Một người phải nghỉ
Mùi thuốc xoa bóp dầu mù u quánh đặc, ngai ngái và cay xè bốc lên từ chiếc khay men tráng thiếc, quyện chặt với hơi cồn đỏ sát trùng và mùi vôi tường ẩm mốc trong căn phòng hẹp của trạm y tế phường Phú Hài. Giữa căn phòng ấy, chú Bảy Hòa nằm nghiêng người trên chiếc giường bệnh khung sắt sơn trắng tróc lở từng mảng, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau phát ra những tiếng ken két khô khốc. Đầu gối chân phải của người thợ cả sưng vù, mọng nước, tấy đỏ và phình to gấp rưỡi khớp gối bên lành, căng trĩu như một bọc nước chực vỡ sau cú trượt chân kinh hoàng ngoài sàn gạch nhà thùng ban sáng.
Tấm rèm vải màu xanh ngọc bám bụi xơ xác đung đưa từng chặp theo từng ngọn gió chướng rít qua ô cửa chớp sắt hoen rỉ. Tiếng kim loại va chạm leng keng sắc lạnh khi vị bác sĩ chuyên khoa xương khớp gắp bông gạc đặt vào khay làm sống lưng Lan buốt nhói. Vị bác sĩ – một người đàn ông trạc ngoài năm mươi, mang cặp kính lão dày cộp viền đồi mồi, mái tóc hoa râm cắt ngắn và gương mặt nghiêm nghị đến mức khắc nghiệt – đang dùng hai đầu ngón tay cái ấn dứt khoát vào hõm bánh chè bên phải của chú Hòa.
“Ư... hự!”
Một tiếng rên nghẹn ứ, đứt quãng bật qua kẽ răng run rẩy của người thợ cả. Chú Hòa giật nảy toàn thân, mồ hôi lạnh vã ra đầm đìa trên vầng trán xạm đen nắng gió, chảy dài xuống thái dương giật giật từng cơn. Hai bàn tay gân guốc, móng tay đóng khằn những vệt đen của vảy cá và muối biển qua mấy mươi mùa ủ chượp, bấu chặt lấy tấm drap trải giường đã ngả màu ố vàng, vặn xoắn nó lại thành một búi giẻ rúm ró.
Bác sĩ tháo chiếc găng tay cao su y tế phát ra một tiếng *bách* giòn tan và dứt khoát, ném thẳng vào chiếc sọt rác đạp chân màu vàng ở góc tường. Ông chậm rãi bước tới bên hộp đèn huỳnh quang gắn trên mảng tường loang lổ vết ẩm, kẹp tấm phim X-quang vừa rửa còn sực mùi hóa chất định hình lên thanh nẹp kim loại. Dưới luồng ánh sáng trắng lạnh lẽo xuyên qua tấm nhựa xám mờ, cấu trúc giải phẫu khớp gối của người thợ cả hiện lên một cách trần trụi và tàn nhẫn.
“Tràn dịch bao hoạt dịch mức độ nặng, kèm theo thoái hóa khớp gối độ bốn,” vị bác sĩ cất tiếng, giọng ông đều đều, lạnh lùng và không hề có một chút dung nhượng nào, từng từ ngữ rơi xuống nền gạch men như những hạt sỏi khô. “Nhìn vào đây mà xem. Khe khớp gối phải gần như đã biến mất hoàn toàn. Hai đầu xương đùi và xương chày không còn lớp đệm nào ngăn cách nữa, chúng đã cà sát vào nhau, mài mòn vẹt tới tận đáy sụn chêm suốt nhiều năm trời. Nhìn những mấu gai xương vôi hóa này đi, chúng mọc lởm chởm, nham nhở chĩa ra tua tủa chẳng khác nào gai bồ kết. Cú ngã đập gối xuống nền xi măng trưa nay ngoài xưởng là giọt nước tràn ly, làm rách bao hoạt dịch thứ phát. Dịch viêm cùng máu ứ đã lấp kín toàn bộ khoang khớp. Ban nãy tôi vừa phải dùng kim mười tám chọc hút ra hơn bốn mươi mi-li-lít dịch đục ngầu lẫn với máu bầm.”
Bác sĩ quay người lại, tháo cặp kính lão cầm trên tay, ánh mắt nghiêm khắc quét qua gương mặt nhợt nhạt của Lan rồi dừng lại trên người thợ già đang nằm thở dốc từng cơn đau đớn:
“Tôi nói thẳng một lần để gia đình lẫn đương sự liệu đường mà tính toán, đừng có ôm mộng chủ quan. Từ giây phút này trở đi, tuyệt đối cấm tiệt mọi hành vi leo trèo cầu thang gỗ thùng ủ, cấm khiêng vác xô chượp, thùng muối, xô mắm. Thậm chí việc ngồi xổm hay đi bộ đường dài trên mười lăm phút cũng phải hạn chế tối đa.”
Lan đứng chôn chân cạnh góc giường bệnh, cảm giác lạnh toát lan nhanh từ gáy chạy dọc xuống sống lưng. Đôi bàn tay cô trong túi áo khoác khẽ siết lại thành nắm đấm:
“Bác sĩ, nếu điều trị nội khoa kết hợp vật lý trị liệu tích cực thì khả năng hồi phục vận động được bao nhiêu phần trăm ạ? Liệu chú ấy có thể phục hồi chức năng lao động nếu mang nẹp chỉnh hình không?”
Vị bác sĩ nhìn Lan qua tròng kính với vẻ thực tế đến tàn nhẫn của một người đã chứng kiến quá nhiều ca bệnh nghề nghiệp của ngư dân miền biển:
“Hồi phục để chống gậy đi lại túc tắc trong nhà, tự phục vụ sinh hoạt cá nhân thì có thể, nếu tuân thủ nẹp cố định tuyệt đối trong bốn tuần đầu và tiêm thuốc kháng viêm, bổ sung chất nhờn đúng phác đồ. Nhưng trở lại làm công việc nặng nhọc ở nhà thùng thì dứt khoát là không. Tuyệt đối không bao giờ! Khớp gối này đã chịu tải quá mức suốt ba chục năm ngâm trong hơi muối mặn, leo trèo nặng nhọc, mang vác quá tải rồi. Nếu còn cố tình bước chân lên thang gỗ cao hai ba mét, vác xô cá vài chục ký, chỉ cần hụt chân một lần nữa hoặc khớp gối sụp đột ngột, chỏm xương sẽ gãy vụn hoặc hoại tử vô mạch do thiếu máu nuôi dưỡng. Khi đó, không phải là chuyện nằm trạm xá vài tuần nữa đâu, mà cầm chắc nguy cơ tàn tật vĩnh viễn, cưa cụt khớp hoặc phải ngồi xe lăn suốt quãng đời còn lại. Muốn giữ lại cái chân để tự đi vệ sinh được thì phải dừng ngay lao động nặng. Không có bất kỳ ngoại lệ nào hết.”
Lời kết luận của người thầy thuốc như một chiếc đinh sắt ghim chặt vào bầu không khí ngột ngạt của trạm xá. Ông quay lưng bước ra bàn kê đơn, ngòi bút bi cào ràn rạt trên tập giấy mỏng, để lại đơn thuốc dài dằng dặc cùng chiếc nẹp cố định chân bằng vải dù dày viền hai thanh nhôm nẹp cứng đặt chỏng chơ trên chiếc bàn đầu giường.
Trên giường bệnh, chú Bảy Hòa không nhìn Lan, cũng chẳng thèm liếc mắt nhìn chiếc nẹp nhôm lạnh ngắt. Đôi mắt người thợ già đờ đẫn dán chặt vào một mảng vôi tường bong tróc đối diện, nơi có những vệt ẩm ố vàng ngoằn ngoèo như hình mạng nhện. Lớp da ngăm đen vì muối mặn và nắng gió bến cá bỗng trở nên xám ngoét, từng thớ thịt trên gò má hõm sâu giật giật.
Bàn tay gân guốc, thô ráp như rễ cây đước khẽ run rẩy nắm chặt lấy mép chiếu cói trải giường. Rồi bất thần, không một lời báo trước, chú chống mạnh hai khuỷu tay xuống nệm mút, cắn chặt răng dằn nén cơn đau thấu trời đang cắn xé khớp gối, cố hết sức rướn toàn thân ngồi dậy. Chiếc chân phải đeo băng gạc trắng toát lòng thòng buông thõng xuống mép giường, bàn chân vừa chạm khẽ vào nền gạch men lạnh ngắt thì toàn thân chú run bắn lên bần bật.
“Chú Bảy! Chú nằm xuống ngay đi! Bác sĩ đã dặn chân chú phải bất động hoàn toàn ít nhất hai ngày cơ mà!” Lan hoảng hốt lao tới, vội vã đưa hai tay đỡ lấy bờ vai gầy trơ xương của người thợ cả.
“Buông tao ra, Lan!”
Chú Hòa vung tay gạt phắt tay Lan ra. Cú gạt bất ngờ chứa đựng một sức mạnh tuyệt vọng khiến cô lảo đảo lùi lại nửa bước. Giọng chú khàn đặc, vỡ vụn ra thành những âm thanh the thé chát chúa, cay đắng và chất chứa nỗi tự ái cùng cực:
“Mầy để tao ngồi dậy! Tao còn chưa có chết, chưa có què quặt tới mức phải nằm bẹp một chỗ đây cho thiên hạ người ta rủ lòng thương hại!”
“Không ai thương hại chú cả, đây là chỉ định chuyên môn bắt buộc—”
“Chuyên môn cái giống gì!” Chú Hòa gầm lên, lồng ngực gầy guộc phập phồng dữ dội sau lớp áo vải thô sờn rách mép vai. Những giọt nước mắt đục ngầu, mặn chát của một đời phu chượp bất giác ứa ra từ khóe mắt đỏ ngầu, lăn dài qua những nếp nhăn sâu hoắm trên đôi má hóp. “Không leo cầu thang, không vác chượp, không kéo rút... thì tao ở lại cái xưởng Hải Thành này làm cái thứ gì nữa hả mầy? Làm một thằng ăn bám hả? Ba mươi năm trời tao ở cái xứ Phan Thiết này, tao sống bằng đôi bàn tay, bằng đôi chân trèo thang thùng, bằng cái sức vác muối dằn bổi! Tao không phải ngữ người nằm co một xó ngửa tay nhận tiền trợ cấp bố thí của con nít!”
Chú quờ tay túm lấy chiếc áo khoác bạc màu treo ở chiếc móc sắt rỉ sét trên vách tường, giật phăng nó xuống với vẻ giận dữ run rẩy:
“Lát nữa mầy kêu thằng Phúc lấy xe máy chở tao về xưởng thu dọn mấy bộ đồ cũ với cái rương sắt tây. Tao đón xe đò về quê La Gi. Dưới đó tao còn miếng đất hương hỏa của ông già để lại ngoài mé sông rạch, cất tạm cái chòi lá, ai mướn bửa củi thì tao bửa, ai thuê vá lưới thì tao vá, kiếm chén cơm lắt lay qua ngày. Tao dứt khoát không ở lại xưởng làm của nợ cho má con mầy với thằng Phúc phải hầu hạ, bưng bô rót nước! Người làm mắm mà cái chân không bước nổi lên sàn vỉ thùng thì coi như đồ phế thải bỏ đi rồi!”
Từng lời nói cay đắng của chú Hòa như những nhát búa tạ giáng thẳng vào lồng ngực Lan. Cô đứng sững giữa phòng bệnh, lắng nghe từng thanh âm vỡ vụn ấy. Sự tự ái của một người thợ thủ công già cả đời kiêu hãnh vì sức vóc và tay nghề vừa bị một bản án y khoa đạp đổ tan tành. Mất đi khả năng dùng cơ bắp để kiếm cơm, chú nhìn nhận sự tồn tại của mình tại Hải Thành như một vết nhơ, một gánh nặng nhục nhã mà lòng kiêu hãnh không cho phép chú cúi đầu chấp nhận.
Lan hít một hơi thật sâu. Luồng không khí nồng nặc mùi cồn đỏ và dầu mù u xộc vào cuống họng khô khốc làm lồng ngực cô thắt lại, nhưng trong khoảnh khắc ấy, lý trí sắc lạnh của một người làm quản trị tài chính trỗi dậy, đè bẹp mọi sự xao động mềm yếu. Cô hiểu rất rõ: với một người đàn ông như chú Bảy Hòa, bất kỳ lời an ủi sáo rỗng, bất kỳ sự dỗ dành thương hại nào lúc này cũng chỉ như đổ thêm dầu vào ngọn lửa tự ái đang thiêu đốt tâm can chú.
Lan bước vòng qua giường bệnh. Cô không lùi tránh, cũng không to tiếng, mà kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ ép đặt sát cạnh chiếc chân đang sưng đỏ của chú Hòa rồi ngồi xuống. Cô ngẩng đầu, nhìn thẳng vào đôi mắt vằn tia máu của người thợ già, ánh mắt cô trong trẻo, sắc sảo và kiên định đến lạ thường.
“Chú tính trốn về La Gi để trốn chạy trách nhiệm với ba con, hay trốn chạy trách nhiệm với mười bốn thùng chượp đang kỳ chín tới ngoài xưởng kia?”
Chú Hòa khựng lại, hơi thở nghẹn ứ nơi cổ họng, trừng mắt nhìn cô gái trẻ:
“Mầy... mầy nói cái gì? Tao trốn chạy hồi nào? Tao vì cái xưởng này mà cái chân mới nát bấy ra nông nỗi này—”
“Con biết chú vì xưởng!” Lan cướp lời, giọng cô đanh gọn, dứt khoát, rành rọt ghim từng chữ vào không gian ngột ngạt. “Suốt hai mươi lăm năm qua, từ hồi xưởng chỉ có ba cái thùng vại mục nát cho tới ngày dựng được hai mươi thùng gỗ mít bề thế như bây giờ, từng mẻ cá cơm than, từng hạt muối Cà Ná đưa vào nhà thùng đều qua bàn tay chú chọn lựa. Ba con đột quỵ nằm liệt nửa người ở bệnh viện tỉnh, xưởng đang nợ nần bủa vây bốn phía. Hợp đồng Bếp Bờ Biển với Nam Lộ vừa ký kết thử nghiệm mười ngàn chai chia ba đợt giao, thanh toán thì kẹt cứng điều khoản Net 45 ngày làm việc. Bây giờ chú xách giỏ bỏ về La Gi, chú để lại ai trông mẻ ủ? Chú định để thằng Phúc một mình ngơ ngác xoay xở với đống van lù rồi làm hư cả trăm triệu tiền cốt mắm của ba con, hay chú muốn xưởng Hải Thành sập tiệm ngay lúc ba con chưa kịp mở mắt dậy?”
Bàn tay đang siết chặt chiếc áo khoác bạc màu của chú Hòa khẽ nới lỏng ra một chút. Gương mặt người thợ cả co giật liên hồi, đôi môi thâm sì mấp máy nhưng không thể thốt ra thành lời.
“Bác sĩ cấm chú leo trèo thang gỗ, cấm chú khiêng vác muối nặng, chứ bác sĩ không cấm cái đầu của chú suy nghĩ, không cấm cái mũi của chú ngửi mùi mắm, không cấm cặp mắt của chú nhìn màu nước bổi!” Lan tiếp tục, giọng cô chùng xuống một nhịp nhưng sức nặng của lý lẽ thì tăng lên gấp bội. “Sức lực cơ bắp ngoài xưởng, con có thể bỏ tiền thuê Tám Thao, có thể bảo thằng Phúc làm, có thể tuyển thêm hai ba thợ trẻ khỏe mạnh vạm vỡ về khiêng vác xô chượp. Sức người thô thiển thì tiền bạc nào cũng thuê được. Nhưng hai mươi lăm năm kinh nghiệm nhìn bọt khí nổi trên mặt thùng mắm, nếm vị mặn chát chuyển sang ngọt hậu của đạm cá, biết chính xác lúc nào con mắm chín tới để mở van kéo rút... ngoài chú ra, cả cái xưởng này không một ai có được! Kể cả con, hay thằng Phúc!”
Lan dứt khoát mở chiếc túi xách công vụ đặt trên đùi, rút ra một tập tài liệu A4 được đóng ghim ngay ngắn mà cô đã thức trắng đêm qua soạn thảo trên máy tính xách tay và in sẵn tại xưởng. Cô đặt tập giấy phẳng phiu lên mặt bàn cạnh chiếc khay thuốc men.
“Con không giữ chú lại để nuôi báo cô. Xưởng Hải Thành đang bên bờ vực phá sản, không có tiền làm từ thiện, và con biết lòng tự trọng của chú cũng không bao giờ cho phép nhận một đồng tiền bố thí,” Lan nói, ngón trỏ ấn nhẹ lên dòng tiêu đề in đậm sắc nét trên trang giấy. “Đây là bản thỏa thuận nguyên tắc về vị trí công việc mới: *Hợp đồng Cố vấn Kỹ thuật Ủ chượp*. Chúng ta ngồi lại ký kết sòng phẳng trên danh nghĩa công việc và hiệu quả kinh tế.”
Chú Hòa liếc mắt nhìn hàng chữ in hoa đen tuyền trên trang giấy trắng tinh, đôi mày rậm bạc màu nhíu chặt lại:
“Cố vấn... kỹ thuật cái nỗi gì? Cả đời tao có biết mấy mặt chữ nghĩa đâu mà cố với vấn...”
“Không cần chữ nghĩa hoa mỹ,” Lan lật sang trang thứ hai, chỉ vào các điều khoản trách nhiệm được đánh số rõ ràng. “Trong hợp đồng này ghi rất cụ thể bốn trách nhiệm then chốt của chú. Thứ nhất, chú dừng toàn bộ việc lao động chân tay nặng nhọc, tuyệt đối không được bước chân lên thang thùng hay khiêng xô vác chậu. Thứ hai, mỗi ngày chú ngồi trên ghế tựa dưới lối đi giữa hai dãy thùng, thực hiện kiểm tra cảm quan: quan sát màu sắc nước bổi chảy ra từ vòi lù, ngửi mùi hương, kiểm tra độ sánh và kiểm soát màu cánh gián của từng mẻ rút. Thứ ba, chú là người trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật kéo rút, đảo bổi cho thằng Phúc từng bước một, dạy nó cách nhận biết mẻ mắm non, mẻ mắm già, mẻ mắm ngậm muối. Và thứ tư, ký xác nhận vào sổ nhật ký mẻ ủ cùng với con trước khi bất kỳ một vòi rút nào được mở ra đóng vào bồn chứa.”
Lan dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào đáy mắt đang dao động dữ dội của người thợ cả:
“Đổi lại, xưởng Hải Thành chi trả cho chú mức phụ cấp cố định năm triệu đồng mỗi tháng. Khoản này tính thẳng vào chi phí sản xuất cố định của cơ sở, trả vào đúng ngày mùng năm hàng tháng giống như lương của thằng Phúc và con Thảo. Ngoài ra, toàn bộ chi phí thuốc men, nẹp chân và vật lý trị liệu phục hồi chức năng của chú tại trạm y tế, xưởng chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ. Chú làm việc bằng tri thức và kinh nghiệm truyền nghề, nhận thù lao xứng đáng với giá trị sống còn chú tạo ra cho xưởng, không ai ban ơn cho ai một đồng nào hết.”
Không gian trong phòng khám trạm xá dường như đông cứng lại. Tiếng chiếc quạt trần cũ kỹ quay lạch cạch trên đỉnh đầu nghe rõ mồn một từng vòng quay. Chú Hòa ngồi lặng đi, hơi thở dần trở nên chậm lại nhưng sâu hơn. Bàn tay khô ráp, đầy những vết chai sần của người thợ cả run run đưa lên, lướt nhẹ qua những dòng chữ in sắc nét trên mặt giấy trắng phau.
Mức phụ cấp năm triệu đồng một tháng không phải là một món tiền lớn nếu so với công thợ cả khi chú còn khỏe mạnh vác hàng tạ muối, nhưng nó là một điểm tựa danh dự, một chiếc phao cứu sinh giữ lại toàn bộ phẩm giá của một con người đã dành trọn cả cuộc đời gắn chặt với những vách gỗ mít nhà thùng. Nó không phải là một bọc tiền trợ cấp ngậm ngùi tống tiễn người già; nó là sự thừa nhận đanh thép rằng xưởng mắm Hải Thành này không thể sống sót nếu thiếu đi cặp mắt tinh tường và cái mũi thẩm thấu hương mắm của chú.
“Thằng... thằng Phúc,” chú Hòa ngập ngừng, giọng nghẹn lại sau cuống họng khô rát, “thằng nhỏ tánh nó bốc đồng, nóng như lửa, lại quen chân chạy xe tải giao hàng bạt mạng ngoài đường lộ... Liệu nó có chịu ngồi yên một chỗ mà học cái nghề vừa hôi vừa mặn chát này không?”
“Nó đã ký hợp đồng lao động chính thức với con rồi,” Lan đáp, ánh mắt cô ánh lên một tia nhẹ nhõm kín đáo. “Nó hiểu đây là cơ nghiệp của ba nó, và nó hiểu chú là người duy nhất trên đời này có thể dạy nó giữ được cái nghề này. Chú chịu ở lại, thằng Phúc mới có người chỉ đường dẫn lối. Chú gật đầu, con sẽ bảo Phúc mang xe máy ra đón chú về thẳng xưởng ngay trưa nay.”
Người thợ cả già thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực xẹp xuống như vừa trút bỏ được một khối đá nặng ngàn cân đè nghẹn suốt từ sáng đến giờ. Chú đưa mu bàn tay thô ráp quệt ngang khóe mắt ướt đẫm, giọng khàn khàn nhưng đã lấy lại được cái uy nghi đanh thép vốn có của một bậc thợ già:
“Được rồi... Đưa cây viết đây cho tao điểm chỉ. Nhưng tao nói trước với mầy nghe Lan: tao chỉ ngồi chỉ việc thôi đó. Đứa nào làm ẩu, làm dối, làm sai cái quy trình ủ chượp truyền thống của ba mầy, tao vẫn chửi rát mặt, đừng có trách tao khó tính!”
Lan khẽ mỉm cười, mở nắp cây bút bi đưa tận tay chú Hòa:
“Dạ, con chỉ mong chú khó tính đúng như vậy.”
***
Buổi trưa oi ả đổ lửa xuống con đường nhựa dẫn về xưởng Hải Thành. Gió biển từ cửa sông Cà Ty thổi vào mang theo vị mặn chát của hơi nước bốc lên từ những bãi bùn bồi ven mé nước. Khác hẳn với vẻ tĩnh lặng rầu rĩ của những ngày trước, khu vực sân xưởng lúc này đang hầm hập không khí căng thẳng của công việc dồn ứ.
Hệ thống rãnh thoát nước ba ngăn lót màng chống thấm HDPE mà Lê Quốc An phụ trách đã hoàn tất giai đoạn hàn mí nhiệt và đổ xong lớp bê tông giằng bảo vệ mặt trên, từng mảng bê tông còn sẫm màu ẩm ướt, đang chờ đủ độ đông kết để đội thợ cơ khí tiến hành lắp đặt cụm bơm chìm dẫn nước thải tuần hoàn lên bồn composite. Mùi xi măng tươi ngai ngái trộn lẫn với mùi bùn rãnh vừa nạo vét tạo nên một thứ không khí ngột ngạt, đặc quánh. Thế nhưng, điểm nóng gay gắt nhất của buổi trưa hôm nay lại bùng lên từ phía điểm đóng chai Phong Nẫm.
Vừa bước chân vào văn phòng xưởng, Lan còn chưa kịp đặt chiếc túi xách công vụ xuống bàn thì cánh cửa nhôm kính đã bị xô bật ra đánh *rầm*.
Trần Thị Liên – Tổ trưởng điểm đóng chai bên Phong Nẫm – sầm sầm bước vào. Chiếc nón lá rách vành trên tay chị quạt phần phật tạo thành những luồng gió nóng bức bối, mồ hôi ướt đầm đìa hai bên tóc mai bết dính vào gò má đỏ bừng, bộ quần áo bảo hộ lao động màu xanh công nhân lấm lem những vệt ố tròn của nước mắm bắn vào trong ca làm.
“Chị Lan! Chị phải giải quyết dứt điểm cái chuyện này cho tổ đóng chai tụi tui, chớ làm ăn kiểu này tụi tui không kham nổi đâu!” Liên đặt mạnh chiếc nón lá xuống góc bàn làm việc của Thảo, cất giọng gay gắt, rành rọt từng tiếng nhưng ngập tràn vẻ bức xúc bị dồn nén.
Lan kéo chiếc ghế gỗ đối diện, bình tĩnh giơ tay ra hiệu cho Thảo rót một ly trà đá mát lạnh đưa cho Liên:
“Chị Liên ngồi xuống uống miếng nước cho hạ hỏa đã. Có chuyện gì phát sinh nghiêm trọng bên điểm Phong Nẫm vậy chị?”
Liên đón lấy ly nước, ngửa cổ uống một hơi cạn sạch nửa ly, rồi đặt mạnh chiếc ly thủy tinh đánh *cạch* xuống mặt bàn gỗ ép:
“Chuyện kiểm định mẫu mắm chớ còn chuyện gì nữa chị! Theo cái quy trình mới của cha nội Tín bên Nam Lộ với cái bảng kiểm định nội bộ bữa hổm chị ban hành xuống, trước khi bơm mắm vô giàn chiết bốn vòi, tổ đóng chai tụi tui phải làm thêm một đống thủ tục nhiêu khê: lấy mẫu đối chứng lưu vô chai thủy tinh hai trăm năm mươi mi-li-lít, niêm phong kẹp chì, đo lại độ mặn bằng muối kế, ghi chép mã số thùng chượp nguồn, kiểm tra độ trong suốt dưới đèn soi cặn, rồi ký biên bản bàn giao từng ca làm việc! Chưa hết đâu, đóng xong một lô năm trăm chai lại phải rút ngẫu nhiên ba chai đo áp suất chân không của nắp nhôm!”
Liên thở dốc, hai mắt mở to nhìn thẳng vào Lan, không hề có một chút né tránh:
“Tụi tui là thợ đóng chai, hồi nào tới giờ ăn lương nhật với khoán sản lượng theo két chai thành phẩm. Hồi trước chỉ việc mở van bồn trung chuyển, hứng chai vô vòi, dập nắp, dán nhãn rồi xếp vô thùng các-tông là xong việc, ngày chạy được ngàn rưỡi chai nhẹ re. Giờ gánh thêm cái khâu kiểm định này, mỗi ca mất toi gần hai tiếng đồng hồ chết dí với ba cái ống nghiệm, nhiệt kế với cân tiểu ly. Năng suất cả tổ tụt xuống chỉ còn hơn một ngàn chai một ngày. Đã vậy, nếu rủi ro một mẫu mắm bị đục hay tụt độ đạm do bên xưởng ủ đưa qua mà tụi tui lỡ tay chiết rót, cái biên bản kiểm tra truy cứu trách nhiệm đầu tiên lại đè lên đầu con Liên này! Gánh thêm trách nhiệm kiểm định chất lượng sản phẩm xuất xưởng, áp lực nặng như đeo gông vô cổ mà lương bổng thì vẫn giữ nguyên mức khoán cũ, chị bảo tụi tui làm sao mà yên tâm làm việc cho đặng?”
Những lời chất vấn của Liên đanh thép, thực tế và đánh trúng phóc vào điểm nghẽn lớn nhất của bất kỳ tiến trình chuẩn hóa quy trình nào trong sản xuất thủ công. Lan lắng nghe không sót một từ, gương mặt không hề lộ vẻ khó chịu hay phật ý. Trong quản trị chi phí và nhân sự, điều nguy hiểm nhất không bao giờ là việc người lao động đòi hỏi quyền lợi, mà là việc ban lãnh đạo giao thêm trách nhiệm kiểm soát nhưng lại bỏ quên cơ chế bù đắp tài chính tương xứng. Khi trách nhiệm trở thành một gánh nặng làm không công, công nhân tất yếu sẽ tìm cách làm đối phó, bỏ qua các bước kiểm tra then chốt, và thảm họa rò rỉ nắp chai hay mắm đục như lần ở kho Bình Tân chắc chắn sẽ lặp lại.
Lan chậm rãi mở cuốn sổ công tác bìa da, lật đến bảng tính định mức chi phí đóng chai mà cô đã tự tay tính toán chi tiết tuần trước:
“Chị Liên nói rất đúng. Khâu kiểm định cảm quan và kiểm soát quy cách bao bì trước khi chiết rót chính là chốt chặn sinh tử của xưởng mắm Hải Thành hiện nay. Nếu để một mẻ mắm lỗi, một nắp chai xì bọt lọt qua giàn chiết gửi tới kho Nam Lộ, họ phạt hai mươi phần trăm giá trị hợp đồng, thiệt hại cả trăm triệu đồng, chưa kể mất đứt bạn hàng. Trách nhiệm đó của tổ chị là cực kỳ nặng nề, và xưởng dứt khoát không bao giờ bắt chị gánh vác không công.”
Liên hơi khựng lại, ánh mắt bớt đi phần gay gắt trước thái độ tiếp nhận thẳng thắn và sòng phẳng của Lan.
“Tôi duyệt ngay hai việc cụ thể cho tổ của chị,” Lan cầm cây bút bi, gạch hai đầu dòng dứt khoát trên trang giấy công tác. “Thứ nhất, ban hành quyết định bổ sung chức danh kiêm nhiệm chính thức cho chị: *Tổ trưởng Kiểm soát Chất lượng Công đoạn Đóng chai*. Kèm theo chức danh này là mức phụ cấp trách nhiệm một triệu rưỡi mỗi tháng, chi trả cố định cùng kỳ lương hàng tháng. Đối với ba công nhân còn lại trong tổ trực tiếp thao tác súc rửa chai và soi cặn dưới đèn, mỗi người được cộng thêm ba trăm ngàn đồng phụ cấp tuân thủ quy trình kiểm soát lô.”
Ánh mắt Liên khẽ dao động, vẻ mặt giãn ra đôi chút, nhưng người thợ đóng chai lâu năm vẫn giữ vẻ thận trọng:
“Còn vụ chỉ tiêu năng suất bị giảm thì tính sao chị? Tụi tui không thể nào chạy nổi ngàn rưỡi chai một ngày nếu phải soi từng cái nắp với ghi nhật ký như vậy.”
“Đó là việc thứ hai,” Lan tiếp tục, giọng cô rành rẽ từng con số. “Xưởng sẽ không ép sản lượng một ngàn rưỡi chai một ngày như trước đây nữa. Định mức ca chuẩn cho tổ bốn người được điều chỉnh giảm xuống còn một ngàn một trăm chai bảo đảm kiểm định đầy đủ các bước kỹ thuật. Nhưng đi kèm với khoản phụ cấp tăng thêm này, chị Liên phải ký cam kết chỉ tiêu kỹ thuật chất lượng: tỷ lệ hao hụt nước mắm do rơi vãi trong quá trình chiết rót và lấy mẫu không được vượt quá không phẩy tám phần trăm tổng thể tích mẻ; tỷ lệ lỗi lệch nhãn, xì nắp nhôm do khâu ép ren cơ khí tại xưởng Phong Nẫm phải giữ tuyệt đối dưới không phẩy ba phần trăm. Nếu vượt quá định mức hao hụt này do lỗi cẩu thả không kiểm tra áp suất khí nén sáu bar của máy ép nắp, phần hao hụt vượt định mức sẽ bị trừ thẳng vào quỹ phụ cấp trách nhiệm của tổ. Chị thấy sòng phẳng chưa?”
Liên nhìn chăm chú vào những con số định mức cụ thể và mức phụ cấp tăng thêm mà Lan vừa viết rành rọt trên giấy. Là người thợ thực chiến nhiều năm bên giàn chiết, Liên hiểu rất rõ mức hao hụt 0,8% và tỷ lệ lỗi nắp 0,3% là hoàn toàn nằm trong tầm tay nếu người thợ làm đúng quy trình nén khí mà An vừa căn chỉnh lại áp lực van hồi sáng. Khoản phụ cấp một triệu rưỡi mỗi tháng là một sự ghi nhận xứng đáng cho sự tập trung và công sức ghi chép sổ sách của cô.
“Được!” Liên đập tay xuống bàn, dứt khoát gật đầu. “Có mức phụ cấp với chỉ tiêu rõ ràng như vầy thì con Liên này xin nhận trách nhiệm. Từ chiều nay, hễ một giọt mắm nào đục ngầu hay cái nắp nào ép ren lỏng lẻo lọt qua khỏi cửa kho Phong Nẫm, chị cứ trừ thẳng vô tiền phụ cấp của tui. Tui quay về xưởng chuẩn bị giàn chiết đây!”
Nói xong, Liên cầm chiếc nón lá đội lên đầu, bước thoăn thoắt ra khỏi cửa văn phòng. Tiếng xích xe máy nổ giòn tan ngoài cổng xưởng, mang theo luồng không khí hừng hực quay trở lại điểm đóng chai.
Lan thở phào nhẹ nhõm, tựa lưng vào thành ghế, quay sang nhìn Thảo:
“Thảo, lập ngay phiếu điều chỉnh phụ cấp trách nhiệm cho chị Liên và ba thợ đóng chai bên Phong Nẫm, kẹp vào hồ sơ lương tháng này để chị ký duyệt nội bộ.”
“Dạ, em làm liền chị Lan,” Thảo mỉm cười, đôi bàn tay nhanh thoăn thoắt gõ phím trên máy tính.
***
Đầu giờ chiều, khoảng không gian rộng lớn của nhà thùng râm mát dưới tán mái tôn cách nhiệt trở nên yên ắng lạ thường. Ánh nắng rực rỡ của dải đất duyên hải miền Trung xuyên qua những khe thông gió trên cao, rọi xuống sàn gạch tàu những vệt sáng vàng óng ánh như mật. Mùi mắm chín nồng đượm, đậm đà, quyện chặt với mùi gỗ mít cổ thụ và vị mặn khô khốc của muối biển bốc lên từ hai mươi khối trụ khổng lồ đang sừng sững đứng dọc hai bên lối đi.
Chú Bảy Hòa đã được Phúc đón về từ trạm y tế. Chân phải chú được nẹp chặt bằng hai thanh nhôm trắng toát bọc vải dù, đặt gác cẩn thận lên một chiếc ghế đôn bọc vải êm ái mà Lan đã bảo Phúc chuẩn bị sẵn. Chú ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế tựa bằng gỗ chắc chắn kê ở đầu lối đi giữa hai dãy thùng, ngay trước mặt thùng chượp mang mã hiệu TH-02 – mẻ cá cơm than mười tám tháng tuổi dự kiến sẽ rút mẻ mắm cốt đầu tiên để giao đợt một cho Nam Lộ.
Bên cạnh chú, Phúc mặc chiếc quần bò dày dặn, mang đôi ủng cao su màu đen bóng cao tới tận đầu gối và khoác chiếc tạp dề bằng nhựa dẻo chống thấm nước. Trên chiếc bàn gỗ nhỏ đặt cạnh ghế của chú Hòa là một bộ dụng cụ đo kiểm mà Lan vừa trang bị mới toanh: một ống đong thủy tinh hình trụ dung tích năm trăm mi-li-lít, một cây muối kế Baumé bằng thủy tinh sáng loáng nằm trong hộp nhung đỏ lót lụa, chiếc phễu inox 304 sáng bóng, và cuốn sổ nhật ký mẻ ủ bìa cứng kẻ sẵn các cột thông số kỹ thuật.
Phúc cầm cây Baumé kế trên tay, vẻ mặt vừa hồi hộp vừa lóng ngóng. Những ngón tay vốn chỉ quen ghì chặt vô-lăng xe tải và tay ga xe máy của anh bỗng trở nên ngượng nghịu, vụng về trước thanh thủy tinh mỏng manh dễ vỡ.
“Cầm cái Baumé kế kiểu đó là muốn đền tiền cho chị mầy hả con?”
Giọng chú Bảy Hòa cất lên, sắc lẻm và gắt gỏng như thường lệ, nhưng ánh mắt nhìn Phúc lại không giấu được sự chăm chú của một người thầy đang kèm cặp đứa đệ tử ruột thịt:
“Ngón cái với ngón trỏ kẹp nhẹ cái đầu mút phía trên vạch đỏ, giữ cho nó thẳng đứng! Đừng có bóp ngang cái bầu chứa thủy ngân dưới đáy, hơi nóng từ bàn tay mầy truyền vô làm giãn nở chất lỏng bên trong bầu, đo sai lệch hết trơn kết quả!”
Phúc giật mình, vội vàng điều chỉnh lại thế cầm tay theo đúng lời chú chỉ dẫn. Anh hít một hơi sâu, nhìn chú Hòa với vẻ nghiêm túc chưa từng thấy:
“Dạ, con cầm vầy đúng chưa chú Bảy? Rồi giờ làm sao nữa chú?”
“Lấy cái ca inox, bước lại vòi lù thùng số hai,” chú Hòa đưa bàn tay khẳng khiu chỉ về phía gốc thùng TH-02. “Nhớ kỹ lời tao dặn: cái vòi lù bằng gỗ bời lời này nhạy dữ lắm. Mở hé chừng một phần ba vòng ren thôi. Tuyệt đối không được vặn ào một cái, áp lực mắm trong thùng nó đẩy cặn bã đáy bung ra theo là đục ngầu hết nước bổi, hư cả mẻ rút.”
Phúc gật đầu dứt khoát, cúi rạp người xuống sát chân thùng gỗ mít khổng lồ. Anh đặt chiếc ca inox sạch bóng dưới miệng vòi lù, bàn tay cẩn thận nắm lấy chốt vặn bằng gỗ bời lời đã ngả màu nâu bóng vì ngâm mắm lâu năm. Anh nín thở, khẽ xoay nhẹ chốt van.
Một dòng chất lỏng màu nâu đỏ sậm, trong vắt như hổ phách, bắt đầu chảy ra từ miệng vòi gỗ. Tiếng nước mắm chảy róc rách róc rách rơi vào lòng ca inox vang lên êm ả, trầm ấm giữa không gian tĩnh lặng của nhà thùng. Ngay khoảnh khắc dòng mắm đầu tiên tiếp xúc với không khí, một mùi thơm nồng nàn, ngọt đậm đà vị đạm cá phân giải tự nhiên xộc thẳng vào khứu giác, ngạt ngào và thanh khiết lạ thường.
Phúc hứng đầy nửa ca inox rồi cẩn thận vặn khóa van lại. Anh bê ca mắm lại bàn, đặt trước mặt chú Bảy Hòa với vẻ nín thở chờ đợi.
Chú Hòa khẽ nghiêng người, đưa mũi lại gần miệng ca hít một hơi thật sâu. Đôi mắt người thợ già nheo lại, những nếp nhăn nơi khóe mắt giãn ra trong một sự thỏa mãn sâu kín:
“Mùi thơm thanh, không có mùi khét của đạm cháy do thiếu muối, cũng không có mùi tanh nồng của cá ươn. Cá cơm than bến Cồn Chà ủ đủ mười tám tháng nắng gió nó phải ra cái mùi dịu như mật ong rừng lên men vầy nè.” Chú ngước lên nhìn Phúc. “Rót vô ống đong thủy tinh đi con. Rót nghiêng thành ống, từ từ thôi, đừng để nổi bọt khí.”
Phúc tỉ mẩn nghiêng miệng ca inox, rót dòng nước mắm màu hổ phách chảy chầm chậm dọc theo thành ống đong thủy tinh cho đến khi ngấn nước chạm đúng vạch bốn trăm mi-li-lít. Dưới ánh sáng rọi qua khe cửa thông gió, chất lỏng trong suốt như ngọc, không gợn một hạt cặn li ti nào.
“Thả cây Baumé kế vô,” chú Hòa hướng dẫn từng cử chỉ, giọng nói rành rẽ. “Thả nhẹ tay từ từ ngay giữa tâm ống đong, buông ngón tay ra cho nó tự nổi bập bềnh. Đợi nó đứng yên hoàn toàn rồi mới ghé mắt nhìn ngang bằng với mặt thoáng chất lỏng.”
Phúc nín thở, cẩn thận thả thanh đo thủy tinh vào lòng ống đong. Chiếc Baumé kế chìm xuống một đoạn rồi từ từ dập dềnh nổi lên, dao động qua lại vài nhịp trước khi đứng im bất động giữa cột chất lỏng màu nâu cánh gián. Phúc ngồi thụp xuống, đưa mắt ngang bằng với mặt khum của ngấn nước mắm, nheo mắt đọc từng vạch chia độ in li ti trên thân thủy tinh.
“Hai mươi tư độ rưỡi, chú Bảy!” Phúc reo lên, ngẩng đầu nhìn người thợ cả với ánh mắt rạng rỡ. “Chính xác là hai mươi tư phẩy năm độ Baumé!”
“Đạt chuẩn bão hòa muối tự nhiên,” chú Hòa khẽ gật gù, nét mặt hiện rõ vẻ mãn nguyện của người làm nghề. “Độ mặn này thì vi khuẩn gây thối không bao giờ sống nổi, mà enzym trong ruột cá mới phân giải trọn vẹn được lượng đạm amin hữu cơ. Giờ mầy lấy cuốn sổ nhật ký mẻ ủ ra, ghi chép lại toàn bộ cho tao.”
Lan đứng tựa lưng vào một chiếc cột gỗ lớn đằng xa, lặng lẽ quan sát toàn bộ quá trình. Nhìn Phúc cẩn thận mở cuốn sổ bìa cứng, cầm cây bút bi nắn nót ghi từng dòng: *Ngày 18 tháng 10 – Thùng TH-02 – Mẻ rút thử nghiệm đợt 1 – Độ mặn: 24,5° Bé – Cảm quan: Màu cánh gián trong suốt, mùi thơm dịu, không cặn*, Lan cảm thấy một sự an tâm chưa từng có đang dần hình thành trong lòng. Sự chuyển giao này không ồn ào, không vội vã, mà được xây dựng trên sự tôn trọng tuyệt đối giữa kinh nghiệm thực chứng của thế hệ đi trước và kỷ luật ghi chép chuẩn hóa của thế hệ tiếp nối.
“Ghi xong chưa mầy?” Chú Hòa hắng giọng hỏi.
“Dạ xong rồi chú!” Phúc đáp, ngẩng đầu lên với ánh mắt đầy háo hức.
“Xong rồi thì chuẩn bị thao tác kéo rút tuần hoàn mười lít đầu tiên,” chú Hòa chỉ tay về phía chiếc can nhựa chuyên dụng mười lít bằng nhựa nguyên sinh đã được tiệt trùng đặt cạnh chân thùng. “Kéo rút nước bổi là cái hồn của nghề mắm gài nén xứ mình. Mở vòi cho chảy nhỏ giọt bằng đầu đũa, hứng đầy mười lít này rồi đổ ngược trở lại lên mặt nẹp trên miệng thùng chượp để mắm thẩm thấu ngược qua lớp muối dằn bổi. Phải làm ba lần tuần hoàn như vậy thì nước mắm cốt nhĩ mới trong veo và đạt độ đạm tuyệt đối ba mươi lăm độ. Thao tác tay phải đều, vòi rút không được để nghẹt xác cá. Lại đây tao chỉ cho cách kê cái rổ lược...”
Dưới sự giám sát gắt gao từng mi-li-mét của chú Hòa ngồi trên ghế, Phúc thoăn thoắt cúi xuống, bắt đầu tự tay điều chỉnh vòi rút thử nghiệm mẻ mắm đầu tiên. Từng giọt mắm màu cánh gián rơi tí tách, đều đặn như nhịp đập của một cỗ máy vừa được tra dầu mỡ cẩn thận, bắt đầu vận hành lại sau chuỗi ngày bão dông.
Lan khẽ mỉm cười, quay bước đi về phía văn phòng. Dòng chảy sản xuất tại nhà thùng coi như đã tạm thời tìm lại được sự ổn định cần thiết.
Thế nhưng, cảm giác nhẹ nhõm của cô kéo dài chưa được bao lâu thì tiếng chuông điện thoại bàn trong phòng kế toán vang lên từng hồi dồn dập, cắt ngang buổi chiều muộn.
Thảo nhấc máy, nghe vài câu rồi mặt biến sắc, vội vã chạy ra cửa vẫy tay gọi Lan:
“Chị Lan ơi! Có anh nhân viên bưu điện bên ngân hàng Agribank chi nhánh Phan Thiết vừa chạy xe máy tới giao công văn hỏa tốc cho xưởng mình nè chị!”
Lan bước nhanh vào văn phòng, đón lấy phong bì thư niêm phong có dấu đỏ tươi của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Đầu ngón tay cô khẽ run khi dùng chiếc dao rọc giấy xé mép bì thư.
Bên trong là tờ thông báo chính thức khổ A4 có đóng dấu đỏ của ban giám đốc chi nhánh ngân hàng. Mắt Lan lướt nhanh qua các dòng văn bản hành chính khô khốc:
*“...Căn cứ kết quả thẩm định hồ sơ đề nghị cấp hạn mức tín dụng hộ kinh doanh số 42/HĐ-HCT của Hộ kinh doanh Nước mắm Hải Thành... Căn cứ biên bản giám định y khoa và tình trạng thực tế của chủ hộ kinh doanh là ông Võ Văn Thành hiện đang điều trị di chứng tai biến mạch máu não... Ngân hàng xin thông báo: Từ chối hồ sơ xin cấp hạn mức tín dụng và đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 43, do chủ hộ kinh doanh hiện tại không đủ năng lực hành vi dân sự để trực tiếp ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản theo quy định của pháp luật...”*
Tờ giấy thông báo trĩu nặng trên tay Lan, sắc trắng lạnh lẽo của nó đối lập hoàn toàn với ánh hoàng hôn đỏ rực đang dần buông xuống dòng sông Cà Ty bên ngoài ô cửa sổ. Cánh cửa tiếp cận nguồn vốn lưu động chính thức từ ngân hàng đã hoàn toàn đóng sập trước mắt cô.