Chữ ký cho lô thử
Căn phòng họp kính của văn phòng đại diện Nam Lộ lạnh ngắt hơi máy điều hòa, đối lập hoàn toàn với cái nóng rát của xưởng mắm, khi tập dự thảo hợp đồng Bếp Bờ Biển được đẩy sang phía Lan.
Mùi máy lạnh phả ra thứ không khí khô khốc, nhân tạo, đậm mùi nước xịt phòng hương sả chanh rẻ tiền, lấn át chút phong vị mặn mòi quen thuộc còn bám nơi gấu áo sơ mi của Lan. Đối diện với cô qua mặt bàn kính mờ là Trần Mai Chi và Phạm Đức Tín. Mai Chi mặc bộ vest công sở màu ghi xám thanh lịch, nụ cười trên môi giữ đúng khoảng cách của một nhân viên thu mua dày dạn kinh nghiệm. Ngồi bên cạnh cô ta, Phạm Đức Tín—chuyên viên bảo đảm chất lượng với cặp kính gọng kim loại mảnh—giữ một khuôn mặt phẳng lặng như mặt nước không gợn sóng.
Không một lời mở đầu xã giao thừa thãi, Tín đặt ngay lên bàn một tập tài liệu dập ghim dày cộp. Trang đầu tiên in đậm dòng chữ: *Bảng chỉ tiêu kiểm định vi sinh vật, kim loại nặng và đạm nitơ áp dụng cho sản phẩm gia công Bếp Bờ Biển*.
“Chào chị Lan,” giọng Tín trầm và đều đều, không mang chút biểu cảm cá nhân nào, như thể anh ta chỉ là chiếc máy đọc lại các quy chuẩn đã được lập trình sẵn. “Đây là bộ tiêu chí kỹ thuật mà bộ phận QA/QC của Nam Lộ bắt buộc áp dụng đối với dòng nước mắm truyền thống đóng nhãn riêng. Chúng tôi không đánh giá sản phẩm qua cảm quan hay uy tín lâu năm của nhà thùng. Tiêu chuẩn của hệ thống siêu thị Nam Lộ đòi hỏi mọi chỉ số phải nằm trong ngưỡng kiểm soát tuyệt đối.”
Ngón tay trỏ của Tín gõ nhẹ lên từng dòng chỉ tiêu đã được bôi vàng:
“Chỉ tiêu vi sinh: Tổng số vi sinh vật hiếu khí dưới $10^4$ CFU/ml; Coliforms dưới 10 CFU/ml; Clostridium perfringens và E. coli tuyệt đối âm tính trong 25ml mẫu thử. Kim loại nặng: Chì dưới 0,05 mg/l, Cadimi dưới 0,05 mg/l, Thủy ngân dưới 0,05 mg/l. Đặc biệt là chỉ số Histamine phải được khống chế dưới mức 200 ppm—ngưỡng an toàn sinh học ngặt nghèo nhất đối với cá cơm lên men. Và quan trọng nhất: độ đạm nitơ toàn phần cam kết phải đạt từ $35^\circ\text{N}$ trở lên, dung sai cho phép không vượt quá $\pm 0,5^\circ\text{N}$ trên toàn bộ các chai được lấy mẫu ngẫu nhiên tại kho nhận hàng.”
Tín đẩy tài liệu về phía Lan, ánh mắt sau tròng kính nhìn thẳng vào cô:
“Nếu một mẫu thử ngẫu nhiên bị lệch ra ngoài dải chỉ tiêu này, toàn bộ lô hàng sẽ bị lập biên bản từ chối nghiệm thu, trả về nơi sản xuất và áp dụng chế tài vi phạm hợp đồng.”
Lan đón lấy tập tài liệu, lật từng trang. Tiếng giấy cọ vào nhau sột soạt giữa gian phòng tĩnh mịch. Cô không tỏ ra nao núng trước những thuật ngữ khoa học đó. Năm năm làm kiểm toán các đơn vị sản xuất thực phẩm đã cho cô đủ kinh nghiệm để hiểu rằng đây là một hàng rào kỹ thuật thực sự, được dựng lên để triệt tiêu mọi rủi ro về mặt pháp lý cho bên bán lẻ.
Mai Chi lúc này mới cất tiếng, ngả người về phía trước, hai bàn tay đan vào nhau trên bàn:
“Chị Lan thấy đấy, tiêu chuẩn kỹ thuật bên em đưa ra là để đảm bảo uy tín khi sản phẩm lên kệ toàn chuỗi. Vì thế, trong bản hợp đồng chính thức này, chúng em vẫn giữ nguyên quy mô đặt hàng ban đầu: lô mở màn 20.000 chai dung tích 500ml, đơn giá khoanh vùng ở mức 16.000 đồng một chai. Lịch giao hàng ấn định trong vòng ba mươi ngày kể từ khi duyệt mẫu nhãn. Kèm theo đó là điều khoản phạt chậm tiến độ: mỗi ngày trễ hẹn phạt 1% giá trị hợp đồng, nếu chậm quá bảy ngày làm việc, Nam Lộ có quyền đơn phương hủy hợp đồng, thu hồi toàn bộ 30% tiền tạm ứng và phạt vi phạm thương quyền 8% tổng giá trị lô hàng.”
Một con số phạt khổng lồ lơ lửng trên đầu một cơ sở gia đình.
Lan ngẩng đầu lên, khép tập tài liệu lại một cách cẩn trọng. Cô nhìn thẳng vào Mai Chi rồi chuyển ánh mắt sang Tín. Nét mặt cô điềm tĩnh đến lạnh lùng, phong thái của một kế toán viên quen làm việc với những bảng cân đối dòng tiền khô khốc.
“Tôi bác bỏ điều khoản cam kết sản lượng 20.000 chai này,” Lan cất giọng, dứt khoát và rành rọt từng chữ. “Cơ sở Hải Thành sẽ không ký vào một hợp đồng có quy mô và chế tài như vậy vào thời điểm hiện tại.”
Mai Chi thoáng chớp mắt, nét mặt khẽ biến đổi. “Chị Lan, 20.000 chai là sản lượng tối thiểu để Nam Lộ tối ưu hóa chi phí vận hành và truyền thông ra mắt nhãn riêng. Nếu giảm xuống, bên em rất khó duyệt mã hàng mới lên hệ thống.”
“Nhưng nếu giữ nguyên 20.000 chai, Nam Lộ sẽ đối mặt với một nguy cơ đứt gãy nguồn cung ngay trong lần giao đầu tiên,” Lan đanh thép chỉ ra thực tế. Cô mở sổ tay của mình ra, lật đến trang tính toán chi phí mà cô đã lập tỉ mỉ sau chuyến khảo sát điểm đóng chai ở Phong Nẫm.
“Tôi nói thẳng vào năng lực vận hành. Thứ nhất, hệ thống chiết rót bán tự động bốn vòi của chúng tôi hiện tại có độ dung sai thể tích từ 5 đến 10ml mỗi chai nếu vận hành liên tục công suất cao. Để đạt chuẩn nghiệm thu ngặt nghèo của anh Tín, chúng tôi buộc phải kéo dài thời gian đóng chai và hiệu chỉnh thủ công từng mẻ để triệt tiêu sai số. Thứ hai, với một xưởng thủ công ủ chượp tự nhiên từ mười hai đến mười tám tháng như Hải Thành, lượng nước mắm nhĩ đạt chuẩn $35^\circ\text{N}$ không phải là thứ có thể ép ra bằng máy móc cô đặc chân không như cơ sở ở La Gi. Mỗi thùng gỗ mít chỉ cho ra một lượng cốt nhất định, đòi hỏi chu kỳ rút nén cực kỳ nghiêm ngặt. Ép công suất 20.000 chai trong ba mươi ngày đồng nghĩa với việc đẩy xưởng vào nguy cơ rỗng ruột hoặc phải pha loãng đạm—điều mà cả tôi và anh Tín đều không chấp nhận.”
Lan nhìn thẳng vào Tín, người vẫn đang im lặng lắng nghe với vẻ mặt đăm chiêu.
“Thêm vào đó,” Lan tiếp tục, “chi phí vật tư bao bì trả trước cho 20.000 chai lên tới hơn một trăm triệu đồng, vượt xa khoản tạm ứng 30% của các anh. Với điều khoản thanh toán 70% còn lại sau bốn mươi lăm ngày làm việc kể từ ngày nghiệm thu, cơ sở sản xuất sẽ bị giam vốn lưu động gần ba tháng trời. Nhận 20.000 chai lúc này là một cái bẫy dòng tiền tự sát đối với Hải Thành, và cũng là quả bom nổ chậm về tiến độ đối với bộ phận thu mua của chị Chi. Vì vậy, tôi đề xuất: chúng ta thu nhỏ quy mô hợp đồng này xuống thành một lô thử nghiệm duy nhất: 5.000 chai.”
Phòng họp rơi vào một khoảng im lặng nặng nề. Tiếng gió từ họng máy điều hòa rít lên nhè nhẹ.
Mai Chi nhíu mày, ngón tay khẽ gõ lên mép bàn kính. “5.000 chai... Con số này quá nhỏ so với quy mô dự tính của phòng thu mua. Ban giám đốc bên em vừa phê duyệt chủ trương 20.000 chai xong.”
“5.000 chai là ngưỡng an toàn tuyệt đối cho cả hai bên,” Lan không lùi bước nửa phân. “5.000 chai tương đương 2.500 lít mắm cốt. Đây là dung lượng mà Hải Thành có thể kiểm soát hoàn hảo từ khâu kéo rút, lắng cặn đến đóng chai thủ công có giám sát. Nó đủ để Nam Lộ đưa hàng vào một số siêu thị trọng điểm tại TP.HCM để thăm dò phản ứng của người tiêu dùng đối với dòng mắm truyền thống thật sự, trước khi các vị quyết định đặt hàng loạt. Quan trọng hơn, 5.000 chai giúp triệt tiêu rủi ro hàng lỗi hàng trả cho cả đôi bên.”
Lúc này, Phạm Đức Tín đẩy gọng kính, ánh mắt sắc lẹm dán chặt vào Lan:
“Thu nhỏ xuống 5.000 chai không có nghĩa là hạ thấp tiêu chuẩn kỹ thuật, chị Lan.”
“Tôi không hề xin hạ thấp tiêu chuẩn,” Lan đáp ngay.
“Tốt,” Tín lạnh lùng nói tiếp. “Vậy tôi đưa ra điều kiện bổ sung cho lô thử nghiệm 5.000 chai này. Vì cơ sở Hải Thành không sử dụng dây chuyền tự động khép kín, tôi yêu cầu toàn bộ 5.000 chai này phải có hồ sơ truy xuất nguồn gốc gắn chặt với một hoặc tối đa hai thùng ủ gỗ cụ thể tại xưởng. Không được phép pha trộn tùy tiện mắm từ nhiều thùng rải rác để gom đủ số lượng. Trước ngày chiết rót, chúng tôi sẽ cử kiểm định viên độc lập đến xưởng cùng thợ cả của chị niêm phong van rút thùng, lấy mẫu trực tiếp gửi đi Quatest 3 kiểm nghiệm chỉ tiêu vi sinh và đạm nitơ. Toàn bộ chi phí kiểm nghiệm do Hải Thành chịu trách nhiệm. Nếu kết quả xét nghiệm đạt chuẩn, các chị mới được phép mở van chiết vào chai dưới sự chứng kiến của biên bản chuyển lô.”
Yêu cầu của Tín khắt khe đến mức nghiệt ngã. Anh ta muốn kiểm soát đến tận từng thớ gỗ của thùng chượp, tước bỏ hoàn toàn thói quen rút mắm ước chừng bằng kinh nghiệm lâu đời của các thợ mắm Phan Thiết.
Mai Chi nhìn Lan, dường như chờ đợi cô sẽ giãy nảy lên phản đối sự can thiệp thô bạo ấy vào quy trình nội bộ của xưởng.
Nhưng Lan chỉ im lặng trong năm giây để tính toán nhanh trong đầu. Gắn chặt vào thùng ủ cụ thể? Chú Bảy Hòa là người nắm rõ đặc tính từng thùng. Nếu làm đúng cách, đây chính là cơ hội để chuẩn hóa dữ liệu nhà thùng mà Hải Thành đang thiếu hụt trầm trọng. Điều đó khó, nhưng không phải bất khả thi.
“Tôi đồng ý với điều kiện truy xuất nguồn gốc từng thùng và kiểm nghiệm độc lập của anh Tín,” Lan ngẩng lên, giọng bình thản nhưng chắc nịch. “Nhưng để đáp ứng sự ngặt nghèo đó, tôi đưa ra điều kiện tiên quyết về tài chính: Nam Lộ phải thanh toán tiền tạm ứng 30% giá trị hợp đồng ngay khi hai bên ký kết, thời hạn giải ngân tối đa là hai mươi bốn giờ kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực.”
Mai Chi lập tức lên tiếng: “Quy trình giải ngân tạm ứng của bên em thông thường mất từ bảy đến mười ngày làm việc sau khi duyệt hồ sơ pháp lý và hợp đồng gốc...”
“Bảy đến mười ngày thì chúng tôi không kịp đặt khuôn vỏ chai và nắp màng co đạt chuẩn cho lô hàng,” Lan cắt lời, không nhượng bộ. “Với 5.000 chai, tổng giá trị hợp đồng ở mức giá 16.000 đồng là 80.000.000 đồng. 30% tạm ứng vỏn vẹn là 24.000.000 đồng. Một con số 24 triệu đối với dòng tiền của một tập đoàn bán lẻ như Nam Lộ chỉ là một khoản chi vặt, nhưng đối với xưởng mắm chúng tôi, đó là tiền mặt tươi để giữ khuôn chai, chuẩn bị vật tư và trả thù lao cho đội thợ tăng ca khử trùng đường ống. Nếu các anh chị muốn chúng tôi cam kết kỷ luật về mặt kỹ thuật, các anh chị phải cam kết kỷ luật về dòng tiền. Không có tiền tạm ứng trong vòng hai mươi bốn giờ sau khi ký, xưởng không thể bấm nút khởi động quy trình.”
Mai Chi nhìn Lan, ánh mắt ánh lên sự dò xét xen lẫn vẻ nể phục kín đáo. Trong các cuộc đàm phán với những chủ xưởng thủ công trước đây, Mai Chi quen nhìn thấy những người làm nghề lúng túng trước các con số, hoặc vì ham nhận đơn hàng lớn mà sẵn sàng ký bừa vào mọi điều khoản phạt để rồi vỡ trận. Nhưng người phụ nữ ngồi trước mặt cô không hành xử như một người đi xin đơn hàng. Lan hành xử như một giám đốc tài chính đang cân đối rủi ro cho cả hai đối tác.
Mai Chi quay sang nhìn Tín. “Anh Tín thấy phương án 5.000 chai gắn hồ sơ theo thùng thế nào?”
Tín khẽ nhếch mép, một cử chỉ hiếm hoi thể hiện sự tán thành. “Về mặt rủi ro chất lượng, cô lập nguồn mắm ở một thùng cụ thể dễ kiểm soát hơn nhiều so với việc để họ pha trộn hai mươi ngàn chai từ cả dãy nhà thùng. Nếu chị Lan cam kết được việc lưu mẫu và minh chứng nhật ký rút mắm từ đúng thùng ủ đạt kiểm định Quatest, bộ phận QA/QC chấp thuận phương án này.”
Mai Chi gật đầu. Cô đứng dậy, xin phép ra ngoài hành lang năm phút để gọi điện thoại trao đổi trực tiếp với Giám đốc Thu mua ngành hàng tại trụ sở chính.
Trong phòng họp chỉ còn lại Lan và Tín. Người chuyên viên kỹ thuật cúi đầu ghi chú vào tập hồ sơ, còn Lan ngồi thẳng lưng, hai bàn tay đan chặt trên đùi để che đi sự căng thẳng đang dồn lên từng thớ cơ. 24 triệu đồng tiền ứng không phải là chiếc phao cứu sinh thần kỳ giải quyết hết núi nợ của Hải Thành, nhưng trong ba tuần dầu sôi lửa bỏng này, 24 triệu là dòng máu tươi để giữ cho quả tim của cơ sở không ngừng đập.
Năm phút sau, cửa kính bật mở. Mai Chi bước vào phòng, gương mặt rạng rỡ trở lại với nụ cười chuyên nghiệp.
“Bên em đồng ý phương án lô thử nghiệm 5.000 chai của chị Lan,” Mai Chi nói khi ngồi xuống ghế. “Tổng giá trị hợp đồng là 80.000.000 đồng. Tạm ứng 30% tương đương 24.000.000 đồng sẽ được bộ phận tài chính Nam Lộ chuyển khoản vào tài khoản chỉ định của Hải Thành trong vòng hai mươi bốn giờ sau khi hợp đồng hoàn tất thủ tục ký kết. Đổi lại, chị Lan phải cam kết đúng hạn nộp hồ sơ kiểm định Quatest và giao hàng sau hai mươi ngày kể từ khi có kết quả xét nghiệm đạt chuẩn.”
Mai Chi mở cặp tài liệu, rút ra bản hợp đồng đã được cô chuẩn bị sẵn mẫu dự phòng, nhanh chóng dùng bút sửa lại các thông số: số lượng 5.000 chai, giá trị 80.000.000 đồng, tiền cọc 24.000.000 đồng, kèm theo phụ lục kỹ thuật của Tín về việc truy xuất nguồn gốc gắn liền thùng ủ đơn lẻ.
“Bây giờ đến phần tư cách pháp lý,” Mai Chi nhìn Lan. “Hộ kinh doanh Hải Thành đứng tên bác Võ Văn Thành. Bác Thành hiện đang nằm viện, vậy hợp đồng này ai sẽ là người đại diện ký kết?”
Lan mở chiếc túi xách da sờn góc của mình, lấy ra một văn bản bằng giấy khổ A4 có đóng dấu đỏ chót của Văn phòng Công chứng Trần Hưng Đạo.
“Đây là Hợp đồng ủy quyền được lập hợp pháp tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Thuận, có sự chứng kiến của công chứng viên và bác sĩ điều trị,” Lan đưa tài liệu sang cho Mai Chi. “Phạm vi ủy quyền xác định rõ: tôi, Võ Ngọc Lan, được toàn quyền đại diện cho chủ hộ kinh doanh Võ Văn Thành trong việc ký kết các hợp đồng kinh tế, giao dịch thương mại và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh thường nhật của Hải Thành. Văn bản này tuyệt đối không bao gồm quyền định đoạt, chuyển nhượng hay thế chấp tài sản nhà đất của hộ kinh doanh.”
Mai Chi cầm bản công chứng lên đọc kỹ từng dòng, kiểm tra đối chiếu kỹ lưỡng con dấu nổi và chữ ký run rẩy nhưng rõ ràng của ông Võ Văn Thành, rồi gật đầu hài lòng, chuyển văn bản qua cho Tín lưu bản sao.
“Hồ sơ ủy quyền rất chuẩn xác,” Mai Chi nói. Cô đẩy hai bản hợp đồng kinh tế chính thức đã chỉnh sửa qua trước mặt Lan, kèm theo chiếc bút ký mạ vàng. “Mời chị Lan.”
Lan cầm cây bút. Ngón tay cô siết nhẹ thân kim loại trơn láng. Cô đọc lại từng điều khoản thêm một lần nữa: số lượng 5.000 chai; đơn giá 16.000 đồng; tạm ứng 24.000.000 đồng chuyển khoản trong 24 giờ; chế tài nghiệm thu dựa trên kết quả Quatest 3 cho thùng ủ chỉ định.
Cô đặt bút ký: *Người đại diện theo ủy quyền: Võ Ngọc Lan*. Nét chữ dứt khoát, mực đen ăn sâu vào thớ giấy trắng muốt.
Tiếng ngòi bút cào lên trang giấy đanh giòn, dội khẽ vào bốn bức vách kính cách âm. Khi Mai Chi đóng dấu giáp lai và thu lại một bản lưu, Lan nhìn vết mực đỏ tươi vừa hằn lên chữ ký của mình, cảm nhận rõ từng nhịp đập nơi thái dương đang đập dồn dập. Không có đường lùi nữa. Bản hợp đồng này vừa là một chiếc đòn bẩy tài chính tạm thời, vừa là một bản án treo lơ lửng nếu mẻ mắm của Hải Thành sai lệch dù chỉ nửa độ đạm trước máy móc của trung tâm giám định.
***
Đúng mười giờ sáng ngày hôm sau, khi Lan đang ngồi bên chiếc bàn làm việc cũ kỹ kê sát gian thùng ủ số 1 ở xưởng, chiếc điện thoại đặt trên mặt bàn gỗ bỗng rung lên liên hồi.
Không gian nhà xưởng buổi sáng oi bức và ngập ngụa mùi nồng đặc trưng của muối và đạm cá đang phơi mình qua những đợt gió chướng. Tiếng quạt trần ba cánh bằng sắt phía trên trần nhà quay cọt kẹt, mỗi vòng đảo lại phả xuống một luồng gió nóng ran pha lẫn hơi muối mằn mặn bám trên đầu ngón tay. Mặt bàn làm việc bằng gỗ tràm đã ngả màu nâu xỉn, loang lổ những vệt nước chượp khô từ nhiều năm trước mà ba cô chưa từng cạo đi.
Màn hình điện thoại sáng lên, thông báo biến động số dư từ ứng dụng ngân hàng nhảy ra rõ mồn một: *Tài khoản ...892 nhận +24.000.000 VND. Nội dung: Cong ty CP Ban le Nam Lo tam ung hop dong gia cong Bep Bo Bien lo 1.*
Lan nhìn chằm chằm vào những con số không tròn trĩnh. Lồng ngực cô khẽ thắt lại rồi từ từ dãn ra. Tiếng thở phào của Lan bật ra khe khẽ giữa tiếng quạt trần quay cọt kẹt trên đỉnh đầu.
Dòng tiền đã về. Dù chỉ là hai mươi bốn triệu đồng—một con số khiêm tốn so với hàng trăm triệu đồng công nợ đang bủa vây—nhưng đó là số tiền sạch, tiền thật do chính hoạt động thương mại mang lại, không phải tiền cô lén trích từ sổ tiết kiệm riêng hay tiền vay mượn tình nghĩa nơm nớp sợ mang ơn.
Những con số trên màn hình điện thoại vừa tắt đi thì thực tại nghiệt ngã lập tức ùa về. Lan kéo cuốn sổ tay bìa da màu đen lại gần, lật sang trang quản trị dòng tiền tuần thứ hai mà cô đã vạch sẵn từ đêm trước. Dòng tiền vừa chảy vào tài khoản không thể nằm yên lấy một giờ đồng hồ. Đối với một cơ sở sản xuất đang đứng bên bờ vực sụp đổ vì đứt gãy chuỗi cung ứng, mỗi đồng bạc đều phải được cắt đặt vào đúng vị trí của nó để bịt lại những lỗ rò nguy hiểm nhất. Với 24.000.000 đồng vừa nhận, cộng với số dư tiền mặt còn lại trong hòm sắt sau khi thu nợ sạp Chín Bảy và quán bà Sương, Lan bắt đầu thao tác phân bổ với kỷ luật nghiêm ngặt nhất.
Mục tiêu số một: Vỏ chai để giữ nguồn cung.
Bà Nguyễn Thị Quyên ở vựa ve chai và cung ứng bao bì đường Thủ Khoa Huân là một chủ nợ khét tiếng rắn mặt ở khu vực cảng cá. Nếu không có tiền cọc dằn túi, chuyến xe chở vỏ chai thủy tinh năm trăm mili-lít đạt chuẩn đóng chai tự động chắc chắn sẽ bị chuyển thẳng sang xưởng Ba Nhất bên Phú Hài. Mất vỏ chai đồng nghĩa với việc toàn bộ tiến độ hai mươi ngày giao hàng cho Nam Lộ sụp đổ ngay từ vạch xuất phát.
Lan không chần chừ, ngón tay lướt nhanh trên màn hình điện thoại để mở ứng dụng thanh toán trực tuyến. Cô nhập chính xác số tài khoản của bà Quyên, điền con số mười lăm triệu đồng kèm theo nội dung chuyển khoản rành rọt. Khi dòng lệnh báo giao dịch thành công hiện lên, Lan lập tức bấm số gọi cho bà Quyên.
Chuông reo đúng hai hồi thì đầu dây bên kia nhấc máy, giọng bà Quyên vẫn the thé và sắc lẹm như mọi bận, kèm theo tiếng xe tải bốc dỡ hàng ồn ào ở bãi kho:
“Sao đấy cô Lan? Đã xoay đủ tiền cọc vỏ chai chưa hay lại gọi xin khất? Tôi nói trước, các lò thủy tinh họ đang giục ghê lắm, không có tiền là chuyến xe chở 5.000 chai chiều thứ Hai tôi cho quay đầu sang giao cho xưởng Ba Nhất đấy nhé! Ở đây buôn có bạn bán có phường, tôi thương tình ông Thành nằm viện mới giữ chỗ cho cô đến sáng nay thôi đấy!”
“Dạ, cháu chào cô Quyên,” Lan giữ giọng bình tĩnh, chuyên nghiệp, không để sự căng thẳng lộ ra ngoài thanh âm. “Cháu không gọi để xin khất. Cháu vừa lập lệnh chuyển khoản cho cô thêm mười lăm triệu đồng tiền cọc vào tài khoản ngân hàng Sacombank của cô. Nội dung ghi rõ: Hải Thành cọc lô 5.000 vỏ chai thủy tinh tiêu chuẩn 500ml giao sáng thứ Hai.”
Đầu dây bên kia im bặt mất vài giây, dường như người đàn bà buôn bán sắc sảo bị bất ngờ trước sự sòng phẳng bất thường này. Tiếng bước chân lẹp xẹp của bà Quyên vang lên, tiếp đó là tiếng lạch cạch bấm điện thoại kiểm tra tin nhắn biến động số dư. Khi tiếng bíp thông báo tiền vào tài khoản vang lên qua ống nghe, giọng bà Quyên dịu hẳn đi, mang theo chút đon đả của dân buôn quen nhìn tiền mặt:
“À... ừ, tiền vào tài khoản rồi. Mười lăm triệu chẵn. Được rồi, cô nói được làm được thế là tôi ưng cái bụng. Sáng thứ Hai xe tải sẽ cập cổng sau xưởng đúng tám giờ sáng, giao đủ 5.000 vỏ kèm nắp nhôm màng co cho cô.”
“Dạ, cháu cảm ơn cô. Phiếu giao hàng và hóa đơn cô cho tài xế ký nhận đầy đủ giúp cháu nhé,” Lan dặn dò rồi ngắt máy.
Một mắt xích nguy cấp tạm thời được nối lại. Nguồn bao bì cho 5.000 chai đã được chốt giữ.
Mục tiêu số hai: Nhân công nhà thùng.
Đây là bài toán nhức nhối nhất, đè nặng lên tâm trí Lan suốt từ hôm cô đặt chân về lại Phan Thiết. Khoản nợ lương của mười bốn người thợ xưởng đang treo lơ lửng ở con số 45.000.000 đồng. Suốt mấy ngày qua, dù chú Bảy Hòa vẫn cặm cụi làm việc, không khí trong xưởng nặng trĩu sự bất an. Những ánh mắt dò xét, tiếng xì xào sau lưng và nguy cơ công nhân bãi công bỏ sang các xưởng lớn luôn chực chờ bùng nổ bất cứ lúc nào. Người thợ mắm vùng biển sống bằng đồng tiền công nhật; hết tiền chợ, hết tiền gạo là lòng dạ họ dao động. Nếu họ buông tay bỏ việc ngay trước ngày rút mắm kiểm định, thì dù có hợp đồng của Nam Lộ trong tay, Hải Thành cũng chỉ là một cái xác không hồn.
Lan cúi xuống, mở chiếc hòm sắt tây sơn màu xanh quân đội đặt nép dưới chân bàn. Chiếc chìa khóa sắt xoay một tiếng “cạch” khô khốc. Cô lấy ra xấp tiền mặt gom góp được từ các mối bán lẻ còn lại, kết hợp với phần tiền vừa chạy ra cây ATM rút từ tài khoản thanh toán cá nhân để bù vào, đếm đủ 22.500.000 đồng—đúng 50% kỳ lương đang bị chậm của toàn bộ thợ xưởng.
Từng cọc tiền polyme mệnh giá năm mươi ngàn, một trăm ngàn và hai trăm ngàn đồng được Lan vuốt phẳng phiu, xếp ngay ngắn thành mười bốn phần riêng biệt. Cô dùng kẹp giấy kẹp từng phần tiền vào bảng ký nhận lương theo giờ công thực tế mà Thảo vừa rà soát lại trong sổ chấm công. Mỗi phần tiền đều ghi rõ họ tên thợ, số công nhật tồn đọng, số tiền thực lĩnh đợt này và dòng cam kết ngày chi trả dứt điểm phần còn lại.
Lan đứng dậy, hít một hơi thật sâu để lấy lại sự vững vàng rồi bưng khay tiền bước ra ngoài sân xưởng.
Mùi chượp chín nồng nàn dưới cái nắng trưa hắt lên từ nền cát. Gió biển thổi thốc qua rặng dừa ngoài bờ rào, cuốn theo hơi mặn của muối hột và mùi ngai ngái của xác cá cơm than đang phân giải trong lòng gỗ. Dưới bóng râm rộng lớn của cây bàng cổ thụ giữa sân, mười bốn người thợ đang ngồi nghỉ giải lao sau ca làm việc buổi sáng. Họ ngồi bệt trên những phiến đá ong hoặc những chiếc ghế đẩu thấp bằng gỗ tạp, tay cầm những chiếc nón lá rách vành quạt phành phạch để xua bớt cái nóng hầm hập phả ra từ mái tôn nhà xưởng.
Chú Bảy Hòa ngồi tách biệt trên một khúc gỗ mù u kê sát gốc bàng, hai ống quần xắn cao để lộ đôi bắp chân gân guốc chằng chịt những vết sẹo do nước bổi ăn mòn qua hàng chục năm trong nghề. Ông đang cặm cụi dùng một con dao nhỏ gọt lại thanh nẹp gỗ của chiếc vồ nén chượp, từng mẩu dăm gỗ rơi lả tả xuống nền cát trắng.
“Chú Bảy, các anh chị ơi,” Lan cất tiếng gọi, giọng rõ ràng nhưng ấm áp, phá tan bầu không khí ngột ngạt giữa trưa. “Mọi người ghé qua bàn làm việc ký nhận tạm ứng lương giúp em với ạ.”
Những chiếc nón lá dừng quạt. Tiếng rì rầm to nhỏ bỗng chốc tắt ngấm. Mấy người thợ trẻ đang nằm tựa lưng vào gốc cây ngơ ngác ngồi thẳng dậy, nhìn nhau bằng ánh mắt nửa ngờ vực nửa ngạc nhiên. Họ đã nghe quá nhiều lời hứa hẹn trong hai tuần qua, từ lúc ông chủ Thành ngã quỵ bên thùng mắm đến khi xưởng bị các chủ nợ đến dán giấy đòi tiền. Chú Bảy Hòa buông con dao nhỏ xuống khúc gỗ, lấy hai bàn tay chai sạn phủi sạch lớp mùn cưa bám trên ống quần, lẳng lặng đứng dậy đi về phía bàn làm việc của Lan. Những người thợ khác cũng lục tục đứng lên, bước chân ngập ngừng nhưng ánh mắt đều dán chặt vào chiếc khay trên tay cô.
Khi Lan đặt khay tiền xuống mặt bàn gỗ tràm, những cọc tiền mặt xếp ngay ngắn cạnh danh sách có dán bảng tên từng người lộ ra dưới ánh sáng ban ngày. Nét mặt căng thẳng, u ám của người thợ cả giãn ra đôi chút, hàng lông mày rậm rạp khẽ nhíu lại như không tin vào mắt mình.
Lan đứng thẳng trước mặt mười bốn con người, ánh mắt cô nhìn lướt qua từng gương mặt sạm đen vì nắng gió và lo toan. Cô cất giọng, chân thành nhưng rành rọt từng lời:
“Thưa chú Bảy và các anh chị. Mấy ngày qua ba em nằm viện, dòng tiền của xưởng gặp nhiều trục trặc pháp lý nên việc thanh toán lương bị trễ hạn, khiến sinh hoạt của gia đình mọi người gặp khó khăn. Em biết mọi người rất lo lắng, và em thành thật xin lỗi vì đã để mọi người phải chịu cảnh thiếu thốn này. Hôm nay xưởng vừa ký được hợp đồng mới và nhận tiền tạm ứng, em xin phép thanh toán trước 50% lương cho từng người để mọi người lo trang trải việc nhà. 50% còn lại, em cam kết bằng văn bản sẽ chi trả dứt điểm vào đúng ngày rằm, khi mẻ hàng đầu tiên hoàn tất đóng chai.”
Một người thợ trung niên tên Tám Thao—người phụ trách kéo rút lù mắm suốt tám năm qua—nhìn chằm chằm vào cọc tiền có kẹp mẩu giấy ghi tên mình, bàn tay run run đưa lên gãi đầu, cười ngượng nghịu:
“Nói thiệt với cô Lan, mấy bữa nay ở nhà vợ tôi cứ cằn nhằn tiền học cho sắp nhỏ... Tiền chợ búa cũng phải đi mua thiếu ngoài tiệm tạp hóa đầu hẻm, nhục lắm cô ơi. Có khoản này về đưa bả là đỡ khổ rồi. Chứ tụi tui làm với chú Thành cả chục năm, biết tính chú đàng hoàng, thương thợ như con cháu. Tụi tui chỉ sợ chú ngã bệnh rồi cơ sở dẹp luôn thì tụi tui bơ vơ, cái tuổi này ra ngoài kiếm đâu ra chỗ làm mắm tử tế.”
“Xưởng không dẹp đâu anh Tám,” Lan cười nhẹ, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào anh ta. “Hải Thành sẽ tiếp tục làm, nhưng từ nay mọi việc chi trả sẽ có ngày giờ cụ thể, không để mọi người phải thấp tholm nữa. Giờ mời mọi người kiểm tiền và ký nhận vào bảng kê giúp em.”
Từng người thợ lần lượt bước lên chiếc bàn gỗ. Bàn tay họ thô ráp, nứt nẻ vì ngâm muối lâu năm, cẩn thận nhấc từng cọc tiền lên đếm lại rồi cầm cây bút bi ký ngoằn ngoèo hoặc điểm chỉ bằng mực đỏ vào ô ký nhận. Không khí căng thẳng, u uất tích tụ suốt nửa tháng qua dường như tan biến dần theo từng nét chữ ký. Những nụ cười hiếm hoi bắt đầu xuất hiện trên những khuôn mặt khắc khổ. Mấy người thợ trẻ bắt đầu bàn tán chuyện chiều nay ghé tiệm tạp hóa trả dứt tiền gạo, mua thêm cho con bịch sữa, gói bánh.
Chú Bảy Hòa là người nhận sau cùng. Ông bước đến trước bàn, nhìn cọc tiền lương của mình kẹp chung với tờ giấy cam kết chi trả kỳ hai. Bàn tay già nua đầy những vết đồi mồi của ông chạm vào cọc tiền, nhưng ông không vội đút vào túi áo. Ông ngẩng lên nhìn Lan thật lâu, ánh mắt đượm vẻ suy tư, phức tạp của một người thợ già đã gắn bó trọn đời với từng thớ gỗ mít, từng giọt mắm của dòng họ Võ.
“Con bé giỏi tính toán,” chú Bảy cất giọng khàn đặc, trầm đục như tiếng nước chảy trong lòng thùng ủ. “Nhưng con Lan này... mắm 5.000 chai giao cho bọn siêu thị đó, con tính lấy ở thùng nào? Thùng số mấy?”
Lan nhìn chú Bảy, nhớ lại yêu cầu khắt khe của Phạm Đức Tín về việc cô lập nguồn và kiểm tra Quatest:
“Con tính chọn thùng số 4 hoặc thùng số 6, hai thùng gỗ mít lớn nhất ở dãy trong cùng. Chú Bảy thấy thùng nào độ đạm ổn định hơn để mình mời người ta về niêm phong lấy mẫu?”
Chú Bảy Hòa khẽ giật mình một cái. Cơ mặt ông co rút lại trong tích tắc, ánh mắt lảng tránh nhìn ra dãy thùng ủ sẫm màu dưới mái tôn, bàn tay cầm xấp tiền lương siết lại một cách bất thường khiến góc tờ tiền polyme bị bẻ cong gập lại.
“Thùng... thùng số 4 để đó tính sau đi,” giọng chú Bảy ngập ngừng, âm sắc có phần lúng túng khác hẳn vẻ đạo mạo thường ngày của người thợ cả. “Muốn kiểm thì kiểm thùng số 6 hoặc số 8 trước. Để lát tao coi lại con chượp. Mấy thùng đó bữa trước tao thấy màu nước lên chưa đều, để tao coi lại cho chắc ăn.”
Nói đoạn, ông không đợi Lan hỏi thêm câu nào, vội vã nhét xấp tiền vào túi áo bà ba rồi quay lưng đi thẳng về phía góc xưởng. Dáng đi của ông tập tễnh vì chứng đau khớp tái phát dưới cái nắng chang chang, chiếc lưng còng gập xuống như đang mang vác một gánh nặng vô hình.
Lan đứng yên bên chiếc bàn gỗ, nhìn theo bóng lưng của người thợ cả cho đến khi ông khuất sau những thùng chượp khổng lồ bằng gỗ mít. Trong lòng cô dấy lên một cảm giác gợn nhẹ, một thoáng nghi ngại mơ hồ lướt qua tâm trí. Chú Bảy Hòa là người trực tiếp chăm sóc từng thùng chượp từ ngày ba cô còn khỏe, tính ông cẩn thận, nói năng chắc nịch, chưa bao giờ ấp úng hay lảng tránh khi nhắc đến chất lượng mắm của bất kỳ thùng nào trong xưởng. Tại sao lại là thùng số 4?
Tuy nhiên, áp lực công việc của buổi chiều cuốn phăng suy nghĩ ấy đi ngay lập tức. Lan phải hướng dẫn Thảo lưu trữ phiếu ký nhận lương, dọn dẹp lại khu vực chiết rót, kiểm tra nguồn điện và hệ thống nước lọc RO chuẩn bị cho ngày đón xe giao vỏ chai.
Chiều muộn, khi ánh hoàng hôn màu đỏ ối từ từ lặn xuống phía sau cồn cát Phú Hài, tiếng búa gõ nẹp thùng và tiếng máy bơm nước bổi đã tắt hẳn. Đội thợ đã lục tục ra về sau khi dọn dẹp sạch sẽ sàn xưởng. Không gian Hải Thành chìm vào một sự tĩnh lặng mênh mông, chỉ còn lại tiếng ve râm ran nơi tán bàng và tiếng sóng biển rì rào vọng lại từ bờ kè cách đó vài trăm mét.
Lan quay trở lại chiếc bàn làm việc cũ kỹ kê sát gian thùng ủ số 1. Cô bật công tắc điện. Ngọn đèn tuýp dài treo lơ lửng trên xà nhà chớp nháy hai hồi rồi tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, nhập nhèm, hắt bóng những cây cột gỗ to lớn xuống nền gạch tàu loang lổ.
Sau một ngày dài chạy đua giữa đàm phán hợp đồng, xoay xở chuyển khoản, xử lý nhà cung cấp và phân bổ lương thợ, cơ thể Lan đã rã rời. Các khớp ngón tay cô mỏi nhừ, bả vai căng cứng, nhưng đầu óc cô vẫn căng như dây đàn. Nghề kiểm toán đã rèn cho cô một thói quen cố hữu: mọi cảm xúc nhẹ nhõm chỉ là giả tạm nếu các con số trên sổ sách chưa thực sự khớp với hiện trạng thực tế.
Giai đoạn một của cuộc khủng hoảng đã tạm qua: tiền viện phí của ba đã nộp, tiền cọc vỏ chai của bà Quyên đã chuyển, lương thợ đã thanh toán một nửa để giữ chân người làm, hợp đồng gia công với Nam Lộ đã ký kết trong phạm vi ủy quyền hợp pháp.
Bây giờ là lúc phải chuẩn bị cho khâu nghiệm thu kỹ thuật. Để bàn giao hồ sơ truy xuất cho Phạm Đức Tín đúng hẹn, cô cần phải đưa toàn bộ số liệu tồn kho của hai mươi thùng chượp vào hệ thống số hóa. Nam Lộ yêu cầu truy xuất nguồn gốc đến từng lít mắm, và cô không thể bước vào buổi kiểm định Quatest với những mảnh giấy than rách nát hay những cuốn sổ ghi tay nguệch ngoạc của ba.
Lan mở chiếc máy tính xách tay của mình lên. Tiếng quạt tản nhiệt của máy kêu rè rè giữa gian phòng tĩnh mịch. Cô mở phần mềm quản lý kho đơn giản mà cô vừa tự tay lập trình trên nền tảng bảng tính dữ liệu trong hai đêm thức trắng ở hành lang bệnh viện.
Trên màn hình, cấu trúc bảng tính hiện ra mạch lạc: Cột A là mã định danh của hai mươi thùng gỗ (từ TH-01 đến TH-20); Cột B là dung tích thiết kế của từng thùng; Cột C là ngày vào muối và cá cơm than; Cột D là số tháng ủ chượp lũy kế; Cột E là tỷ lệ chuyển hóa đạm dự kiến; Cột F là số lít mắm cốt nhĩ theo lý thuyết; Cột G là lượng đã rút nén thương mại theo chứng từ xuất kho; và Cột H là tồn kho lý thuyết cuối kỳ.
Lan kéo chiếc đèn bàn lại gần, mở chiếc cặp da cũ kỹ của ông Thành. Bên trong là toàn bộ hệ thống lưu trữ sổ sách của Hải Thành trong ba năm qua: những cuốn sổ tay bìa cứng kẻ ô ly chép tay bằng mực Cửu Long màu xanh đã nhòe vì hơi ẩm, những tập hóa đơn bán lẻ viết tay bằng giấy than mỏng dính, và tập thẻ kho ép plastic ố vàng treo lủng lẳng đầu mỗi thùng mà cô đã thu thập lại.
Ngón tay Lan bắt đầu lướt thoăn thoắt trên bàn phím số. Tiếng gõ phím lách cách vang lên đều đặn, nhịp nhàng.
Cô cẩn thận nhập từng biến số: số lít mắm thành phẩm đã kéo rút theo sổ tay ghi chép bán hàng của ba năm ngoái, trừ đi số lượng bán lẻ cho các quán ăn như bà Sương, sạp Chín Bảy, các đại lý của Phan Quốc Lợi, và cộng dồn lượng mắm cốt đủ tuổi mười lăm tháng ghi nhận trên các thẻ kho giấy than cũ kỹ.
Cứ mỗi một dòng dữ liệu được nhập vào, các hàm toán học tự động nhảy số, cập nhật lượng hao hụt tự nhiên do bốc hơi và lượng nước bổi bão hòa muối rút hoàn lưu. Bảng tính dần dần lấp đầy các ô trống, các cột tổng hợp thành phẩm dần dần hiện lên màu xanh hy vọng.
Lan dừng lại, nhấp một ngụm trà nguội ngắt đã chát xít trong chiếc ca nhôm. Theo lý thuyết tính toán dựa trên toàn bộ chứng từ xuất nhập và sổ ghi mẻ ủ của ông Thành, lượng nước mắm cốt nhĩ đạt chuẩn từ $30^\circ\text{N}$ đến $35^\circ\text{N}$ hiện đang lưu trữ thực tế tại hai mươi thùng gỗ của Hải Thành phải đạt con số xấp xỉ mười lăm nghìn hai trăm lít.
Đây là con số nền tảng, là tài sản cốt lõi của Hải Thành để thế chấp niềm tin với các đối tác thương mại, là bảo chứng cho năng lực cung ứng lô hàng 5.000 chai của Nam Lộ và các hợp đồng kế tiếp.
Bây giờ là bước cuối cùng: đối chiếu tồn kho lý thuyết với số liệu đo đạc thực tế tại hiện trường.
Lan với tay lấy tập biên bản kiểm kê sơ bộ mà cô và Phúc vừa đi đo chiều cao cột nước mắm bằng thước đo thủ công vào sáng hôm qua. Chiếc thước gỗ bọc đồng dài hai mét rưỡi đã được nhúng sâu qua từng lỗ lù, từng mặt nẹp của toàn bộ hai mươi thùng gỗ để xác định chính xác chiều cao mực nước mắm thực tế trong lòng chượp. Phúc đã ghi chép cẩn thận từng centimet cột nước, còn cô áp dụng công thức hình nón cụt để quy đổi chiều cao mực chất lỏng ra thể tích thực tế của từng thùng gỗ mít vát đáy.
Lan bắt đầu gõ từng con số đo đạc thực tế từ biên bản của Phúc vào cột kiểm kê đối chiếu.
Thùng số 1: Tồn lý thuyết 850 lít, thực tế 842 lít. Độ lệch -8 lít. Nằm trong ngưỡng bay hơi cho phép.
Thùng số 2: Tồn lý thuyết 920 lít, thực tế 915 lít. Độ lệch -5 lít. Bình thường.
Thùng số 3: Tồn lý thuyết 780 lít, thực tế 770 lít. Độ lệch -10 lít. Bình thường.
Lan tiếp tục nhập đến dãy thùng giữa. Mọi thứ vẫn diễn ra trật tự, dung sai thể tích của các thùng đều dao động dưới 2%, hoàn toàn phù hợp với đặc thù bốc hơi tự nhiên của nhà thùng nhiệt đới.
Nhưng khi con trỏ chuột dừng lại ở dòng của thùng số 4 và các thùng phụ cận dãy trong, ngón tay Lan khựng lại trên bàn phím.
Cô nhìn vào số liệu đo đạc cột nước của thùng số 4 trên tờ giấy ghi chép của Phúc: chiều cao cột nước mắm chỉ đạt 0,65 mét, trong khi theo nhật ký ủ chượp của ba cô ghi chép cách đây hai tháng, thùng này phải đầy ít nhất 1,8 mét nước mắm cốt đang trong giai đoạn kéo rút đợt đầu.
Lan chớp mắt, ngỡ mình nhìn nhầm số liệu. Cô cầm tờ giấy lên sát bóng đèn tuýp, kiểm tra lại nét chữ của Phúc. Nét bút bi màu xanh viết rõ mồn một: *Thùng 4: Thước đo chạm đáy 2,2m - Mực mắm 0,65m - Màu cánh gián nhạt*.
Lan hít một hơi lạnh buốt, gõ con số đo đạc thực tế của thùng số 4 vào ô so sánh.
Màn hình máy tính nhấp nháy một nhịp. Bảng tính tự động chạy lại lệnh hiệu số, và một ô dữ liệu màu đỏ rực bất ngờ hiện lên ở góc phải dưới cùng, kèm theo một con số âm sắc lạnh:
**- 3.240 lít.**
Lan sững sờ. Mắt cô căng ra, nhìn trừng trừng vào dòng cảnh báo chênh lệch trên màn hình.
Không gian xung quanh dường như đông cứng lại. Tiếng quạt trần quay trên đỉnh đầu bỗng như nghẹn lại, chỉ còn tiếng tim cô đập thình thình nơi lồng ngực.
Âm 3.240 lít!
Làm sao có thể có một con số âm khổng lồ như vậy?
Lan lập tức lắc đầu, tự trấn an mình rằng đây chắc chắn là một lỗi kỹ thuật ngớ ngẩn nào đó. Có thể cô đã đặt sai công thức tính thể tích hình nón cụt? Hay cô đã nhầm lẫn giữa bán kính miệng thùng và bán kính đáy thùng? Hoặc có thể hàm SUM của cột xuất kho bị nhảy lệnh cộng dồn hai lần?
Cô lập tức kiểm tra lại các công thức, rà soát lại từng phép cộng trừ, kiểm tra dung tích chuẩn của từng thùng mười tấn, tám tấn. Ngón tay cô run rẩy lướt trên chuột cảm ứng, mở từng ô dữ liệu để soi từng biến số toán học. Nhưng không có bất kỳ lỗi hàm nào. Bảng tính hoàn toàn chuẩn xác. Từng dòng lệnh logic đều chạy mượt mà không một tì vết.
Lan buông chuột, lật tung tập chứng từ bán lẻ trên bàn. Cô kiểm tra lại toàn bộ hóa đơn xuất kho cho quán bà Sương: đúng 300 lít chia làm hai đợt. Sạp Chín Bảy: đúng 150 lít mắm loại hai. Các chuyến xe gom hàng của Phan Quốc Lợi: tất cả các phiếu cân xe và phiếu giao nhận đều khớp từng can hai mươi lít, có đủ chữ ký của tài xế và dấu mộc vuông của đại lý Lợi Phát.
Không có bất kỳ một lệnh xuất kho lớn nào được ghi nhận trong ba tháng qua.
Lan ngẩng đầu lên, nhìn qua khe cửa sổ kính mờ về phía gian thùng ủ tối om phía sau xưởng. Hàng cột gỗ mít sừng sững đứng im lìm như những bóng ma khổng lồ trong bóng đêm.
Nhưng số lượng nước mắm thành phẩm trên giấy tờ sổ sách của ba cô... lại đang vênh cao hơn lượng mắm thực tế nằm trong các thùng gỗ ngoài xưởng tới hơn ba nghìn lít!
Hơn ba ngàn lít mắm cốt nguyên chất—tương đương giá trị cả trăm triệu đồng, và cũng là nguồn sống duy nhất để chiết rót cho các đơn hàng—đã biến mất không dấu vết khỏi nhà thùng mà không hề có bất kỳ một dòng hóa đơn hay phiếu xuất kho nào ghi lại.
Hình ảnh chú Bảy Hòa ban trưa bất chợt hiện về rõ mồn một trong tâm trí Lan: bàn tay siết chặt xấp tiền lương đến cong gập, ánh mắt lảng tránh run rẩy, và câu nói ngập ngừng đầy bất thường: *“Thùng... thùng số 4 để đó tính sau đi... Muốn kiểm thì kiểm thùng số 6 hoặc số 8 trước...”*
Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng Lan, buốt nhói.
Hải Thành không chỉ đang đối mặt với nguy cơ phá sản vì nợ nần bên ngoài. Ngay trong lòng xưởng, ngay tại nơi thiêng liêng nhất của nghề làm mắm gia truyền, một lỗ rò đen tối và khủng khiếp hơn gấp bội đang âm thầm há miệng nuốt chửng tất cả.