Sổ Nợ Trường Sinh — Phần 1: Người Đòi Nợ TrờiCh.10 / 38
Chapter 10

Một khoản nợ thật

Gió sông Cửu Hà thốc qua xóm chài nghèo xơ xác nằm nép mình dưới chân bãi củi mục của Kho Muối Hạ Nham, nơi gia đình người lại mục quá cố đang sinh sống.

Đó là thứ gió chướng mang theo hơi mặn chát chao chát của những đụn muối ủ lâu ngày bốc lên từ các kho chứa bằng tranh tre nứa lá đã sụp xệ, hòa lẫn với mùi tanh nồng của cá ươn, mùi bùn rữa ủng nước và mùi vỏ sò thối rữa từ những con lạch cụt không có lối thông ra sông lớn. Lối mòn dẫn xuống doi đất chông chênh trơn trượt bởi một lớp váng rêu xanh lè bám riết trên đá cuội và những mẩu vỏ hà sắc lẹm. Đỗ Hoài Nam bước thấp bước cao, đôi giày vải gai thô rách bươm mõm, ống quần xắn quá đầu gối bết dính bùn đen đặc quánh như hắc ín. Cứ mỗi lần hạ gót chân xuống bùn lầy, vết thương nơi lồng ngực do vụ nổ cọc câu linh ở bãi nhuộm mấy hôm trước lại giật thót, âm ỉ nhói buốt theo từng nhịp thở dốc, tựa như có mảnh kim loại nóng rực đang cào cấu vào xương sườn. Nhưng anh không dám dừng lại lấy nửa nhịp thở.

Phía sau anh, Kỷ Vân điềm tĩnh lướt trên những gờ đá trơn như một cái bóng mờ vô thanh vô tức. Đôi chân cô đặt xuống chuẩn xác trên từng mô đất cứng, không vấy lấy một vệt bùn quá mắt cá. Dưới lớp áo vải gai thô mộc xỉn màu tro bếp, thanh kiếm của cô được quấn chặt bằng những dải vải bố ngả màu ố vàng, mũi kiếm hơi chúc xuống đất để tránh va quẹt vào những bụi dứa dại sắc nhọn. Đôi mắt sắc lẹm của một cựu chấp hành viên vẫn không ngừng lia qua từng lùm cây mục, từng mô đất nhấp nhô dọc bờ nước, cảnh giác với mọi biến động dù là nhỏ nhất của ngọn cỏ lay.

Đi sau cùng là Tạ Bách. Gã thương nhân buôn muối vừa đi vừa phe phẩy chiếc quạt xếp nan tre bọc lụa đã lấm tấm bụi bẩn, đôi giày da nai bóng bẩy mà gã từng tự hào khoe khoang ở bến đò giờ đây đã ngập trong bùn nhão, biến thành hai khối đất nặng trịch. Gã khẽ nhăn mặt mỗi khi chiếc quạt nan va vào cành cây khô, nhưng đôi mắt hẹp dài giảo hoạt vẫn đảo quanh không ngừng, dò xét từng mái lều xơ xác đang run rẩy trước từng cơn gió lốc.

"Cậu Đỗ này," Tạ Bách hạ thấp giọng xuống mức tối thiểu, tiếng quạt phành phạch át đi tiếng sóng vỗ ì oạp vào chân bờ đất lở lói. "Ngươi thực sự tin rằng ở cái xó bùn lầy nước đọng, chó ăn đá gà ăn sỏi này còn có người sống sao? Một viên chức đã chết ba năm trước, gạch tên khỏi ngạch công chức từ thời nảo thời nào... Ta lăn lộn trên sông Cửu Hà này suốt hai chục năm có lẻ, vào luồn ra cúi qua bao nhiêu cửa ải nha môn, chỉ thấy người sống mượn danh người chết để trốn nợ, xù thuế, chứ chưa từng thấy ai dùng tên một thây ma để đi thu nợ bao giờ. Thây ma thì biết ký tên vào đâu? Thây ma thì lấy đâu ra máu thịt để chịu pháp trận câu linh?"

"Chính vì hắn đã chết ba năm, nên cái tên ấy mới là thứ vũ khí hoàn hảo nhất, kín kẽ nhất," Nam đáp, giọng anh khàn đặc vì gió sông thốc thẳng vào họng buốt rát. "Khi nãy ở trong phòng lưu trữ hồ sơ của bến muối, cuốn nhật ký kiểm soát ấn tín mười bốn đã nói rất rõ ràng: con dấu xuất kho ngày mười tám tháng Giêng mang tên Phan Vĩnh. Một thây ma thì dĩ nhiên không thể tự đến nha môn nhận dấu, càng không thể tự ký tên điểm chỉ hay bước lên công đường lĩnh bổng lộc. Kẻ nào đó trong Ty Chấp Khế đã dựng nên một con ma, khoác lên nó một bộ hồ sơ giả mạo từ đầu đến chân để che đậy đường đi của con dấu, biến nó thành một công cụ rút ruột mà không bao giờ để lại dấu vết của kẻ sống."

Nam siết chặt quai chiếc túi vải thô đeo chéo bên hông. Lớp vải bố cọ vào mạn sườn đau nhức. Trong túi là cuốn Sổ Đối Chiếu bìa rễ cây mà anh luôn mang theo bên mình như mạng sống, cùng cuộn danh sách ba mươi sáu hộ dân Bến Lau mà em gái Hoài An đã đánh cược cả tính mạng, vượt qua bao trạm tuần đinh để trao tận tay cho anh. Tâm trí Nam lúc này ngập tràn sự phẫn nộ lạnh lùng của một người làm nghề kiểm sổ bị xúc phạm đến tận cùng lòng tự trọng nghề nghiệp. Đối với một người coi từng dòng mực, từng dấu triện là thước đo của sự thật như anh, việc những kẻ cầm quyền biến sổ sách thành một bãi tha ma của những lời dối trá là một tội ác không thể tha thứ. Anh tin chắc rằng toàn bộ hồ sơ mang tên Phan Vĩnh chỉ là một trò hề hành chính bẩn thỉu, một cấu trúc ngụy tạo hoàn toàn do bàn tay biến chất của Chưởng khế Lương Trạch dựng nên nhằm tạo ra một cái bóng không thể đối chất, một kẻ thế mạng vô hình để hứng chịu mọi búa rìu trừng phạt nếu đường dây khế ước ma bị lộ tẩy trước công đường.

"Giấy tờ ở nha môn phủ Tĩnh Giang có thể biến không thành có, biến sống thành chết, và biến chết thành một công cụ sống động hơn bất cứ người phàm nào," Kỷ Vân đột ngột cất lời. Thanh âm của cô lạnh tanh như băng tuyết rỉ ra từ kẽ đá nứt, không mang theo một chút gợn sóng cảm xúc. "Năm năm trước ở Cầu Tro, ta đã tận mắt thấy bọn chúng dùng tên của một người điên thất lạc từ mười năm trước để ký vào biên bản tịch biên toàn bộ hoa màu và ruộng đất của ba xóm nghèo. Bọn thư lại chỉ cần một vết mực đỏ điểm chỉ, một mã số hợp lệ để trình lên thượng cấp. Còn ngón tay đó thuộc về người sống, xác chết trôi sông hay kẻ mất trí hoàn toàn, pháp trận cưỡng thu không phân biệt được. Pháp trận chỉ nhận diện dấu triện son và dòng dẫn sinh cơ chảy qua các cọc câu linh. Máy móc của nha môn không có mắt, nó chỉ có miệng để nuốt chửng."

Họ dừng lại trước một căn nhà vách đất xiêu vẹo nằm trơ trọi ở cuối mũi doi đất, nơi bờ bùn gặp dòng nước xoáy đỏ ngầu phù sa.

Mái nhà lợp bằng những lớp rơm rạ mục nát, đã xẹp rúm ró dưới nắng mưa dai dẳng của miền duyên giang, để lộ những khoảng hở toang hoác chắp vá tạm bợ bằng những mảnh ván thuyền gãy nát dính đầy hà và vài tấm chiếu rách bươm mốc thếch. Vách đất trát rơm nứt nẻ chằng chịt như mai rùa, trơ cả những đoạn rơm trộn bùn trắng phếch như xương sườn của một con thuyền đắm vùi sâu trong cát. Trước khoảnh sân hẹp đầy vỏ ốc vỡ vụn và rác rơm ướt sũng, hai đứa trẻ con chừng năm, sáu tuổi, mình trần trùng trục, da bọc xương và bụng ỏng to bất thường, đang ngồi bệt trên nền đất nhão nhoét. Chúng dùng những ngón tay gầy guộc như que củi bới tìm những mẩu vụn cá mương sót lại trong chiếc mẹt tre mốc meo đã gãy vành. Thấy bóng ba người lạ bước vào sân, hai đứa trẻ hoảng hốt kêu thé lên một tiếng nghẹn ngào rồi lủi nhanh vào góc tối sau cánh liếp cửa như hai con chuột nhắt trốn ánh mặt trời.

Cánh cửa liếp đan bằng nứa mục kẽo kẹt đẩy ra một khe hẹp.

Một người đàn bà gầy gò, hốc hác bước ra bậu cửa đất. Khuôn mặt bà ta vàng vọt như tàu lá úa rụng đáy mương, hai gò má nhô cao đẩy đôi mắt sâu hoắm vào bóng tối, nơi ánh lên sự kinh hãi tột cùng của một con thú quen bị săn đuổi. Bà ta trạc ngoài ba mươi, nhưng mái tóc khô xác đã lốm đốm hoa râm quá nửa, búi cẩu thả sau gáy bằng một chiếc xương cá nhọn hoắt bóng nhờn. Khi nhìn thấy bộ trường sam bằng vải hồ cứng của Nam và vóc dáng lạnh lùng mang kiếm của Kỷ Vân, đôi chân người đàn bà run bắn lên bần bật. Bà ta lảo đảo lùi lại nửa bước, hai bàn tay thô ráp, nứt nẻ chằng chịt vì ngâm nước muối mặn lâu ngày bấu chặt lấy mép áo vá chằng vá đụp, các ngón tay co quắp lại như rễ cây khô.

"Các... các quan trên..." Giọng bà ta run rẩy như sắp vỡ ra thành từng mảnh vụn, nghẹn ngào nơi cuống họng khô khốc. "Tháng này... cá khô phơi chưa kịp ráo sương... Đội tuần đinh hôm qua vừa tới bến, họ đã lục lọi lấy đi năm mươi cân cá lành canh rồi mà... Mẹ con con chỉ còn lại mấy cái đầu cá mương phơi dở... Xin các quan dong duỗi cho mẹ con con vài hôm nữa... Con thề với trời cao đất dày, con không dám trốn dịch xâu, không dám giấu giếm một cái vây cá nào của kho..."

Tạ Bách khẽ nhíu mày, lùi lại nửa bước rồi kín đáo đưa mắt nhìn Nam. Kỷ Vân khẽ thở dài một tiếng gần như không nghe thấy, bàn tay đang đặt hờ trên đốc kiếm buông lỏng ra, ánh mắt cô cụp xuống, lảng tránh nhìn vào thân hình teo tóp, đói khát của người đàn bà góa và hai đứa trẻ đang lấp ló sau liếp nứa.

Nam bước lên một bước, cố gắng điều chỉnh nét mặt cho thật hòa nhã, xua đi vẻ căng thẳng vốn có của một người vừa trải qua biến cố sinh tử. Anh cởi chiếc nón mê đội đầu xuống, để lộ gương mặt mệt mỏi, dính bụi đường nhưng ánh mắt chân thành, kiên định:

"Thưa tẩu, xin tẩu đừng sợ hãi. Chúng tôi không phải người của đội tuần đinh Kho Muối Hạ Nham, cũng không đến đây để thu gom cá khô hay bắt ép công dịch tạp lao. Chúng tôi lặn lội từ Bến Lau tới đây... là vì muốn hỏi về Lại mục Phan Vĩnh."

Nghe thấy cái tên đó thốt ra từ miệng Nam, người đàn bà như bị một tia sét giữa trời quang đánh trúng tim can. Hai đầu gối bà ta mềm oặt ra, suýt nữa sụp xuống bậc cửa đất nếu không kịp bám chặt vào chiếc cọc nứa xiêu vẹo cắm bên hiên. Đôi mắt trũng sâu trào ra hai dòng nước mắt đục ngầu, lăn dài qua những nếp nhăn nheo hằn sâu trên gò má xám xịt.

"Nhà con... nhà con mất ba năm rồi mà..." Bà ta nấc nghẹn, giọng run lẩy bẩy như người lên cơn sốt rét. "Người đã vùi dưới bãi cát lạnh Hạ Nham ba năm có lẻ rồi, sao các quan vẫn chưa chịu buông tha? Hồn ma chú ấy chẳng lẽ còn nợ nần gì nha môn nữa sao? Đến cái thây mục dưới mồ mà các quan cũng không cho yên thân sao?"

"Chúng tôi không đến để đòi nợ chú ấy," Nam kiên nhẫn giải thích, giọng nói trầm xuống đầy vẻ trắc ẩn nhưng rành rọt từng chữ để người đàn bà có thể nghe rõ trong tiếng gió rít. "Chúng tôi đến từ Bến Lau. Có kẻ đang dùng danh nghĩa của chú ấy, dùng chính cái tên Phan Vĩnh để gieo rắc tai họa xuống đầu hàng chục gia đình nghèo khổ dưới bến sông của chúng tôi. Chúng tôi cần biết sự thật về những gì chú ấy đã để lại, để cứu lấy dân làng và cũng là để trả lại sự thanh thản cho người đã khuất."

Người đàn bà nhìn chằm chằm vào Nam suốt một khoảng thời gian dài dằng dặc. Đôi mắt bà ta đảo qua gương mặt mệt mỏi nhưng quang minh chính đại của Nam, lướt qua vẻ trầm lặng của Kỷ Vân, rồi dừng lại trên đôi giày rách nát bết bùn của anh—đôi giày của một kẻ nghèo khổ cùng quẫn chứ không phải của đám lại dịch hống hách quen ngồi kiệu ăn bổng lộc nha môn. Có lẽ sự kiên định không vụ lợi trong đáy mắt Nam đã phần nào xua đi nỗi khiếp sợ thâm căn cố đế trong lòng bà góa. Bà ta run rẩy đưa ống tay áo rách quệt ngang dòng nước mắt, quay đầu nhìn hai đứa con nhỏ đang run lẩy bẩy sau khe nứa, rồi khẽ gật đầu, ra hiệu cho ba người bước vào trong căn nhà tối tăm, ngột ngạt mùi ẩm mốc, mùi muối tanh nồng và mùi tro than nguội lạnh.

Bên trong gian nhà đất không có lấy một món đồ đạc nào đáng giá quá vài đồng tiền kẽm han rỉ. Giữa nhà kê một chiếc chõng tre ọp ẹp gãy mất một chân, phải kê tạm bằng ba viên gạch vồ xám xịt nhặt ngoài bãi sông. Gió luồn qua các kẽ nứt trên vách đất, thổi bạt những sợi bồ hóng đen sì đu đưa trên xà nhà mục nát.

Người đàn bà góa bước lại góc vách tối tăm nhất, nơi có một bàn thờ nhỏ đắp bằng đất bùn khô nứt, trên cắm mấy que hương tàn cắm vào một chiếc bát sành mẻ đựng đầy cát biển trắng bệch. Bà ta quỳ sụp xuống, hai đầu gối chạm đất không một tiếng động. Bằng những ngón tay gầy guộc run rẩy, bà cào lớp đất cát ẩm ướt dưới chân bàn thờ, moi lên một chiếc bọc vải dầu đã đen sì, cáu bẩn vì khói bếp và hơi muối. Mở từng lớp vải dầu mục nát bốc mùi dầu trẩu nồng nặc, bên trong lộ ra một chiếc tráp thiếc nhỏ hoen rỉ ở bốn góc, nắp tráp được khóa chặt bằng một sợi dây đồng xoắn nhiều vòng thay cho ổ khóa đã mất từ lâu.

Bà ta run rẩy vặn mở từng nút xoắn của sợi dây đồng, lấy ra một tờ giấy bản dày cộp đã ngả sang màu vàng cháy của thời gian, hai tay dâng lên trước mặt Nam như dâng một di vật chết chóc chứa đầy oan khiên.

"Đây... Đây là thứ duy nhất chú ấy để lại trước khi nhắm mắt xuôi tay," người đàn bà nức nở, nước mắt rỏ xuống mép giấy vàng úa. "Ngày lâm chung, chú ấy cầm chặt tay con dặn dò... dặn rằng dù có chết đói, dù có phải bán hết nồi niêu rổ sảo, dắt con đi ăn mày, cũng phải sống chết giữ lấy tờ giấy này để làm bằng chứng... để mỗi tháng người ta tới thu cá khô, họ không bắt hai đứa nhỏ này đi làm nô bộc trừ nợ... Chú ấy bảo nếu mất tờ giấy này, cả nhà con sẽ bị nghiền nát..."

Nam đón lấy tờ giấy bằng cả hai tay. Đầu ngón tay anh chạm vào bề mặt giấy dâu tằm khô ráp, nhám xơ nhưng dày dặn lạ thường—loại giấy chuyên dùng cho các văn bản quan trọng của nha môn cấp phủ, được ngâm qua nước vôi đặc để chống mối mọt mục rữa.

Tim Nam đập thình thình một nhịp dữ dội. Lồng ngực anh thắt lại vì kinh ngạc. Trái ngược hoàn toàn với dự đoán ban đầu của anh rằng hồ sơ này chỉ là một sự ngụy tạo hoàn toàn từ hư vô, một bản hợp đồng ma không hề có thật trên đời, tờ giấy trên tay anh là một văn bản khế ước thật sự trăm phần trăm.

Ở góc trên bên phải của văn bản, dòng chữ triện đỏ thẫm đập vào mắt anh rõ mồn một từng đường nét: *Sinh Khố Phủ Tĩnh Giang — Chuẩn Chi Tín Khế*. Dấu triện bát giác đóng bằng chu sa thượng hạng đỏ tươi như máu tươi mới trích, các đường nét rồng mây uốn lượn sắc sảo, ẩn hiện bên trong lớp mực son là một luồng linh khí hộ khế mỏng manh nhưng vô cùng thuần chính, đang khẽ lay động dưới đầu ngón tay anh. Đó là dấu triện của Sinh Khố phủ Tĩnh Giang—cơ quan tối cao quản lý sinh cơ và thọ mệnh của toàn phủ, thứ mà không một viên thư lại cấp huyện hay phường thợ khắc dấu nào có thể tự ý làm giả bằng củ khoai hay gỗ tạp tầm thường.

Mã số khế ước khắc sâu trên đầu trang giấy bằng lối chữ chân phương nghiêm cẩn: *TG-CấpCứu-0419*.

Đỗ Hoài Nam sững sờ chết lặng. Toàn bộ chuỗi lập luận logic mà anh đã dày công xây dựng trong đầu suốt chặng đường từ Bến Lau tới đây—về việc "Phan Vĩnh hoàn toàn là cái tên ma do nha môn tự dựng lên từ giấy trắng mực đen để che mắt thiên hạ"—ngay trong khoảnh khắc này đã hoàn toàn vỡ vụn thành trăm ngàn mảnh.

"Món nợ này..." Nam ngẩng đầu lên, ánh mắt anh nhìn xoáy vào khuôn mặt hốc hác của người đàn bà góa. "Khoản vay này... thực sự có tồn tại sao?"

Người góa phụ ôm lấy ngực mình, người đổ gục về phía trước, nước mắt tuôn rơi ròng ròng như mưa rào mùa hạ:

"Có chứ quan lớn ơi... Làm sao mà không có được! Ba năm trước, vào đúng mùa mưa lũ năm Khang Định thứ mười, trời đổ mưa như trút nước suốt nửa tháng ròng, cả khúc sông này nước dâng ngập bờ, rồi trận dịch tả quái ác quét qua xóm chài Hạ Nham. Người chết chôn không kịp lấp đất, mùi tử khí bốc lên nồng nặc cả xóm nghèo. Hai đứa con con lúc ấy mới lên hai, lên ba tuổi... chúng nó sốt li bì năm ngày năm đêm không dứt, co giật sùi bọt mép, hơi thở thoi thóp chỉ còn một sợi tơ, da dẻ tím tái lạnh ngắt như người chết rồi. Chú nhà con khi ấy chỉ là một chân lại mục giữ kho phụ ở bãi muối, chạy việc vặt kiếm từng cắc bạc vụn đong gạo qua ngày. Nhìn hai đứa con sắp tắt thở trên tay mà không có tiền mua thuốc hồi dương của y quán, chú ấy cắn răng đội mưa đội gió chạy suốt đêm lên phủ thành Tĩnh Giang, quỳ suốt một đêm ròng rã dưới chân thềm đá trước cửa Sinh Khố..."

Giọng bà góa nghẹn lại trong tiếng nấc xé ruột xé gan, hai bàn tay đập mạnh vào ngực mình như muốn xé toang nỗi đau đè nén bấy lâu:

"Chú ấy ký vào tờ khế ước này... thế chấp toàn bộ công danh lại mục cả đời và mười lăm năm thọ mệnh tương lai của chính bản thân mình để vay khẩn cấp một lượng sinh cơ cứu mạng. Chính lượng sinh cơ lỏng đựng trong bình lưu ly ấy... chú ấy ôm khư khư trong ngực áo chạy bộ về giữa đêm mưa bão, mang về pha vào từng thìa nước cháo loãng, nhỏ từng giọt từng giọt vào miệng hai đứa nhỏ... mới giật được mạng sống của chúng nó từ tay Diêm Vương trở về... Nhưng chú ấy... chú ấy vì dầm mưa lạnh buốt thấu xương, lại kiệt sức vì dịch bệnh và bị rút mất thọ mệnh quá đột ngột, chỉ ba ngày sau khi đưa thuốc về cứu sống được hai con thì chú ấy ngã bệnh rồi qua đời... Chú ấy chết mà mắt vẫn mở trừng trừng, tay vẫn nắm chặt lấy tờ khế ước này dặn con phải giữ..."

Kỷ Vân đứng bên cạnh, bàn tay siết chặt lấy chuôi kiếm quấn vải bố đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra, gân xanh nổi cộm trên mu bàn tay. Là một cựu chấp hành viên từng nhiều năm phục vụ dưới trướng Ty Chấp Khế, cô quá hiểu rõ cơ chế vận hành nghiệt ngã này. Sinh cơ của Sinh Khố quả thực là linh dược vô giá, có thể cứu mạng phàm nhân ngay trước cửa tử nếu được sử dụng kịp thời, nhưng cái giá phải trả cho nó chưa bao giờ dừng lại ở thân xác của kẻ đã nằm xuống dưới mồ sâu.

"Chồng bà chết đi, nhưng khế ước không bao giờ chết theo người vay," Kỷ Vân trầm giọng nói, thanh âm nặng trĩu như có đá tảng ngàn cân đè nén nơi lồng ngực.

"Đúng thế ạ... Các quan nói không sai một chữ nào..." Người đàn bà góa gật đầu lia lịa, hai vai run lên bần bật theo từng tiếng nấc. "Ngay tháng sau ngày chôn cất chú ấy, nấm mồ ngoài bãi cát cỏ chưa kịp xanh mầm, nha môn đã cử người của Ty Chấp Khế xuống tận bến, cắm thẻ bài đòi nợ ngay trước cửa lều. Họ bảo sinh cơ là tài sản tối thượng của trời đất do phủ thành bảo hộ và phân phối, người vay chết thì người thừa kế huyết thống phải đứng ra gánh vác thay. Nhà con nghèo xơ xác, đến manh chiếu rách còn không đủ đắp, lấy đâu ra bạc trắng hay linh thạch để trả nợ một lượng sinh cơ? Họ bắt con phải ký giấy điểm chỉ chuyển nợ sang hình thức lao dịch khổ sai và nộp sản vật định kỳ. Mỗi tháng, mẹ con con phải nộp đủ năm mươi cân cá lành canh phơi khô ráo và mười ngày công lao dịch cào muối ở bãi kho Hạ Nham để trừ dần vào nợ gốc và tiền lãi sinh cơ. Ba năm nay... ròng rã ba mươi sáu tháng trời, chưa một tháng nào con dám nộp thiếu một đuôi cá, chưa một ngày nào dám trốn công cào muối. Hai đứa nhỏ lớn lên bằng nước cháo rau tàu bay và đầu cá ươn, da thịt chẳng có nổi một miếng mỡ... Nhưng nợ gốc ghi trên giấy tờ của họ... vẫn còn tới bảy chỉ sinh cơ chưa trả hết..."

Nam ngồi lặng đi trên mép chõng tre ọp ẹp. Căn nhà tranh như chao đảo dưới mắt anh. Đôi mắt anh nhìn xoáy vào từng nét chữ mực son trên bản khế ước *TG-CấpCứu-0419*.

Một khoản nợ thật. Một khoản vay xuất phát từ tình phụ tử tuyệt vọng và thiêng liêng, người cha dùng chính mạng sống và tương lai của mình để đổi lấy từng hơi thở cho hai đứa con thơ dại giữa cơn bão dịch kinh hoàng. Nó hoàn toàn hợp pháp theo luật lệ của phủ, có dấu ấn chu sa của Sinh Khố, có chữ ký điểm chỉ của người vay, có ghi chép cụ thể về lượng sinh cơ đã xuất kho, và thực tế không thể chối cãi là hai đứa trẻ đang sống sờ sờ ngay trước mắt anh chính là bằng chứng xác thực nhất cho việc lượng sinh cơ đó đã được sử dụng trọn vẹn đúng mục đích cứu mạng.

Một cảm giác ớn lạnh dọc sống lưng bỗng trào dâng trong lòng Nam. Đôi bàn tay anh khẽ run lên khi anh thò tay vào túi vải thô, rút ra bản trích lục nợ và danh sách ba mươi sáu hộ dân Bến Lau do Hoài An sao chép lại, đặt song song với bản khế ước gốc của Phan Vĩnh ngay trên mặt chõng tre đầy bụi muối.

Anh lật lại tờ giấy ghi chép các thông số của khế ước *HN-BảoLãnh-409* thuộc về nông phu Trần Thụ—bản tài liệu mà anh đã liều mạng sao chép lại từ hòm sắt trên chiếc thuyền công vụ 772—rồi cẩn thận đặt nó đối chiếu từng dòng, từng chữ với bản trích lục cưỡng thu của phường thợ nhuộm Bến Lau.

Bàn tay Nam bỗng nhiên khựng lại giữa không trung. Đôi đồng tử anh co rút kịch liệt như vừa nhìn thấy một vực sâu không đáy mở ra ngay dưới chân mình.

"Kỷ Vân... Tạ thuyền trưởng... Hai người hãy cúi xuống nhìn vào đây."

Giọng Nam run lên, một sự run rẩy không phải vì khiếp sợ hiểm nguy, mà vì một sự kinh tởm tột độ trước thủ đoạn tàn độc, tinh vi và lạnh lùng đến mức quỷ quyệt của những kẻ đang ngồi trong nha môn phủ Tĩnh Giang.

Kỷ Vân và Tạ Bách cùng bước tới, cúi rạp người xuống nhìn theo ngón tay trỏ đang run rẩy của Nam.

"Nhìn vào mã số hợp đồng gốc ở góc trên bên trái của tờ trích lục Bến Lau này đi," Nam chỉ ngón tay vào dòng chữ mực son li ti, nét chữ sắc nhọn như dao cạo. "Mã nợ gốc của toàn bộ vụ cưỡng thu đang đè nặng lên phường thợ nhuộm và nông phu Trần Thụ... chính là *TG-CấpCứu-0419*!"

Tạ Bách giật mình đánh thót một cái, chiếc quạt xếp trên tay tuột khỏi ngón tay, rơi cạch xuống mặt bàn tre ọp ẹp: "Cái gì? Trùng mã số sao? Sao lại có thể trùng khớp từng con số như thế này?"

"Không chỉ là trùng mã số đơn thuần," Nam nghiến chặt hai hàm răng, từng thớ cơ trên khuôn mặt anh giật giật vì phẫn nộ. "Kẻ gian không hề bịa ra một bộ hồ sơ hoàn toàn mới từ con số không! Nếu chúng tự dựng lên một bản hợp đồng ma không có gốc gác, khi đưa lên Tòa Khế để đối tụng hoặc khi hệ thống nội kiểm của quan khâm sai thượng cấp rà soát sổ bộ định kỳ mười năm một lần, một mã số khống không có nguồn gốc giải ngân thực tế từ Sinh Khố sẽ lập tức lộ ra là lỗ hổng kế toán chết người. Sinh cơ không thể tự nhiên sinh ra trên giấy trắng mực đen! Vì vậy, Lương Trạch và đồng bọn đã làm một việc tinh vi và đê tiện hơn gấp vạn lần!"

Nam lật nhẹ mép giấy của bản khế ước thật, chỉ vào phần lề dưới nơi có đóng một dấu giáp lai mờ nhạt đã bị ố vàng theo năm tháng:

"Chúng đã sục sạo trong kho lưu trữ của phủ để tìm ra những bản hợp đồng vay sinh cơ có thật của những người đã chết nhưng vẫn còn nghĩa vụ dở dang như Phan Vĩnh! Chúng lấy chính mã số hợp đồng hoàn toàn hợp pháp *TG-CấpCứu-0419* này—một khoản nợ gốc thực tế chỉ có một lượng sinh cơ, nay người nhà đã trả gần hết chỉ còn nợ lại bảy chỉ—rồi dùng con dấu lưu động số mười bốn mà chúng mượn khống từ Kho Muối Hạ Nham để dập thêm vào đó một tệp phụ lục bảo lãnh liên đới hoàn toàn giả mạo!"

Kỷ Vân hít sâu một hơi, luồng khí lạnh buốt thấu tận đáy phổi: "Ý ngươi là... chúng biến một khoản nợ bảy chỉ sinh cơ còn sót lại của một người đã chết thành một cái 'móc câu' hợp pháp, rồi treo vào cái móc câu bằng xương bằng thịt đó ba mươi sáu hộ dân Bến Lau, biến họ trên giấy tờ thành những người 'tự nguyện bảo lãnh liên đới' cho khoản nợ này?"

"Chính xác là như vậy!" Nam đập mạnh nắm tay xuống mặt chõng tre, khiến lớp bụi muối bám trên kẽ nứa bay lên mù mịt trong ánh chiều tà. "Trên danh nghĩa pháp lý gửi về lưu trữ tại Tòa Khế phủ Tĩnh Giang, Phan Vĩnh vẫn là người vay chính đã quá cố, gia đình vợ con ở xóm chài Hạ Nham này vẫn đang cắn răng trả nợ từng tháng bằng cá khô và công cào muối. Hồ sơ này hoàn toàn sạch sẽ, hoàn toàn 'sống' và hợp lệ trên mặt sổ sách nội bộ! Nhưng ở phần phụ lục đính kèm mang mã số *HN-BảoLãnh-401* đến *HN-BảoLãnh-440* mà chúng giấu kín trong hòm da của xe công vụ, khoản nợ gốc bé nhỏ đó đã bị thổi phồng lên gấp hàng chục, hàng trăm lần thông qua các điều khoản phạt bội ước, kèm theo điều khoản bảo lãnh liên đới cưỡng chế thọ mệnh của toàn bộ dân làng Bến Lau! Khi Phạm Diên cắm cọc câu linh xuống đất Bến Lau, pháp trận cưỡng thu vận hành hoàn toàn trơn tru vì nó dựa trên chính mã số khế ước có thật của Phan Vĩnh. Dân làng Bến Lau lầm tưởng rằng mình bị siết nợ oan uổng vì món nợ của Tống Lăng, nhưng thực chất trên giấy tờ pháp lý của nha môn, họ đang bị cưỡng thu để bù đắp vào khoản nợ thâm hụt mang mã số của người chết này!"

Sự thật tàn nhẫn và ghê tởm phơi bày trần trụi dưới ánh sáng nhợt nhạt của buổi hoàng hôn đang tắt dần.

Lương Trạch và bộ máy sai nha của hắn không cần phải tốn công tạo ra ma quỷ từ cõi âm, chúng chỉ cần biến một nỗi đau có thật, một sự hy sinh cùng quẫn của một người cha nghèo khổ thành chiếc bình phong hoàn hảo để che chắn cho hành vi rút ruột hàng chục năm sinh cơ của bọn chúng ở thượng nguồn Đoan Kiều. Người chết dưới mồ sâu thì vĩnh viễn không thể cất tiếng kêu oan hay đối chất trước công đường; người sống ở xóm chài Hạ Nham thì mù chữ, thấp cổ bé họng, quanh năm sợ hãi chỉ biết cắm mặt cào muối và nộp từng xâu cá khô; còn ba mươi sáu hộ dân nghèo ở hạ lưu Bến Lau thì hoàn toàn mù tịt về nguồn gốc thực sự của cái thòng lọng vô hình đang siết chặt lấy cổ họ từng ngày. Một vòng tròn khép kín của sự bóc lột và lừa dối, được bọc trong lớp vỏ bọc hoàn hảo của "pháp quy nha môn".

Bỗng nhiên, một tiếng "bịch" nặng nề vang lên làm rung chuyển nền đất ẩm.

Người đàn bà góa quỳ sụp xuống đất, hai bàn tay chai sần bám chặt lấy hai đầu gối của Nam. Bà ta dập đầu lia lịa xuống nền đất nhão nhoét đầy vỏ ốc vỡ vụn, tiếng trán va vào đất nghe cồm cộp, từng nhịp, từng nhịp đến rợn người:

"Quan lớn ơi! Con lạy quan lớn! Con van lạy quan lớn ngàn lần vạn lần!"

Hai đứa trẻ con thấy mẹ quỳ lạy khóc lóc thảm thiết cũng sợ hãi bò ra khỏi góc tối sau liếp cửa. Chúng quỳ sụp xuống hai bên mẹ, hai bàn tay gầy guộc như que củi ôm chặt lấy ống quần rách rưới của bà, òa lên khóc thét từng hồi, tiếng khóc non nớt xé toang bầu không khí ảm đạm của gian nhà tranh.

"Con nghe các quan nói chuyện... con dẫu ngu muội không hiểu hết những chữ nghĩa sâu xa của nha môn..." Người góa phụ khóc rống lên, nước mắt hòa lẫn bùn đất lem nhem trên gương mặt tiều tụy, vàng vọt. "Nhưng con biết... con biết các quan là người có học, là những người có thể cầm bút can thiệp vào sổ sách của phủ... Con lạy quan lớn! Xin quan lớn rủ lòng thương xót ba mẹ con con! Chú nhà con đã chết ba năm rồi, con cũng đã nộp cá khô ròng rã suốt ba mươi sáu tháng trời, nhà cửa kiệt quệ chẳng còn lấy một hạt gạo dính nồi... Xin quan lớn dùng ngọn bút trong tay quan, xóa cho mẹ con con cái nợ này đi! Xóa bỏ cái tờ giấy chết chóc này đi, xé nát nó đi để con không phải nộp cá nữa, để hai đứa nhỏ này có được bát cơm no, có manh áo lành lặn mà mặc... Con xin làm trâu làm ngựa, kiếp này kiếp sau xin đền đáp ơn sâu nghĩa nặng của quan lớn!"

Tiếng khóc xé lòng của người đàn bà góa và hai đứa trẻ thơ dại như những mũi kim nhọn hoắt đâm thẳng vào lồng ngực những người có mặt trong căn nhà đất.

Kỷ Vân run lên bần bật. Đôi mắt sắc lạnh thường ngày của cựu chấp hành viên bỗng chốc mờ đi vì một tầng sương nước cay xè. Vết sẹo lồi do linh lực phản phệ trên gò má cô giật giật đau đớn, tựa như có ngọn lửa ngầm đang thiêu đốt da thịt. Cảnh tượng này làm sống dậy trong tâm trí cô ký ức kinh hoàng của năm năm trước tại thảm kịch Cầu Tro—nơi những người mẹ nghèo cũng từng quỳ lạy dưới chân cô trong vũng bùn lầy, van xin cô nhổ đi những chiếc cọc câu linh đang ngày đêm rút cạn sinh mệnh và thọ mệnh của con cái họ. Ngày ấy, cô đã lạnh lùng quay lưng bước đi nhân danh "pháp quy của nha môn", nhân danh "sự thi hành khế ước nghiêm minh", để rồi phải mang theo một món nợ máu và sự cắn rứt lương tâm giày vò suốt nửa đời còn lại.

Không thể kìm nén được nữa, Kỷ Vân bước vội tới, cúi người định đưa hai tay đỡ người đàn bà góa dậy, giọng cô run rẩy nghẹn ngào:

"Tẩu đứng dậy đi... đừng lạy nữa... Chúng tôi... Chúng tôi nhất định sẽ giúp tẩu. Chúng tôi sẽ mang tờ khế ước này đi hủy bỏ trước công đường, sẽ dùng mọi cách để xóa sạch món nợ nghiệt ngã này khỏi sổ bộ của phủ..."

"Không được nhận lời!"

Một tiếng quát dứt khoát, đanh thép và vang dội bỗng chốc vang lên, cắt ngang lời Kỷ Vân như một nhát búa đập vỡ tảng băng.

Kỷ Vân sững sờ ngẩng đầu lên. Người vừa cất tiếng quát không ai khác chính là Đỗ Hoài Nam.

Gương mặt chàng thanh niên kiểm sổ trẻ tuổi lúc này căng thẳng tột độ. Đôi lông mày anh nhíu chặt lại thành một đường thẳng tắp, ánh mắt nhìn thẳng vào Kỷ Vân không hề né tránh hay chùn bước—một ánh mắt nghiêm nghị, tỉnh táo và lạnh lùng đến mức tàn nhẫn.

"Ngươi điên rồi sao, Hoài Nam?" Kỷ Vân gắt lên, trong giọng nói run rẩy của cô chứa chan sự phẫn nộ, đau đớn và thất vọng cùng cực. "Ngươi không mở mắt ra mà nhìn xem gia cảnh của họ cùng quẫn đến mức nào sao? Chồng bà ấy đã bỏ mạng vì cứu con! Bà ấy đã oằn lưng nộp cá khô suốt ba năm trời ròng rã! Món nợ này đã bị bọn súc sinh Lương Trạch biến thành công cụ giết người ở Bến Lau, biến thành chiếc thòng lọng siết cổ bao nhiêu sinh linh vô tội! Ngươi là người kiểm sổ, ngươi có cuốn Sổ Đối Chiếu trong tay, ngươi có tri thức và ngòi bút, tại sao ngươi không thể xóa bỏ nó đi để giải thoát cho ba mẹ con họ một con đường sống?"

Tạ Bách đứng bên cạnh khẽ thở dài một tiếng thật sâu. Gã khẽ lắc đầu, chiếc quạt nan trên tay khép lại, nhưng gã không chen ngang vào cuộc tranh cãi, chỉ im lặng lùi lại một bước, quan sát từng chuyển động trên gương mặt của Nam với ánh mắt phức tạp.

Nam hít một hơi thật sâu, nén chặt cơn đau buốt đang cào xé nơi vết thương lồng ngực. Anh bước tới, nhẹ nhàng nhưng vô cùng kiên quyết gỡ từng ngón tay gầy guộc của người đàn bà góa đang bám chặt lấy chân mình, rồi quỳ một chân xuống nền đất ẩm, hạ thấp mình xuống ngang tầm mắt của người mẹ đang đau khổ tột cùng.

"Tẩu hãy bình tâm nghe tôi nói," Nam cất giọng, chậm rãi, trầm ổn nhưng rành rọt từng âm sắc, tựa như từng giọt nước nhỏ xuống mặt đá phẳng. "Tôi hiểu thấu nỗi khổ cực cùng quẫn của tẩu suốt ba năm qua, và tôi cũng vô cùng kính trọng sự hy sinh vĩ đại của chú Phan Vĩnh năm xưa đối với hai đứa nhỏ. Nhưng tôi không thể hứa xóa nợ cho tẩu, và tuyệt đối không một ai trong chúng ta ở đây có quyền xóa bỏ bản khế ước này."

"Tại sao?" Kỷ Vân siết chặt chuôi kiếm trong tay, lồng ngực cô phập phồng dữ dội, giọng cô run lên vì giận dữ. "Ngươi cũng lạnh lùng, vô cảm và tàn nhẫn như đám quan lại ngồi trong nha môn sao? Cái chức danh kiểm sổ của ngươi chỉ biết phục vụ cho những con số chết tiệt đó thôi sao?"

"Bởi vì đây là một khoản nợ thật!"

Nam đứng phắt dậy, quay ngoắt sang đối diện trực diện với Kỷ Vân. Giọng anh vang lên đanh thép giữa gian nhà đất rách nát, át cả tiếng gió sông gầm rít ngoài hiên:

"Kỷ Vân, cô từng làm chấp hành viên của Ty Chấp Khế, cô phải hiểu rõ hơn ai hết quy luật vận hành của trời đất và đạo lý của khế ước! Khoản vay một lượng sinh cơ ba năm trước không phải là trò bịp bợm hay sự ngụy tạo của nha môn! Sinh cơ ấy đã thực sự được trích xuất từ Sinh Khố phủ Tĩnh Giang, đã thực sự được người cha chuyển hóa vào từng giọt máu, từng thớ thịt của hai đứa trẻ này, và chúng đang đứng sống sờ sờ khỏe mạnh trước mặt chúng ta chính là nhờ lượng sinh cơ cứu mạng đó! Nghĩa vụ hoàn trả là có thật, xuất phát từ một giao dịch sinh mệnh hoàn toàn chân chính và tự nguyện!"

Nam giơ tay chỉ thẳng vào hai đứa trẻ đang sợ hãi nép chặt bên sườn mẹ:

"Nếu chúng ta vì lòng trắc ẩn nhất thời, vì sự thương hại mù quáng mà hứa suông rằng sẽ xóa sạch bản hợp đồng gốc này, chúng ta đang làm gì? Chúng ta đang chối bỏ sự thật! Chúng ta đang phủ nhận chính sự hy sinh mà Phan Vĩnh đã đánh đổi bằng mười lăm năm thọ mệnh của mình! Nếu một người làm nghề kiểm sổ tùy tiện dùng ngòi bút xóa bỏ một khoản nợ hợp pháp chỉ vì thấy người vay quá nghèo khổ, thì hành vi đó về bản chất có khác gì việc bọn Lương Trạch tùy tiện gài thêm nợ giả vào hồ sơ không? Cả hai hành vi đó đều là bóp méo sổ sách! Đều là chà đạp lên tính chân thực của văn bản!"

Nam quay lại nhìn người đàn bà góa, ánh mắt anh dịu lại, chan chứa sự đồng cảm sâu sắc nhưng lời lẽ vẫn vô cùng kiên định, không hề có một chút dao động:

"Hơn thế nữa, tẩu có biết hậu quả nếu chúng ta làm vậy không? Nếu hôm nay tôi hứa xóa nợ cho tẩu, tức là tôi tuyên bố rằng bản hợp đồng mang mã số *TG-CấpCứu-0419* này hoàn toàn vô hiệu từ trong trứng nước. Nhưng nếu nó vô hiệu từ gốc, thì ngày mai, khi chúng tôi bước ra trước Tòa Khế Tĩnh Giang để công khai đối chất với Lương Trạch, kẻ gian sẽ vin vào đâu để phản pháo? Chúng sẽ lập tức đổi trắng thay đen, nói rằng gia đình Phan Vĩnh trốn tránh nghĩa vụ, vu khống quan trên! Lương Trạch sẽ dễ dàng phủ nhận toàn bộ mối liên hệ giữa hồ sơ này với Bến Lau, coi đó chỉ là sự nhầm lẫn hành chính nhỏ nhặt! Và khi ấy, ba mươi sáu hộ dân ở quê tôi—trong đó có em gái Hoài An của tôi—sẽ vĩnh viễn mất đi chứng cứ duy nhất để bóc tách phần bảo lãnh khống ra khỏi hệ thống! Ba mươi sáu gia đình sẽ bị rút cạn sinh mệnh mà chết oan uổng, và rồi sau đó, mẹ con tẩu cũng sẽ không thoát khỏi bàn tay của một đội tuần đinh khác tới cùm chân bắt đi làm nô dịch vì tội bội khế!"

Căn nhà đất bỗng chốc chìm vào một khoảng lặng chết chóc.

Chỉ còn lại tiếng gió sông rít qua khe nứa mục, tiếng sóng vỗ ì oạp vào bờ đất lở, và tiếng sụt sùi khe khẽ, nghẹn ngào của người mẹ góa đang ôm chặt hai đứa con vào lòng.

Kỷ Vân sững sờ đứng chôn chân tại chỗ. Đôi bàn tay đang siết chặt chuôi kiếm của cô từ từ buông lỏng ra. Ngọn lửa giận dữ và bốc đồng trong mắt cô dần dần tắt ngấm, nhường chỗ cho sự bàng hoàng tột độ và một nỗi kính sợ âm thầm dâng lên từ tận đáy lòng. Từng lời nói của Nam như những gáo nước lạnh tạt thẳng vào tâm trí đang bị cảm xúc chi phối của cô, đánh thức lý trí nghề nghiệp mà cô ngỡ như đã đánh mất sau bi kịch Cầu Tro. Cô nhận ra Nam đã nhìn xa hơn cô rất nhiều bước trên bàn cờ sinh tử này. Trong khi cô bị nỗi ám ảnh và cảm giác tội lỗi của quá khứ thúc đẩy, muốn dùng một hành động cứu vớt tức thời, bộc phát để tự xoa dịu lương tâm đang rỉ máu của chính mình, thì Nam—với tư duy tỉnh táo, chuẩn xác và lạnh lùng của một người kiểm sổ chân chính—đang bảo vệ sự toàn vẹn của sự thật, thứ vũ khí duy nhất có thể cứu sống tất cả mọi người mà không để lại bất kỳ tì vết nào cho kẻ thù lợi dụng.

Tạ Bách khẽ gật gù, ánh mắt gã nhìn Nam giờ đây đã bớt đi vài phần trào phúng của phường buôn bán, thay vào đó là sự nể trọng thực sự dành cho một kẻ có bản lĩnh phi thường giữa lằn ranh sinh tử.

Nam bước lại gần chiếc chõng tre ọp ẹp, cởi chiếc túi vải thô ra, mở hộp đồ nghề kiểm sổ bằng gỗ mộc mà anh luôn mang theo bên mình.

Động tác của anh chậm rãi, cẩn trọng và chuẩn xác đến từng ly. Anh lấy ra một chiếc nghiên mực đá nhỏ xỉn màu xám đen, vài thỏi mực tàu khô cứng cáp có khắc hình hoa mai, và một xấp giấy bản trắng tinh loại tốt mà anh đã cất giữ cẩn thận dưới đáy túi từ ngày rời khỏi Bến Lau. Anh nghiêng chiếc gáo dừa múc một ít nước mưa trong chiếc lu đất ở góc nhà, nhỏ từng giọt nước trong vắt vào lòng nghiên mực, rồi cầm thỏi mực bắt đầu mài.

Tiếng thỏi mực cọ xát nhịp nhàng trên mặt đá nhám vang lên đều đặn trong gian phòng tối: *xoẹt... xoẹt... xoẹt...* Đó là âm thanh của trật tự, của sự chuẩn mực đang dần được thiết lập lại giữa mớ hỗn độn của sự dối trá.

"Nguyên tắc tối thượng của người kiểm sổ," Nam vừa mài mực vừa chậm rãi cất lời, giọng anh trầm ổn và phẳng lặng như mặt hồ không một gợn sóng, "là chỉ vô hiệu hóa phần lừa đảo ngụy tạo, tuyệt đối không bao giờ xóa bỏ nợ chân chính. Công lý của sổ sách không nằm ở việc xóa sạch mọi ràng buộc hay phủ nhận mọi cam kết để làm vừa lòng tất cả mọi người trong chốc lát. Công lý nằm ở việc dùng sự thật để bóc tách sự dối trá ra khỏi thực tế, trả món nợ về đúng người đã vay, và bảo toàn đúng nghĩa vụ mà người ta đã thực sự cam kết trước trời đất."

Mực đã mài xong, đen nhánh và sánh mịn.

Nam cầm ngọn bút lông thỏ nhỏ nhắn, chấm nhẹ đầu bút vào đĩa mực đen, vuốt nhẹ ngòi bút trên miệng nghiên cho thật ngay ngắn, rồi đặt một tờ giấy bản trắng tinh lên mặt chõng tre, bắt đầu nắn nót viết từng dòng chữ chân phương, mạch lạc.

Ngòi bút của anh lướt trên mặt giấy dâu tằm với sự chuẩn xác phi thường, ghi lại từng thông số nguyên bản của bản khế ước gốc đang đặt bên cạnh:

*Khế ước nguyên bản mã số: TG-CấpCứu-0419.* *Cơ quan phát hành: Sinh Khố Phủ Tĩnh Giang.* *Người vay gốc: Lại mục phụ trách kho muối Phan Vĩnh (đã tạ thế).* *Mục đích giải ngân: Cứu mạng hai con nhỏ trong trận dịch tả mùa lũ năm Khang Định thứ mười.* *Tổng số nợ gốc thực nhận: Đúng một lượng sinh cơ tiêu chuẩn.*

Phía dưới dòng thông tin nợ gốc, Nam dừng lại một nhịp, cẩn thận hỏi lại người đàn bà góa từng chi tiết về thời gian giao nộp và những lần lao dịch, rồi tỉ mỉ liệt kê từng khoản cấn trừ mà người mẹ nghèo đã cắn răng thực hiện suốt ba năm qua:

*Đối chiếu thực tế thi hành nghĩa vụ:* *Thời gian thực hiện: Ba mươi sáu tháng liên tục (từ tháng Hai năm Khang Định thứ mười đến tháng Giêng năm nay).* *Sản vật giao nộp thực tế: Ba mươi sáu tháng x năm mươi cân = Đúng một nghìn tám trăm cân cá lành canh phơi khô ráo.* *Công dịch tạp lao thực tế: Mười ngày công mỗi tháng x ba mươi sáu tháng = Đúng ba trăm sáu mươi ngày công lao dịch cào muối tại kho bãi Hạ Nham.* *Quy đổi giá trị cấn trừ vào nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo đúng Biểu phí Cũ của Phủ Tĩnh Giang ban hành năm Khang Định thứ tám: Đã thanh toán khấu trừ tương đương ba chỉ sinh cơ.* *Nợ gốc hợp pháp còn lại tính đến thời điểm hiện tại: Đúng bảy chỉ sinh cơ.*

Viết đến đây, ngòi bút của Nam bỗng dừng lại. Anh hít một hơi thật sâu, ánh mắt sắc như lưỡi kiếm nhìn thẳng vào dòng chữ son của phụ lục bảo lãnh giả mạo mà anh đã sao chép từ thuyền 772. Cổ tay anh chuyển động mạnh mẽ, dứt khoát hạ bút viết tiếp phần kết luận pháp lý quan trọng nhất:

*Xác nhận độc lập của Người Kiểm Sổ:* *Khế ước gốc mã số TG-CấpCứu-0419 hoàn toàn không chứa đựng bất kỳ điều khoản nào cho phép xác lập nghĩa vụ bảo lãnh liên đới bằng tài sản, hoa màu hoặc thọ mệnh của bất kỳ bên thứ ba nào ngoài phạm vi huyết thống trực hệ của Phan Vĩnh.* *Toàn bộ các tệp phụ lục bảo lãnh mang mã số từ HN-BảoLãnh-401 đến HN-BảoLãnh-440 gắn kèm với mã nợ này tại lưu vực Bến Lau—bao gồm khế ước bảo lãnh áp đặt lên ba mươi sáu hộ dân và nông phu Trần Thụ—đều là văn bản ngụy tạo phát sinh bất hợp pháp sau ngày người vay gốc qua đời.* *Căn cứ Điều 19 Luật Khế ước Cửu Hà: Mọi phụ lục bảo lãnh phát sinh không có chữ ký tự nguyện của bên bảo lãnh và không có sự xác nhận của người vay chính đều hoàn toàn vô hiệu trước pháp luật.*

Từng nét chữ cuối cùng hạ xuống, dứt khoát như một nhát chém chặt đứt sợi xích oan nghiệt đang trói buộc số phận của hàng chục con người.

Nam đặt ngọn bút lông xuống chiếc giá đỡ bằng gốm thô. Anh nhẹ nhàng xoay tờ giấy bản vừa viết xong, đẩy nó sang phía người đàn bà góa đang quỳ bên mép chõng tre.

"Thưa tẩu," Nam cất tiếng, giọng anh trầm xuống chan chứa sự tôn trọng và chân thành. "Tôi không thể xóa nợ cho tẩu, bởi vì lượng sinh cơ đã cứu sống hai cháu bé là có thật, và sự thật đó xứng đáng được tôn trọng bằng danh dự của người đã khuất. Nhưng tôi lập văn bản xác nhận đối chiếu độc lập này để ghi nhận chính xác đến từng cắc bạc phần nợ thực tế mà tẩu còn phải gánh vác, và bóc tách hoàn toàn phần nợ khổng lồ hàng trăm lượng mà kẻ gian đang nhẫn tâm gài lên đầu ba mươi sáu hộ dân lương thiện ở quê hương chúng tôi. Tờ giấy này, một bản tẩu hãy giữ lấy cất kỹ cùng với bản khế ước gốc, còn một bản tôi sẽ mang thẳng lên Tòa Khế Tĩnh Giang để làm chứng cứ đối chất công khai."

Nam mở chiếc hộp gỗ tròn đựng mực chu sa của mình ra, để lộ lớp mực son đỏ thắm, mịn màng:

"Bảy chỉ sinh cơ còn lại của gia đình tẩu, một ngày không xa khi toàn bộ mạng lưới lừa đảo tinh vi này bị phơi bày ra trước ánh sáng công lý, tôi sẽ dùng chính tư cách và sinh mệnh của một người kiểm sổ độc lập để yêu cầu Tòa Khế chuyển đổi toàn bộ số nợ đó sang một định mức lao dịch công bằng, nhân đạo, bảo đảm cho mẹ con tẩu có đủ cơm ăn áo mặc, có manh áo lành lặn mà vẫn hoàn thành trọn vẹn nghĩa vụ danh dự của người đã khuất. Còn bây giờ, xin tẩu hãy điểm chỉ xác nhận vào bản đối chiếu này."

Người đàn bà góa nhìn trân trân vào tờ giấy bản trắng tinh ngập tràn những con chữ mực đen ngay ngắn, thẳng hàng và đanh thép. Rồi bà ngước nhìn lên, nhìn sâu vào đôi mắt sáng ngời, kiên định và trong trẻo của chàng thanh niên kiểm sổ trước mặt. Một sự thấu hiểu kỳ lạ bỗng chốc len lỏi vào tâm can người mẹ nghèo khổ. Bà hiểu rằng người thanh niên này không hề mang đến cho mẹ con bà một lời hứa hão huyền, một sự thương hại bố thí nhất thời để rồi bỏ mặc họ cho bão táp ngày mai. Anh đang trao cho bà một chiếc khiên bảo vệ vững chắc nhất—chiếc khiên được đúc bằng sự thật trần trụi và không thể chối cãi của sổ sách.

Bà ta run rẩy đưa ngón tay trỏ chai sần, nứt nẻ vì ngâm nước muối ấn sâu vào hộp chu sa đỏ thắm.

Rồi với tất cả sự cẩn trọng, kính cẩn và biết ơn tột cùng, bà ấn mạnh dấu vân tay của mình xuống ngay bên cạnh chữ ký sao chép của người chồng quá cố.

Vết mực son tươi rói in hằn sâu vào từng thớ giấy dâu tằm trắng muốt, đỏ thẫm như giọt máu của sự sống đã được cứu vãn năm xưa giữa cơn đại dịch.

Nam cúi xuống, nhẹ nhàng thổi khô vết mực son còn ươn ướt trên mặt giấy. Động tác của anh nâng niu và trang trọng như đang cử hành một nghi thức thiêng liêng. Anh cẩn thận gấp bản sao có dấu điểm chỉ xác nhận của người vợ góa lại làm tư, rồi nhét sâu vào nơi an toàn nhất trong vạt ngực áo sam, nằm sát cạnh cuốn Sổ Đối Chiếu bìa rễ cây và vết thương nơi lồng ngực đang âm ỉ nhói buốt.

Bên ngoài hiên nhà, hoàng hôn đã buông xuống hoàn toàn trên xóm chài Hạ Nham. Mặt trời lặn sau những rặng củi mục, để lại một dải mây đỏ ối như máu loang trên mặt nước sông Cửu Hà. Gió chướng thổi thốc vào căn nhà vách đất xiêu vẹo, mang theo cái lạnh buốt giá và hơi ẩm mịt mù của màn đêm đen kịt sắp sửa nuốt chửng cả khúc sông.

Cầm tờ giấy ố vàng đẫm nước mắt của người góa phụ, Nam hiểu rằng công lý của người kiểm sổ không phải là xóa bỏ nợ nần, mà là trả món nợ về đúng kẻ đã vay.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories