thoát từ trạm Đoan Kiều đến bến Vạn Lại, tôi sẽ nhận làm bù thêm một năm... không, một năm rưỡi. Tôi sẽ làm việc không công cho ông, rà soát từng chứng từ vận tải cho đến khi nào khấu trừ đủ cả gốc lẫn lãi của ba mươi viên linh thạch này mới thôi. Tôi ký giấy nhận nợ với tư cách cá nhân, có điểm chỉ máu.”
Tạ Bách trừng mắt nhìn Nam. Gã nhìn sâu vào đôi mắt đen láy, kiên định đến mức gần như cố chấp của người thanh niên phàm nhân trước mặt—một kẻ không có tu vi thâm hậu, lồng ngực đang mang trọng thương, nhưng sống lưng lúc nào cũng thẳng như một cây sậy già giữa bão lớn. Gã lại liếc mắt sang Kỷ Vân, người đang đứng bất động trong bóng tối với bàn tay luôn đặt hờ gần chuôi kiếm, sẵn sàng đối phó với mọi bất trắc.
Gã thương nhân bến bãi nghiến răng trét trét, phát ra những âm thanh ken két bực bội. Bàn tay mập mạp của gã liên tục xoa xoa vạt áo nhem nhuốc đầy dầu mỡ, lẩm bẩm nguyền rủa:
“Khốn kiếp thật... Lão tử đúng là kiếp trước mắc nợ các ngươi, bị ma xui quỷ khiến thế nào mới rước cái của nợ này lên thuyền! Một năm rưỡi? Đừng có hòng bớt xén một ngày! Lão tử sẽ bắt ngươi ngồi còng lưng kiểm sổ mười tám tháng ròng rã! Từng cân muối hụt, từng tấc vải mục trôi trên sông Cửu Hà, ngươi phải tra cho ra đến hạt bụi cuối cùng mới được tính xong công nợ!”
Nói đoạn, Tạ Bách hầm hầm thò tay vào sâu trong cạp quần, lôi ra một chiếc túi da hoẵng nhỏ thắt nút bằng dây gân hươu bện kỹ. Gã cởi nút thắt một cách thô bạo, trút đánh rào rào ba mươi viên đá nhỏ màu xanh lam nhạt, to bằng đầu ngón tay cái, bề mặt lấp lánh những vệt linh quang dìu dịu lên trên mặt bàn đá hoa cương của Lục Sâm.
Lục Sâm lập tức thu tay về khỏi gầm bàn. Đôi bàn tay khẳng khiu như móng vuốt của gã nhanh thoăn thoắt gạt toàn bộ số linh thạch vào lòng bàn tay. Gã nhặt từng viên một, đưa lên sát mắt, dùng chiếc kính phóng đại soi kỹ từng góc cạnh, kiểm tra độ tinh thuần của linh khí bên trong. Xác nhận toàn bộ ba mươi viên đều là hạ phẩm linh thạch thượng lượng, không hề bị pha tạp hay rút bớt linh khí, gã mới thở hắt ra một hơi dài, sắc mặt dịu hẳn đi, lộ rõ bản tính thực dụng của một kẻ làm nghề buôn bán hiểm nguy:
“Được. Tiền trao cháo múc, không ai nợ ai. Đóng chặt cửa lều lại, cài then sắt tầng dưới.”
Kỷ Vân không cần gã nhắc lần thứ hai. Cô lập tức sải bước tới cửa lều, kéo then cài bằng sắt đen nặng trịch sập xuống khớp gỗ, đồng thời chèn thêm một thanh dầm sồi chắn ngang cửa. Căn lều rèn lúc này hoàn toàn bị cô lập với màn đêm mịt mù và tiếng sóng vỗ ì oạp bên ngoài bãi sông.
Lục Sâm nhanh nhẹn dọn sạch toàn bộ búa, đục, kìm thép trên mặt bàn đá sang một chiếc khay gỗ bên cạnh. Gã lau sạch mặt đá bằng một mảnh vải gai khô, sau đó cẩn thận mở một chiếc tráp gỗ đàn hương phủ bùa phong ấn đặt ở góc tối nhất trên kệ. Từ trong tráp, gã lấy ra một chiếc đĩa tròn làm bằng bạch ngọc trơn nhẵn, đường kính chừng một gang tay. Bề mặt chiếc đĩa ngọc được chạm khắc chìm vô số rãnh dẫn linh li ti, mảnh như sợi tơ nhện, quy tụ về một vòng tròn đồng tâm ở chính giữa.
Tiếp đó, gã lấy ra một chiếc lọ sứ men xanh chỉ nhỏ bằng ngón tay cái, mở nút bấc bọc sáp niêm phong. Bên trong lọ là một thứ dung dịch màu đỏ tươi sóng sánh, tỏa ra một làn hơi mát lạnh—thứ dung môi chu sa tinh luyện hòa tan ngọc dịch, bảo bối gia truyền mà chỉ những thợ trận từng phục vụ trong các nha môn lớn mới biết cách phối chế để bóc tách các tầng linh tính kết bám trên vật liệu trận pháp cổ.
Lục Sâm dùng một chiếc kẹp bạc, cẩn thận gắp sợi huyết tuyến màu đỏ sẫm từ trong hộp sắt của Nam ra, đặt nằm gọn vào rãnh tròn trung tâm của chiếc đĩa bạch ngọc.
“Tất cả lùi lại nửa bước, nhìn cho kỹ,” Lục Sâm hạ thấp giọng, đôi bàn tay thô ráp đầy sẹo của gã lúc này bỗng trở nên khéo léo, mềm mại và chuẩn xác đến từng ly.
Gã nhét hai viên linh thạch vừa nhận của Tạ Bách vào hai rãnh khảm hình bán nguyệt dưới đáy đĩa ngọc. Một tiếng 'ong' nhẹ vang lên, luồng bạch quang dịu dàng lập tức bốc lên từ các đường rãnh tơ nhện, bao bọc lấy toàn bộ đĩa ngọc và sợi huyết tuyến bên trong.
“Huyết tuyến của trận cọc câu linh bản chất là một cây cầu truyền dẫn sinh cơ giữa cơ thể người ký và trận bàn trung tâm,” Lục Sâm vừa thao tác vừa giải thích bằng thứ giọng đều đều, chuyên nghiệp của một thợ trận lão luyện. “Theo nguyên lý của Khế Luật, khi một người hoàn toàn tự nguyện ký vào khế ước thế chấp thọ mệnh, thần hồn và ý chí tự do của họ sẽ sinh ra một hiện tượng cộng hưởng linh tính gọi là ‘xung huyết ước thúc’. Dòng máu thấm vào sợi gân thú khi ấy sẽ biến đổi cấu trúc, chuyển sang màu đỏ thẫm ánh tím như màu mận chín. Từng sợi tơ huyết li ti sẽ đan kết, bám rễ chặt chẽ vào cấu trúc thớ gân như rễ cổ thụ bám sâu vào lòng đá, vĩnh viễn không thể bóc tách bằng các dung môi thông thường mà không phá hủy toàn bộ vật dẫn.”
Nói đoạn, Lục Sâm rút một ống nhỏ giọt bằng thủy tinh tinh xảo, hút lấy ba giọt dung dịch chu sa màu đỏ tươi từ chiếc lọ men xanh. Gã nín thở, cẩn thận nhỏ từng giọt dung dịch rơi thẳng xuống thân sợi huyết tuyến đang phát sáng trên đĩa ngọc.
'Xèo... xèo...'
Âm thanh sôi réo nhỏ xíu vang lên khi giọt dung môi chạm vào bề mặt sợi gân. Một làn khói mỏng màu hồng nhạt bắt đầu bốc lên từ rãnh ngọc, mang theo một mùi vị kỳ dị lan tỏa khắp không gian chật hẹp của căn xưởng rèn.
Đó hoàn toàn không phải là mùi tanh nồng nặc của máu tươi mới trích, cũng không phải là mùi thơm thanh khiết của linh lực thảo mộc thường thấy trong các nghi lễ kết khế của giới tu giả. Thay vào đó, một mùi thuốc bắc ngai ngái, nồng đậm vị ngọt lợ lợ của rễ thảo mộc phơi khô hòa lẫn với vị chát xót của vỏ cây rừng ngâm giấm bốc lên, xộc thẳng vào cánh mũi của bốn người trong phòng.
Cả bốn người đều nín thở, mắt dán chặt vào từng biến đổi trên mặt chiếc đĩa bạch ngọc.
Dưới tác động kích hoạt của linh lực từ hai viên linh thạch và khả năng bóc tách của dung dịch chu sa, một hiện tượng hoàn toàn nghịch lý đã xảy ra ngay trước mắt họ. Lớp màu đỏ bọc ngoài sợi huyết tuyến không hề tan ra thành những vệt tơ máu màu tím thẫm đan bện vào nhau như quy chuẩn của hiện tượng 'xung huyết ước thúc'. Trái lại, lớp màng đỏ ấy bắt đầu rã ra từng mảng vụn vằn vện, trôi tuột đi như lớp sáp nến gặp nước sôi!
Chỉ sau vài hơi thở, lớp màng đỏ bong tróc hoàn toàn, để lộ ra sợi gân thú màu trắng ngà nguyên thủy bên dưới. Những giọt máu tẩm trên đó không hề ăn sâu nửa phân vào thớ gân, mà chỉ bám hờ hững bên ngoài bề mặt như một lớp sơn phủ vụng về của phường thợ mã!
Nhưng điều khiến không khí trong phòng chấn động hơn cả là những gì đang diễn ra trên mặt chất lỏng chu sa. Trên bề mặt dung dịch đỏ tươi, thay vì hòa tan đồng nhất, bỗng nổi lên vô số những đốm cặn li ti màu nâu đen, kết tụ lại thành từng mảng nhỏ lơ lửng, quánh đặc lại như váng cháo thiu, tuyệt đối không chịu hòa tan vào linh dịch ngọc.
Lục Sâm kéo chiếc kính phóng đại ba tầng xuống sát mắt, gí sát mặt vào đĩa ngọc đến mức chòm râu quai nón của gã gần như chạm vào làn khói mỏng. Bàn tay đang cầm chiếc kẹp bạc của gã bỗng nhiên khựng lại giữa không trung, run rẩy bần bật:
“Quái lạ... Làm sao... làm sao lại có thể xuất hiện cái thứ này trên vật dẫn của Ty Chấp Khế?”
“Có điều gì bất thường?” Nam nén chặt cơn đau nhói ở lồng ngực, bước vội sát lại mép bàn đá, hai mắt mở to nhìn chăm chú vào những mảng cặn nâu đen đang trôi nổi lờ đờ trên mặt đĩa ngọc.
“Mẫu máu này...” Lục Sâm nuốt nước bọt một cái đánh 'ực', ngẩng phắt đầu lên nhìn Nam, ánh mắt gã chứa đầy sự kinh hoàng và bàng hoàng tột độ. “Sợi huyết tuyến này hoàn toàn không có bất kỳ dấu vết nào của hiện tượng xung huyết ước thúc! Không có ý chí giao ước, không có sự cộng hưởng của thần hồn người ký tên! Nói một cách thẳng thắn theo thuật ngữ giám định trận đạo: vào cái khoảnh khắc mà lượng máu này được trích ra khỏi cơ thể, kẻ sở hữu dòng máu này hoàn toàn không hề hay biết mình đang ký kết bất kỳ thứ khế ước nào trên cõi đời này! Thậm chí... kẻ đó lúc ấy đang ở trong trạng thái hôn mê sâu, mất hoàn toàn tri giác!”
Kỷ Vân khẽ cau mày lại, thanh âm lạnh băng như nhát chém:
“Còn những đốm cặn màu nâu đen kia rốt cuộc là tạp chất gì?”
Lục Sâm run rẩy dùng đầu một cây kim bạc nhọn hoắt khều một đốm cặn nhỏ đưa lên sát mũi ngửi thật kỹ. Sau đó, gã đưa đầu kim dí thẳng vào ngọn lửa trần của cây đèn dầu lạc đặt bên cạnh bàn đá để đốt thử.
Một đốm lửa xanh le lói bùng lên, kèm theo một vệt khói xanh mỏng bốc lên ngùn ngụt, tỏa ra một mùi hương ngòn ngọt lợ của hoa cúc dại phơi khô và vị hăng hăng nồng nặc của rễ cây dạ giao đằng.
“Là tạp chất của thảo dược an thần hạng nặng!” Lục Sâm đập mạnh bàn tay còn lại xuống mặt bàn đá, giọng gã vỡ ra vì chấn động trước sự thật trần trụi vừa hiển lộ dưới ngọn đèn. “Không chỉ có dạ giao đằng mười năm tuổi, mà còn có cả độc tính của cỏ mê hồn và bột xương cá chuối nước phơi khô! Đây là phương thuốc bí truyền chuyên dùng của các đại phu ngoại khoa, dùng để cầm máu tức thời và ép bệnh nhân chìm sâu vào giấc ngủ li bì khi phải mổ xẻ vết thương thối rữa hoặc cưa chân gãy tay!”
Gã thợ trận thở dốc, mắt trợn trừng nhìn Nam rồi lại nhìn Kỷ Vân:
“Máu này tuyệt đối không phải được trích ra từ nghi lễ ký khế ước chính thống của Ty Chấp Khế! Nó được rút ra từ những chiếc bát sành đựng máu thừa sau khi mổ xẻ, từ những miếng gạc vải băng bó vết thương đã thối rữa của các bệnh nhân thập tử nhất sinh... Đây chính là mẫu máu lưu trữ bệnh án cũ tại các y quán công của phủ!”
Lời nói của Lục Sâm rơi vào không gian tĩnh mịch tựa như một tiếng sét xé toạc màn đêm u tối!
Trong khoảnh khắc ấy, toàn bộ những mắt xích hỗn loạn, những mảnh ghép rời rạc suốt nhiều ngày qua trong tâm trí của Đỗ Hoài Nam bỗng chốc xoay chuyển, khớp nối lại với nhau một cách hoàn hảo đến rùng mình!
Tại sao con dấu lưu động số 14 của Kho Muối Hạ Nham lại được đóng khống trên hàng loạt chứng từ trắng từ nửa tháng trước?
Tại sao tên tuổi của Lại mục Phan Vĩnh—một viên chức mạt hạng đã chết rục xương vì trận dịch tả ba năm về trước—lại ngang nhiên xuất hiện trên nhật ký mượn con dấu định kỳ?
Và tại sao ba mươi sáu hộ dân thợ nhuộm lam lũ ở Bến Lau, những con người phàm trần cả đời chỉ biết cắm mặt vào chậu chàm, chậu củ nâu và khung cửi, chưa từng nhìn thấy mặt mũi một viên linh thạch hay bước chân vào cửa nha môn, lại đột nhiên phải gánh trên lưng món nợ thọ mệnh khổng lồ của tên tán tu Tống Lăng?
Bởi vì Chưởng khế Lương Trạch và toàn bộ đường dây ma quỷ của hắn không chỉ đơn thuần là dùng con dấu khống để ngụy tạo giấy tờ hành chính trên mặt giấy!
Để một đại trận cưỡng thu sinh mệnh và thọ mệnh cấp quận như Bát Môn Tỏa Khí có thể vận hành trơn tru, nhận diện chính xác từng mục tiêu sống mà hút cạn sinh cơ, trận pháp bắt buộc phải có các vật dẫn huyết tuyến chứa đúng tần số máu của người chịu nghĩa vụ nợ. Thế nhưng, dân làng Bến Lau không hề ký giấy, không hề nhỏ máu vào bất kỳ bản khế ước nào của Ty Chấp Khế!
Lương Trạch đã sai thuộc hạ lục lọi, thu gom toàn bộ kho hồ sơ bệnh án cũ từ các y quán công thuộc quyền quản lý của phủ Tĩnh Giang—nơi lưu giữ hàng ngàn mẫu máu khô và gạc bệnh án của những người dân nghèo từng đến cứu chữa trong trận đại dịch tả ba năm về trước!
Bọn chúng đã nhúng những sợi gân thú vào chính những giọt máu trị bệnh được lưu trữ bất hợp pháp ấy, dùng thảo dược an thần để áp chế phản ứng đào thải của vật liệu, biến chúng thành những vật dẫn giả mạo tinh vi nhằm đánh lừa bộ máy kỹ thuật vô tri của đại trận Bát Môn Tỏa Khí!
“Bệnh án cũ...” Đỗ Hoài Nam siết chặt hai nắm đấm, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đến mức bật máu tươi, nhưng anh không hề cảm thấy đau đớn. Trong lòng anh lúc này chỉ có một ngọn lửa căm hờn đang bốc cháy ngùn ngụt. “Bọn chúng không chỉ ăn cắp chữ ký, ăn cắp thọ mệnh... Bọn chúng biến chính những lần vào y quán tìm kiếm sự sống của người dân nghèo thành chiếc thòng lọng siết chết cả gia đình họ!”
“Thu dọn vật chứng lại mau!”
Kỷ Vân đột ngột gắt lên một tiếng sắc lạnh. Bàn tay phải của cô đã rút phắt thanh đoản kiếm quấn vải bố ra khỏi lưng, mũi kiếm chúc xuống đất, toàn thân cô căng cứng như một cánh cung đã kéo căng hết cỡ. Đôi tai cô khẽ giật giật, ánh mắt găm chặt lên phía mái tôn rách nát trên đỉnh đầu:
“Lục Sâm! Niêm phong ngay sợi huyết tuyến vào ống ngọc! Nhanh lên, bọn chúng đến rồi!”
Lục Sâm giật bắn mình, bừng tỉnh khỏi cơn chấn động kinh hoàng. Bản năng sinh tồn của một kẻ sống chui rúc nơi đáy cùng xã hội lập tức trỗi dậy. Gã vội vã vươn tay chộp lấy chiếc ống ngọc định linh có nắp đậy bằng sáp niêm chu sa đặt bên cạnh đĩa ngọc, chực gắp sợi huyết tuyến bỏ vào.
Thế nhưng, đầu ngón tay gã còn chưa kịp chạm vào miệng ống ngọc thì một âm thanh xé gió nhọn hoắt từ ngoài bãi cọc bờ sông đã xé toạc màn đêm tĩnh mịch!
'Éttt——!'
Tiếng còi đồng báo động đặc trưng của đội tuần đinh đặc nhiệm rít lên chói tai, vang vọng khắp các ngõ ngách, ngóc ngách của bãi phế liệu Hạ Nham, làm kinh động cả một vùng sông nước.
Ngay sau tiếng còi là chuỗi âm thanh 'vút, vút, vút' xé rách không khí quen thuộc của loại nỏ bắn tỉa quân dụng hạng nặng.
Ba mũi tên sắt đen bọc phù chú xuyên giáp xé toạc lớp mái tôn rách nát bên trên, mang theo kình phong rợn người cắm phập thẳng xuống mặt bàn đá hoa cương, chỉ cách bàn tay đang vươn ra của Lục Sâm chưa đầy một tấc!
'Rắc! Ầm!'
Mặt bàn đá hoa cương dày tới ba tấc lập tức nứt toác thành nhiều mảnh vụn dưới sức công phá khủng khiếp của bùa nổ gắn trên đầu tên. Khói đen khét lẹt mùi lưu huỳnh và bột sắt bốc lên ngùn ngụt, tàn lửa văng tung tóe khắp căn phòng chật hẹp.
“Có tập kích! Mẹ kiếp, nỏ quân dụng!” Tạ Bách hét lớn một tiếng, theo phản xạ của một kẻ lăn lộn giang hồ nhiều năm liền bổ nhào người lăn lông lốc xuống đất, nấp chặt sau chiếc đe thép lớn.
'Ầm! Rầm rầm!'
Chưa kịp để ai kịp thở, toàn bộ mảng vách sắt chắp vá bên hông xưởng rèn bị một quả cầu lửa màu tím thẫm nện trúng, nổ tung thành hàng trăm mảnh sắt vụn nhọn hoắt văng rào rào như mưa bão.
Đó là Hỏa Châu cấp ba—thứ vũ khí cấm chuyên dùng của đội sát thủ ngầm trực thuộc Ty Chấp Khế, chuyên được tung ra trong các chiến dịch thanh trừng nhằm mục đích tiêu hủy triệt để hiện trường, biến mọi bằng chứng và nhân chứng thành tro bụi! Sóng nhiệt hầm hập cuốn theo bão lửa quét ngang qua gian phòng, thiêu rụi toàn bộ các giá gỗ, bình thau và giàn treo khí cụ chỉ trong một cái chớp mắt.
“Bọn chúng không đến đây để bắt sống!” Kỷ Vân gầm lên, thân hình cô vọt tới nhanh như một bóng ma.
Thanh đoản kiếm quấn vải bố trong tay cô quét ngang thành một vòng cung màu xám tro hoàn hảo. 'Keng! Keng!' Hai tiếng kim loại va chạm giòn giã vang lên trong màn khói đặc, chuẩn xác đánh bạt hai mũi nỏ bắn tỉa tiếp theo vừa xuyên qua làn lửa nhắm thẳng vào thái dương của Lục Sâm. “Bọn chúng muốn san phẳng cái xưởng này để đốt sạch toàn bộ mẫu vật và bịt đầu mối!”
“Ống ngọc! Mẫu máu!”
Đỗ Hoài Nam không màng đến những mảnh sắt vụn đang bay rào rào quanh đầu. Anh lao bổ người tới mép bàn đá đang sụp đổ, mặc kệ hơi nóng phả rát cả da mặt, bàn tay nhanh như cắt chộp lấy chiếc đĩa ngọc dẫn linh và đoạn huyết tuyến vừa được Lục Sâm nhét vội vào lòng ống ngọc. Anh ghì chặt chiếc ống ngọc vào sâu trong lồng ngực, nơi chiếc tay nải chứa Sổ Đối Chiếu đang tỏa ra hơi ấm dồn dập, che chắn nó bằng chính tấm lưng trần và da thịt của mình.
Lục Sâm lúc này mặt cắt không còn một giọt máu, hàm răng va vào nhau lập cập. Nhưng bản tính tiếc của và sự khôn ngoan của một gã thợ trận lâu năm đã chiến thắng nỗi sợ hãi tột cùng. Gã không thèm nhìn ngó đến những đống đồ nghề lặt vặt hay mấy phiến đá định trận chưa hoàn thiện xung quanh, mà dùng hết sức bình sinh ôm chặt lấy chiếc hòm sắt nặng trịch chứa toàn bộ thuốc thử gia truyền, tinh ngọc giám định và ba mươi viên linh thạch vừa bỏ túi:
“Cửa sau! Chạy ra bờ sông! Mau chạy ra chân cọc số ba!”
Kỷ Vân đi đầu mở đường. Cô dùng cả bả vai bọc kình lực húc tung cánh cửa gỗ mục nát phía sau xưởng rèn, dẫn cả nhóm lao vụt ra bãi sình lầy ngập ngụa nước triều đang cuồn cuộn dâng cao.
Bên ngoài, màn đêm tĩnh mịch của bến Hạ Nham lúc này đã hoàn toàn bị nhuộm đỏ bởi ánh lửa ngút trời.
Hơn chục bóng đen mặc giáp nhẹ bằng da thú màu xám tro, mặt bịt kín mít chỉ để lộ đôi mắt lạnh lùng, tay cầm nỏ quân dụng và kiếm ngắn đang tản ra theo hình cánh cung, bao vây bãi phế liệu từ ba hướng trên bờ đê. Những quả hỏa châu liên tục được ném vào các lán trại, kho bãi xung quanh, tạo thành một biển lửa rực lửa nhằm ngăn chặn triệt để mọi sự can thiệp của đám tuần đinh trạm muối và phu thợ bến tàu. Tiếng gào thét hỗn loạn, tiếng xô chậu va đập và tiếng bước chân chạy loạn vang lên thất thanh từ phía xa xa.
“Phía trước có xạ thủ mai phục trên đống sắt vụn!” Kỷ Vân quát lớn, chân giẫm mạnh lên một tấm ván gỗ trôi dạt, mượn đà phóng vút lên không trung.
Thanh đoản kiếm trong tay cô vẫn không hề rút khỏi bao vải bố, nhưng kình lực Dẫn Tức tầng cuối dồn vào sống kiếm đánh gãy đôi một mũi tên lửa đang lao xé gió tới ngực Tạ Bách, đồng thời quét ngang một đường bạt mạng, hất văng một tên sát thủ vừa từ sau đống vỏ thuyền chồm ra.
Tên sát thủ ngã lộn nhào xuống bùn lầy, nhưng ngay phía sau hắn, ba tên khác đã lập tức quỳ một gối xuống bùn, đồng loạt giương nỏ, trên đầu mũi tên lóe lên ánh sáng đỏ rực đầy chết chóc của bùa nổ cấp hai.
“Chân cọc số ba! Mau lên, thuyền của ta ở ngay đằng kia!” Tạ Bách vừa chạy thục mạng vừa thở hồng hộc như trâu đầm, cánh tay mập mạp chỉ về phía bóng đen khổng lồ của chiếc thuyền buôn số hiệu 772 đang neo áp sát mép vũng cạn ngoài bờ sông.
Thế nhưng, khoảng cách từ mép bãi sình lầy đến mạn thuyền còn cách một đoạn cầu ván ghép bằng gỗ thông dài hơn ba mươi trượng. Cây cầu ván hẹp trơn trượt, hoàn toàn trống trải, không có bất kỳ một vật che chắn nào trước làn mưa tên bọc bùa nổ của đám sát thủ đang áp sát từng bước.
“Bảo vệ hòm dụng cụ và mẫu vật! Đưa Lục Sâm lên thuyền trước!” Nam hét lớn, tiếng hét át cả tiếng sóng vỗ.
Anh chạy bám sát sườn Lục Sâm, dùng chính thân mình che chắn góc bắn hiểm hóc nhất từ bờ đê quai dốc xuống. Từng đường kinh mạch trong cơ thể Nam căng ra như dây đàn căng hết mức, luồng nhiệt mỏng manh từ đan điền cuộn trào dữ dội, ép các khớp xương và lồng ngực đang rách toạc của anh phải chống đỡ lại sức ép nghẹt thở của tử thần.
Lục Sâm cắn chặt răng đến bật máu miệng, hai tay ôm ghì lấy chiếc hòm sắt nặng nề, lảo đảo bò nhoài lên những thanh ván cầu bập bùng trên mặt nước xiết.
Đúng lúc ngặt nghèo ấy, tên chỉ huy toán sát thủ đứng trên bờ đê cao nhận ra mục tiêu cốt lõi đang tìm cách tẩu thoát bằng đường thủy. Hắn rút phắt từ bên hông thắt lưng ra một quả cầu kim loại màu tím sẫm to bằng nắm tay—Hỏa Phù Lôi Châu cấp bốn của nha môn, thứ vũ khí hủy diệt chỉ trang bị cho các đội trưởng chấp pháp!
Hắn gầm lên một tiếng man dại, vận toàn bộ chân khí ném thẳng quả lôi châu về phía mũi chiếc thuyền buôn số 772, nơi Nam và Lục Sâm vừa đặt chân tới đầu cầu ván!
Quả Hỏa Phù Lôi Châu rít lên những tiếng chói tai, mang theo một luồng nhiệt lượng kinh hồn bạt vía, đủ sức nung chảy cả giáp thép dày và xé nát toàn bộ chiếc cầu ván cùng mạn thuyền thành tro bụi. Nếu để nó phát nổ ngay trên đầu cầu tàu, không chỉ chiếc ống ngọc chứa mẫu máu và chiếc hòm sắt của Lục Sâm bị bốc hơi hoàn toàn, mà cả bốn người bọn họ sẽ tan xác không còn mảnh vụn giữa dòng sông Cửu Hà!
“Né hết ra cho lão tử!”
Tạ Bách bất ngờ gầm lên một tiếng như sấm động, âm thanh xé toạc cả không gian ngập tràn khói lửa.
Thay vì nhảy ùm xuống nước trốn chạy theo bản năng của một kẻ hèn nhát, gã thương nhân mập mạp vốn dĩ chỉ biết tính toán từng đồng cắc bỗng lao bổ như một con gấu điên về phía mạn thuyền buôn. Gã không thèm quan tâm đến làn mưa tên đang bay ràn rạt qua đầu, vươn hai bàn tay hộ pháp giật phắt chiếc chốt hãm bằng đồng đỏ của hệ thống tời kéo khoang hàng phụ số hai!
'Rầm! Rắc... xoạt!'
Dưới sức nặng của khối đối trọng bằng đá hoa cương, cánh cửa sập bọc sắt dày cộp của khoang hàng số hai trên mạn thuyền 772 bung mạnh ra ngoài, dựng đứng lên như một tấm khiên khổng lồ chắn ngang tầm ném hiểm hóc của quả lôi châu tím.
Đây chính là khoang hàng đặc biệt mà Tạ Bách vừa tiếp nhận từ trạm trung chuyển Đoan Kiều vào lúc chập tối để vận chuyển về các xưởng dệt lớn ở phủ Tĩnh Giang. Bên trong khoang hàng ấy đang chứa trọn vẹn hơn tám mươi kiện tơ tằm thượng hạng loại một—thứ tơ nõn khô ráo, hảo hạng, mịn màng và cực kỳ dễ bắt lửa, có tổng giá trị lên tới hàng trăm lượng bạc ròng!
'OÀNG——!'
Quả Hỏa Phù Lôi Châu nện thẳng vào bề mặt cánh cửa sập bọc sắt.
Một tiếng nổ chấn thiên động địa vang lên làm rung chuyển cả khúc sông Cửu Hà! Ánh lửa tím bùng phát dữ dội như một đóa hoa sen lửa khổng lồ nở rộ giữa đêm đen, xé toạc lớp gỗ bọc sắt dày nửa tấc và trút toàn bộ cơn bão lửa cuồng bạo vào thẳng bên trong khoang chứa tơ tằm thượng hạng.
Hàng trăm cuộn tơ tằm trắng muốt lập tức bắt lửa hệt như bùi nhùi nhúng dầu hỏa. Ngọn lửa bốc cao hàng trượng, đỏ rực cả một góc trời đêm bến Hạ Nham, khói trắng khói đen cuồn cuộn bốc lên mù mịt, biến toàn bộ khoang giữa của chiếc thuyền buôn số 772 thành một bức tường lửa thiêu đốt ngùn ngụt, phát ra những tiếng gầm rống chói tai.
Thế nhưng, chính bức tường lửa kinh hoàng được đánh đổi bằng cả một gia tài ấy đã nuốt trọn toàn bộ luồng sóng xung kích hủy diệt của quả lôi châu cấp bốn, đồng thời tạo thành một màn khói lửa dày đặc ngăn cản hoàn toàn tầm ngắm của toàn bộ đám nỏ thủ trên bờ đê!
“Lên thuyền! Nhổ neo! Khởi động lò hơi ngay lập tức!”
Kỷ Vân hét lớn, cô túm chặt lấy cổ áo sau của Nam, dùng toàn lực lôi xềnh xệch anh qua mép lan can mũi thuyền, trong khi Lục Sâm vừa lăn lông lốc vào sàn boong tàu vừa gào khóc thảm thiết, hai tay vẫn ôm chặt chiếc hòm sắt không chịu buông rời nửa tấc.
Tên phụ kho Chấn Lùn cùng hai gã thủy thủ túc trực dưới buồng máy lập tức vung búa rựa chặt đứt phăng sợi dây neo bằng xơ dừa to bằng bắp chân, đồng thời dùng hết sức giật mạnh van hơi nước của trận bàn đẩy thuyền.
Chiếc thuyền buôn số 772 rùng mình rung chuyển dữ dội, bánh guồng hai bên mạn thuyền quạt nước điên cuồng, rẽ sóng lùi nhanh ra giữa dòng nước xiết của sông Cửu Hà, bỏ lại phía sau bãi phế liệu Hạ Nham đang chìm ngập trong biển lửa ngút trời và toán sát thủ áo xám đang bất lực giương mắt nhìn theo bên bờ đê quai.
Trên sàn boong gỗ đẫm nước, Đỗ Hoài Nam ngã bệt xuống, lưng dựa vào thành vách khoang lái, lồng ngực phập phồng dữ dội như chiếc ống bễ hỏng. Từng ngụm khí lạnh của gió sông tràn vào buồng phổi làm vết thương cũ nhói buốt đến tận óc, khiến anh ho sặc sụa ra một búng máu tươi.
Thế nhưng, hai bàn tay cáu bẩn đầy muội than của anh vẫn ôm chặt chiếc ống ngọc trước ngực. Mẫu huyết tuyến của cọc câu linh và dung dịch chu sa phân tích bên trong vẫn an toàn tuyệt đối, nắp sáp niêm phong không hề bị rạn nứt hay suy suyển lấy một ly.
Bên cạnh anh, khoang hàng số hai vẫn đang cháy ngùn ngụt như một ngọn đuốc khổng lồ trôi giữa dòng sông đêm. Đám thủy thủ trên thuyền hò hét nhau ầm ĩ, vội vã dùng gầu sắt múc nước sông dội xối xả vào các vách ngăn chống cháy xung quanh, cố gắng khoanh vùng ngọn lửa để ngăn không cho bão nhiệt lan sang khoang đáy—nơi đang cất giấu ba mươi chiếc bình đồng chứa đầy sinh cơ tích trữ.
Tiếng xèo xèo của tơ tằm cháy rụi và tiếng nổ tanh tách của những cuộn lụa đắt tiền vang lên chua xót, nát lòng giữa không gian mịt mùng của sông nước.
Tạ Bách đứng sững sững như một pho tượng đá trước cửa khoang hàng đang bốc khói đen đặc.
Gương mặt phốp pháp, bóng nhẫy thường ngày của gã thương nhân lúc này đỏ gay gắt vì hơi nóng của ngọn lửa, đôi mắt ti hí của gã long lên sòng sọc, đỏ ngầu những tia máu, lồng ngực phập phồng sau từng cơn thở dốc nặng nề. Toàn bộ tám mươi kiện tơ tằm thượng hạng loại một—món lợi nhuận lớn nhất, niềm hy vọng kiếm lời lớn nhất của gã trong chuyến hàng xuôi dòng về phủ Tĩnh Giang lần này, thứ hàng hóa mà gã đã phải dùng toàn bộ uy tín và danh dự ba mươi năm trong Liên hội Vận Thương để đứng ra bảo lãnh—nay đã biến thành một đống tro tàn đen đúa, vô giá trị dưới đáy khoang thuyền.
Mùi tro khét lẹt của lô hàng bị cháy bốc lên nồng nặc; Tạ Bách gõ tẩu thuốc vào mạn thuyền, lạnh lùng bảo Nam rằng mạng của em gái anh vừa đắt thêm ba mươi lượng bạc.