Giữ tên không giữ quyền im lặng
Tập báo cáo tài chính mười tháng dày gần bốn mươi trang nằm ngay ngắn trên chiếc bàn trà gỗ quen thuộc, nơi cả gia đình cùng chú Hòa và Liên tề tựu trong không khí trang nghiêm chưa từng có kể từ ngày ông Thành lâm bệnh.
Mùi trầm nén thơm nhẹ quyện với gió biển chiều muộn từ mé sông Cà Ty thốc qua song cửa sổ, kéo theo cái mặn nồng quen thuộc của muối cá và thớ gỗ mít ngâm chượp lâu năm. Gió đưa từng đợt hơi ẩm mang theo vị chát mặn của bến nước luồn qua các khe rèm, phả vào gian phòng khách vốn đã đậm đặc mùi dầu cù là xoa bóp, mùi trà sen ủ kỹ và mùi vôi vữa còn vương trên mép tường vừa trét lại. Trên chiếc trường kỷ gỗ gụ kê sát vách tường chính diện, ông Thành ngồi tựa lưng thẳng thớm, chiếc gậy gỗ mun tiện tròn dựng sát bên gối phải. Cơ lực nửa người bên phải của ông đã hồi phục đáng kể sau những tuần kiên trì tập luyện cùng điều dưỡng Hà; dù bàn tay phải vẫn hơi co cứng, các ngón tay gập nhẹ về phía lòng bàn tay và bước đi mỗi bận đứng lên ngồi xuống còn khập khiễng, đôi mắt đục mờ vì sương gió của người đàn ông cả đời bám biển vẫn giữ nguyên vẻ sắc sảo, kiên định. Ngồi cạnh ông là bà Hạnh, hai bàn tay đan chặt trên vạt áo bà ba sẫm màu, đôi mắt trũng sâu vì những đêm dài thức trắng nhưng nét mặt đã vơi bớt vẻ hốc hác, thất thần của những ngày đầu giông bão ập xuống mái nhà.
Phúc ngồi phía đối diện, áo thun xắn cao quá bắp tay còn vương vài vệt muối trắng xóa từ đợt kiểm tra vòi lù ngoài sân chượp ban trưa. Mồ hôi khô đọng thành những đường viền xam xám trên vai áo anh. Cạnh Phúc, chú Bảy Hòa ngồi trên chiếc ghế tựa có đệm mút lót thêm một tấm chăn len mỏng, chiếc chân phải bó nẹp y tế duỗi thẳng trên đôn gỗ nhỏ, ngón tay cái thô ráp chốc chốc lại mân mê ống đong thủy tinh bỏ trong túi áo ngực – thói quen khó bỏ của một người thợ cả đã ngót nửa đời người sống bằng độ mặn và sắc nước mắm nhĩ. Chị Liên – tổ trưởng điểm đóng chai Phong Nẫm – cùng Đặng Thị Thảo ngồi ở góc bàn nhỏ bên cạnh, mỗi người đều cầm sẵn cuốn sổ tay và cây bút bi, chờ đợi giờ phút mở đầu cuộc họp quan trọng nhất của cơ sở Hải Thành trong suốt một năm qua.
Lan hít một hơi sâu, ngón tay miết nhẹ mép giấy còn phẳng phiu, chỉnh lại gọng kính rồi lật trang đầu tiên của tập tài liệu. Trên mặt giấy A4 trắng tinh, những cột số liệu kế toán được kẻ rành mạch, in đậm từng mốc thời gian và lưu chuyển tiền tệ rõ ràng, không còn là những nét mực nhòe nhoẹt hay mẩu giấy than kẹp rời rạc như trong cuốn sổ bìa da sờn góc của cha.
"Thưa ba má, chú Bảy, chị Liên và cả nhà," Lan cất giọng, âm sắc điềm đạm nhưng dứt khoát của một người đã quen đối diện với các đợt thanh tra tài chính gắt gao. "Hôm nay xưởng mình họp mặt đông đủ để nhìn lại trọn vẹn mười tháng vừa qua. Khi con từ Sài Gòn quay về vào ngày ba ngã bệnh, quỹ tiền mặt khả dụng của Hải Thành chỉ còn đúng bốn mươi hai triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng. Trong khi đó, các khoản nợ phải trả ngay lập tức – từ viện phí cấp cứu, tiền điện ba pha quá hạn cho tới năm mươi phần trăm lương của mười bốn thợ xưởng – đã vượt quá một trăm triệu. Chưa kể khoản nợ vật tư vỏ chai ba mươi tám triệu của cô Quyên và bức thư tay đòi tiền của cô Út Dung."
Cô khẽ ngước mắt lên, nhìn quanh một lượt. Chú Bảy Hòa hơi cúi đầu nhìn mũi dép, bàn tay xoa nhẹ lên khớp gối đau nhức. Phúc mím môi, im lặng nhìn chăm chú vào từng con số hiển thị rành rọt ở mục tiền mặt đầu kỳ.
Lan lật sang trang biểu đồ so sánh dòng tiền:
"Mười tháng qua, chúng ta đã đi qua từng miệng vực. Chúng ta không vay gói tín dụng năm trăm triệu từ ngân hàng để tránh cái bẫy lãi suất thả nổi mười ba phần trăm cùng nguy cơ thế chấp căn nhà của gia đình. Chúng ta cũng từ chối ép công suất xưởng lên ba mươi ngàn chai theo đòi hỏi ban đầu của Nam Lộ để tránh nguy cơ vỡ nợ vì điều khoản thanh toán kéo dài. Hải Thành đứng vững được cho đến ngày hôm nay là nhờ ba quyết định sống còn."
Cô dừng lại một nhịp, mắt nhìn thẳng vào từng người ngồi quanh bàn:
"Thứ nhất, thu gọn quy mô sản xuất về mức kiểm soát an toàn, kiên quyết từ bỏ những giấc mộng tăng trưởng ảo bằng vốn vay. Thứ hai, phân định rành mạch hai dòng sản phẩm độc lập: dòng gia công Bếp Bờ Biển ba mươi lăm độ đạm sử dụng nguồn mắm thô Phú Hài phối trộn có kiểm soát tại điểm Phong Nẫm, và dòng nước mắm truyền thống Hải Thành ba mươi tám độ đạm rút nỏ thuần túy tại nhà thùng Cà Ty. Chúng ta đã hoàn tất hợp đồng bảy ngàn chai với Nam Lộ, thu đủ năm mươi tám triệu tám trăm tám mươi ngàn đồng đợt cuối, trả nợ kỳ hai cho cô Út năm triệu, trả ba mươi triệu tiền vỏ chai cho cô Quyên và thanh toán đủ lương thợ."
Lan lật tiếp đến trang thứ mười tám của báo cáo, nơi có một bảng thống kê được tô đỏ nổi bật:
"Và yếu tố thứ ba – cũng là nội dung cốt lõi của quy chế tài chính mới mà con trình bày hôm nay: chúng ta bắt buộc phải cắt bỏ sáu mươi phần trăm hạn mức bán chịu đối với các mối quen chuyên dây dưa nợ nần."
Căn phòng khách bỗng chốc lặng phắt. Chú Bảy Hòa hơi cựa mình làm chiếc nẹp chân phát ra tiếng cọt kẹt khẽ. Chị Liên khẽ liếc sang ông Thành, trong khi Thảo cắm cúi ghi chép. Ngọn gió ngoài sông Cà Ty thốc mạnh hơn, làm cánh cửa sổ gỗ va lách cách vào chốt hãm.
Lan tiếp tục chỉ vào bảng số liệu:
"Trước đây, ba duy trì một danh sách hơn hai mươi mối hàng quen tại chợ cá, quán ăn ven biển và các đại lý trung chuyển nhỏ. Tổng công nợ bị găm ngoài thị trường có thời điểm lên tới gần ba trăm triệu đồng. Nhưng trong số đó, những đại lý như ông Phan Quốc Lợi hay các mối hàng trôi nổi thực chất đã lợi dụng sự nể nang của ba để chiếm dụng vốn, thậm chí kê khống hàng trả cũ để quỵt nợ. Khi xưởng cần tiền mặt mua cá tươi của chú Tư lúc tàu cập bến Cồn Chà, hoặc khi cần đóng viện phí cho ba, những món nợ đó hoàn toàn biến thành số không tròn trĩnh. Do đó, con đề xuất: từ năm tới, cắt bỏ toàn bộ việc bán chịu gối đầu không kỳ hạn cho mười hai mối quen thường xuyên trễ hạn quá bốn mươi lăm ngày; đối với các khách hàng thân thiết có thiện chí như quán bà Sương, áp dụng hạn mức bán chịu tối đa không quá bảy triệu đồng trong chu kỳ mười lăm ngày, quá hạn buộc phải thanh toán tiền mặt mới xuất chuyến hàng mới."
Lan vừa dứt lời, một tiếng gõ đanh gọn của đầu gậy gỗ giáng xuống mặt sàn gạch hoa.
*Cắc!*
Mọi ánh mắt lập tức dồn về phía ông Thành. Lồng ngực người đàn ông ngoài sáu mươi phập phồng sau làn áo sơ mi cũ. Khóe miệng bên phải của ông hơi giật nhẹ do di chứng tai biến, nhưng ánh mắt ánh lên ngọn lửa giận dữ âm ỉ bị kìm nén bấy lâu.
"Con... con nói vậy... mà nghe được à?" Ông Thành cất tiếng, từng lời thốt ra chậm rãi, hơi méo tiếng nhưng rành rọt từng chữ. "Cắt... cắt sáu mươi phần trăm hạn mức bán chịu? Con có biết... cái xứ biển Phan Thiết này... người ta sống với nhau... bằng cái gì không?"
"Thưa ba, con đang nhìn vào dòng tiền thực tế của xưởng—"
"Dòng tiền! Tụi bây mở miệng ra... là dòng tiền, là con số!" Ông Thành ngắt lời con gái, bàn tay trái vỗ mạnh lên mặt bàn trà làm tách trà vơi sánh nước ra mép đĩa. "Nghề làm mắm này... ba mươi năm nay... không phải tự nhiên mà cái tên Hải Thành... đứng vững được bên mé sông Cà Ty! Mấy mối hàng ngoài chợ, mấy quán ăn dọc Hàm Tiến, Phú Hài... họ là bạn hàng từ thời ba còn gánh từng thùng mắm đi bán rong. Có những năm biển động, cá mất mùa, họ thiếu trước hụt sau, mình cho họ gối đầu đôi ba chuyến mắm để họ nuôi con, giữ khách. Rồi đến lúc mình kẹt tiền muối, ghe bạn họ sẵn sàng cho mình khất nợ cả vụ chượp!"
Ông Thành thở dốc một hơi, ngón tay run rẩy chỉ vào tập báo cáo tài chính dày cộm trước mặt:
"Kinh doanh nước mắm truyền thống xứ biển... nếu quá sòng phẳng, lạnh lùng, chỉ biết đè nhau ra đòi tiền tươi từng ngày... thì sẽ đánh mất hết cái ân tình bao đời gầy dựng! Người ta buôn bán với mình vì cái chữ nghĩa, vì biết thằng Hai Thành này có trước có sau. Giờ con về, con đem mấy cuốn sổ sách của công ty Tây tàu ở Sài Gòn ra áp đặt, con đòi cắt đứt bán chịu với người ta, thì người ta nhìn vào mặt mũi gia đình này ra sao? Họ sẽ nói nhà này cạn tàu ráo máng, lúc khỏe thì nhờ bạn hàng tiêu thụ, lúc ngã bệnh thì quay lưng chém ngọt ân tình!"
Không khí trong gian phòng khách chùng xuống nặng nề như một mẻ chượp gặp cơn mưa rào bất chợt. Chú Bảy Hòa thở dài một tiếng sườn sượt, cúi đầu nhìn mũi giày bảo hộ. Phúc ngồi im phăng phắc, hai bàn tay siết chặt mép bàn. Anh hiểu nỗi lòng của cha – người đã coi thể diện và cái tình làng nghĩa xóm là lẽ sống suốt cả cuộc đời làm nghề; nhưng Phúc cũng là người đã trực tiếp đối mặt với nụ cười nham hiểm của Phan Quốc Lợi khi gã trơ trẽn khất nợ sáu mươi bảy triệu đồng trong khi két sắt của gã vừa thu tiền tươi từ các khu nghỉ dưỡng về.
Lan mím môi, toan cất lời giải thích về rủi ro thanh khoản thì một âm thanh bất ngờ vang lên cắt ngang bầu không khí ngột ngạt.
*Keng!*
Chiếc chén trà bằng sứ Giang Tây trên tay bà Hạnh đặt mạnh xuống mặt khay gỗ. Âm thanh sắc lạnh, dứt khoát khiến tất cả mọi người trong phòng – kể cả ông Thành – đều sững sờ giật mình nhìn sang.
Trong suốt ba mươi năm qua, bà Hạnh luôn là cái bóng thầm lặng phía sau căn nhà này. Bà là người nấu từng bữa cơm trưa cho đội thợ mười bốn người, người thức khuya giặt giũ những bộ quần áo bết dính mùi mắm và muối biển của chồng con, người chọn cách nín nhịn lùi bước trong mọi cuộc tranh cãi lớn nhỏ để giữ lấy cái êm ấm bề ngoài cho mái nhà. Nhưng lúc này, bờ vai gầy guộc của người đàn bà ấy run lên bần bật, đôi mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt sạm nắng của chồng, không hề né tránh.
"Ông thôi đi, ông Thành!" Bà Hạnh cất tiếng. Giọng bà không lớn, nhưng từng từ từng chữ rơi xuống gian phòng như những nhát búa nện vào đá tảng.
"Bà... bà nói cái gì?" Ông Thành ngỡ ngàng, đôi mày rậm nhíu chặt lại.
"Tôi nói ông thôi cái giọng ân tình nghĩa hiệp ấy đi!" Bà Hạnh đứng thẳng dậy, hai tay tỳ lên mặt bàn trà, đối diện trực diện với chồng. "Trước mặt chú Bảy, trước mặt cái Liên với con Thảo, tôi nói một lần cho dứt khoát: Tôi sẽ không tiếp tục âm thầm trích tiền dưỡng già hay tiền ăn hàng ngày của cái nhà này để gánh những món nợ tình nghĩa vô tận của ông nữa!"
"Má..." Lan khẽ thốt lên, vừa lo lắng cho huyết áp của mẹ, vừa bàng hoàng trước sự bộc phát dữ dội chưa từng thấy.
"Con để má nói!" Bà Hạnh khoát tay, giọng run rẩy nhưng ánh mắt ngời lên sự kiên quyết tột cùng. Bà nhìn xoáy vào ông Thành: "Ông ngồi đó nói về ân tình bao đời gầy dựng, ông trách con Lan lạnh lùng sòng phẳng. Nhưng ông có từng hỏi xem ba mươi năm qua, ai là người đứng sau lưng gánh cái giá của những ân tình đó cho ông không? Mười một lần tôi phải cắn răng đem từng chiếc kiềng vàng, đôi bông tai hồi môn má tôi cho đi bán tháo ngoài chợ Phan Thiết để bù lỗ tiền ghe, bù tiền mua muối, bù cho những mối quen mà ông 'cho nợ tính sau' rồi người ta quỵt luôn! Mỗi lần thợ không có lương, mỗi lần đại lý khất nợ, ai là người phải bớt từng đồng tiền chợ, nấu bữa cơm độn rau củ cho cả nhà để ông giữ cái mặt mũi hào sảng với thiên hạ?"
Một giọt nước mắt trào ra từ khóe mắt nhăn nheo của bà Hạnh, nhưng bà lập tức đưa mu bàn tay gạt phắt đi:
"Đến tận hôm ông đột quỵ nằm mê man ở bệnh viện tỉnh, tôi vét cạn túi áo không còn nổi năm trăm ngàn mua hộp sữa dinh dưỡng cho ông! Con Lan nó phải âm thầm rút sạch hai mươi tám triệu tiền tiết kiệm riêng nó ky cóp bao năm ở Sài Gòn để nộp viện phí cấp cứu cho ông sống sót. Rồi cô Út Dung đem giấy nợ tới siết, người ta suýt nữa cướp luôn mảnh đất ông cha để lại. Lúc đó, mấy cái mối bạn hàng ân tình của ông ở đâu? Ông Phan Quốc Lợi có mang đồng bạc nào tới trả cho ông đóng viện phí không? Hay ông Tư chủ ghe ép giá cá ươn, đòi cấn nợ ngay trên mạn tàu?"
Bà Hạnh nghẹn lời, ngực phập phồng, nhưng ánh mắt vẫn đanh thép ghim chặt vào khuôn mặt đang tái dần đi của ông Thành:
"Con Lan nó về đây mười tháng, nó thức trắng bao nhiêu đêm bên máy tính, nó chạy ngược chạy xuôi đối chiếu từng tờ hóa đơn, nó chịu nhục chịu khó để cứu cái xưởng này khỏi phá sản, cứu ông khỏi cảnh tàn phế. Vậy mà giờ ông mở miệng ra trách nó sòng phẳng làm mất mặt ông? Tôi nói cho ông biết, căn nhà ngói ba gian này tọa lạc trên Thửa bốn mươi hai là tài sản hồi môn của dòng họ tôi, giấy tờ đứng tên tôi độc lập. Tôi đã giao cho luật sư lập vi bằng lưu trữ. Từ nay về sau, một đồng tiền sinh hoạt gia đình, một đồng thuốc men của ông, tôi giữ riêng trong tài khoản của tôi! Xưởng Hải Thành buôn bán làm sao thì tự thân nó phải nuôi sống nó. Tôi tuyệt đối không để bất kỳ ai – kể cả ông – đem tiền nhà đi trám vào những cái lỗ hổng tình nghĩa vô lý đó thêm một lần nào nữa!"
Bà Hạnh ngồi thụp xuống ghế, hai vai khẽ run rẩy. Không gian tĩnh lặng như tờ, chỉ còn nghe tiếng gió biển rít qua rèm cửa và tiếng thở nặng nhọc của ông Thành.
Ông Thành ngồi chết lặng trên ghế gụ. Bàn tay phải co cứng của ông buông thõng trên đùi, ngón tay cái hơi run rẩy. Lần đầu tiên trong đời, người đàn ông quen quyền uy và định đoạt mọi việc lớn nhỏ trong gia đình phải đối diện với sự thật trần trụi về những tổn thương và gánh nặng mà người vợ tảo tần đã âm thầm chịu đựng suốt ba thập kỷ. Ánh mắt ông từ giận dữ chuyển sang ngỡ ngàng, rồi từ từ chùng xuống, phủ một lớp sương mờ xót xa và bất lực.
Lan nhìn mẹ, rồi nhìn sang cha. Cô hiểu rằng nếu sự im lặng này kéo dài, nó sẽ biến thành một vết nứt hoắm sâu ngăn cách giữa hai thế hệ, giữa đạo lý làm nghề truyền thống và kỷ luật tài chính hiện đại. Cô không thể để cuộc đối thoại này kết thúc bằng sự phán xét hay đổ vỡ.
Lan nhẹ nhàng bước đến bên bàn trà, rót một chén nước ấm đặt vào tay mẹ, rồi kéo chiếc ghế con ngồi xuống gần hơn về phía cha.
"Thưa ba, thưa má," Lan nói, giọng cô trầm ấm, điềm tĩnh xoa dịu bầu không khí căng thẳng. "Những điều má vừa nói là cái giá có thật mà gia đình mình đã phải trả trong quá khứ. Nhưng con cũng hiểu điều ba trăn trở. Hải Thành không phải là một xưởng chế biến công nghiệp vô hồn; thương hiệu của mình tồn tại được ba mươi năm qua ở bến sông này chính là nhờ cộng đồng cư dân và mạng lưới bạn hàng xứ biển đã tin tưởng, bao bọc lấy mình."
Ông Thành khẽ ngước mắt lên nhìn con gái, trong đáy mắt đục mờ thoáng nét bối rối.
"Con không có ý định biến Hải Thành thành một cỗ máy lạnh lùng đoạn tuyệt với mọi mối quan hệ," Lan giải thích, cô mở trang ba mươi mốt của tập báo cáo, đặt một bản đề án mới trước mặt ông Thành và chú Bảy Hòa. "Chúng ta không thể cắt bỏ tình nghĩa, nhưng chúng ta dứt khoát không được phép để tình cảm che giấu sự thất thoát và làm tê liệt dòng tiền kinh doanh. Vì vậy, giải pháp của con không phải là tuyệt tình, mà là dung hòa bằng sự minh bạch."
Chị Liên và Thảo cùng ngẩng đầu chăm chú lắng nghe.
Lan chỉ tay vào mục ba trong bản quy chế:
"Kể từ niên độ tài chính tới, xưởng Hải Thành sẽ chính thức trích lập một 'Quỹ Hỗ trợ Cộng đồng và Tương trợ Nghề' cố định hàng năm. Hạn mức của quỹ này được khống chế rõ ràng, trích tối đa ba phần trăm từ lợi nhuận ròng sau thuế của xưởng – dự kiến khoảng mười lăm đến hai mươi triệu đồng mỗi năm, tùy thuộc vào kết quả kinh doanh thực tế. Khoản ngân sách này hoàn toàn độc lập với dòng tiền lưu động sản xuất."
Lan nhìn sang cha và chú Bảy Hòa, giải thích cặn kẽ:
"Khi ghe bạn của bạn hàng lâu năm gặp hoạn nạn, khi bão gió làm hư hại lưới cụ hay gia đình người làm gặp biến cố bất khả kháng, xưởng sẽ dùng chính nguồn tiền từ quỹ này để hỗ trợ họ một cách công khai, minh bạch, có biên nhận rõ ràng và được ghi nhận thẳng vào chi phí trách nhiệm xã hội của cơ sở. Chúng ta giúp họ bằng số tiền thực tế xưởng làm ra và có quyền chi trả, chứ không giúp bằng cách cho xuất hàng đi vô tội vạ rồi ghi một dòng 'tính sau' vào cuốn sổ nợ viết tay để rồi tự ru ngủ mình rằng đó là tài sản."
Lan nhấn mạnh từng lời:
"Công nợ thương mại phải ra công nợ thương mại. Đã là bán hàng thì phải có hạn mức cụ thể, có thời hạn thu hồi bảy ngày hoặc mười lăm ngày, và vượt hạn mức là phải dừng cấp hàng. Còn tình nghĩa hỗ trợ đồng bào, bạn nghề thì trích từ quỹ tương trợ được định mức trước. Bằng cách này, ba vẫn giữ được chữ tín và tấm lòng thơm thảo với xứ biển, bạn hàng vẫn nhận được sự giúp đỡ lúc ngặt nghèo, nhưng má không bao giờ phải bán vàng bù lỗ, và xưởng cũng không bao giờ rơi vào cảnh cạn kiệt tiền mặt đến mức không có tiền mua muối hay trả lương thợ."
Một sự tĩnh lặng khác bao trùm gian phòng – nhưng lần này không còn là sự ngột ngạt đối đầu, mà là sự lắng đọng của nhận thức.
Chú Bảy Hòa khẽ gật đầu, bàn tay xoa xoa chiếc nẹp chân phải:
"Con Lan nó nói có lý đó, anh Hai à. Xưa nay anh em mình làm nghề biển, cứ nghĩ hào sảng xốc vác là tốt, ai thiếu gì cho nấy, mắm chở đi đầy ghe mà tiền mang về không đủ đong bao gạo cho thợ. Mình cứ tưởng mình làm phước, nhưng thực ra là mình đang bắt vợ con với thợ thuyền gánh nợ giùm cho thiên hạ. Có cái quỹ rõ ràng như vầy, giúp ai bao nhiêu định lượng bấy nhiêu, danh chính ngôn thuận, người nhận cũng biết ơn mà người làm xưởng như tụi tui cũng yên cái bụng."
Ông Thành nhìn bản đề án trên bàn. Ánh mắt ông dừng lại hồi lâu ở con số trích lập ba phần trăm lợi nhuận ròng. Những ngón tay co quắp của ông từ từ thả lỏng. Sự sòng phẳng của con gái, khi được lồng vào một chiếc khung có sự thấu hiểu và tôn trọng cội nguồn nghề nghiệp, đã không còn là sự phủ nhận quá khứ của ông, mà là sự cứu rỗi cho chính những sai lầm mà ông từng bất lực không biết cách tháo gỡ.
Ông quay sang nhìn bà Hạnh. Người vợ gắn bó ba mươi năm đang cúi đầu, hai tay siết chặt tà áo. Ông Thành khẽ thở dài, một hơi thở trút bỏ gánh nặng thể diện đã đè trĩu lồng ngực bấy lâu:
"Má nó... nói đúng. Tôi... tôi đã sai khi để má nó với các con... phải khổ vì tính nông nổi của tôi." Giọng ông Thành nghẹn lại, trầm xuống. "Cách của con Lan... làm được. Minh bạch ra... thì giữ được cái xưởng, mà tôi... cũng không cắn rứt với anh em bạn nghề."
Bà Hạnh ngước lên nhìn chồng, ánh mắt thoáng chút mềm lại dù nét cương nghị vẫn không hề biến mất. Bà khẽ gật đầu, một sự đồng thuận thầm lặng nhưng dứt khoát xác lập trật tự mới trong gia đình.
Lan thở phào một cái thật khẽ, cảm nhận một luồng ấm áp len lỏi qua lồng ngực. Cô lật sang phần cuối cùng của tập tài liệu – phần quyết định vận mệnh quản trị của Hải Thành trong giai đoạn tiếp theo.
"Nếu ba má và mọi người đã thống nhất nguyên tắc tài chính, con xin chuyển sang phần cuối cùng: thông qua Quy chế Vận hành và Cơ cấu Tổ chức Mới cho cơ sở nước mắm Hải Thành."
Lan lấy ra một văn bản độc lập gồm sáu trang, đặt giữa bàn:
"Thứ nhất, về quy mô sản xuất: chúng ta giữ nguyên định hướng duy trì thương hiệu Hải Thành ở quy mô vừa phải, sản lượng đóng chai không vượt quá hai ngàn chai mỗi tuần tại điểm Phong Nẫm và mười lăm thùng chượp ủ truyền thống tại Cà Ty. Chúng ta dứt khoát không mở rộng ồ ạt để lấy sản lượng công nghiệp, tập trung toàn lực vào chất lượng mắm nhĩ thượng hạng và bảo đảm môi trường khu dân cư theo đúng cam kết ba mươi ngày với ủy ban phường."
Lan quay sang chú Bảy Hòa:
"Thứ hai, chú Bảy Hòa tiếp tục giữ vai trò Cố vấn Kỹ thuật Ủ chượp tối cao của xưởng với mức phụ cấp cố định năm triệu đồng một tháng, xưởng đài thọ toàn bộ viện phí phục hồi chức năng định kỳ. Chú chịu trách nhiệm phê duyệt cảm quan, kiểm tra Baumé kế và ký nháy vào sổ nhật ký mẻ ủ trước khi cho phép kéo rút bất kỳ thùng chượp nào."
Chú Bảy Hòa mỉm cười hiền từ, giơ bàn tay chai sần lên: "Tôi hoàn toàn nhất trí. Chân cẳng vầy ngồi chỉ việc là sướng cái thân già này rồi."
"Thứ ba," Lan nhìn sang chị Liên và Thảo, "chị Trần Thị Liên chính thức là Tổ trưởng Kiểm soát Chất lượng và Đóng chai tại Phong Nẫm, phụ cấp trách nhiệm một triệu rưỡi một tháng. Thảo giữ vị trí Thủ thư Chứng từ kiêm Kế toán Nội bộ, toàn quyền kiểm soát tính hợp lệ của phiếu nhập xuất kho và quỹ tiền mặt nhỏ dưới hai triệu đồng."
Cả Liên và Thảo đều mỉm cười gật đầu, ký tên vào cột phụ lục chức danh.
"Và điều quan trọng nhất," Lan nhìn sang em trai mình. Ánh mắt cô ấm áp nhưng trang trọng. "Về vị trí Quản lý Vận hành Tổng thể của xưởng Hải Thành. Trong suốt mười tháng qua, Phúc đã chứng minh được năng lực tự chủ hoàn toàn: từ khâu kiểm định bốc xếp lô hàng Bếp Bờ Biển, đàm phán cấn trừ công nợ tại cảng cá, cho đến việc độc lập vận hành xưởng kéo rút khi con và má vắng mặt. Hôm nay, con xin đề xuất: trao toàn quyền Quản lý Vận hành cho Võ Minh Phúc."
Phúc hơi sững người, ngước mắt nhìn chị gái.
Lan đưa cho Phúc một bản hợp đồng giao việc in ấn trang trọng:
"Đây là văn bản giao việc chính thức. Phúc sẽ đảm nhận chức danh Trưởng bộ phận Vận hành và Kho vận Hải Thành. Mức lương cứng mười triệu đồng một tháng, cộng thêm phụ cấp trách nhiệm quản lý hai triệu đồng, và phụ cấp lưu động một trăm năm mươi ngàn đồng cho mỗi chuyến xe tải liên huyện. Toàn bộ quyền điều phối xe cộ, xuất nhập kho nguyên liệu bao bì và giám sát quy trình kéo rút hàng ngày đều giao trọn cho Phúc quyết định. Không còn tình trạng làm việc vì kỳ vọng mơ hồ, không còn những lời hứa miệng về tương lai thừa kế. Công sức của em được pháp lý và quy chế xưởng công nhận bằng thu nhập và văn bản rõ ràng."
Phúc cầm tờ văn bản trên tay. Những dòng chữ in mực đen ngay ngắn, ghi rõ chức danh, quyền hạn, mức lương và trách nhiệm của anh. Không phải là sự ban ơn của cha mẹ, không phải là sự nhường nhịn của chị gái, mà là sự thừa nhận đàng hoàng cho mười lăm năm mồ hôi nước mắt anh đã đổ xuống những thớ gỗ mít ngâm muối ven bờ Cà Ty. Đôi mắt chàng trai trẻ hoe đỏ, bờ môi mím chặt cố kìm nén sự xúc động.
"Con... con đồng ý," Phúc nói, giọng trầm ấm và rắn rỏi. "Con hứa sẽ giữ đúng kỷ luật của xưởng, không làm ba má và chị Lan thất vọng."
Lan nhìn quanh chiếc bàn tròn gỗ gụ:
"Bây giờ, con xin lấy biểu quyết toàn thể về việc thông qua toàn bộ Quy chế Vận hành Mới của cơ sở Hải Thành."
Lan giơ tay đầu tiên.
Bà Hạnh giơ tay thứ hai, ánh mắt kiên định.
Phúc đặt bản hợp đồng xuống bàn, dứt khoát giơ cao bàn tay phải.
Chú Bảy Hòa cười khà khà, giơ bàn tay sạm màu nắng gió. Chị Liên và Thảo đồng loạt giơ tay đồng thuận.
Mọi ánh nhìn một lần nữa dừng lại ở người đàn ông ngồi đầu bàn. Ông Thành nhìn các con, nhìn người vợ đã cùng ông đi qua trọn vẹn một kiếp đoạn trường, rồi nhìn xuống cuốn sổ nợ viết tay cũ kỹ bìa da đen đang nằm lặng lẽ ở góc bàn trà – cuốn sổ ghi chép những ân tình, những lầm lỡ và cả những gánh nặng mà ông từng bất lực gánh gồng.
Chậm rãi, nặng nhọc nhưng vô cùng dứt khoát, ông Thành nâng cánh tay trái lành lặn của mình lên ngang ngực.
"Tôi... thông qua," ông Thành nói, một nụ cười mệt mỏi nhưng thanh thản lần đầu tiên xuất hiện trên gương mặt sương gió sau cơn đột quỵ. "Từ nay... giao lại cho tụi con."
Một tràng pháo tay giòn giã vang lên trong gian nhà ngói ba gian. Căn nhà như vừa trút bỏ được lớp bụi mờ của hàng thập kỷ nhập nhằng, đón nhận luồng dưỡng khí trong lành và rạng rỡ của một kỷ nguyên mới.
***
Cuộc họp kết thúc khi bóng chiều đã ngả hẳn sang màu tím sẫm của hoàng hôn Phan Thiết.
Ánh hoàng hôn rọi xiên qua song cửa gỗ, nhuộm một màu vàng đồng lên những tập biên bản đã có đủ chữ ký của từng người. Không khí trong phòng khách dần trở lại nhịp thở thường nhật, nhưng nét nhẹ nhõm đã hiện rõ trên từng khuôn mặt. Chị Liên cẩn thận cất cuốn sổ tay và cây bút bi vào túi vải, đứng lên chào ông Thành và bà Hạnh:
"Dạ, nếu xong xuôi hết rồi thì con xin phép cả nhà con chạy về bên Phong Nẫm. Tụi nhỏ bên đó chắc vừa quét dọn sàn đóng chai xong, con ghé kiểm tra lại toàn bộ công tắc ngắt điện tổng ban đêm với mấy van xả áp của máy dập nắp rồi mới an tâm về nhà ăn cơm."
"Đi đường cẩn thận nha Liên," bà Hạnh dịu giọng dặn dò. "Đoạn đường tránh đang làm dở nhiều đá dăm lắm đó."
"Dạ má, con biết rồi." Liên quay sang Lan, khẽ gật đầu mỉm cười đầy thấu hiểu rồi bước nhanh ra mé hiên, tiếng nổ lách cách của chiếc xe máy cũ xa dần về hướng đường lộ.
Ở góc bàn, Thảo thoăn thoắt xếp các tờ biên bản thành từng tệp riêng, vuốt thẳng từng nếp giấy bị quăn góc rồi dùng kẹp bướm cố định lại trước khi cho vào cặp hồ sơ văn phòng bằng nhựa cứng. Cô bé lễ phép chào mọi người rồi ôm cặp tài liệu đi vào gian làm việc nhỏ ở chái đông để nhập các số liệu biểu quyết cuối cùng vào máy tính.
Phúc đỡ cánh tay trái của cha, cẩn thận nhấc chiếc gậy mun đưa vào tay ông:
"Ba mệt rồi, để con dìu ba vào giường nằm nghỉ một chút. Nãy giờ ba ngồi nghe số liệu liền tù tì hai tiếng đồng hồ, huyết áp dễ dao động lắm."
Ông Thành không từ chối như mọi khi. Ông khẽ thở ra một hơi dài, đặt bàn tay lành lặn lên vai người con trai. Những bước chân khập khiễng của ông gõ đều trên nền gạch, từng nhịp từng nhịp chậm rãi đi về phía phòng trong. Đi ngang qua chiếc bàn trà, mắt ông thoáng nhìn lại cuốn sổ bìa da đen đã sờn rách bốn góc nằm lặng im dưới bóng chiếc đèn bàn vừa bật sáng, nhưng lần này ông không đưa tay với lấy nó nữa.
Bà Hạnh nhìn theo bóng hai cha con bước qua tấm rèm vải, rồi lẳng lặng cúi xuống thu dọn những chén trà đã nguội ngắt trên khay gỗ. Đôi vai gầy của bà buông lỏng hoàn toàn. Sau trận lôi đình bộc phát vừa rồi, người đàn bà tưởng như chỉ biết cam chịu ấy dường như đã trút bỏ được cả một tảng đá đè nặng ngực mình suốt ba mươi năm. Bà bưng khay chén đi xuống bếp, tiếng nước chảy róc rách nơi bồn rửa chén bằng xi măng vang lên, hòa cùng tiếng lách cách của chiếc bật lửa gas khi bà bắt đầu nhóm bếp nấu bữa cơm chiều. Mùi hành phi thơm lừng bắt đầu bốc lên từ gian bếp dưới – bữa cơm đầu tiên mà trong lòng bà không còn nỗi thắt thỏm lo âu về những món nợ giấu giếm, những cú điện thoại đòi tiền bất chợt hay những món vàng cưới phải lặng lẽ đem đi cầm cố ngoài chợ tỉnh.
Lan ôm tập hồ sơ tổng kết mười tháng bước ra hiên nhà, đứng tựa lưng vào lan can gỗ nhìn ra khoảng sân chượp.
Gió bấc cuối năm thổi qua rặng dừa nước ven mé sông Cà Ty rào rạt. Mặt sông lấp lánh ánh hoàng hôn đỏ ối như dát một lớp đồng thau lộng lẫy, từng con sóng nhỏ lăn tăn vỗ vào bờ kè đá phát ra những âm thanh rì rào quen thuộc của tuổi thơ cô. Mùi cá cơm than ủ muối nồng đượm, ngấu chín tự nhiên từ hai mươi thùng gỗ mít ngoài sân tỏa ra ngạt ngào. Đó là một mùi hương đằm thắm, ngọt đượm vị đạm cá tự nhiên, hòa quyện với vị mặn mòi gắt gỏng của muối Cà Ná phơi nắng to và mùi ngai ngái của thớ gỗ mít lâu năm ngậm nước mặn. Thứ mùi hương bền bỉ, kiên gan ấy đã nuôi sống gia đình cô qua bao thế hệ bão giông, qua những đợt khủng hoảng thị trường ngặt nghèo, và nay đã được bảo bọc bằng một hàng rào kỷ luật sòng phẳng để tiếp tục tồn tại.
Cuốn sổ nợ viết tay cũ kỹ của cha, sau cuộc họp hôm nay, đã chính thức được đóng lại. Nó sẽ không còn là công cụ điều hành dòng tiền, không còn là lý do để người ta nhân danh tình cảm mà làm tổn thương những người thân ruột thịt trong gia đình. Nó sẽ được cất vào tủ kính phòng truyền thống như một chứng tích lịch sử của cơ sở Hải Thành – nhắc nhở những người đi sau về cái giá của tình nghĩa khi thiếu vắng sự minh bạch.
Tiếng động cơ xe máy quen thuộc vang lên ngoài ngõ nhỏ, cắt đứt dòng suy nghĩ của Lan.
Chiếc xe Wave cũ màu xanh nhớt dừng lại trước cổng xưởng. Lê Quốc An gạt chân chống, tháo chiếc nón bảo hiểm dính đầy bụi đường, trên tay cầm một tập hồ sơ kẹp bìa cứng màu xanh dương. Anh bước vào sân, chiếc áo sơ mi bạc màu lấm tấm vài vệt dầu mỡ máy móc nơi gấu tay áo, mái tóc hơi rối vì gió đường trường.
"Họp gia đình xong xuôi rồi hả Lan?" An dừng lại dưới chân bậc tam cấp, ngước nhìn cô, nụ cười hiền lành và ánh mắt ấm áp quen thuộc sáng lên trong bóng hoàng hôn nhập nhoạng.
"Xong rồi An," Lan mỉm cười, bước xuống thềm đón anh. "Mọi người thông qua hết rồi. Cả nhà đều đồng thuận theo quy chế mới."
"Chúc mừng Lan nhé," An nói chân thành. Anh đưa tập hồ sơ trên tay cho cô. "Tôi ghé qua gửi lại cho xưởng biên bản bàn giao kiểm định và bảo dưỡng máy móc định kỳ. Chiều nay tôi đã qua điểm Phong Nẫm kiểm tra lại toàn bộ cụm bốn vòi chiết rót và máy dập nắp bán tự động, áp suất piston giữ ổn định sáu bar, không còn hiện tượng rò rỉ khí nén. Còn hệ thống rãnh lắng lọc ba ngăn lót màng HDPE ngoài sân chượp này thì bơm chìm chạy rất êm, men vi sinh đang phân hủy bùn tốt, nước xả ra bể lắng trong veo."
Lan đón lấy tập biên bản, đầu ngón tay khẽ chạm vào bàn tay thô ráp của An. Các thông số kỹ thuật được anh ghi chép tỉ mỉ, chi tiết, kèm theo cả sơ đồ hướng dẫn công nhân tự vệ sinh van định kỳ hàng tuần. Từng nét chữ kỹ thuật vuông vức, sạch sẽ phản ánh đúng con người chỉn chu, tận tụy của anh.
"Cảm ơn An nhiều lắm. Nhờ có An đại tu máy móc và làm cái bể lắng lọc này mà xưởng mới vượt qua được đợt kiểm định ngặt nghèo của anh Tín bên Nam Lộ, lại kịp thời hạn giải trình với ủy ban phường."
An im lặng một thoáng. Anh nhìn ra khoảng sân chượp ngăn nắp, nhìn những thùng gỗ mít sừng sững trong bóng chiều tà, rồi lại quay sang nhìn Lan. Ánh mắt anh có chút gì đó ngập ngừng, lắng đọng, như chứa đựng một điều gì đó khó nói thành lời.
"An sao vậy? Có chuyện gì trục trặc ở các mối máy móc khác hả?" Lan nhận thấy vẻ khác lạ trong ánh mắt bạn cũ, khẽ hỏi.
An cười nhẹ, đưa tay xoa nhẹ sống mũi, giọng anh trầm xuống giữa tiếng gió sông rì rào:
"Không, máy móc ở đây đều ổn thỏa hết rồi Lan. Tôi ghé đưa biên bản... một phần là để chào Lan."
Lan sững người, tập hồ sơ trên tay khẽ siết lại: "Chào? An định đi đâu sao?"
"Tôi vừa nhận lời ký hợp đồng kỹ thuật dài hạn cho một nhà máy cơ điện lạnh lớn ở Khu công nghiệp Long Thành, bên Đồng Nai," An nhìn thẳng vào mắt cô, giọng nói chân thành nhưng phảng phất một nỗi bùi ngùi khó giấu. "Gói thầu bảo trì dây chuyền cấp đông kéo dài hai năm, điều kiện rất tốt, họ ứng trước ba mươi phần trăm và phụ cấp lưu trú đàng hoàng. Tôi đã bàn giao hết các mối sửa chữa nhỏ lẻ ở Phan Thiết cho mấy đứa học trò rồi."
Gió bấc từ sông Cà Ty thốc mạnh qua khoảng sân, làm tà áo Lan bay phần phật. Một cảm giác hẫng hụt mơ hồ bất chợt dâng lên trong lồng ngực cô, se thắt lại. Suốt mười tháng qua, giữa muôn vàn áp lực bủa vây từ nợ nần, bệnh tật của cha và những cuộc đàm phán nghẹt thở, sự hiện diện lặng lẽ, đáng tin cậy của An bên cạnh những cỗ máy chiết rót và đường rãnh thoát nước luôn là một điểm tựa vững chãi, bình yên nhất mà cô có được nơi quê nhà.
"Bao giờ... bao giờ An đi?" Lan khẽ hỏi, cố giữ cho giọng mình không run rẩy.
"Cuối tuần này tôi đi," An mỉm cười nhẹ, ánh mắt nhìn cô đầy dịu dàng và trân trọng. "Chủ nhật xe công ty sẽ đón tôi lên trạm. Chiều nay ghé qua, thấy xưởng mình vận hành ngăn nắp đâu vào đấy, thấy Lan giải quyết xong chuyện nợ nần gia đình... tôi mừng cho Lan lắm. Lan đã làm được một việc phi thường mà không phải ai cũng làm nổi."
Lan đứng lặng dưới bóng hoàng hôn rực rỡ đang lịm dần trên dòng sông Cà Ty. Tiếng còi tàu ngoài cửa biển Phan Thiết vọng về từng hồi dài trầm đục, báo hiệu một chuyến ra khơi mới giữa ngút ngàn sóng gió.