Cuốn sổ chưa khép
Ánh nắng vàng nhạt cuối buổi chiều của tháng thứ mười rọi nghiêng qua hàng hiên xưởng ủ, hắt những vệt sáng dài qua khung cửa sổ chấn song gỗ đã tróc sơn. Trên chiếc bàn gỗ gõ đỏ thô mộc, mặt bàn loang lổ những vết trầy xước và ngấn nước muối kết tinh qua hàng chục mùa cá, cuốn sổ nợ bìa da sờn rách của ông Thành nằm kề sát chiếc máy tính xách tay màu bạc. Màn hình máy tính hiển thị bảng cân đối dòng tiền hoàn chỉnh của Lan, các cột số liệu màu xanh lam và đen thẳng tắp, ngăn nắp như những nhịp cầu thép bắc qua dòng nước xoáy.
Gió từ cửa sông Cà Ty thổi vào mang theo vị muối mặn gắt nồng đượm, hòa cùng hơi ẩm lành lạnh đặc trưng của những ngày chớm bấc cuối năm. Từng hạt bụi nắng li ti lơ lửng, chao lượn trên mặt bàn gỗ như những mảnh vỡ của thời gian. Mười tháng trước, cũng chính trên chiếc bàn này, Lan đã mở cuốn sổ tay cáu bẩn ấy ra trong một buổi chiều ngột ngạt đến tắt thở. Khi đó, cô đứng giữa gian phòng sực mùi mắm trở cặn, hai tai ù đi bởi tiếng chuông điện thoại đòi nợ réo rắt từng hồi: tiền vỏ chai nhựa từ cơ sở ngoài Chợ Lầu, tiền dầu chạy ghe thu gom cá, tiền điện ba pha của phân xưởng đóng chai, tiền muối Cà Ná giao đợt cuối chưa thanh toán. Tài khoản ngân hàng của hộ kinh doanh bị ngân hàng phong tỏa vì khoản nợ quá hạn, còn ông Thành—người cha cả đời lấy chữ tín truyền miệng làm kim chỉ nam—thì nằm thiếp đi trên giường bệnh cấp cứu của bệnh viện tỉnh với chẩn đoán xuất huyết não bán cầu trái.
Vào cái ngày kinh hoàng ấy, cuốn sổ da nâu nát tươm như một mớ bòng bong không lối thoát. Những dòng chữ viết tay của cha cô xiêu vẹo, nét mực bi tím lem luốc mồ hôi và nước mắm rỉ, ghi chép hỗn độn những khoản vay mượn tình nghĩa kéo dài qua hàng chục năm: không ngày đáo hạn, không điều khoản phạt, không biên bản đối chiếu công nợ, không cả chữ ký xác nhận của người nhận tiền. Đó là một mê hồn trận của những ân tình không tên, nơi ranh giới giữa vốn liếng làm ăn của cả một gia tộc và sự nể nang của tình làng nghĩa xóm bị xóa nhòa hoàn toàn, đẩy cơ sở Hải Thành vào miệng vực phá sản chỉ sau một cơn bão biển trái mùa và một đợt thu mua cá thất bát.
Bây giờ, không gian đối diện Lan đã khác hẳn. Đặng Thị Thảo ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế gỗ đẩu, lưng thẳng tắp. Cô kế toán trẻ mặc chiếc áo sơ mi cộc tay màu xanh nhạt giản dị, tóc buộc gọn sau gáy. Trên mặt bàn trước mặt Thảo, bên cạnh cuốn sổ da cũ, là một chiếc hộp nhựa chống ẩm, một cây bút dạ quang màu xanh lá cây sáng rực và một xấp bìa còng màu xanh dương đã được dán sẵn nhãn phân loại theo từng quý và từng niên độ chứng từ. Thảo cẩn thận lật từng trang giấy bổi đã ố vàng, ngón trỏ miết nhẹ trên từng con số viết tay, rà soát đối chiếu với bảng danh mục phải thu hiển thị trên màn hình phụ.
"Chị Lan, mục của đại lý Chín Bảy ở Chợ Lớn Phan Thiết, mười triệu đồng tiền nước mắm loại một giao hồi tháng mười một năm ngoái," Thảo ngẩng lên, giọng nói rành rọt, tự tin và vững vàng. "Chứng từ ủy nhiệm chi qua ngân hàng ngày mười lăm tháng ba âm lịch đã khớp hoàn toàn với phiếu thu tiền mặt số 04 và biên bản đối soát có đóng dấu treo của cửa hàng. Toàn bộ tiền đã vào tài khoản mẹ từ sáu tháng trước, chứng từ lưu trữ ở bìa còng số một. Em đánh dấu xanh dứt điểm khoản này nhé?"
"Đánh dấu xanh đi em," Lan khẽ gật đầu, ngón tay cô lướt nhẹ trên bàn rê chuột, mắt không rời bảng đối chiếu công nợ tổng hợp. "Khoản đó coi như tất toán hoàn toàn. Đại lý Chín Bảy sau đợt đó đã chuyển hẳn sang hình thức trả tiền ngay khi nhận hàng để hưởng chiết khấu hai phần trăm, luồng hàng của họ ba tháng nay rất đều và sạch."
Thảo cầm cây bút dạ quang, kéo một đường mực xanh dứt khoát, thẳng tắp đè lên dòng chữ viết tay xiêu vẹo của ông Thành: *Chín Bảy – nợ mười triệu tiền mắm nhứt*. Đầu bút rít khẽ trên mặt giấy xơ xác phát ra một âm thanh sột soạt khô giòn. Lan nhìn vệt màu xanh tươi sáng đè lên nét mực lem luốc cũ kỹ, cảm nhận một luồng không khí nhẹ nhõm lan tỏa trong lồng ngực. Từng nét mực xanh ấy không chỉ là sự kết thúc của một con số nợ, mà là sự giải phóng dần dần một gánh nặng tâm lý từng đè nghẹt gia đình cô suốt ba trăm ngày qua.
"Còn quán ăn của cô Đỗ Thị Sương thì sao chị?" Thảo dừng đầu bút lại ở dòng kế tiếp trên trang sổ thứ bốn mươi bảy.
Ở dòng này, nét bút bi xanh của ông Thành vẫn còn hằn sâu vào mặt giấy, mực hơi nhòe do ngấm nước: *Cho Sương mượn lo việc nhà sau bão, tính sau – 35.000.000đ*.
Lan dừng tay trên bàn phím vài giây. Cô nhìn dòng chữ quen thuộc của cha mình, ký ức của những ngày tháng Ba bỏng rát lại hiện về. Đó là ngày cô cùng Thảo đích thân chạy xe máy xuống khu xóm chài ven biển để tìm cô Sương. Khi ấy, người phụ nữ góa bụa ấy đã khóc ròng sau chái bếp xiêu vẹo, phân trần rằng cơn bão số chín năm ngoái đã cuốn phăng mái tôn quán cơm, nước biển tràn vào làm hỏng toàn bộ tủ đông và bàn ghế, nếu không có ba mươi lăm triệu ông Thành dúi vào tay lúc nửa đêm thì bốn đứa con của cô đã phải bỏ học vào Nam làm thuê.
"Khoản ba mươi lăm triệu của cô Sương, chúng ta đã bóc tách rõ ràng từ đợt rà soát giữa năm," Lan chậm rãi phân tích, giọng điềm tĩnh, khúc chiết của một người làm nghề kiểm toán và tài chính đã trải qua vô số cuộc phẫu thuật dòng tiền. "Trong đó, mười lăm triệu là tiền nợ mua nước mắm thương phẩm phục vụ cho quán ăn. Khoản này cô Sương đã trả tám triệu tiền mặt ngay sau buổi làm việc đầu tiên, và suốt mười sáu tuần qua, mỗi tuần cô ấy đều đặn chuyển khoản một triệu rưỡi tiền bán cơm vào tài khoản xưởng. Mười lăm triệu tiền hàng thương mại đã tất toán dứt điểm từ cuối tháng thứ tư, có đủ chữ ký của cô ấy trên biên bản hoàn tất công nợ."
Lan dừng lại một nhịp, đưa tay chỉ vào con số hai mươi triệu còn lại trên màn hình:
"Còn hai mươi triệu tiền cha cho vay cứu trợ sau bão số chín không có giấy tờ, không có khế ước vay, bản chất của nó là một khoản trợ cấp cá nhân mang danh nghĩa ân tình, không phải là công nợ thương mại hợp pháp của hộ kinh doanh Hải Thành. Chúng ta không thể dùng áp lực pháp lý hay biện pháp thu hồi nợ thông thường để dồn ép một gia đình đang chật vật tái thiết sinh kế. Tại cuộc họp gia đình hôm qua, chị và ba mẹ đã thống nhất dứt khoát: đóng băng hoàn toàn khoản nợ này, không tính lãi, và trích lập toàn bộ hai mươi triệu này vào mục dự phòng nợ khó đòi của niên độ tài chính hiện tại."
Thảo chăm chú lắng nghe, ngón tay giữ chặt mép thước kẻ.
"Sau này, nếu quán ăn của cô Sương buôn bán khấm khá trở lại và cô ấy chủ động mang tiền đến trả ơn cho cha, số tiền đó sẽ được hạch toán thẳng vào Quỹ Hỗ trợ Cộng đồng và Tương trợ Nghề của xưởng, dùng để giúp đỡ con em các gia đình bạn ghe gặp hoạn nạn trên biển. Tuyệt đối không đưa số tiền đó quay trở lại làm xáo trộn dòng tiền lưu động hay làm méo mó doanh thu thuần của xưởng nữa. Chúng ta cần một bức tranh tài chính sạch, không có những khoản nợ ảo treo lơ lửng để tự đánh lừa mình."
"Dạ, em hiểu rồi," Thảo gật đầu rành rọt. Cô mở nắp bút dạ đỏ, cẩn thận ghi chú mã phân loại *DP-01* ngay bên lề trang sổ, sau đó mở cặp tài liệu kẹp phiếu trích lập dự phòng có chữ ký xác nhận của kế toán và phụ trách cơ sở vào góc phải.
Nhìn thao tác thuần thục, dứt khoát của Thảo, Lan không khỏi nhớ lại hình ảnh cô gái trẻ này mười tháng trước. Khi Lan mới từ Sài Gòn trở về, Thảo chỉ là một cô bé mới ra trường làm việc bán thời gian, run rẩy lo sợ mỗi khi nghe tiếng chuông điện thoại đòi nợ, từng lén chụp lại màn hình các trang sổ nợ cáu bẩn gửi cho người ngoài vì sợ cơ sở vỡ nợ sẽ khiến mình vướng vào vòng lao lý. Nhưng qua mười tháng cùng Lan lăn lộn giữa bùn đất, nắng gió và các cuộc đối chất cân não, Thảo đã lột xác thành một người giữ sổ sách độc lập, có nguyên tắc, biết phân biệt rạch ròi giữa cảm xúc cá nhân và quy chuẩn chứng từ kế toán.
Hai chị em tiếp tục cúi đầu rà soát từng cái tên còn lại trên trang sổ thứ bốn mươi tám—trang cuối cùng của cuốn sổ nợ đã ám ảnh gia đình suốt mười năm ròng.
"Mục của đại lý Phan Quốc Lợi ở Phú Hài," Thảo đọc tiếp, giọng cô đều đặn và chắc nịch.
Lan nhớ như in buổi trưa tháng Tư gay gắt tại kho hàng của Lợi. Gã đàn ông buôn chuyến sừng sỏ ấy từng vắt chân chữ ngũ, cười khẩy thách thức Lan tìm ra bằng chứng khi ông Thành nằm viện. Nhưng những tờ phiếu xuất kho có chữ ký tài xế nhận hàng, những bản sao kê đối chiếu lộ trình xe tải và biên bản kiểm kê tại bến đã buộc Lợi phải ngồi vào bàn đàm phán. Hai mươi lăm triệu đồng tiền mặt đã được thu hồi ngay tại chỗ. Hai mươi ba triệu còn lại được chia làm hai kỳ trả nợ: kỳ một mười lăm triệu đã chuyển khoản vào tài khoản xưởng đúng ngày hẹn, kỳ hai tám triệu cuối cùng đã có bản cam kết bảo lãnh có chứng thực, trong khi phần hàng hỏng cấn trừ tám triệu do lỗi lưu kho ẩm mốc đã được lập biên bản nghiệm thu tiêu hủy phế phẩm theo đúng quy trình môi trường, có đại diện chính quyền địa phương ký thị thực.
"Khoản tạm ứng cá của ghe anh Huỳnh Văn Tư," Thảo lật tiếp một tờ phiếu giao nhận.
"Đã cấn trừ đủ," Lan đáp ngay không cần nhìn máy tính. "Mười phẩy một triệu đồng tiền tạm ứng dầu và lưới cho chuyến biển tháng Năm đã được trừ dần đều đặn hai mươi lăm phần trăm giá trị cá cơm than tươi qua từng chuyến ghe cập cảng Cồn Chà suốt bốn tháng qua. Toàn bộ lượng cá cơm thu về đều đạt độ tươi loại một, tỷ lệ cá tạp dưới năm phần trăm, chú Bảy Hòa đã nghiệm thu vào thùng chượp số 7 và số 9. Phiếu cấn trừ cuối cùng đã ký xong tuần trước khi ghe của anh Tư về bến nghỉ biển cuối năm."
"Còn khoản nợ lớn nhất của cô Út Dung?" Thảo ngước lên nhìn Lan, ánh mắt có phần dè dặt.
Nhắc đến Út Dung là nhắc đến vết thương sâu nhất trong nội bộ gia tộc họ Võ. Một trăm hai mươi triệu đồng tiền vốn góp miệng từ ngày mở rộng phân xưởng đóng chai ở Phong Nẫm từng suýt xé nát tình ruột thịt, khi người cô ruột dẫn theo đám người đòi nợ thuê đến tận cổng xưởng đập phá, đòi kê biên nhà thùng và dọa cắt đất đem bán cho một công ty bất động sản du lịch.
"Văn bản thỏa thuận hòa giải lập trước mặt luật sư Lê Hoàng Sơn và đại diện Ủy ban nhân dân phường đã có hiệu lực pháp lý tuyệt đối," Lan nói, giọng cô đanh lại nhưng hoàn toàn bình thản, không còn chút oán hận hay kích động. "Đợt một ba mươi triệu trả bằng tiền trích từ lợi nhuận gộp tháng thứ sáu đã thanh toán xong. Hai kỳ trả góp tiếp theo, mỗi kỳ năm triệu đồng vào đúng ngày hai mươi âm lịch hàng tháng, tài khoản của cô Út Dung đã nhận đủ, ủy nhiệm chi lưu ở tập hồ sơ hòa giải số 03. Số dư nợ còn lại tám mươi lăm triệu đồng đã được chuyển hóa thành nghĩa vụ nợ dài hạn có tài sản bảo đảm bằng sản lượng nước mắm thành phẩm hình thành trong tương lai của ba thùng chượp, với lịch trình thanh toán kéo dài mười bảy tháng tiếp theo. Cô Út Dung không còn quyền can thiệp vào bất kỳ quyết định vận hành nào của xưởng, không được bén mảng đến khu nhà thùng gây rối, và quan trọng nhất: đất đai, nhà xưởng của tổ tiên không còn bị đe dọa phân chia hay phong tỏa nữa."
Thảo thở ra một hơi dài nhẹ nhõm. Cô cầm cây bút dạ quang xanh, kéo một đường thẳng tắp, dứt khoát qua cái tên cuối cùng trên trang giấy.
Đường mực xanh tươi sáng cắt ngang qua những dòng mực tím hoen ố, khép lại trang thứ bốn mươi tám. Cuốn sổ nợ viết tay của ông Thành—chứng tích của một thời làm ăn dựa dẫm vào lòng tin mù quáng và sự cẩu thả quản trị—chính thức được lật đến trang bìa sau bằng da ép đã sờn rách hết góc cạnh.
Thảo lấy một chiếc khăn bông trắng sạch, nhẹ nhàng lau đi lớp bụi mịn và muối cá bám trên gáy da nâu. Sau đó, cô mở chiếc hộp nhựa chống ẩm màu trắng đục, đặt cuốn sổ nằm ngay ngắn vào trong, rắc một gói hạt hút ẩm silica gel vào góc hộp, rồi ấn chặt nắp gài lại. Trên nắp hộp, một nhãn dán màu trắng in chữ đậm nổi bật: *Hồ sơ công nợ tồn đọng giai đoạn 2014 – 2024. Niêm phong lưu trữ ngày 28 tháng Chạp*.
"Xong hết rồi đó chị Lan," Thảo ngẩng đầu lên, hai khóe mắt lấp lánh nụ cười rạng rỡ. "Toàn bộ chứng từ gốc, hóa đơn đỏ, ủy nhiệm chi ngân hàng, biên bản cấn trừ công nợ và văn bản hòa giải pháp lý em đã phân loại, bấm lỗ và kẹp vào sáu tập bìa còng theo đúng trình tự thời gian và đối tượng khách hàng. Bắt đầu từ ngày mùng một tháng Giêng năm tới, xưởng mình sẽ vận hành hoàn toàn trên phần mềm kế toán nội bộ đã cài trên máy tính này. Sẽ không còn một mẩu giấy than, một tờ hóa đơn bán lẻ viết tay hay một thỏa thuận miệng nào được phép tồn tại ngoài hệ thống nữa."
"Cảm ơn em, Thảo," Lan khẽ mỉm cười, đưa tay vỗ nhẹ lên mu bàn tay cô kế toán trẻ. Lòng bàn tay Lan ấm áp, truyền sang Thảo một sự tin cậy vững bền. "Mười tháng qua, nếu không có sự cẩn trọng, kiên nhẫn của em trong việc lần mò từng cái cuống vé xe, từng tờ biên nhận thu tiền cá ngoài cảng, chị không thể nào ráp lại được bộ khung tài chính này để cứu Hải Thành."
"Chính chị đã cứu em thì đúng hơn," Thảo xúc động nói, giọng nghẹn lại đôi chút. "Nếu ngày đó chị không kiên quyết dạy em cách ghi chép độc lập, không bảo vệ em trước những lời đe dọa của mấy người đòi ký khống chứng từ, chắc em đã bỏ nghề vì hoảng loạn rồi. Bây giờ em biết làm kế toán đàng hoàng là như thế nào rồi chị. Không sợ ai ép, cứ đúng chứng từ, đúng luật mà làm."
Thảo ôm xấp bìa còng màu xanh dương vào lòng, đứng dậy cúi chào Lan rồi bước nhanh về phía góc phòng kế toán để cất tài liệu vào chiếc tủ sắt chống cháy vừa được lắp đặt tháng trước. Tiếng then cài kim loại vang lên một tiếng *cạch* dứt khoát, nghe trầm và đanh như một sự xác tín.
Căn phòng làm việc nhỏ trở nên tĩnh lặng. Lan tựa lưng vào thành ghế gỗ, thả lỏng đôi vai đã mỏi nhừ sau nhiều giờ tập trung. Cô đưa mắt nhìn chiếc hộp nhựa niêm phong cuốn sổ cũ nằm im lìm trên giá sách.
Mười tháng trước, khi cô bước xuống chiếc xe khách giường nằm Phương Trang tại bến xe Phan Thiết trong một buổi chiều mù mịt cát bay, cô mang theo chiếc va li nhỏ cùng tâm thế của một người chữa cháy bất đắc dĩ. Cô từng mang theo sự kiêu hãnh lạnh lùng của một chuyên viên tài chính cấp cao xuất thân từ những tòa cao ốc văn phòng lộng lẫy ở Sài Gòn, nơi mọi biến số đều được đo đếm bằng mô hình định lượng và những bản báo cáo thẩm định bóng bẩy. Khi ấy, cô nhìn xưởng mắm của cha bằng con mắt phê phán: một mô hình sản xuất gia đình lạc hậu, đầy rẫy rủi ro và thiếu chuyên nghiệp. Cô từng nghĩ mình chỉ cần về đây vài tuần, dùng nghiệp vụ kiểm toán để tái cấu trúc dòng tiền, bán bớt tài sản không sinh lời để trả nợ cho ngân hàng, rồi phủi tay quay lại thành phố tiếp tục sự nghiệp rực rỡ đang chờ đón.
Nhưng vùng đất Cà Ty này, những mẻ cá cơm than ủ chượp và những thớ gỗ mít ngậm muối đã dạy cho cô một bài học hoàn toàn khác. Cô nhận ra rằng những bảng tính Excel dù tinh vi đến đâu cũng trở nên vô nghĩa nếu không chạm được vào bản chất của con người và hơi thở của nghề truyền thống. Cô không thể cứu gia đình bằng cách biến mình thành một kẻ trịch thượng đứng ngoài cuộc phán xét, cũng như không thể cứu xưởng mắm bằng sự hy sinh mù quáng, lấy tiền túi cá nhân ra trám vào những lỗ thủng vô đáy của thói nể nang. Muốn cứu Hải Thành, cô phải bước chân vào bùn đất, học cách ngửi mùi nước bổi, hiểu được nỗi nhọc nhằn của người đi biển, và dùng chính sự minh bạch, sòng phẳng của nghề tài chính để làm bệ đỡ vững chắc cho cái tâm của người làm nghề truyền thống.
Tiếng bước chân chậm rãi ngoài thềm gạch kéo Lan trở về thực tại.
Phúc bước vào phòng, trên tay cầm một tập hồ sơ in vi tính được đóng gáy cẩn thận bằng bìa mica trong suốt. Đi ngay phía sau anh là bà Hạnh, tay bưng chiếc khay gỗ nhỏ đặt âu trà sen nghi ngút khói thơm.
"Chị Hai, bản thỏa thuận in xong rồi, em đã kiểm tra lại từng số trang và phụ lục đính kèm," Phúc đặt tập tài liệu xuống mặt bàn trước mặt Lan, rồi kéo chiếc ghế đẩu ngồi xuống đối diện cô.
Lan nhìn người em trai hai mươi chín tuổi của mình. Những vết nám nắng gió biển đã hằn sâu trên gò má vuông vức của Phúc, làn da rám ráo khỏe khoắn, nhưng đôi mắt anh không còn vẻ hung hăng, bực bội hay sự tự ti trốn tránh như những ngày đầu Lan mới trở về. Bộ quần áo bảo hộ lao động màu xanh công nhân xưởng mắm được giặt sạch sẽ, phẳng phiu; trên ngực áo bên trái, chiếc thẻ tên bằng mica ghi rõ: *Võ Tấn Phúc – Trưởng bộ phận Vận hành và Kho vận*. Không còn là một cậu ấm lông bông chỉ biết nghe lời bạn bè rủ rê mở rộng cơ sở vô tội vạ, Phúc của ngày hôm nay đã trải qua mười tháng trực tiếp bốc xếp từng két mắm, theo dõi từng chuyến xe đông lạnh và cọ rửa từng đáy thùng chượp dưới sự giám sát kỷ luật sắt của chị gái.
Bà Hạnh nhẹ nhàng đặt khay trà xuống bàn, rót ba chén nước sen vàng óng thơm ngát. Ánh mắt người mẹ nhìn con gái lớn giờ đây ngập tràn sự thấu hiểu, kính nể và bình an, không còn nét âu lo khắc khoải hay vẻ né tránh mỗi khi nhắc đến chuyện nợ nần như trước. Căn nhà ba gian cổ kính trên Thửa 42—nơi bà đã làm dâu hơn ba mươi năm—nay đã được tách bạch hoàn toàn về mặt pháp lý thông qua văn bản xác lập tài sản riêng có chứng thực của thừa phát lại; quỹ sinh hoạt gia đình cố định sáu triệu đồng mỗi tháng được xưởng trích chuyển đều đặn vào tài khoản ngân hàng riêng của bà vào ngày mùng một hàng tháng, hoàn toàn độc lập với tài khoản kinh doanh của hộ Hải Thành. Bà Hạnh không còn phải nửa đêm lén lút mở tủ cạy tráp lấy từng chỉ vàng hồi môn đi bán tháo để bù lỗ tiền ghe cá, cũng không còn phải run rẩy đón nhận những lời chì chiết đòi nợ thay cho chồng.
"Con đọc lại một lượt đi Lan," bà Hạnh ngồi xuống cạnh con trai, giọng bà ấm áp và đượm vẻ trang trọng. "Hôm qua họp cả nhà, ba con cũng đã nghe đọc từng điều khoản và gật đầu đồng ý hết rồi. Hôm nay mẹ với thằng Phúc ngồi đây, ký tên làm chứng và cam kết thực hiện đúng như vậy cho con yên tâm."
Lan cầm tập văn bản lên. Từng trang giấy in trắng tinh, phẳng phiu, thơm mùi mực in laser mới. Ở trang đầu tiên, tiêu đề văn bản hiện lên trang trọng, đanh gọn:
*BẢN THỎA THUẬN ĐIỀU HÀNH HỘ KINH DOANH CƠ SỞ NƯỚC MẮM HẢI THÀNH*
Đây không phải là một tờ giấy ủy quyền chung chung trong cơn bấn loạn của một gia đình sắp phá sản, cũng không phải là một lời hứa hẹn bằng miệng đầy cảm tính về quyền thừa kế hay trách nhiệm con cái đối với cha mẹ già. Từng câu chữ trong bản thỏa thuận này là kết tinh của sự sòng phẳng, được rà soát và hiệu chỉnh kỹ lưỡng dưới sự tham vấn pháp lý của luật sư Lê Hoàng Sơn:
*Điều 1: Thời hạn thực hiện.* Thỏa thuận có hiệu lực đúng mười hai tháng, tính từ ngày mùng một tháng Giêng năm tới cho đến hết ngày ba mươi tháng Chạp cùng năm.
*Điều 2: Vị trí và Thù lao.* Bà Võ Ngọc Lan đảm nhận vị trí Giám đốc Điều hành toàn diện của Cơ sở Hải Thành. Mức thù lao cố định là mười lăm triệu đồng mỗi tháng, được hạch toán thẳng vào chi phí quản lý doanh nghiệp hợp lệ của cơ sở, thanh toán qua tài khoản ngân hàng cá nhân vào ngày mùng năm hàng tháng.
*Điều 3: Thẩm quyền và Trách nhiệm điều hành.* Giám đốc Điều hành có toàn quyền quyết định kế hoạch thu mua nguyên liệu cá cơm và muối Cà Ná theo định mức mùa vụ; kiểm soát toàn bộ quy trình ủ chượp và tiêu chuẩn kiểm định chất lượng nước mắm xuất xưởng; ký duyệt hạn mức công nợ thương mại đối với khách hàng (áp dụng mức tối đa không quá bảy triệu đồng trong thời hạn không quá mười lăm ngày, chỉ dành riêng cho các đại lý truyền thống có lịch sử thanh toán chuẩn xác); ký kết các hợp đồng kinh tế về gia công, đóng chai và phân phối sản phẩm có giá trị dưới năm trăm triệu đồng.
*Điều 4: Cơ chế Giám sát và Quyền hạn Hội đồng Gia đình.* Mọi quyết định chi tiêu vượt quá hạn mức ngân sách hoạt động đã phê duyệt, mọi giao dịch liên quan đến tài sản cố định, đất đai, nhà thùng, máy móc đóng chai hoặc các hợp đồng vay vốn tín dụng bắt buộc phải thông qua sự đồng thuận bằng văn bản của Hội đồng Gia đình gồm ba thành viên: ông Võ Văn Thành (chủ hộ kinh doanh), bà Nguyễn Thị Hạnh và ông Võ Tấn Phúc. Không một cá nhân nào có quyền tự ý dùng tài sản của cơ sở để thế chấp hoặc bảo lãnh cho bất kỳ khoản vay cá nhân nào.
*Điều 5: Nhân sự và Vận hành nội bộ.* Ông Võ Tấn Phúc đảm nhiệm vị trí Trưởng bộ phận Vận hành và Kho vận, hưởng mức lương cứng mười triệu đồng mỗi tháng cùng khoản phụ cấp trách nhiệm quản lý xưởng hai triệu đồng mỗi tháng. Mọi chi phí vận chuyển, bốc xếp, xăng dầu xe tải đều phải thực hiện thanh toán qua thẻ phụ ngân hàng hoặc có hóa đơn, chứng từ hợp lệ mới được hoàn ứng.
*Điều 7: Điều khoản thoái lui và chuyển giao.* Sau khi kết thúc thời hạn mười hai tháng, Giám đốc Điều hành Võ Ngọc Lan có toàn quyền tự do lựa chọn: hoặc gia hạn hợp đồng điều hành theo các điều kiện mới; hoặc bàn giao toàn bộ quyền quản trị điều hành lại cho ông Võ Tấn Phúc nếu Hội đồng Gia đình đánh giá ông Phúc đã đủ năng lực quản trị độc lập; hoặc rút lui hoàn toàn khỏi cơ sở để quay trở lại phát triển sự nghiệp cá nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trong trường hợp Lan rút lui, cơ sở Hải Thành và các thành viên gia đình cam kết Lan không phải chịu bất kỳ sự ràng buộc, trách nhiệm pháp lý hay nghĩa vụ tài chính cá nhân nào đối với các khoản nợ phát sinh sau thời điểm bàn giao.
Lan đọc chậm rãi từng dòng, từng chữ. Từng điều khoản như một tấm khiên vững chắc bảo vệ danh dự, sự nghiệp và ranh giới tự do của cô.
Con số mười lăm triệu đồng mỗi tháng quả thực rất nhỏ bé nếu đặt cạnh lời đề nghị tuyển dụng với mức lương sáu mươi triệu đồng, phụ cấp chuyên gia và quyền mua cổ phiếu ESOP mà ông Hoàng Tuấn—sếp cũ của cô tại tập đoàn dược phẩm Mekong—đã gửi thư mời vào tháng trước. Nhưng mười lăm triệu đồng này có một giá trị tinh thần thiêng liêng mà không tập đoàn đa quốc gia nào có thể đem lại: nó là sự thừa nhận minh bạch, sòng phẳng đối với năng lực chuyên môn và công sức lao động của cô ngay chính trong ngôi nhà của mình. Nó xóa bỏ vĩnh viễn tư duy gia trưởng độc đoán từng coi sự cống hiến của người con gái là điều hiển nhiên, dập tắt cái thói quen xem tiền tiết kiệm của con cái như một chiếc phao cứu sinh vô điều kiện mỗi khi người lớn làm ăn thua lỗ.
"Chị thấy các điều khoản đều chuẩn xác, không cần sửa đổi thêm điều gì nữa," Lan ngẩng đầu lên nhìn Phúc, ánh mắt cô nghiêm nghị nhưng ấm áp. "Từ ngày mai, quy chế vận hành mới sẽ áp dụng triệt để. Đội xe giao hàng ba chiếc ở kho Phong Nẫm thuộc quyền điều phối trực tiếp của em, nhưng mỗi lít xăng, mỗi chặng đường đều phải ghi nhật trình xe. Nếu em nể bạn hàng, cho xuất kho hàng chịu vượt quá hạn mức bảy triệu mà không có chữ ký duyệt của chị, em sẽ phải tự bỏ tiền lương cá nhân ra bù vào quỹ xưởng. Chị nói trước để chị em mình giữ được sự tôn trọng lẫn nhau."
Phúc mỉm cười, một nụ cười chín chắn và nhẹ nhõm:
"Chị Hai cứ làm đúng luật. Mười tháng qua, em đi đòi nợ từng ngõ hẻm với chị, chứng kiến cảnh chú Bảy Hòa rớt nước mắt khi thùng cá số 4 bị hỏng vì nước mưa dột, rồi cùng anh An thức trắng đêm sửa máy chiết rót rung lắc... em hiểu làm ra được một giọt nước mắm ngon và giữ được đồng tiền lời nó cực khổ cỡ nào rồi. Lương mười triệu với hai triệu phụ cấp xưởng trả cho em mỗi tháng là quá đủ để em tích lũy, tự lo cho bản thân đàng hoàng mà không phải ngửa tay xin mẹ từng đồng đổ xăng như trước. Em hứa với chị, em không bao giờ quay lại cảnh cả nể, nhận nợ miệng thay người khác đâu."
Lan cầm cây bút bi mực đen trên bàn. Cô đặt ngòi bút xuống dòng chữ *Đại diện Điều hành Cơ sở*, nắn nót ký tên mình bằng một nét chữ bay bổng nhưng dứt khoát: *Võ Ngọc Lan*.
Bà Hạnh đón lấy cây bút, bàn tay người mẹ hơi run nhưng nét chữ ký dứt khoát bên cạnh tư cách *Đại diện Gia đình*. Phúc cũng cúi người, ký tên mạnh mẽ vào ô *Trưởng bộ phận Vận hành*.
Mực đen ngấm sâu vào thớ giấy trắng tinh. Tiếng ngòi bút cọ xát trên mặt giấy vang lên đanh gọn như một nhát búa đóng cọc tiêu phân định ranh giới: khép lại vĩnh viễn thời kỳ tăm tối của những lời hứa mơ hồ, mở ra một kỷ nguyên mới của sự minh bạch, nơi tình thân được bảo bọc và nâng niu bằng chính sự sòng phẳng và tôn trọng lẫn nhau.
* * *
Cầm bản thỏa thuận đã ký trên tay, Lan bước ra ngoài hiên nhà.
Ánh hoàng hôn đã buông xuống nhuộm đỏ ối khoảng sân gạch tàu rộng rãi. Dưới bóng mát râm ran của cây bàng cổ thụ trăm tuổi—nơi rễ cây xù xì trồi lên mặt đất như những bắp tay cuồn cuộn của người thợ biển—ông Võ Văn Thành đang ngồi tĩnh lặng trên chiếc ghế tựa mây quen thuộc.
Bên cạnh chân ghế của ông là cây gậy bốn chân bằng inox sáng loáng, các đế cao su bám chặt vào nền gạch. Mười tháng qua là một hành trình chiến đấu phi thường của người đàn ông từng một thời bất khuất trước sóng gió biển khơi. Dưới sự hướng dẫn kiên trì của kỹ thuật viên phục hồi chức năng Đinh Thị Hà, cùng sự chăm sóc kỷ luật và chế độ dinh dưỡng nghiêm ngặt của Lan, di chứng tai biến đã dần lùi bước. Cơ lực chi dưới bên phải của ông đã hồi phục đạt mức 4-, ông đã có thể tự chống gậy bước những bước đi vững chãi, nhịp nhàng từ giường ngủ ra sân hóng gió mà không cần ai phải đỡ nách. Cánh tay phải từng buông thõng bất động nay đã có thể nâng lên ngang ngực, các ngón tay đã co duỗi được, tuy vẫn còn một độ run rẩy nhẹ khi vận động tinh vi.
Trên chiếc bàn đá tròn trước mặt ông đặt hai vật thể mang tính biểu tượng của hai thế hệ: một bên là chiếc máy tính bảng của Lan hiển thị toàn bộ đồ thị phân tích dòng tiền mười tháng, báo cáo kiểm toán nội bộ và số dư tài khoản ngân hàng dương hơn bốn trăm triệu đồng; một bên là cuốn sổ tay bìa da cũ kỹ mà Thảo vừa mang ra theo yêu cầu của ông trước khi cất vào hộp niêm phong vĩnh viễn.
Lan bước lại gần, bước chân cô nhẹ nhàng trên nền gạch tàu. Cô kéo một chiếc ghế đẩu nhỏ, ngồi xuống sát bên cạnh người cha già.
"Ba," Lan khẽ gọi, giọng cô mềm mại như làn gió chiều.
Ông Thành từ từ quay đầu sang. Gương mặt người sáng lập thương hiệu nước mắm Hải Thành in hằn những vết chân chim sâu hoắm và sự khắc nghiệt của thời gian. Khóe miệng ông vẫn còn hơi xệ nhẹ do di chứng dây thần kinh số bảy, nhưng đôi mắt sâu thẳm của ông đã hoàn toàn lấy lại sự tinh anh, sáng rõ và trầm tĩnh của một người cả đời quen nhìn ngắm màu nước biển, đoán hướng gió chướng để thả lưới cá cơm.
Bàn tay phải còn hơi co cứng của ông Thành chầm chậm nâng lên, đặt lên mép cuốn sổ da. Những ngón tay thô ráp, chai sần vì vết cắt của dây thừng và muối mặn khẽ lật từng trang giấy cũ. Nét mực tím phai màu qua năm tháng hiện lên dưới ánh mắt ông: tên của những người bạn biển từ thuở hàn vi, những khoản nợ cá của anh Ba Chợ Cũ, những món tiền tạm ứng mua lưới của chú Bảy Ghe Cào, vài trăm nghìn tiền dầu thời bao cấp... Cả một đời người bôn ba, gây dựng cơ nghiệp bằng lòng tin chất phác, bằng sự hào sảng không toan tính của dân miền biển hiện về trong từng trang giấy ố vàng. Nhưng cũng chính sự hào sảng thiếu ranh giới ấy, sự cả nể và thói quen xem nhẹ quy chuẩn giấy tờ ấy suýt chút nữa đã chôn vùi toàn bộ mồ hôi nước mắt của cả một đời ông dưới đống đổ nát của nợ nần khi sức khỏe ông suy sụp.
Ngón tay run run của ông Thành dừng lại ở trang thứ bốn mươi tám. Ở đó, những vệt bút dạ quang màu xanh lá cây của Thảo đã vạch một đường thẳng thớm, đóng lại toàn bộ các tài khoản nợ cũ.
Ánh mắt người cha từ từ chuyển từ trang giấy bổi lem luốc sang màn hình máy tính bảng rực sáng của con gái.
Trên màn hình phẳng, các biểu đồ cột màu xanh đậm vươn cao vững chãi: doanh thu bán hàng thực tế từ mạng lưới đại lý mới, chi phí nguyên liệu được chuẩn hóa, khoản dự phòng rủi ro ba phần trăm lợi nhuận ròng được trích lập đều đặn cho Quỹ Tương trợ Nghề, và quan trọng nhất—dòng tiền mặt thuần túy độc lập, không một đồng nợ vay ngân hàng, không một đồng nợ xấu trôi nổi. Mọi thứ hiện lên rành mạch, chuẩn xác, không một chút mập mờ, tạo nên một thành trì kiên cố bảo vệ cơ sở trước mọi biến động của thị trường.
Ông Thành thở ra một hơi dài, lồng ngực gầy guộc phập phồng dưới lớp áo bà ba trắng tinh thơm mùi nắng. Bàn tay run rẩy của ông khẽ khép cuốn sổ da cũ lại, đẩy nhẹ nó về phía chiếc hộp nhựa niêm phong.
Ông không nói được những câu dài lưu loát—cơn tai biến vẫn giữ lại một phần sự trôi chảy của ngôn từ—nhưng trong ánh mắt ông, Lan nhìn thấy tất cả. Đó là sự xúc động nghẹn ngào, sự nhẹ nhõm vô bờ bến của một người lính già trút bỏ được gánh nặng đè nặng trên lưng suốt nửa đời người, và trên hết, đó là một niềm tự hào kín đáo, sâu sắc dành cho đứa con gái mà ông từng nghĩ đã rời bỏ cội nguồn để chạy theo cuộc sống xa hoa nơi phố thị.
Bàn tay phải thô ráp của ông Thành nâng lên, đặt lên mu bàn tay Lan đang để trên mặt bàn đá. Bàn tay ông run rẩy nhưng ấm áp lạ thường. Ông vỗ nhẹ lên mu bàn tay cô ba cái thật chậm rãi.
Rồi ông khẽ gật đầu.
Đó là một cái gật đầu dứt khoát, trang nghiêm và trọn vẹn nhất mà Lan từng nhận được trong đời. Đó là khoảnh khắc người cha—người thợ làm mắm bảo thủ, kiên cường của thế hệ cũ—chính thức buông bỏ sự cố chấp và trao trọn niềm tin vào con đường của thế hệ mới. Ông thừa nhận rằng con gái không hề chối bỏ truyền thống của gia đình, không hề làm hoen ố thanh danh của Hải Thành; cô chỉ đang dùng tri thức, sự văn minh và kỷ luật thép của thời đại mới để giữ cho ngọn lửa nghề của tổ tiên không bị lụi tàn trong giông bão.
"Tốt... lắm con," ông Thành thốt lên từng từ một, giọng trầm khàn, đứt quãng nhưng âm vang chắc nịch. Đôi mắt người cha ầng ậc nước nhưng khóe miệng khẽ mỉm cười thanh thản. "Làm... vậy... mới... bền."
Lan mỉm cười, sống mũi cay xè nhưng hai mắt sáng ngời. Cô lật ngửa bàn tay, nắm chặt lấy những ngón tay gầy guộc, ấm áp của cha mình. Trong khoảnh khắc hoàng hôn buông xuống trên dòng sông Cà Ty, mọi khoảng cách thế hệ, mọi nỗi uất ức, cay đắng của mười tháng trường chinh chiến đã hoàn toàn tan biến, nhường chỗ cho sự hòa hợp tuyệt đối giữa tình thân máu mủ và sự chuẩn mực nghề nghiệp.
* * *
Đúng năm giờ chiều, gió bấc từ cửa biển Phan Thiết bắt đầu thổi mạnh hơn, mang theo hơi lạnh se sắt cuốn dọc theo bờ kè sông Cà Ty. Những rặng dừa nước ven sông nghiêng ngả xào xạc trong gió, từng đợt sóng bạc đầu nhấp nhô vỗ dồn dập vào chân kè đá hộc, tung bọt trắng xóa và phát ra những thanh âm rào rạt, mạnh mẽ của mùa biển động.
Lan bước vào quán cà phê nhỏ lợp mái lá dựng sát mép nước bờ kè. Quán vắng tanh, chỉ có vài ba người khách lớn tuổi ngồi lặng lẽ ngắm dòng nước chảy xiết. Chiếc radio treo trên cột tre phát bản tin dự báo thời tiết biển quen thuộc: gió mùa đông bắc cấp sáu, giật cấp bảy, biển động mạnh, các phương tiện đánh bắt xa bờ cần tìm nơi tránh trú an toàn. Tiếng phát thanh viên trầm đều hòa lẫn với tiếng thìa khuấy lanh canh trong ly thủy tinh tạo nên một không gian tĩnh mịch đến nao lòng.
Lê Quốc An đã ngồi ở chiếc bàn gỗ thông đặt sát góc lan can từ trước. Anh mặc chiếc áo khoác gió sẫm màu đã bạc màu sương gió, chiếc ba lô du lịch cỡ lớn bằng vải bạt dù được xếp gọn gàng dưới chân ghế mây. Trên bàn là một ly cà phê đen đá đã tan hết đá, chỉ còn lại màu nâu loãng, và một bao thuốc lá để mở bên cạnh chiếc bật lửa nhưng không hề châm một điếu nào. Thấy bóng dáng Lan bước qua rèm lá, anh đứng bật dậy, nụ cười hiền hậu, chân thành nở trên gương mặt phong trần. Đôi mắt sáng ngời, ấm áp của người thợ cơ khí lành nghề lập tức xua tan cái lạnh buốt của gió biển cuối năm.
"Lan đến rồi," An kéo chiếc ghế đối diện cho cô, giọng anh trầm ấm, thân thuộc. "Gió ngoài sông lạnh lắm, uống gì để tôi gọi cho nóng?"
"Cho Lan một tách trà gừng nóng đi," Lan mỉm cười ngồi xuống, kéo vạt áo khoác len màu xám lại cho kín cổ.
Người phục vụ quán mang ra một tách trà gừng nghi ngút khói thơm. Hương gừng cay nồng hòa cùng vị ngọt nhẹ của mật ong bốc lên ấm áp giữa không gian lộng gió. Hai người ngồi im lặng một lát, cùng hướng ánh mắt ra khúc sông Cà Ty đang đỏ ối ráng chiều. Từng đoàn thuyền đánh cá công suất nhỏ sau một ngày buông lưới đang nối đuôi nhau quay về bến cá Cồn Chà, tiếng máy nổ *bình bịch... bình bịch* vang rền trên mặt nước đục ngầu phù sa, những ngọn cờ đỏ sao vàng trên nóc ca-bin phần phật bay trong gió bấc.
"Bảy giờ tối xe của công ty đón An ở bến xe Bắc đúng không?" Lan phá vỡ sự im lặng, giọng cô bình thản nhưng đượm vẻ quan tâm sâu sắc.
"Ừ, bảy giờ xe công ty ghé đón," An nhìn đồng hồ đeo tay dây da sờn, mỉm cười nhẹ nhõm. "Chạy đường cao tốc thì chắc tầm mười một giờ đêm là tới trạm trung chuyển Long Thành. Họ đã bố trí sẵn ký túc xá cho đội kỹ thuật. Sáng mai họ bắt đầu bàn giao mặt bằng để lắp đặt dây chuyền cấp đông tầng sôi mới toanh nhập từ Đức về. Hai năm tới chắc sẽ bận tối mắt tối mũi Lan à, toàn bộ hệ thống cơ điện lạnh và các trạm khí nén của ba phân xưởng chế biến thủy sản xuất khẩu bên đó đều do đội kỹ thuật của tôi trực tiếp phụ trách bảo trì và vận hành."
"Điều kiện làm việc và đãi ngộ bên đó tốt chứ An?"
"Tốt lắm Lan," An gật đầu, ánh mắt ánh lên sự tự tin vững vàng của một người thợ giỏi tìm được môi trường tương xứng với tài năng của mình. "Hợp đồng lao động ký hai năm đàng hoàng, có đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đầy đủ, phụ cấp lưu trú công trình và tiền ăn trưa được tính riêng vào bảng lương. Nhưng cái tôi mừng nhất là họ làm việc cực kỳ chuẩn mực: mọi hạng mục thay thế linh kiện, đại tu máy nén hay căn chỉnh áp suất đều có hồ sơ nghiệm thu kỹ thuật rõ ràng, thủ kho và giám sát ký xác nhận đàng hoàng. Tôi không còn phải lo cái cảnh tự bỏ tiền túi chạy xe máy lên chợ Kim Biên lùng mua từng cái van áp lực rồi mang về lắp cho người ta, xong rồi thấp thỏm đợi người ta trả công bằng những lời hứa hẹn mông lung như hồi làm thợ sửa máy dạo ở quê nữa."
Lan nhìn người đàn ông ngồi trước mặt, lòng dâng lên một niềm cảm phục và biết ơn sâu sắc.
Mười tháng qua, hình bóng của An đã hòa quyện vào từng bước hồi sinh của cơ sở Hải Thành. Đó là những buổi trưa oi bức anh bò nhoài dưới sàn xi măng kho Phong Nẫm để cân chỉnh từng chiếc bu-lông chống rung cho máy chiết rót; là những đêm mưa bão anh dầm mình dưới rãnh thoát nước nồng nặc mùi bùn mắm, tỉ mẩn dùng máy khò nhiệt hàn từng mép màng chống thấm HDPE để bảo vệ nguồn nước ngầm; là những buổi chiều anh kiên nhẫn đứng bên đồng hồ áp suất, căn chỉnh từng vạch kim để đảm bảo áp suất khí nén đạt chuẩn sáu bar, giúp những chiếc nắp chai đóng xuống chuẩn xác từng milimet mà không làm nứt cổ thủy tinh.
Suốt chừng ấy thời gian đồng hành, An chưa từng đòi hỏi một lời hứa hẹn tình cảm, chưa từng buông một lời bóng gió hay lợi dụng sự yếu đuối, kiệt quệ của cô trong những ngày tăm tối nhất để tạo áp lực tình cảm. Anh giúp cô bằng lòng tự trọng thanh cao của một người đàn ông tử tế, bằng sự chuẩn xác trung thực của một người thợ yêu nghề, và bằng một tình cảm trong sáng, thuần khiết được giấu kín sau những nụ cười hiền hậu.
"An này," Lan ngước nhìn thẳng vào mắt anh, ánh mắt cô trong trẻo và chân thành tuyệt đối. "Cảm ơn An. Cảm ơn An vì tất cả những gì An đã làm cho xưởng Hải Thành, và cho cá nhân Lan suốt mười tháng qua. Nếu không có tay nghề và sự vững vàng của An, Lan không thể nào đưa được phân xưởng Phong Nẫm đi vào khuôn khổ."
An cười, đưa bàn tay chai sần lên gãi đầu hơi ngượng ngùng:
"Có gì đâu mà Lan phải nói lời cảm ơn hoài vậy. Tôi nhận tiền công, tiền vật tư sòng phẳng từ Lan mà, có làm không công đâu. Nói thật lòng, tôi mới là người phải cảm ơn Lan."
"Sao An lại nói vậy?" Lan ngạc nhiên hỏi.
"Nhờ mấy tháng làm việc chung với Lan, nhìn cái cách Lan làm việc dứt khoát, kiên quyết từ chối những biên bản nghiệm thu mập mờ, đòi hỏi chuẩn mực kỹ thuật cho từng cái nắp nhôm, từng đường ống inox... tôi mới bừng tỉnh Lan à," An trầm giọng, ánh mắt nhìn xa xăm ra mặt sông sóng vỗ. "Tôi nhận ra mình không thể cứ túc tắc làm một anh thợ sửa máy vườn cả đời, ai gọi đâu đánh đó, làm việc bằng sự dễ dãi và cả nể. Người thợ cơ khí muốn người ta tôn trọng mình thì tay nghề phải chuẩn, và cách làm việc cũng phải chuẩn mực như cách Lan làm tài chính vậy. Nhờ Lan thúc đẩy, tôi mới dám nộp hồ sơ thi tuyển vào dự án Long Thành. Chuyến đi này, tôi đi để nâng cấp tay nghề của chính mình."
"An làm được mà, Lan chưa bao giờ nghi ngờ năng lực của An," Lan mỉm cười rạng rỡ, giọng nói đầy niềm tin tưởng.
Một cơn gió biển thốc mạnh qua mép lan can, thổi tung những lọn tóc mai buông xõa bên má Lan. An lặng lẽ nhìn cô. Ánh mắt người đàn ông sâu thẳm, ngập tràn sự dịu dàng, nâng niu và một sự tôn trọng vô bờ bến. Anh đan hai bàn tay thô ráp vào nhau trên mặt bàn, ngập ngừng một lát rồi khẽ hỏi:
"Chiều nay... lúc tôi ghé xưởng lấy nốt bộ đồ nghề ký gửi, tôi nghe thằng Phúc nói chuyện... Lan đã chính thức ký bản thỏa thuận điều hành xưởng một năm với gia đình rồi phải không?"
"Ừ, ký xong chiều nay rồi An. Thời hạn đúng một năm, có phân định quyền hạn, trách nhiệm và mức lương rõ ràng," Lan khẽ gật đầu, hai bàn tay cô ôm lấy tách trà gừng ấm nóng. "Hải Thành cần một năm để bộ máy mới vận hành thật trơn tru, để Phúc rèn luyện thêm bản lĩnh quản lý kho vận và sản xuất, và để trả dứt điểm các kỳ nợ còn lại của cô Út Dung. Sau một năm nữa, khi dòng tiền đã tự vận hành ổn định và độc lập, xưởng sẽ chạy tốt mà không cần Lan phải bám trụ từng ngày nữa."
"Vậy... sau một năm đó, Lan có tính quay trở lại Sài Gòn không?" An hỏi, giọng anh chùng xuống một nhịp. Câu hỏi cẩn trọng, giữ một khoảng cách chừng mực, hoàn toàn không có sự tò mò sỗ sàng hay đòi hỏi một cam kết.
Lan nhìn ra dòng sông Cà Ty. Mặt nước mênh mông đang chuyển dần từ màu đỏ ối của ráng chiều sang màu tím thẫm của màn đêm. Phía chân trời xa xôi ngoài vịnh Phan Thiết, ngọn hải đăng Kê Gà bắt đầu quét những luồng sáng trắng đầu tiên qua mặt biển bao la, nhịp nhàng và kiên định như một nhịp tim giữa màn đêm.
"Lan chưa biết nữa An," Lan mỉm cười nhẹ nhõm, một nụ cười thanh thản, không còn vương vấn gánh nặng của sự dằn vặt hay toan tính thiệt hơn. "Có thể Lan sẽ quay lại Sài Gòn làm việc cho một công ty kiểm toán độc lập, cũng có thể Lan sẽ mở một văn phòng tư vấn tài chính và tái cấu trúc dòng tiền cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cơ sở nghề truyền thống ở ngay chính Phan Thiết này. Nhưng đó là câu chuyện của tương lai, của một năm sau. Hiện tại, Lan chỉ muốn tập trung toàn bộ tâm sức để làm thật tốt mười hai tháng điều hành này, giữ cho dòng tiền của gia đình luôn sạch sẽ, minh bạch và đưa thương hiệu của cha đứng vững trên thị trường."
Cô quay sang nhìn An, ánh mắt chan chứa sự ấm áp:
"Còn An, hai năm ở công trình Long Thành là cơ hội rất lớn. An hãy tập trung toàn lực phát triển sự nghiệp của mình, xây dựng đội ngũ kỹ thuật thật mạnh nhé."
An im lặng nhìn Lan hồi lâu. Trên gương mặt rám nắng phong trần của anh nở một nụ cười rạng rỡ, hoàn toàn thanh thản và thấu hiểu. Họ là hai con người trưởng thành đã đi qua đủ những va đập, đổ vỡ và thử thách khắc nghiệt của cuộc đời để hiểu rằng: tình cảm chân chính không cần phải vội vã đánh đổi bằng những lời thề thốt non nớt khi mỗi người vẫn còn một chặng đường dài đầy trách nhiệm phải đi qua. Không có sự ràng buộc vị kỷ, không có những đòi hỏi ích kỷ hay những toan tính chắp vá tạm bợ. Họ trao cho nhau sự tôn trọng cao nhất, để ngỏ tương lai cho nhau bằng sự tự do và sự hoàn thiện của chính bản thân mình.
"Được, tôi nghe Lan," An nói, giọng anh chắc nịch và ấm áp lạ thường. "Hai năm nữa, khi tôi hoàn thành hợp đồng ở Long Thành, và Lan cũng xong trọn vẹn một năm điều hành ở Hải Thành... nếu lúc đó có dịp tôi quay về Phan Thiết, tôi lại ghé đón Lan đi uống cà phê bờ kè thế này nhé?"
"Nhất trí. Lúc đó Lan sẽ là người mời lại An," Lan cười tươi, đưa bàn tay phải ra trước mặt anh.
An vươn tay nắm lấy bàn tay cô. Bàn tay người thợ cơ khí dày dặn, chai sần vì sắt thép nhưng ấm nóng và vững chãi; bàn tay người nữ kế toán mềm mại nhưng dứt khoát, kiên định và tràn đầy nội lực. Hai bàn tay siết chặt lấy nhau trong làn gió biển mặn mòi của buổi hoàng hôn cuối năm—một cái siết tay của hai người bạn tri kỷ, hai người đồng hành danh dự đã cùng nhau đi qua giông bão ngút trời, và giờ đây bình thản mỉm cười bước tiếp trên con đường riêng của chính mình.
* * *
Khi Lan lái chiếc xe máy quay trở về xưởng Hải Thành, trời đã sập tối hoàn toàn. Đêm cuối năm buông xuống thị xã biển một cách êm đềm và tĩnh mịch.
Đèn cao áp ngoài sân xưởng đã bật sáng tự bao giờ, tỏa ra những luồng sáng vàng cam ấm áp lên những bậc thềm đá chẻ và khoảng sân gạch vừa được các công nhân quét dọn sạch bóng. Mùi cá tươi của buổi sáng đã tan biến, nhường chỗ cho hương thơm mặn mà, đượm đà của những giọt mắm nhỉ bốc lên từ các rãnh thoát nước đã được xử lý khô ráo.
Phúc và những người thợ trẻ đã về nhà nghỉ ngơi sau một ngày lao động cật lực. Trong căn nhà ba gian cổ kính phía trước, ánh đèn phòng khách tỏa ra hiên nhà một sắc vàng ấm cúng. Tiếng tivi phát bản tin thời sự buổi tối xen lẫn tiếng cười nói khe khẽ của bà Hạnh đang chuẩn bị mâm cơm tối cho ông Thành. Tiếng đũa bát va chạm lách cách, tiếng bước chân chống gậy đều đặn, vững chãi của người cha già di chuyển trong phòng ăn... Mọi âm thanh đều bình yên, dung dị và ấm áp, như thể mảnh đất này chưa từng phải trải qua những tháng ngày nghẹt thở của nợ nần bủa vây và những cơn hoảng loạn xé lòng.
Lan không bước vào nhà ngay. Cô dựng xe máy bên gốc bàng, kéo lại vạt áo khoác rồi bước chậm rãi qua khoảng sân gạch tàu, tiến thẳng về phía dãy nhà thùng ủ chượp phía sau.
Cô đẩy cánh cửa gỗ lim nặng trịch bước vào. Không gian bên trong khu nhà thùng tĩnh lặng, thâm nghiêm và trang trọng như một gian điện thờ cổ kính.
Dưới ánh sáng vàng dịu của dãy đèn lồng treo dọc theo xà nhà bằng gỗ căm xe, mười lăm chiếc thùng gỗ mít khổng lồ—mỗi thùng cao hơn hai mét, đường kính gần ba mét, sức chứa từ mười đến mười lăm tấn cá—đứng sừng sững thành hai dãy thẳng tắp dọc theo lối đi lát đá chẻ. Những vòng đai bện bằng mây rừng và tre già siết chặt lấy thân thùng gỗ mít, qua hàng chục năm ngâm trong muối biển đã lên nước bóng loáng, sẫm lại thành một màu nâu đen óng ánh như sừng tê giác.
Ở góc trong cùng, thùng số 4—chiếc thùng chượp từng bị hỏng đạm do ngấm nước mưa đầu mùa trong những ngày Lan mới trở về—nay đã được đội thợ của chú Bảy Hòa xả sạch toàn bộ cặn bã, cọ rửa tiệt trùng bằng nước muối bão hòa và đang được mở nắp phơi khô ráo hoàn toàn. Từng thớ gỗ mít bên trong lòng thùng đã khô cong, thơm nức mùi gỗ mới, sẵn sàng đón nhận những mẻ cá cơm than tươi rói của mùa nam năm tới.
Cơ sở Hải Thành của ngày hôm nay không còn giữ cái quy mô hào nhoáng, ôm đồm ba mươi thùng chượp với những khoản vay nợ ngập đầu như thời hoàng kim đầy ảo vọng của cha cô. Nó đã được cô chủ động thu hẹp lại ở một quy mô vừa vặn, khiêm nhường nhưng kiên cố: mười lăm thùng ủ truyền thống tại bờ sông Cà Ty và một dây chuyền đóng chai bán tự động công suất tối đa hai nghìn chai mỗi tuần tại điểm Phong Nẫm.
Không còn những bản hợp đồng gia công trăm nghìn chai viển vông với những điều khoản phạt bất bình đẳng; không còn những khoản vay tín dụng ngân hàng năm trăm triệu đồng với lãi suất thả nổi đè nặng lên từng bữa ăn giấc ngủ; không còn những chuyến xe tải chở hàng giao chịu vô tội vạ cho những con buôn bất tín để rồi chuốc lấy những khoản nợ khó đòi.
Nhưng Hải Thành hôm nay đang hiên ngang bước đi trên chính đôi chân độc lập, tự chủ của mình. Từng giọt nước mắm nhỉ cánh gián rỉ ra từ những chiếc van lù bằng gỗ kiền kiền kia đều được kiểm soát độ đạm chuẩn xác qua từng ngày ủ; từng đồng tiền thu về từ khách hàng đều có hóa đơn đối soát minh bạch; từng người thợ già như chú Bảy Hòa đều được bảo đảm chế độ bảo hiểm và phụ cấp độc hại tử tế; và từng thành viên trong gia đình họ Võ đều tìm thấy vị trí danh dự của mình, gắn kết với nhau bằng tình yêu thương được bảo bọc bởi những cam kết sòng phẳng, rõ ràng.
Lan bước chầm chậm vào khoảng không gian nằm giữa hai dãy thùng gỗ mít sẫm màu. Cô dừng lại ở vị trí trung tâm, từ từ nhắm nghiền đôi mắt lại. Cô ngửa mặt lên trần nhà lợp ngói âm dương rêu phong, mở rộng lồng ngực và hít một hơi thật sâu.
Hương mắm chín đậm đà, nồng đượm và ngào ngạt lập tức ùa vào từng ngõ ngách của khứu giác.
Đó là một mùi hương đằm thắm, ngọt lịm vị đạm cá tự nhiên đã trải qua mười tám tháng ròng rã phân giải kiên nhẫn trong bóng tối sâu thẳm, hòa quyện tuyệt vời với vị mặn mòi tinh khiết của muối Cà Ná phơi đủ nắng to và mùi ngai ngái, mộc mạc của những thớ gỗ mít ngậm nước biển sâu. Những mẻ cá cơm than béo ngậy được khởi ủ trong năm nay sẽ cần trọn vẹn mười hai đến mười tám tháng nữa nằm yên dưới sức nén của những thanh gỗ chèn và đá tảng, chịu đựng cái nóng hầm hập của mùa hè và cái lạnh buốt của mùa đông, trước khi có thể chắt lọc ra những giọt nước mắm cốt màu hổ phách sóng sánh đầu tiên.
Nghề làm mắm truyền thống ngàn đời nay vốn không bao giờ cho phép sự đốt cháy giai đoạn. Người ta không thể dùng sự dối trá, sự xốc nổi hay những phụ gia hóa chất vội vã để ép cá chín trước thời gian mà vẫn đòi hỏi một hương vị đỉnh cao. Cuộc đời của một con người, sự đứng vững của một cơ nghiệp cũng hệt như vậy: muốn vượt qua phong ba bão táp để tạo dựng một giá trị trường tồn, người ta bắt buộc phải đi qua đủ những ngày tháng nhẫn nại tích tụ, tôi luyện bản lĩnh trong kỷ luật thép và sự minh bạch tuyệt đối.
Mùi cá cơm ủ muối nồng đượm trong từng thớ gỗ thùng chượp, thơm ngát mùi của thời gian và những cam kết sòng phẳng không còn giấu giếm.