Sổ cân ở cảng cá
Gió biển Phan Thiết rát mặt thổi qua bến cảng nồng mùi tanh tưởi, nơi những két cá cơm than tươi lấp lánh vừa được kéo lên boong tàu trong tiếng hò hét mặc cả xao động giữa sớm mai.
Hơi mặn chát quất thẳng vào da thịt, mang theo mùi dầu máy khét lẹt của hàng chục chiếc tàu cá vỏ gỗ đang chen chúc cập bờ Cồn Chà. Tiếng máy nổ xình xịch, tiếng ròng rọc sắt rít ken két khi cẩu những giỏ cá nặng trĩu từ khoang lạnh lên mép cầu cảng xi măng ướt sũng nhớt và vảy cá. Giữa khung cảnh hỗn loạn đặc quánh mùi lao động ấy, Lan siết chặt chiếc túi xách da bạc màu kẹp bên nách, bước đi cẩn trọng trên những bậc thềm trơn trượt bám đầy rong rêu. Đi ngay cạnh cô là chú Bảy Hòa, người khoác chiếc áo sơ mi bộ đội cũ đã ố vàng vì muối mặn, đôi mắt thợ già nheo lại quan sát từng cần cẩu cá với vẻ cảnh giác khắc khổ. Phía sau nửa bước, Phúc lầm lì xách theo chiếc kẹp tài liệu bằng nhựa cứng, bọng mắt thâm quầng và đôi môi mím chặt sau một đêm thức trắng trong bệnh viện tỉnh bên giường bệnh của mẹ.
Những con hẻm dẫn ra mép nước Cồn Chà giờ này ngập trong thứ bùn đất nhão nhoét trộn lẫn đá cây xay vụn và ruột cá phế phẩm. Tiếng còi xe tải đông lạnh bấm inh ỏi giành đường với những chiếc xe ba gác chở khay nhựa rỗng kêu lách cách. Mùi cá ươn, mùi nước rỉ từ các xe tải chở đá, mùi khói thuốc rê khét lẹt và hơi thở nồng nặc mùi rượu đế rẻ tiền của đám cửu vạn bến tàu cuộn lại thành một thứ không khí đặc quánh, bóp nghẹt lấy lồng ngực. Lan khẽ nuốt khan, vị mặn đắng đọng lại nơi đầu lưỡi. Bàn chân cô trong đôi giày búp bê đế thấp ngập ngừng trước những vũng nước đục ngầu nổi váng dầu ngũ sắc, nhưng nhìn bóng lưng rắn rỏi, phong sương của chú Bảy Hòa đang thoăn thoắt tiến về phía trước, cô lại bấm ngón chân xuống nền đá ướt, giữ cho nhịp bước không hề chậm lại.
Họ đến đây trước hai giờ chiều—thời hạn chót trong tối hậu thư hung hãn mà Huỳnh Văn Tư đã gầm lên qua điện thoại lúc trưa.
Từ xa, bên cạnh chiếc tàu đánh cá mang số hiệu BTh-92144 đang neo sát bờ đá, một người đàn ông trung niên vạm vỡ, nước da đen cháy như gỗ mun ngâm nước mặn, đang đứng dạng chân trên boong tàu chỉ tay năm ngón quát tháo đám bạn thuyền. Đó là Huỳnh Văn Tư. Chiếc áo thun ba lỗ sờn rách để lộ bờ vai lực lưỡng cuồn cuộn gân máu, những vết sẹo dài do cọ xát với dây cước và vỏ hà biển kéo chằng chịt trên bắp tay thô ráp. Khóe miệng ông ta ngậm chặt mẩu thuốc lá Cẩm Lệ đỏ quạch tàn tro, mắt ti hí đảo liên hồi giữa những toán thương lái vãng lai đang đứng lấp ló dưới mép bến.
Chiếc tàu BTh-92144 dập dềnh theo từng con sóng đục ngầu rác rưởi vỗ vào chân bờ kè. Tiếng máy bơm xả nước la-ve từ đáy tàu chảy xối xả ra mạn thuyền kêu ùng ục, kéo theo một vệt bọt vàng ệch hôi hám. Xung quanh mũi tàu, dăm bảy người bạn thuyền mình trần trùng trục, da bóng nhẫy mồ hôi và vảy cá, đang dùng xẻng xúc từng lớp đá vụn phủ trên mặt các khoang chứa để lộ ra những mảng cá cơm xám bạc lấp lánh dưới nắng trưa gay gắt.
Vừa nhác thấy bóng dáng Phúc và Lan bước xuống mép cầu tàu, ông Tư ném phắt mẩu thuốc lá xuống làn nước đục ngầu váng dầu, nhổ toẹt một bãi nước bọt rồi nhảy phóc từ mạn thuyền lên bờ kè xi măng. Đôi ủng cao su dẫm đánh bẹp một tiếng xuống vũng nước thải nhớp nhúa, bắn tung tóe lên gấu quần tây của Phúc.
“Sao? Đem đủ năm mươi triệu tiền mặt ra đây chưa thằng Phúc?” Tư mở miệng trước, giọng ông ta khàn đặc như tiếng sắt gỉ cọ vào đá mài, hoàn toàn phớt lờ sự có mặt của Lan và vẻ mặt nghiêm nghị của Bảy Hòa. “Tao nói trước, chuyến cá than này tàu bạn tao trúng luồng ngoài khơi Phú Quý, cá béo mập, mình dày cui. Mấy thằng lái của xưởng Ba Nhất dưới kia đang đứng chực cầm cọc tiền tươi chờ tao gật đầu kìa. Hải Thành các người không có tiền tươi thì dẹp qua một bên, đừng có làm mất công mất buổi của tao!”
Mấy người bạn thuyền trên mui tàu nghe tiếng chủ ghe quát tháo cũng đồng loạt dừng tay xúc đá, chống xẻng nhìn lên bờ kè với ánh mắt soi mói, lầm lì. Không khí bỗng chốc ngột ngạt như thể sắp có một trận ẩu đả nổ ra giữa bến cá trơ trọi nắng.
Phúc siết chặt hai nắm tay, máu nóng dồn lên mặt khiến hai thái dương giật phập phồng: “Chú Tư! Ba cháu mới đột quỵ nằm liệt giường, trưa nay mẹ cháu lại ngất xỉu cấp cứu ngoài bệnh viện tỉnh, chú ép người vừa vừa thôi chứ! Mấy năm nay xưởng Hải Thành có bao giờ quỵt chú một cắc nào đâu mà chú gọi điện chửi bới dọa xả hàng cho Ba Nhất?”
“Mày đừng có đem chuyện nhà ra đây khóc lóc!” Tư trợn trừng mắt, bước dấn lên một bước, cái bụng phệ rung lên bần bật dưới lớp áo thun mỏng tang. “Làm ăn ngoài bến bãi này chỉ nói chuyện bằng tiền tươi thóc thật! Ba mày ngã bệnh thì xưởng mày đứt nguồn tiền, tao nuôi cả chục miệng bạn thuyền, tiền dầu tiền đá đổ vào tàu ai gánh cho tao? Tao bảo năm mươi triệu là năm mươi triệu, thiếu một ngàn tao cũng không nhả một con cá nào vào thùng xe của mày!”
Tiếng quát tháo của Tư lập tức thu hút ánh nhìn tò mò của những người gánh cá thuê và mấy tay cò lái quanh vùng. Vài gã đàn ông đội nón lá rách rưới đứng dừng lại, chụm đầu xì xào chỉ trỏ về phía ba người nhà xưởng Hải Thành. Sự sỉ nhục công khai ấy giáng mạnh vào lòng tự ái của Phúc, khiến chàng trai trẻ run bắn người, các khớp ngón tay trắng bệch vì bặm chặt vào mép chiếc kẹp tài liệu.
“Chú Tư, bình tĩnh lại đã.”
Lan bước lên chắn giữa Phúc và người đàn ông bặm trợn. Giọng cô không hề run rẩy, cao vừa đủ để át tiếng sóng và tiếng máy nổ xung quanh, mang theo sự lạnh lùng chuẩn mực của một kiểm toán viên đã quen đối mặt với những cuộc cãi vã trong phòng họp. Cô nhìn thẳng vào đôi mắt vằn đỏ vì thiếu ngủ và men rượu của Tư, ánh mắt phẳng lặng không một gợn sóng sợ hãi.
“Cháu là Lan, con gái lớn của ba Thành. Hiện tại cháu thay ba chịu trách nhiệm toàn bộ việc đối soát công nợ và vận hành Hải Thành. Chúng ta đứng đây không phải để cãi nhau xem ai khổ hơn ai. Cháu đến để nói chuyện số liệu.”
Tư nheo mắt nhìn Lan từ đầu đến chân, khóe miệng giật giật tia cười khẩy, để lộ hàm răng ám khói thuốc vàng khè: “À, cô kế toán Sài Gòn về thay quyền à? Được thôi, nói chuyện số liệu thì lấy tiền ra đây. Ba cô trước khi ngã xuống có ứng của tao bao nhiêu, nợ bao nhiêu, đưa tiền mặt đây rồi tính tiếp.”
“Chú nhầm rồi chú Tư,” Lan bình thản mở chiếc túi xách da, rút ra tập giấy tờ được kẹp phẳng phiu, bên trên là bản trích lục có chữ ký của mẹ cô và bản sao cuốn sổ tay ghi chép của ông Thành. “Không phải xưởng Hải Thành nợ chú, mà là chú đang giữ tròn bốn mươi triệu đồng tiền mặt do ba cháu tạm ứng từ đầu tháng trước.”
Bầu không khí trên mép cầu cảng bỗng chùng xuống trong tíc tắc. Tiếng gió biển rít qua khe hở giữa hai chiếc thuyền gỗ nghe buốt lạnh, mang theo vị mặn nồng gắt của bãi bùn rười rượi nắng trưa.
Khóe mắt Tư giật mạnh. Ông ta lùi lại nửa bước, ánh mắt đảo nhanh sang mạn thuyền nơi đám bạn thuyền đang ngóng cổ nhìn lên, rồi lại trừng trừng nhìn vào tập giấy trên tay Lan.
“Cô... cô nói cái giống gì vậy? Ai nợ ai?” Tư gằn giọng, cố giữ vẻ hung hăng nhưng âm lượng đã giảm hẳn một nửa, ngón chân bấm chặt xuống lớp xi măng sứt mẻ. “Ba cô đưa tiền cọc để giữ cá thì đó là tiền giữ tàu, giữ ghe! Mùa này cá khan, có tiền cọc người ta mới chạy ghe ra khơi cho các người chứ!”
“Ba cháu tạm ứng cho chú bốn mươi triệu đồng theo hai đợt: đợt một hai mươi lăm triệu ngày mùng ba, đợt hai mười lăm triệu ngày mười hai,” Lan rành rọt từng chữ, giọng cô đanh lại, từng mốc thời gian rơi xuống khô khốc như những giọt nước nhỏ trên phiến đá nung. “Mục đích ứng tiền là để bao tiêu toàn bộ cá cơm than đạt chuẩn làm mắm cho cơ sở Hải Thành trong đợt cá nam. Nhưng từ đó đến nay, xưởng mới chỉ nhận được đúng ba chuyến cá nhỏ. Bây giờ mời chú lấy sổ cân của chú ra đây, chúng ta đối chiếu ba mặt một lời ngay tại bến này.”
Chú Bảy Hòa lúc này bước lên một bước, đôi bàn tay gân guốc thô ráp chắp sau lưng, ánh mắt đăm đăm nhìn thẳng vào mặt Tư: “Chú Tư à. Tôi với anh Thành làm mắm với chú mười mấy năm nay rồi. Cá về xưởng thế nào, qua tay tôi cân, tôi kiểm muối từng thùng chượp. Chú đừng có nạt nộ con bé. Lấy sổ cân ra đây, có đúng có sai ta nói chuyện cho phân minh.”
Trước ánh nhìn nghiêm nghị của người thợ cả già—người mà bất cứ đầu nậu cá nào ở bến Cồn Chà cũng phải nể vài phần vì thâm niên trong nghề—vẻ hung hăng của Huỳnh Văn Tư xẹp xuống thấy rõ. Ông ta đưa tay quệt ngang sống mũi, hậm hực chửi thề một tiếng trong họng, lầu bầu mấy câu vô nghĩa rồi thọc bàn tay lông lá vào túi chiếc quần đùi rộng thùng thình, lôi ra một cuốn sổ tay nhỏ nát bươm.
Đó là cuốn sổ cân cá khổ A5, bìa bọc nylon đã rách tả tơi, mép giấy quăn queo và ố vàng vì nước biển cùng những vệt mỡ cá khô đét đóng thành từng mảng đen sì. Mùi ẩm mốc hòa lẫn mùi tanh nồng bốc lên ngùn ngụt từ những trang giấy dày cộm. Tư giở phành phạch từng trang giấy lem luốc những nét mực bút bi xanh đỏ chằng chịt, ngón tay cái to bè bè dính đầy vảy cá khô di di trên mặt giấy rồi chìa ra trước mặt Lan, điệu bộ vừa phòng thủ vừa bực dọc.
“Đây! Nhìn đi! Tao có giấu giếm cái gì đâu mà bảo tao quỵt!”
Lan đón lấy cuốn sổ, không hề tỏ ra ngần ngại trước mùi tanh bốc lên từ từng mép giấy bết dính. Cô đặt tập hồ sơ lên một góc thùng xốp úp ngược gần mép cảng, lấy chiếc bút bi từ túi áo ngực, bắt đầu đối chiếu từng dòng mực nhòe nhoẹt trong sổ cân của Tư với bảng kê chi tiết mà cô đã cặm cụi lập lại cùng Thảo đêm qua dưới ánh đèn mờ.
Phúc bước lại gần, che nắng cho chị gái, ánh mắt căng thẳng dõi theo từng nét bút vạch trên mặt giấy. Xung quanh họ, tiếng búa gõ rỉ sét từ một xưởng sửa tàu xa xa nhịp đều đặn vào khoảng không oi bức.
Từng con số bắt đầu hiện hình rõ mồn một dưới ánh nắng gay gắt rọi xuống bến cảng.
Chuyến thứ nhất: ngày 6 tháng trước, tàu BTh-92144 cập cảng lúc năm giờ sáng, giao 1,2 tấn cá cơm than, đơn giá mười bốn ngàn đồng một ký, thành tiền mười sáu triệu tám trăm ngàn đồng. Phiếu nhận xưởng mang số hiệu 04 do Phúc trực tiếp ký nhận tại cổng kho muối.
Chuyến thứ hai: ngày 15 tháng trước, một ghe nhỏ phụ tải của Tư giao 800 ký cá cơm sọc tiêu, đơn giá mười hai ngàn đồng một ký, thành tiền chín triệu sáu trăm ngàn đồng. Phiếu giao nhận có chữ ký xác nhận độ tươi của chú Bảy Hòa.
Chuyến thứ ba: ngày 22 tháng trước, giao vỏn vẹn 450 ký cá tạp dạt gom từ các thuyền câu gần bờ, đơn giá mười ngàn đồng, thành tiền bốn triệu năm trăm ngàn đồng.
Lan dừng bút, gõ nhẹ đầu ngón tay thanh mảnh lên mặt giấy sờn mép: “Tổng cộng ba chuyến cá mà chú đã giao cho xưởng Hải Thành có giá trị trên giấy tờ là ba mươi triệu chín trăm ngàn đồng. Nhưng trong chuyến thứ ba, bốn trăm năm mươi ký cá tạp dạt đó đã bị chú Bảy Hòa lập biên bản loại ra mất một trăm ký ngay tại bàn cân vì cá ươn thối, bể bụng không thể chượp mắm. Thực tế xưởng chỉ nhập ba trăm năm mươi ký, trừ đi đúng một triệu đồng. Chú Bảy còn giữ cuống phiếu phạt trừ tiền, chú có muốn xem lại không?”
Bảy Hòa khẽ gật đầu, móc từ túi áo ngực ra một mẩu giấy nhỏ ố vàng kẹp trong bao thuốc lá, giơ lên trước mặt Tư: “Chính tay tôi ký trừ đợt đó. Hôm ấy cá dạt phơi nắng từ trưa hôm trước, ruột lòi ra hết cả, đổ muối vào chỉ có nước sinh dòi chứ ủ mắm nỗi gì. Chú Tư đừng bảo là chú quên.”
Mặt Tư giật giật, môi mím chặt không cãi được nửa lời.
Lan tiếp tục, giọng cô đều đặn, rành mạch và lạnh lùng như nhịp gõ của kim đồng hồ: “Như vậy, tổng giá trị cá thực tế xưởng nhận từ đầu tháng trước đến nay chỉ là hai mươi chín triệu chín trăm ngàn đồng. Ba cháu ứng trước cho chú bốn mươi triệu đồng tiền mặt có biên nhận ký tên chú đàng hoàng. Lấy bốn mươi triệu trừ đi hai mươi chín triệu chín trăm ngàn, chú Tư hiện tại vẫn đang chiếm dụng của xưởng Hải Thành đúng mười triệu một trăm ngàn đồng tiền ứng chưa hoàn trả bằng nguyên liệu. Vậy mà trưa nay, chú gọi điện đòi thằng Phúc phải nộp thêm năm mươi triệu tiền mặt, dọa xả hàng cho Ba Nhất nếu không đưa tiền. Chú Tư, chú giải thích thế nào về khoản tiền mười triệu một trăm ngàn này?”
Mặt Huỳnh Văn Tư chuyển từ đỏ gay sang xám ngoét. Dưới cái nắng chang chang của bến Cồn Chà, những giọt mồ hôi đục ngầu thi nhau túa ra từ trán ông ta, lăn dài qua gò má nám đen rồi rỏ tong tỏng xuống chiếc áo thun cáu bẩn. Đám thợ bạn thuyền trên boong tàu bắt đầu xì xào bàn tán lớn tiếng hơn, vài người buông cần cẩu cá xuống, đưa mắt nhìn nhau đầy e ngại và thất vọng. Những tay buôn cá đứng hóng chuyện quanh mép cầu cảng cũng bắt đầu cười khẩy, chỉ trỏ.
Tư ấp úng, cánh tay gân guốc quệt mạnh mồ hôi đang chảy vào khóe mắt, giọng nghẹn lại: “Cái đó... cái đó là tính chuyến trước! Còn chuyến năm tấn này là tao phải bỏ tiền dầu, tiền đá ra kéo từ tận ngoài bãi rạn về... Tụi bạn thuyền nó đòi chia tiền công tươi, tao không có tiền mặt dằn túi tụi nó thì tụi nó dỡ đồ bỏ ghe đi hết!”
“Khoan hãy nói đến chuyến năm tấn hôm nay,” Lan cắt ngang, không để cho đối phương có cơ hội đánh bùn sang ao hay đổi hướng cuộc tranh luận. “Hôm nay chú ép Phúc trả dứt điểm tiền cá chuyến trước thì mới cho dỡ hàng. Chuyến trước nào nữa khi chính chú mới là người đang cầm tiền tạm ứng của chúng cháu mà chưa trả đủ hàng? Số tiền mười triệu một trăm ngàn đồng tiền ứng còn dư đó, chú đã dùng vào việc gì mà không giao cá cho Hải Thành suốt nửa tháng qua?”
Phúc đứng bên cạnh trừng mắt nhìn Tư, lồng ngực phập phồng dữ dội: “Chú Tư! Có phải chú đem tiền ứng của ba cháu đi làm việc khác không? Chú nói rõ ra xem nào! Tiền mồ hôi nước mắt của ba cháu tích cóp để giữ mối cá, chú cầm đi đâu?”
Bị dồn vào chân tường trước những con số rành mạch không thể chối cãi, lại chịu ánh mắt soi mói của đám bạn thuyền cùng cái nhìn thấu tận tâm can của chú Bảy Hòa, sự hung bạo giả tạo của Tư hoàn toàn sụp đổ. Đôi vai vạm vỡ của người đàn ông miền biển chùng xuống, hai bàn tay thô ráp buông thõng bên hông, giọng nói mất hẳn vẻ hống hách ban nãy:
“Thôi... cô Lan, cậu Phúc... chuyện ngoài biển khơi, mấy người ở trên bờ làm sao hiểu hết được...” Tư hạ giọng, ngó quanh quất rồi kéo Lan và chú Bảy Hòa tránh xa đám thợ một quãng, nép vào bóng râm của một đống lưới cũ rách, giọng đầy vẻ lúng túng và bế tắc. “Tháng trước... ghe của thằng Năm Hùng—chiếc ghe bạn đi cặp lưới quét với tàu tao—bị sóng lừng đánh gãy bánh lái, đâm sầm vào bãi đá ngầm Hòn Hải lúc nửa đêm. May mà người vớt lên kịp không chết ai, nhưng mất trắng cả giàn lưới tiền tỉ, lại thêm hai đứa bạn thuyền bị gãy xương sườn phải đưa vào viện đa khoa nằm cả tuần lễ. Tao là chủ tổ đội thu mua, tao đứng mũi chịu sào, tao không móc tiền túi ra đền tiền dầu, tiền cọc với tiền thuốc men cho gia đình tụi nó thì ai đứng ra? Tao kẹt quá... mới dám tự ý trích bớt khoản tiền ứng mười mấy triệu của anh Thành để đắp vào cứu chiếc tàu đó...”
Tư vò đầu bứt tai, gương mặt đen cháy hằn sâu những nếp nhăn nhọc nhằn, cay đắng của kiếp người ăn sóng nói gió: “Tao tính chuyến này trúng luồng cá lớn ngoài rạn kéo về bến, tao giao cá bù lại ngay cho Hải Thành là êm đẹp. Nhưng ngặt nỗi ba cô đổ bệnh thình lình, tao nghe đồn ngoài chợ cá là xưởng sắp vỡ nợ đóng cửa, ngân hàng với chủ nợ ngoài Phan Thiết kéo đến xiết nhà xưởng... Tao sợ xưởng sập thì số tiền tao còn nợ cá cũng chẳng ai ghi nhận, mà tao thì kẹt tiền trả bạn thuyền hôm nay nên tao mới... tao mới làm liều nói cứng như vậy để ép lấy tiền mặt xoay sở...”
“Chú làm ăn kiểu đó mà coi được à Tư?” Chú Bảy Hòa lắc đầu, giọng trầm xuống đầy thất vọng, đôi mắt đục mờ hằn lên nỗi xót xa. “Anh Thành tin tưởng chú, coi chú như anh em bạn biển, đưa tiền mặt tận tay không cần biên nhận công chứng, chỉ để chú yên tâm giữ bạn tàu cho Hải Thành. Chú kẹt thì chú phải nói một tiếng cho đàng hoàng, anh Thành có bao giờ cạn tàu ráo máng với ai đâu! Đằng này chú ỉm đi rồi quay sang dọa bán tháo cá cho Ba Nhất để ép hai đứa nhỏ? Anh Thành mà nghe được chuyện này, chắc ông ấy tăng xông mà chết mất!”
“Tôi biết tôi sai rồi chú Bảy ơi!” Tư chắp hai tay trước ngực, giọng run run vẻ van nài, không còn chút nào dáng vẻ hung tợn lúc mới nhảy từ tàu lên. “Nhưng chiếc tàu năm tấn này tao nợ tiền đá cây với tiền dầu của đại lý cảng ba mươi triệu chiều nay phải thanh toán dứt điểm. Tụi nó đang chực ngoài kia, tao không trả tụi nó không cho bơm dầu đi chuyến mới. Tao hứa, số tiền mười triệu nợ cũ tao sẽ trả dần bằng cá trong mùa nam tới, không thiếu một cân nào của Hải Thành hết! Xin cô Lan, chú Bảy thương tình mở cho tao một con đường!”
Lan lắng nghe từng lời trần tình của Tư, đầu óc cô vận hành với tốc độ tối đa của một người làm quản trị tài chính.
Cô không hề bất ngờ trước câu chuyện này. Trong suốt những ngày qua, khi lật giở từng trang sổ nợ viết tay lem luốc của ba, cô đã gặp quá nhiều trường hợp tương tự: những thỏa thuận miệng dựa trên cái tình cái nghĩa, sự tin cậy cảm tính không có ràng buộc pháp lý, tiền bạc công tư lẫn lộn giữa vốn kinh doanh và tình làng nghĩa xóm. Tư không phải kẻ lừa đảo chuyên nghiệp định ôm tiền bỏ trốn; ông ta chỉ là một mắt xích điển hình trong chuỗi cung ứng truyền thống ven biển—nơi mà rủi ro thiên tai rình rập và áp lực sinh tồn khắc nghiệt thường xuyên xé toạc các cam kết kinh tế mong manh.
Thế nhưng, sự cảm thông đạo đức tuyệt đối không thể thay thế cho dòng tiền thực tế. Quỹ tiền mặt của xưởng hiện chỉ còn hơn bốn mươi triệu đồng, viện phí của ba và mẹ đang treo lơ lửng trên đầu từng ngày, tiền điện ba pha và lương tháng của mười bốn người thợ già chưa biết lấy đâu ra bù đắp. Hải Thành lúc này đang đứng bên bờ vực phá sản; xưởng tuyệt đối không thể bỏ ra thêm một đồng tiền mặt nào để gánh vác rủi ro cho người khác.
Thấy Lan đứng trầm ngâm hồi lâu không nói, Tư tưởng cô gái trẻ đã bắt đầu mủi lòng trước hoàn cảnh bi đát của mình. Đôi mắt ti hí của ông ta bỗng sáng lên tia hy vọng, như người sắp chết đuối vớ được cọc.
Tư xoay phắt người, bước nhanh thoăn thoắt về phía khoang lái tàu BTh-92144, chỉ tay vào mấy két nhựa màu vàng xếp chồng chất ở góc mạn thuyền ngay sát ống khói xả dầu: “Đây nè! Cô Lan, chú Bảy! Trên boong tao còn dư mười lăm két cá cơm than này, chừng gần bốn tạ. Cá này bạn thuyền tao mới kéo lên hồi sáng sớm, tao tính để lại đem ra chợ bán lẻ kiếm chút đỉnh. Bây giờ tao giao đứt mười lăm két này cho Hải Thành, cấn trừ sạch bách khoản nợ mười triệu mốt tiền ứng kia luôn! Xem như tao với xưởng huề nợ chuyến cũ ngay tại chỗ, được không? Coi như tao chịu thiệt một chút để giữ trọn cái tình với anh Thành!”
Phúc nghe Tư nói vậy thì mắt sáng rực lên. Cậu sốt ruột muốn giải quyết xong món nợ lằng nhằng này để xưởng có nguyên liệu chạy tiếp, lại thấy đối phương tự nguyện trừ nợ, liền bước tới kéo tay Lan: “Chị Hai, bốn tạ cá than này cấn trừ mười triệu là tính ra giá hời đó! Tính ra chỉ có hai mươi lăm ngàn một ký, rẻ hơn giá chợ hôm nay cả ngàn. Hay mình lấy luôn mười lăm két này đi để chốt nợ cho xong, rồi tính tiếp chuyến năm tấn kia?”
Lan chưa kịp mở miệng đáp lời thì chú Bảy Hòa đã sải bước thật nhanh tới mép thuyền. Gương mặt người thợ cả già tối sầm lại.
Không cần thang gỗ, chú Bảy vịn tay vào mạn thuyền, nhảy phóc lên boong tàu một cách gọn gàng đến bất ngờ so với cái tuổi lục tuần của mình. Chú tiến thẳng đến góc mạn thuyền, nơi mười lăm két nhựa vàng đang phơi mình trần trụi dưới cái nắng hầm hập của buổi trưa, hơi nóng từ ống xả dầu máy vẫn còn phả ra hâm hấp.
Người thợ cả già cúi gập người xuống, bàn tay trần chai sạn thọc sâu vào giữa lớp cá trong chiếc két nhựa trên cùng. Ông bốc lên một nắm cá cơm, từ từ xòe bàn tay ra dưới ánh nắng chói chang.
Mặt chú Bảy Hòa lập tức đanh lại, đôi lông mày bạc rậm rạp cau chặt lại thành một đường rãnh sâu hoắm giữa trán, hai cánh mũi phập phồng vì cơn giận đang bốc lên.
Đó hoàn toàn không phải là những con cá cơm than tươi xanh óng ánh với lườn cá ánh bạc lấp lánh như lớp cá vừa cẩu dưới khoang lạnh sâu. Lớp cá trên tay chú Bảy mắt đã đục ngầu như mắt cá ươn lâu ngày, mang cá không còn màu đỏ tươi mà chuyển sang màu nâu xám bầm dập, nhớp nhúa. Thân cá mềm nhũn, mất hẳn độ đàn hồi tự nhiên. Khi chú Bảy khẽ dùng ngón tay cái ấn nhẹ vào lườn cá, phần bụng cá lập tức vỡ toác ra, để lại một lớp chất nhầy dinh dính màu xám xịt cùng mùi tanh nồng chua loét bốc lên nặc nồng giữa không khí oi ả.
“Tư! Mày định đầu độc xưởng Hải Thành đấy à?”
Tiếng quát của chú Bảy Hòa vang lên đanh thép như sấm sét giữa ban ngày, khiến mấy người bạn thuyền đang lúi húi dọn đá gần đó giật bắn mình, đánh rơi cả xẻng xuống sàn tàu kêu *choang* một tiếng chát chúa. Chú ném mạnh nắm cá nhầy nhụa trở lại két nhựa, rút phắt chiếc khăn rằn vắt trên vai lau mạnh tay với vẻ ghê tởm tột cùng, ngực thở phập phồng vì phẫn nộ.
Tư giật mình lùi lại một bước, mặt cắt không còn hạt máu, ấp úng chữa thẹn: “Chú Bảy... cá... cá muối đá hơi non một chút thôi mà! Cá cơm than mùa này béo ngậy, làm mắm chượp muối mặn vào là thịt nó săn lại hết chứ có sao đâu... Mấy xưởng nhỏ quanh vùng người ta vẫn mua loại này về ủ mắm cá tạp đấy thôi...”
“Mày câm cái mồm mày lại!” Chú Bảy Hòa chỉ thẳng ngón tay run run vì giận dữ vào mặt Tư, giọng run lên bần bật. “Mày làm nghề biển bao nhiêu năm mà mày dám mở mồm bảo cá này chượp muối là săn? Mày tưởng tao mù hay tao điếc? Cá này là cá ươn tồn từ mẻ lưới hôm qua, mày để góc mạn thuyền phơi nắng trọn một ngày, lại hứng trọn hơi nóng sấy từ ống khói máy tàu phả ra, nội tạng bên trong đã thối rữa, phân hủy sinh khí gas trương phình lên rồi! Mày có biết một sọt cá ươn như thế này mà đổ vào thùng chượp gỗ mười tấn cá muối thì hậu quả là cái gì không?”
Chú Bảy quay phắt sang nhìn Lan và Phúc, ánh mắt quắc lên ngọn lửa của sự tự trọng nghề nghiệp bị xúc phạm nặng nề: “Cô Lan, cậu Phúc nghe tôi nói cho kỹ đây! Nghề làm nước mắm truyền thống của dòng họ Võ này ba đời nay sống được, giữ được cái tiếng thơm ở đất Phan Thiết này là nhờ con cá cơm than tươi rói, mắt trong veo, da óng ánh, ruột sạch không một hạt cát, không dập nát! Con cá tươi vừa kéo từ biển lên ướp muối ngay thì men vi sinh tự nhiên trong gan và ruột nó mới phân giải thịt cá thành đạm tốt, nước mắm rút ra sau mười hai tháng mới có màu cánh gián trong vắt, mùi thơm dịu ngọt hậu sâu thấu cổ họng!”
Người thợ cả già chỉ tay vào mấy két cá vàng, từng lời thốt ra như đay nghiến: “Còn cái thứ cá ươn mắt đục, ruột thối rữa này mà đổ vào thùng, vi khuẩn thối rữa gây hại nó bùng phát trước khi hạt muối kịp ngấm vào thớ thịt! Nó sẽ làm chua chát cả mẻ cá, sinh ra mùi thối khắm của xác chết phân hủy, làm đen kịt nước mắm và làm mục ruỗng, thối rữa hỏng cả cái thùng gỗ bời lời trị giá hàng trăm triệu bạc! Cả mẻ mắm mười tấn tích cóp cả năm trời sẽ biến thành một đống nước thải thối hoắc, phải đổ bỏ hết xuống cống!”
Chú Bảy quay lại trừng trừng nhìn Tư, ánh mắt sắc như dao cạo: “Hải Thành có thể túng tiền, thợ chúng tôi có thể nhịn đói chậm lương vài ngày, nhưng tuyệt đối không bao giờ rước cái thứ rác rưởi này về đổ vào nhà thùng! Chú muốn cấn nợ bằng cái thứ cá chết trôi chết nổi này thì dẹp ngay cái trò đó đi! Tôi—Bảy Hòa này—còn đứng ở xưởng ủ Hải Thành một ngày, thì một con cá ươn của chú cũng đừng hòng bước qua cổng xưởng!”
Không gian trên boong tàu BTh-92144 im phăng phắc. Tiếng sóng vỗ bì bọp vào mạn thuyền và tiếng gió rít qua giàn cẩu như đặc lại.
Lời nói đanh thép, đầy uy lực và không khoan nhượng của người thợ cả khiến Huỳnh Văn Tư câm nín hoàn toàn. Gã chủ ghe cúi gằm mặt xuống sàn gỗ ướt nhẹp, hai tai đỏ bừng vì xấu hổ trước mặt đám bạn thuyền. Phúc đứng chôn chân tại mép bến, nuốt khan một ngụm nước bọt cay đắng. Lưng cậu lạnh toát mồ hôi khi nhận ra suýt chút nữa, vì sự nôn nóng thiển cận và lòng tham giảm nợ nhất thời, cậu đã rước một mầm mống hủy diệt về đổ vào cơ nghiệp cả đời của cha mẹ.
Lan nhìn nắm cá nát nhầy nhụa dưới đáy két đang bắt đầu bốc mùi chua nồng, rồi ngước nhìn dáng đứng sừng sững của chú Bảy Hòa giữa boong tàu. Trong lòng cô dâng lên một niềm kính phục sâu sắc.
Đây chính là lằn ranh mong manh nhưng thiêng liêng nhất giữa sự sống còn của một nhà thùng truyền thống và sự suy đồi của thói làm ăn chộp giật. Người thợ cả già ấy có thể không hiểu về bảng cân đối kế toán, không biết đến các thuật ngữ tối ưu hóa dòng tiền hay vòng quay vốn lưu động, nhưng ông nắm giữ linh hồn và danh dự của sản phẩm. Nếu không có chú Bảy Hòa đứng ra chặn đứng sự gian dối này, mọi phép tính tài chính tinh vi của cô hay sự nôn nóng của Phúc sẽ chỉ dẫn thẳng xưởng Hải Thành đến bờ vực diệt vong về chất lượng.
Lan hít sâu một hơi gió biển mặn chát, bước lại gần chiếc bàn gỗ kê tạm của trạm cân cảng cá—nơi người ta thường dùng để ghi sổ bộ cho các chuyến tàu cập bến. Cô đặt kẹp hồ sơ ngay ngắn xuống mặt bàn gỗ xù xì bám đầy vảy cá khô, rút chiếc bút bi bấm tách một tiếng dứt khoát.
“Chú Tư, bước qua đây.” Lan lên tiếng, thanh âm bình tĩnh, mạch lạc nhưng mang sức nặng tuyệt đối không thể chối từ. “Chú nghe rõ từng lời chú Bảy vừa nói rồi đấy. Lô cá ươn này, Hải Thành dứt khoát không nhận dù chỉ một ký.”
Tư lầm lũi trèo từ mạn thuyền xuống mép bến, hai vai buông thõng thượt, vẻ mặt thảm hại không còn chút hung hăng nào: “Vậy... vậy cô tính sao đây cô Lan? Tao nói thật lòng một câu, tao không còn cọng tiền mặt nào để thối lại mười triệu mốt cho xưởng cô đâu. Tàu bạn chìm, tao phải bán sạch cả đôi bông tai cưới của vợ tao để đền cho người ta rồi. Chiều nay tàu tao không có ba mươi triệu trả tiền dầu và đá cây thì bị cảng vụ giữ tàu lại, cả nhà tao với đám bạn thuyền này kể như treo niêu...”
“Cháu biết chú không có khả năng trả tiền mặt ngay lúc này,” Lan nói, ánh mắt cô nhìn thẳng vào Tư, không hề có sự thương hại mềm yếu, nhưng cũng không dồn ép đối phương vào bước đường cùng không lối thoát. “Và cháu cũng nói rõ luôn: Hải Thành hôm nay không xuất thêm một đồng tiền mặt nào cho chuyến năm tấn cá này của chú. Chúng cháu không có tiền để mạo hiểm, và cũng không thể bao cấp cho những rủi ro của chú.”
Tư ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt lộ vẻ ngơ ngác, hoang mang: “Vậy... vậy rốt cuộc cô muốn đòi tiền kiểu gì?”
“Chúng ta sẽ lập biên bản đối trừ nợ cụ thể theo từng chuyến cá đạt chuẩn trong tương lai,” Lan rút ra một tờ giấy A4 trắng tinh từ kẹp tài liệu, bắt đầu đặt bút viết những dòng chữ ngay ngắn, dứt khoát. Nét mực xanh thẳng tắp in hằn lên trang giấy trắng giữa khung cảnh nham nhở của bến cá.
“Quy tắc giải quyết như sau: Khoản nợ mười triệu một trăm ngàn đồng tiền ứng cũ của chú đối với xưởng Hải Thành sẽ được giữ nguyên và xác nhận bằng văn bản này. Bắt đầu từ chuyến cá tiếp theo của chú—chuyến cá mà chú Bảy Hòa đích thân kiểm tra và nghiệm thu đạt chuẩn tươi xanh tại mép tàu—mỗi chuyến giao cá đạt chuẩn, xưởng sẽ trích lại hai mươi lăm phần trăm giá trị lô hàng để đối trừ dần vào khoản nợ cũ mười triệu mốt này. Bảy mươi lăm phần trăm còn lại, xưởng sẽ thanh toán tiền mặt sòng phẳng cho chú ngay khi cá được cân và nhập vào kho muối.”
Lan dừng bút một nhịp, ngước mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt đang căng thẳng của Tư: “Bằng cách này, chú vẫn có bảy mươi lăm phần trăm tiền tươi để đổ dầu, mua đá cây và trả công bạn thuyền duy trì các chuyến đi biển tiếp theo. Chú không bị đứt vốn ra khơi. Còn Hải Thành sẽ thu hồi dần khoản tiền ứng bị chiếm dụng mà không làm đứt gãy nguồn cung cá cơm than chất lượng cho xưởng. Nhưng có hai điều kiện tiên quyết không thể thương lượng.”
Tư nuốt nước bọt ực một tiếng, hai bàn tay đan vào nhau bóp chặt: “Điều kiện... điều kiện gì cô Lan?”
“Điều kiện thứ nhất: Toàn bộ cá giao để đối trừ phải qua sự kiểm định chất lượng độc lập của chú Bảy Hòa ngay tại mạn tàu. Cá mắt đục, cá dập bụng, cá ướp đá non hay ủ phơi nắng như mười lăm két kia sẽ bị loại bỏ hoàn toàn, không tính vào sản lượng đối trừ và không nhận vào xưởng dù chỉ một con. Nếu chú cố tình trộn cá ươn, hợp đồng lập tức hủy bỏ.”
Lan nhấn mạnh từng chữ, giọng cô đanh lại: “Điều kiện thứ hai: Chú phải ký vào biên bản xác nhận công nợ này ngay bây giờ, kèm theo cam kết trong vòng bốn mươi lăm ngày phải giao đủ sản lượng cá đạt chuẩn để khấu trừ dứt điểm mười triệu một trăm ngàn đồng. Nếu quá thời hạn bốn mươi lăm ngày mà chú không giao cá hoặc tự ý đem cá than đạt chuẩn bán tháo cho xưởng Ba Nhất hay bất kỳ đầu nậu nào khác, chúng cháu sẽ chuyển toàn bộ chứng từ tạm ứng cùng biên bản này ra Công an phường Đức Thắng và Ban Quản lý cảng cá Phan Thiết để xử lý hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Lúc đó, tàu BTh-92144 của chú sẽ bị cấm cập bến Cồn Chà vĩnh viễn.”
Biên bản thỏa thuận được Lan viết xong trong vài phút ngắn ngủi. Từng điều khoản đối trừ công nợ, tỷ lệ giữ lại 25%, tiêu chuẩn nghiệm thu nguyên liệu khắt khe và chế tài xử lý vi phạm được trình bày rõ ràng, chặt chẽ, mang phong cách của một hợp đồng thương mại chuyên nghiệp, không để hở bất kỳ một kẽ hở ngữ nghĩa nào.
Tư nhìn trừng trừng vào tờ giấy trắng mực đen ngay ngắn đặt trên mặt bàn cân cá nham nhở vệt bẩn, rồi lại ngước nhìn Lan. Sự sắc sảo, kiên quyết nhưng vẫn chừa cho ông một con đường sống của cô gái trẻ khiến người đàn ông cả đời lăn lộn sóng gió phải kiêng dè thực sự. Phương án này giữ lại cho ông chiếc phao cứu sinh để tàu tiếp tục ra khơi, không ép ông phải nôn tiền mặt ngay lập tức giữa lúc khốn cùng, nhưng đồng thời trói chặt ông vào trách nhiệm cung ứng nguyên liệu chuẩn mực cho Hải Thành.
“Được... tao chịu phương án này của cô,” Tư thở dài một hơi nặng nhọc, đưa bàn tay thô ráp dính đầy vảy cá khô đón lấy chiếc bút bi từ tay Lan.
Bàn tay run run của người chủ tàu ký nguệch ngoạc tên mình xuống góc dưới tờ biên bản: *Huỳnh Văn Tư*.
Phúc đứng bên cạnh thở phào một hơi nhẹ nhõm, lồng ngực như vừa trút bớt được một tảng đá đè nặng suốt mấy ngày qua. Cậu vội đưa chiếc kẹp tài liệu để Lan cất bản lưu giữ lại. Chú Bảy Hòa đứng bên cạnh khẽ gật đầu, ánh mắt lộ vẻ tán đồng hiếm hoi dành cho sự quyết đoán và bản lĩnh của cô cháu gái kế toán.
Khi Tư buông bút, ông ta ngẩng lên nhìn Lan, ánh mắt bỗng chốc chùng xuống đầy vẻ ái ngại và mệt mỏi: “Ký thì ký rồi... Nhưng cô Lan này, tao cũng nói thật một câu để xưởng cô liệu đường mà tính...”
“Chuyện gì vậy chú Tư?” Lan hỏi, tay cẩn thận gấp mép chiếc kẹp hồ sơ lại.
Tư móc bao thuốc lá nhàu nát ra, châm một điếu thuốc mới bằng chiếc bật lửa ga xước xát. Ông ta rít một hơi thật sâu, tàn thuốc đỏ rực lên rồi phả ra một luồng khói xám xịt hòa vào khoảng trời mù mịt hơi sương biển: “Năm nay thời tiết biển động thất thường, luồng cá cơm than ngoài khơi đang khan hiếm dữ dội lắm. Mấy đội tàu lớn đánh bắt xa bờ ở tận ngoài khơi Phú Quý hay Hòn Cau... tụi nó đều bị thương lái của mấy nhà máy nước mắm công nghiệp lớn ở ngoài Phan Thiết với Sài Gòn bao tiêu trọn gói hết rồi. Tụi nhà máy công nghiệp nhiều tiền lắm, tụi nó rải tiền mặt hàng trăm triệu ra đặt cọc trước cả mùa biển, bao tiêu đứt từ ngoài khơi với giá cao hơn hẳn giá thị trường. Tàu của tao là dạng tàu nhỏ đánh gần bờ mới gom được chút ít này thôi. Mùa tới, nếu Hải Thành không có nguồn vốn lớn để cạnh tranh tiền tươi, tao sợ... tao sợ đến cá cơm than loại hai cũng chẳng còn để mà mua đâu!”
Lời cảnh báo của Tư rơi vào không gian rát bỏng của bến cảng, khiến nụ cười nhẹ nhõm vừa hé mở trên môi Phúc lập tức vụt tắt. Chàng trai trẻ sững người, nhìn ra những chiếc tàu lớn ngoài xa đang rẽ sóng ra khơi, nét âu lo lại hằn sâu trên gương mặt hốc hác. Chú Bảy Hòa siết chặt quai chiếc túi xách cũ, im lặng nhìn ra những đợt sóng bạc đầu đang đập ầm ào vào chân cầu cảng, đôi mắt trĩu nặng ưu tư của một người thợ già nhìn thấy nghề truyền thống đang bị bóp nghẹt từng ngày.
Lan siết chặt chiếc kẹp tài liệu trong tay. Cơn khủng hoảng nguyên liệu mà Tư vừa cảnh báo giống như một đám mây đen khổng lồ khác đang chực chờ ập xuống nhà thùng Hải Thành, báo trước một trận chiến khốc liệt về giá thành và vốn lưu động trong những tháng sắp tới. Những tập đoàn công nghiệp với tiềm lực tài chính vô tận đang vươn vòi bạch tuộc ra tận các ngư trường xa xôi, thâu tóm từng mẻ cá tươi ngon nhất bằng tiền mặt rải thảm.
Nhưng ít nhất trong ngày hôm nay, cô đã giải phóng được mười triệu tiền ứng bị mắc kẹt, bảo vệ được tiêu chuẩn nước mắm truyền thống của dòng họ và không để mất thêm một đồng tiền mặt quý giá nào. Đó là một chiến thắng nhỏ, cay đắng nhưng cần thiết để giữ cho xưởng tiếp tục thở.
***
Tối muộn hôm đó, căn phòng làm việc nhỏ của xưởng Hải Thành chìm trong sự tĩnh mịch ngột ngạt.
Bà Hạnh đã được chuyển từ phòng cấp cứu về buồng bệnh thường sau khi truyền hết ba chai dịch. Nhịp tim và huyết áp của bà tạm thời ổn định, nhưng bác sĩ yêu cầu phải nằm lại viện theo dõi thêm vài ngày vì thể trạng suy kiệt nặng. Phúc đã tình nguyện ở lại bệnh viện đêm nay để chăm sóc cho cả ba và mẹ, để Lan có thời gian quay về xưởng xử lý công việc sổ sách đang dồn ứ ngập đầu.
Lan ngồi một mình bên chiếc bàn gỗ cũ kỹ dưới ánh đèn tuýp le lói. Bóng chiếc quạt trần quay lờ đờ in trên bức tường vôi lở loét những vệt loang lổ như hình thù của những mảng rêu phong. Không gian thoang thoảng mùi cá cơm ủ muối nồng nàn từ dãy nhà thùng sau lưng—mùi hương mặn mòi, ngai ngái nhưng sâu lắng đã gắn liền với từng năm tháng tuổi thơ của cô. Đó chính là mùi hương mà chiều nay chú Bảy Hòa đã dùng cả danh dự và lòng tự trọng của một đời làm thợ để gìn giữ trước những két cá ươn thối rữa của Tư.
Lan với tay xoa nhẹ hai bên thái dương đang giật lên từng cơn đau nhức. Đôi mắt cô cay xè vì bụi cát bến cảng và ánh sáng xanh phát ra từ màn hình chiếc máy tính xách tay đặt trên bàn. Bên cạnh máy tính là một tập hóa đơn tiền điện, tiền nước, tiền mua muối hột Cà Ná còn chưa thanh toán và danh sách ứng lương của mười bốn người thợ nhà thùng. Từng con số màu đỏ như những chiếc dằm cắm sâu vào tâm trí cô.
Đúng lúc đó, chiếc máy tính xách tay khẽ rung lên một tiếng *ting* giòn giã, xé toạc không gian im ắng của gian phòng làm việc.
Lan giật mình, đặt cốc trà nguội ngắt xuống bàn, di ngón tay trên bàn rê cảm ứng để mở khóa màn hình.
Hộp thư điện tử hiện lên một thông báo mới vừa gửi tới lúc 21:45 từ địa chỉ email công vụ của Công ty Cổ phần Bán lẻ Nam Lộ. Tiêu đề thư ngắn gọn, lạnh lùng, mang đầy hơi hướng quan liêu chuyên nghiệp: *V/v: Dự thảo hợp đồng gia công nhãn riêng Bếp Bờ Biển - Điều khoản bổ sung về kiểm định kỹ thuật.*
Người gửi là Trần Mai Chi—Trưởng phòng Thu mua ngành hàng Tiêu dùng nhanh. Nhưng ở phần đồng kính gửi (CC), xuất hiện thêm một cái tên hoàn toàn mới mà Lan chưa từng nghe thấy: *Phạm Đức Tín - Chuyên viên cao cấp Bảo đảm Chất lượng (QA/QC), Tập đoàn Bán lẻ Nam Lộ.*
Linh cảm nghề nghiệp của một kiểm toán viên mách bảo cho Lan rằng đây không phải là một email thông báo tiến độ đơn thuần. Cô nhấp chuột mở bức thư.
Ánh sáng trắng xanh từ màn hình hắt lên khuôn mặt hốc hác, mệt mỏi của Lan những dòng chữ sắc lạnh, chuẩn xác như những nhát kéo cắt tỉa cơ học:
*“Chào chị Lan,*
*Tiếp theo buổi làm việc khảo sát thực địa tại xưởng Hải Thành vừa qua, Ban Giám đốc Công ty Cổ phần Bán lẻ Nam Lộ đã thông qua chủ trương đàm phán hợp đồng cho lô hàng thử nghiệm 20.000 chai nước mắm nhãn riêng Bếp Bờ Biển.*
*Tuy nhiên, căn cứ theo Quy chuẩn Kiểm soát Chuỗi Cung ứng và Tiêu chuẩn Quản lý Rủi ro Chất lượng mới nhất áp dụng cho năm tài chính này, hợp đồng kinh tế chỉ được ký kết chính thức khi cơ sở Hải Thành vượt qua toàn bộ quy trình thẩm định hồ sơ kỹ thuật và năng lực kiểm soát mẻ ủ.*
*Chuyên viên bảo đảm chất lượng Phạm Đức Tín (được CC trong email này) sẽ trực tiếp phụ trách đánh giá toàn diện các hạng mục kỹ thuật bắt buộc sau đây:*
*1. Hồ sơ truy xuất nguồn gốc lô chượp: Minh chứng nguồn gốc cá cơm than nhập xưởng, nhật ký thu mua, giấy chứng nhận kiểm dịch và chứng từ kiểm soát cảng cá.* *2. Sổ nhật ký theo dõi mẻ ủ: Ghi chép chi tiết chu kỳ đảo bã, phơi nắng, kéo rút và tỷ lệ muối nạp vào từng thùng gỗ từ ngày đầu tiên vào chượp đến ngày chiết rót.* *3. Kết quả kiểm định độc lập: Phiếu phân tích mẫu từ Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (Quatest) hoặc cơ quan kiểm nghiệm tương đương được Nam Lộ chỉ định, bao gồm chỉ tiêu vi sinh vật (Coliforms, Clostridium perfringens, E. coli), hàm lượng kim loại nặng (Chì, Cadimi, Thủy ngân, Asen hữu cơ và vô cơ), và hàm lượng Histamine tồn dư.* *4. Báo cáo đánh giá độ đồng nhất: Minh chứng khoa học về tính ổn định của độ đạm nitơ toàn phần (đảm bảo mức cam kết ≥ 35°N không sai lệch quá ± 0.5°N) giữa tất cả các thùng gỗ dự kiến chiết rót cho lô hàng 20.000 chai.* *5. Quy trình chuẩn hóa thao tác đóng chai (SOP): Quy trình vận hành tiêu chuẩn chống nhiễm khuẩn thứ cấp trong công đoạn chiết rót thủ công tại xưởng.*
*Yêu cầu cơ sở Hải Thành scan và gửi toàn bộ hồ sơ lưu trữ kỹ thuật liên quan, kèm theo bản sao Sổ nhật ký mẻ ủ có xác nhận của phụ trách kỹ thuật nhà thùng, gửi về hòm thư này trước 17:00 ngày thứ Năm tuần này.*
*Lưu ý: Mọi sai lệch giữa hồ sơ giấy tờ và thực tế kiểm tra đối soát tại nhà thùng, hoặc việc không cung cấp đủ bằng chứng truy xuất nguồn gốc mẻ ủ đúng hạn, sẽ dẫn tới việc Nam Lộ lập tức dừng vô điều kiện quy trình đàm phán hợp đồng mà không cần thông báo trước.*
*Trân trọng,* *Trần Mai Chi - Trưởng phòng Thu mua FMCG* *Tập đoàn Bán lẻ Nam Lộ.”*
Lan ngồi bất động trước màn hình máy tính, ngón tay cô lạnh ngắt chạm vào bàn phím nhựa. Gió ngoài sân xưởng thổi qua những khe cửa gỗ kêu lạch cạch, mang theo tiếng lá bàng khô xào xạc rơi trên mái tôn cũ.
Từng chữ trong email như những mũi kim đâm thẳng vào thực tại trần trụi của Hải Thành.
Hồ sơ truy xuất nguồn gốc lô chượp? Sổ nhật ký theo dõi chu kỳ đảo bã? Báo cáo độ đồng nhất đạm nitơ giữa các thùng gỗ? Quy trình thao tác chuẩn SOP chống nhiễm khuẩn thứ cấp?
Những khái niệm hiện đại, bóng bẩy và chặt chẽ của một hệ thống quản lý bán lẻ quy mô lớn ấy... tại cái xưởng ủ thủ công gần ba mươi năm tuổi này, hoàn toàn là một vùng trắng trống rỗng.
Ở Hải Thành, qua ba đời làm mắm, mọi bí quyết từ tỷ lệ trộn cá cơm ba cá một muối, cách nhìn sắc nước biển để đoán độ béo của mỡ cá, cách ngửi mùi hương bay lên từ miệng thùng để biết ngày mắm chín, cho đến những lần mở lù rút nước bổi... tất cả chỉ tồn tại trong ký ức, trong linh cảm nghề nghiệp truyền khẩu của chú Bảy Hòa và ba cô. Cả một kho tàng kinh nghiệm làm mắm truyền thống chỉ được ghi lại bằng những nét gạch phấn trắng mờ căm cào trên thành thùng gỗ mít sẫm màu, hoặc những dấu khắc dao thô thiển trên các then chốt cài nẹp thùng.
Chưa từng có một cuốn sổ nhật ký mẻ ủ nào được lập ra. Chưa từng có một trang tài liệu lưu trữ nào được chuẩn hóa bằng văn bản.
Và thứ Năm—hạn chót nghiệt ngã của Nam Lộ—chỉ còn cách cô đúng bốn mươi tám tiếng đồng hồ.