Sổ Nợ Nhà MìnhCh.24 / 35
Chapter 24

Hai dòng hàng, một sự thật

Mùi muối mặn và nắng gắt bốc lên từ những mái tôn cũ kỹ tại làng nghề ven biển Phú Hài, nơi Lan và chú Bảy Hòa bước vào một nhà thùng nhỏ có ba thế hệ làm mắm nhưng đang bế tắc đầu ra thành phẩm.

Gió từ phía cửa biển Phú Hài thổi thốc vào những con hẻm hẹp tráng xi măng đã rạn nứt chằng chịt, mang theo vị tanh nồng đặc quánh của bã chượp phơi khô quyện lẫn cái nóng hầm hập của buổi ban trưa. Mặt đường nhựa bốc hơi nghi ngút, phản chiếu ánh mặt trời chói chang đến lóa mắt. Chú Bảy Hòa bước từng bước tập tễnh, cây gậy tre trên tay gõ lốc cốc đều đặn xuống nền đất cứng. Khớp gối chân phải của người thợ cả vẫn còn sưng múp, căng đỏ sau cú ngã trượt chân từ thang gỗ ở xưởng Cà Ty tuần trước, nhưng ông dứt khoát không chịu ngồi yên ở nhà khi nghe Lan bàn đến chuyện phải lặn lội đi tìm gom mắm cốt thô từ các cơ sở gia đình nhỏ lẻ trong vùng để kịp cứu vãn hợp đồng gia công.

“Muốn mua mắm của người ta về đấu trộn, con mắt sổ sách với mấy cái chứng chỉ của cháu chỉ dòm ra con số trên giấy thôi, chớ cái mũi với cái lưỡi của người ăn đời ở kiếp với chượp mới biết rành rẽ trong thùng có độc hay có sâu,” chú Hòa làu bàu qua kẽ răng, mồ hôi túa ra trên trán chảy dài xuống gò má rám nắng gầy guộc. Ông dừng lại trước cánh cổng sắt đã rỉ sét hoen ố vì hơi muối biển của nhà thùng Hai Trọng, đưa tay áo quẹt ngang cằm rồi thở dốc một hơi nặng nhọc.

Bên trong gian nhà lợp tôn fibro-xi măng thấp lè tè, không khí ngột ngạt và oi bức như một cái lò nung khổng lồ. Mười sáu thùng gỗ bời lời màu xám xịt vì khói bếp và bụi bặm của thời gian nằm ken sát sàn sạt nhau, chỉ chừa lại những lối đi hẹp vừa vặn cho một người lách nghiêng mình. Từng vòng niền tre bện chặt quanh thân thùng đã ngả màu nâu sẫm bóng loáng, đóng một lớp váng muối trắng xóa mịn như phấn rôm. Ông Hai Trọng, trạc tuổi ba Lan, mặc chiếc áo cộc tay bạc phếch ướt đẫm mồ hôi sau lưng, đang lúi húi dùng chiếc gáo dừa cán dài múc từng vạt nước bổi từ máng hứng róc rách dưới chân đổ ngược lên mặt vỉ nẹp của thùng chượp. Nghe tiếng gậy tre gõ lẹp bẹp trên thềm gạch tàu vỡ góc, ông buông chiếc gáo dừa xuống thành máng, quệt vội mồ hôi trên vầng trán nhăn nheo. Đôi mắt đùng đục, đầy những tia máu đỏ của người cả đời thức khuya dậy sớm theo con nước lộ vẻ e dè, ngượng ngùng pha lẫn một tia hy vọng mong manh.

“Anh Bảy… anh Bảy ghé coi mắm giùm tôi hả? Bữa hổm nghe mối lái ngoài chợ đồn anh Ba Thành nằm viện trên Phan Thiết, xưởng bên mé Cà Ty cũng kẹt cứng đơn hàng dữ lắm phải không?”

“Ba Thành bệnh nằm đó, nhưng việc xưởng có con Lan nó về gánh vác, đâu có bỏ trôi nổi được,” chú Bảy Hòa gạt ngang, chống mạnh cây gậy tre bước thẳng tới dãy thùng phía trong cùng, nơi ánh sáng hiếm hoi từ một tấm tôn nhựa trong suốt rọi xuống. “Cho tụi tao coi mẻ cá cơm than tháng ba năm ngoái đi. Rút nỏ tới đâu rồi? Còn giữ được sắc mắm nguyên vẹn hay đã cho nước muối vô rửa xác?”

Quy trình khảo sát thực địa của họ bắt đầu không phải bằng những lời chào mời đon đả hay những cái bắt tay xã giao thường thấy trong buôn bán, mà bằng sự săm soi khắt khe, lạnh lùng của hai thế hệ cùng đứng trước một vại mắm. Trong khi chú Bảy Hòa dùng một thanh tre già vót nhọn, luồn khéo léo qua các khe vỉ để thăm dò độ lún, độ nén của lớp bổi cá bên dưới, Lan lặng lẽ mở chiếc cặp da công tác mang theo bên mình, lấy ra tập hồ sơ mẫu và yêu cầu ông Hai Trọng cung cấp toàn bộ nhật ký theo dõi ủ chượp cùng các giấy tờ chứng nhận cơ sở.

Từ sáng sớm đến giờ, khảo sát qua ba cơ sở làm mắm thủ công ở đầu hẻm, Lan đã phải liên tục lắc đầu ngán ngẩm trong sự thất vọng nặng nề. Cơ sở đầu tiên thì nhật ký sản xuất chỉ là vài dòng chữ nguệch ngoạc bằng bút bi mực tím ghi ngày ghe cập bến trên một tờ lịch treo tường rách bươm mép, hoàn toàn không có hóa đơn chứng từ mua muối Cà Ná, còn rãnh thoát nước thải bao quanh khu vực thùng ủ thì lưu cữu cặn bã đen ngòm bốc lên mùi chua loét xộc thẳng vào mũi. Cơ sở thứ hai tuy nước mắm có mùi hương tương đối nồng ấm, nhưng khi Lan hỏi đến giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm thì người chủ cơ sở ấp úng lôi ra một tờ giấy đã hết hạn hiệu lực từ sáu tháng trước, phân trần rằng dạo này khó khăn quá, tiền nộp phạt kiểm tra còn chưa kiếm đâu ra thì lấy đâu ra tiền triệu để bôi trơn làm thủ tục gia hạn. Với những tiêu chuẩn kiểm định gắt gao mang tính sống còn mà tập đoàn bán lẻ Nam Lộ đặt ra cho nhãn hàng riêng Bếp Bờ Biển, những nguồn hàng thô đó dù giá thành có rẻ mạt đến đâu chăng nữa cũng chẳng khác nào những quả bom nổ chậm treo lơ lửng trên đầu thương hiệu Hải Thành.

Chỉ đến khi bước vào nhà thùng của ông Hai Trọng, Lan mới cảm thấy lồng ngực mình hơi giãn ra một chút. Ông Hai Trọng run run mở chiếc tủ kính con kê sát vách ván ép, lôi ra một bọc nylon dày được buộc thun cẩn thận qua ba bốn lớp. Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm do Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản tỉnh Bình Thuận cấp vẫn còn giá trị sử dụng hơn một năm. Các biên bản kiểm tra định kỳ của thanh tra chuyên ngành trong hai năm gần nhất không ghi nhận bất kỳ vi phạm nghiêm trọng nào về điều kiện vệ sinh nhà xưởng hay nguồn nước ngầm phục vụ chế biến.

“Tôi làm ăn đàng hoàng chớ cô Lan,” ông Trọng nhìn chăm chú vào từng cử chỉ lật giở tài liệu của cô gái trẻ, giọng run run vì sốt ruột và lo âu. “Muối là tôi đặt mua ngay tại kho của công ty muối Cà Ná, có hóa đơn đỏ lưu lại từng đợt chở bằng xe tải về tận ngõ. Cá cơm than thì dặn riêng ghe của thằng cháu ruột ngoài bến Cồn Chà, cá vừa gỡ lưới đem vô bờ là rải muối liền tại bến theo tỷ lệ ba cá một muối chớ đâu dám để ươn. Ngặt một nỗi… thân cô thế cô, nhà tôi không có vốn liếng hàng trăm triệu để đầu tư dàn máy đóng chai tự động, cũng không kham nổi chi phí thuê người ta làm thủ tục xin cấp mã số mã vạch hay mấy cái chứng nhận ISO hiện đại như các công ty lớn. Nước mắm nhĩ rút nỏ ra rặc ròi ba mươi độ đạm tự nhiên, thơm nức mũi cả xóm, mà mối lái ngoài chợ Phan Thiết cứ dồn ép giá tới cùng đường. Họ trả có mười một ngàn một lít mắm cốt, đã vậy còn đòi gối đầu công nợ tới ba tháng trời mới chịu thanh toán một nửa. Nhà thì vợ tôi đang nằm liệt một chỗ bên bệnh viện thị xã vì biến chứng tiểu đường, tiền muối cũ của niên vụ trước còn nợ đại lý ngoài ngã hai hơn sáu chục triệu người ta tới đòi rát mặt mỗi tuần… Cứ cái đà này kéo dài thêm chừng hai tháng nữa, chắc tôi đành phải cắn răng phá thùng bán xá tháo vốn cho xong một đời mắm.”

Chú Bảy Hòa không nói một lời nào trong suốt lúc ông Trọng giãi bày. Đôi mắt người thợ già nheo lại sau làn khói bụi mỏng tanh. Ông chống gậy, khó nhọc quỳ một bên gối xuống nền xi măng ẩm ướt cạnh van lù của thùng số 03. Đôi bàn tay chai sần, những khớp ngón tay vặn vẹo biến dạng vì hàng chục năm ngâm trong nước muối mặn chát của chú thuần thục gỡ bỏ lớp vải bao bố bọc ngoài, nới lỏng nẹp tre chèn nút lù. Một dòng chất lỏng màu cánh gián đậm đà, sánh đặc và trong suốt như hổ phách bắt đầu róc rách chảy ra, chầm chậm rơi vào chiếc cốc thủy tinh nhỏ không bọt khí mà ông luôn mang theo bên hông túi vải. Chú đưa cốc nước mắm lên ngang tầm mắt, xoay nhẹ cổ tay dưới tia sáng mặt trời le lói lọt qua kẽ mái tôn thủng.

“Mắm trong leo lẻo, không có cặn lơ lửng, không bị vẩn đục sắc tro,” chú Bảy Hòa lẩm bẩm trong miệng, giọng trầm đục quen thuộc.

Ông từ từ đưa miệng cốc lại gần mũi, nhắm nghiền đôi mắt lại rồi hít một hơi thật dài, thật sâu qua vòm họng. Hương thơm nồng đượm, hậu vị ngọt bùi của thịt cá cơm than chín rục tự nhiên lan tỏa ra khắp chung quanh, không hề vương vất một chút mùi tanh khét của bổi non cá tạp, cũng tuyệt nhiên không có cái mùi chua ủng của nước mưa hay nước ngọt rò rỉ vào lòng thùng. Chú Bảy Hòa nhúng đầu ngón tay trỏ thô ráp vào lòng cốc, chấm một giọt mắm nhỏ lên đầu lưỡi, ngậm miệng lại trong vài giây để cảm nhận toàn bộ các tầng vị giác trước khi khẽ nuốt xuống cổ họng.

“Đạm tốt lắm. Độ mặn đầm sâu nơi cuống họng, không chát gắt bờ môi. Cái này bèo lắm cũng phải nằm ở mức ba mươi đến ba mươi mốt độ đạm tự nhiên,” chú Hòa gật đầu chắc nịch, quay sang nhìn Lan đang chăm chú quan sát từng động tác của mình. “Con lấy đồ nghề ra đo thử bằng máy móc của con coi ông già này đoán có trúng không.”

Lan mở hộp dụng cụ chuyên dụng, lấy chiếc khúc xạ kế đo độ mặn và chiếc tỷ trọng kế cầm tay nhỏ gọn. Cô dùng ống nhỏ giọt hút lấy một lượng nhỏ mắm từ cốc thủy tinh của chú Hòa, cẩn thận nhỏ hai giọt lên mặt lăng kính phản xạ, đậy nắp chắn sáng lại rồi đưa lên mắt ngắm về phía nguồn sáng tự nhiên. Sau khi vặn nút hiệu chỉnh bù trừ nhiệt độ môi trường, Lan nhìn rõ từng vạch chia khắc chìm trên thang đo quang học. Cô thở phào, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười kín đáo:

“Ba mươi phẩy năm độ đạm cảm quan quy đổi. Độ mặn đạt đúng ngưỡng bão hòa hai trăm bảy mươi gam trên một lít. Về các chỉ tiêu cơ lý và hóa học ban đầu, nguồn này rất sạch, không có dấu hiệu pha loãng hay can thiệp đạm vô cơ.”

Để bảo đảm tính khách quan tuyệt đối, Lan cùng chú Bảy Hòa tiếp tục di chuyển sang hai thùng lân cận là thùng số 04 và số 05—những thùng được ghi nhận ủ cùng một mẻ cá đánh bắt từ rằm tháng ba năm ngoái. Từng thao tác xả lù, ngửi hương, nếm vị và soi khúc xạ kế được lặp lại một cách nghiêm cẩn và tuần tự. Cả ba thùng đều cho ra những chỉ số tương đồng đáng kinh ngạc, chứng tỏ tay nghề đắp lù, cài vỉ và kỹ thuật chăm sóc chượp của ông Hai Trọng hoàn toàn nhất quán, không hề có sự cẩu thả hay chắp vá.

Sau khi ghi chép đầy đủ các thông số vào biên bản thực địa, Lan kéo chiếc ghế gỗ tạp ngồi đối diện với ông Hai Trọng ngay trên chiếc bàn uống trà cáu bẩn bám đầy bụi muối, đặt sát cạnh góc kho chứa bao bì cũ. Bài toán sản lượng của xưởng Hải Thành lúc này hiện lên rõ mồn một trong tâm trí cô: mẻ cá cơm than này của ông Trọng ước tính có thể rút ra được khoảng sáu ngàn lít mắm cốt thô đạt chuẩn ba mươi độ đạm. Nếu Hải Thành đứng ra bao tiêu phần lớn nguồn nguyên liệu bán thành phẩm chất lượng này để đem về phối trộn với lượng mắm nền ba mươi tám độ đạm đang chín tới tại mười bốn thùng gỗ bời lời ở Cà Ty, cô hoàn toàn có thể giải quyết được khoảng năm ngàn lít mắm thành phẩm ba mươi lăm độ đạm—tương đương một phần ba tổng sản lượng mười hai ngàn năm trăm lít mà phía Nam Lộ đang ráo riết đòi giao trong đợt đầu tiên—mà không cần phải rút ép, rút kiệt các thùng chượp truyền thống của gia đình trước khi cá kịp chín rục.

“Chú Hai,” Lan đặt tập tài liệu xuống mặt bàn gỗ, giọng nói của cô điềm tĩnh, rành rọt từng chữ nhưng chứa đựng sự dứt khoát của một người nắm quyền quyết định. “Cháu muốn đặt vấn đề thỏa thuận bao tiêu toàn bộ năm ngàn lít mắm cốt thô ba mươi độ đạm rút nỏ từ ba thùng số ba, số bốn và số năm này của chú.”

Đôi mắt ông Hai Trọng mở to, bàng hoàng như không dám tin vào tai mình: “Năm ngàn lít? Cô… cô Lan nói thiệt hả cô Lan? Năm ngàn lít mắm cốt một lúc?”

“Cháu nói thật, nhưng cháu làm việc dựa trên các điều kiện pháp lý và kỹ thuật hết sức rõ ràng,” Lan mở bản dự thảo hợp đồng nguyên tắc đã được cô soạn thảo sẵn trên máy tính từ đêm trước. “Thứ nhất, về giá cả: cơ sở Hải Thành sẽ thu mua của chú với mức giá mười hai ngàn năm trăm đồng một lít mắm cốt thô. Mức giá này cao hơn giá thương lái ngoài chợ đang ép chú một ngàn năm trăm đồng trên mỗi lít. Thứ hai, ngay trong chiều nay, cháu sẽ yêu cầu kỹ thuật viên lấy mẫu đại diện từ cả ba thùng, niêm phong tại chỗ trước sự chứng kiến của chú, rồi gửi thẳng vào phòng thí nghiệm độc lập tại Sài Gòn để kiểm nghiệm toàn diện các chỉ tiêu vi sinh, kim loại nặng và đặc biệt là chỉ số histamine. Toàn bộ chi phí kiểm định này phía Hải Thành sẽ chi trả hoàn toàn. Chỉ khi nào có phiếu kết quả phân tích đạt chuẩn theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, hai bên mới tiến hành ký hợp đồng mua bán chính thức và điều xe bồn chuyên dụng đến hút mắm.”

“Còn… còn chuyện tiền nong thanh toán thì tính mần sao cô?” Ông Trọng ngập ngừng hỏi, hai bàn tay thô ráp đan chặt vào nhau đến mức các đốt ngón tay trắng bệch, giọng ông run lên vì nỗi âu lo thường trực của người làm mắm nghèo luôn bị nợ đọng vốn liếng.

“Ngay sau khi có kết quả xét nghiệm đạt chuẩn và vòi hút của xe bồn cắm vào van lù của chú, cháu sẽ cho thủ quỹ thanh toán ngay năm mươi phần trăm tổng giá trị lô hàng bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản tại chỗ để chú mang tiền đi trả dứt điểm nợ muối cho đại lý,” Lan nhìn thẳng vào đôi mắt sâu hoắm của người đàn ông lam lũ, ánh mắt cô đầy sự thấu hiểu nhưng không thiếu tính nguyên tắc. “Năm mươi phần trăm còn lại, Hải Thành cam kết thanh toán dứt điểm trong vòng ba mươi ngày tiếp theo, có biên bản đối soát và hợp đồng kinh tế bảo đảm bằng pháp lý. Đổi lại tất cả những điều đó, chú phải ký cam kết tuyệt đối không được tự ý can thiệp, không pha trộn thêm bất kỳ một giọt nước bổi, nước muối hay bất kỳ chất phụ gia nào vào ba thùng này kể từ giây phút này cho tới ngày hút mắm. Ngay bây giờ, từng van lù của ba thùng sẽ được chúng cháu bấm chì niêm phong lại.”

Ông Hai Trọng run run đón lấy cây bút bi từ tay Lan. Một giọt nước mắt lăn dài trên khóe mi nhăn nheo của người đàn ông miền biển: “Được… được quá chớ cô Lan! Có tiền trả nợ muối với lo thuốc thang nằm viện cho bà già là tôi đội ơn gia đình cô Ba Thành dữ lắm rồi. Tôi làm cái nghề này nối đời đời thứ ba rồi cô ơi, nước mắm mình chắt chiu từng giọt ngon lành mà bị tụi thương lái nó ép giá, nó dằn vặt công nợ cay đắng quá. Cô cứ bấm chì niêm phong hết giùm tôi, tôi thề có trời đất chứng giám, không ai được đụng tới một giọt trong ba thùng này!”

Rời khỏi con hẻm nhỏ của làng nghề Phú Hài khi mặt trời đã đứng bóng trên đỉnh đầu, Lan cùng chú Bảy Hòa không quay trở về xưởng Cà Ty mà chạy xe máy sang thẳng điểm chiết rót và đóng chai tại Phong Nẫm. Cơn đau nhức ở khớp gối dường như bắt đầu hành hạ dữ dội hơn dưới cái nắng trưa hầm hập khiến khuôn mặt chú Hòa tái mét đi, nhưng người thợ già vẫn kiên quyết ngồi phía sau xe máy của Phúc, hai tay ôm ghì lấy chiếc can nhựa dung tích hai mươi lít chứa mẫu mắm cốt thô đầu tiên vừa được rút ra từ thùng số 03 của ông Hai Trọng để mang về chạy thử nghiệm phối trộn.

Tại phân xưởng đóng chai Phong Nẫm, bầu không khí căng thẳng đã bao trùm từ sáng sớm. Chiếc xe bán tải hai cầu màu bạc mang logo của Công ty Cổ phần Thương mại Nam Lộ đã đỗ ngay ngắn dưới bóng râm của hàng cây trứng cá trước cửa kho thành phẩm. Chuyên viên bảo đảm chất lượng Phạm Đức Tín đang đứng tựa lưng cạnh bàn làm việc của chị Liên. Trên người Tín là chiếc áo blouse trắng khoác ngoài bộ trang phục công sở phẳng phiu, mắt đeo kính bảo hộ trong suốt và đôi bàn tay đã xỏ sẵn găng tay cao su y tế màu xanh. Trên mặt bàn inox, Tín đã bày biện sẵn chiếc vali nhôm chuyên dụng chứa máy đo khúc xạ điện tử, các ống nghiệm thủy tinh chia vạch sắc nét, lọ cồn sát trùng y tế và một tập biên bản kiểm tra kỹ thuật dày cộp kẹp trong bìa da cứng.

“Chào chị Lan,” Tín nhìn chiếc đồng hồ cơ trên cổ tay trái, nét mặt không biểu lộ chút cảm xúc vồ vập nào ngoài sự chuẩn xác lạnh lùng của một kỹ thuật viên kiểm soát chất lượng lâu năm. “Tôi nhận được chỉ đạo trực tiếp từ chị Mai Chi về việc Hải Thành đề xuất phương án phối trộn nguồn bán thành phẩm thu mua từ cơ sở vệ tinh để giải quyết tiến độ đơn hàng Bếp Bờ Biển. Về mặt nguyên tắc quản lý chất lượng chuỗi cung ứng, Nam Lộ chúng tôi không cấm đối tác sử dụng bán thành phẩm gia công ngoài, miễn là toàn bộ các nguồn nhập đều phải có hồ sơ truy xuất nguồn gốc hợp lệ, đạt đầy đủ các chỉ tiêu vi sinh và an toàn hóa lý theo tiêu chuẩn cơ sở mà hai bên đã thống nhất.”

“Mẫu mắm cốt thô ba mươi độ đạm từ cơ sở ông Hai Trọng ở Phú Hài đã được mang về đây, thưa anh Tín,” Lan bình thản kéo ghế, ra hiệu cho Phúc cẩn thận đặt chiếc can nhựa màu trắng có niêm phong dây rút lên mặt bàn inox. “Chúng tôi cung cấp đầy đủ bản sao công chứng giấy chứng nhận an toàn thực phẩm của cơ sở cung ứng, hồ sơ truy xuất nguồn muối Cà Ná và xác nhận nguồn cá cơm than đánh bắt tại ngư trường Bình Thuận.”

Tín không vội vàng lật giở xấp hồ sơ pháp lý. Anh dùng kéo y tế cắt đứt sợi dây rút niêm phong của can mẫu, dùng một ống pipet thủy tinh hút một lượng mắm nhỏ cho vào ống nghiệm, rồi cẩn thận nhỏ từng giọt lên mắt đọc của chiếc máy đo khúc xạ điện tử cầm tay. Sau vài giây phân tích, màn hình kỹ thuật số hiển thị con số rõ ràng: 30.4°N.

“Độ đạm thô ban đầu của mẫu này cơ bản chấp nhận được,” Tín khẽ gật đầu, nhưng giọng nói vẫn giữ nguyên vẻ sắt đá không nhân nhượng. “Tuy nhiên, theo các điều khoản trong hợp đồng khung của dòng sản phẩm Bếp Bờ Biển, thành phẩm đóng chai đưa vào hệ thống siêu thị bắt buộc phải đạt ngưỡng ba mươi lăm độ đạm toàn phần, dung sai kỹ thuật cho phép không được vượt quá cộng trừ không phẩy năm độ. Bây giờ chúng ta sẽ tiến hành giám sát trực tiếp quy trình phối trộn thử nghiệm ngay tại bồn mẫu dung tích một trăm lít. Chị Lan, công thức phối trộn thực tế của cơ sở là gì?”

Chú Bảy Hòa khập khiễng bước tới mép bàn, đặt chiếc thước đo bằng gỗ bằng lăng mòn vẹt và cuốn sổ tay bìa bọc vải dù sờn rách xuống trước mặt Tín: “Công thức này là do xưởng Cà Ty đúc kết qua mấy đời: bảy phần mắm cốt ba mươi độ đạm của anh Hai Trọng bên Phú Hài, đem đấu với ba phần mắm nhĩ ba mươi tám độ đạm tự nhiên rút từ thùng số sáu của Hải Thành. Tỷ lệ này vừa đủ sức kéo nồng độ đạm toàn phần lên mức ba mươi lăm phẩy hai, vừa giữ được cái hồn cốt, cái mùi thơm đầm ấm đặc trưng của mắm Cà Ty mà không bị ngọt lợ hay gắt cuống họng như mấy thứ mắm dùng công nghệ cô đặc nhân tạo.”

Dưới sự giám sát gắt gao của Tín, chị Liên cùng hai người thợ đóng chai cẩn thận khởi động hệ thống bơm màng khí nén, hút mắm từ hai bồn chứa nguyên liệu chuyển qua cột lọc cặn tinh có kích thước màng lọc một micromet, sau đó xả từ từ vào bồn khuấy thử nghiệm làm bằng chất liệu inox 316 sáng loáng. Cánh khuấy cơ học được điều chỉnh quay đều đặn ở dải tốc độ chậm trong suốt mười lăm phút liên tục nhằm mục đích hòa tan đồng nhất hai dòng mắm mà không làm phát sinh bọt khí hay gây ra hiện tượng oxy hóa dịch mắm. Toàn bộ quá trình thao tác diễn ra trong gian phòng cách ly tương đối vô trùng, mùi hương đậm đà, quyến rũ của mắm nhĩ thượng hạng quyện lẫn vị mặn mà nguyên bản của muối biển xông lên ngào ngạt, thấm đẫm vào từng thớ áo của những người có mặt.

Khi cánh khuấy dừng hẳn, Tín đích thân cầm chiếc ống lấy mẫu chân không bằng thép không gỉ, trực tiếp thu thập mẫu mắm tại ba tầng vị trí khác nhau trong bồn: mặt trên, tầng giữa và đáy bồn xả. Anh cẩn thận rót dịch mắm vào sáu chai thủy tinh sẫm màu có dung tích hai trăm năm mươi mililit, dán nhãn niêm phong có đầy đủ chữ ký của cả ba bên: đại diện kỹ thuật Nam Lộ, đại diện cơ sở Hải Thành và tổ trưởng tổ đóng chai.

“Tôi vừa tiến hành kiểm tra nhanh tại chỗ bằng phương pháp chuẩn độ formol: độ đạm toàn phần của mẻ phối trộn này đạt ba mươi lăm phẩy một độ đạm, tỷ lệ đạm amin trên đạm toàn phần đạt năm mươi hai phần trăm, hoàn toàn nằm trong ngưỡng tiêu chuẩn TCVN dành cho nước mắm truyền thống,” Tín tháo bỏ găng tay cao su, ngước mắt nhìn thẳng vào Lan. “Nhưng đây mới chỉ là kết quả kiểm tra nội bộ tại hiện trường. Quy trình quản lý rủi ro của Nam Lộ đối với nguồn bán thành phẩm thu gom bên ngoài xưởng là cực kỳ nghiêm ngặt và không có bất kỳ ngoại lệ nào: tôi yêu cầu phải lưu mẫu đối chứng tại phòng thí nghiệm độc lập. Sáu chai mẫu niêm phong này sẽ được chia làm ba phần bằng nhau: hai chai do Nam Lộ mang về lưu kho bảo đảm chất lượng, hai chai cơ sở Hải Thành tự lưu trữ tại kho mẫu chuẩn, và hai chai còn lại sẽ được đóng thùng niêm phong gửi ngay trong chiều nay đến Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 3 (Quatest 3) tại Thành phố Hồ Chí Minh để kiểm nghiệm toàn bộ các chỉ tiêu chuyên sâu: xác định nitơ toàn phần theo phương pháp Kjeldahl tiêu chuẩn, định lượng hàm lượng histamine, dư lượng kim loại nặng gồm chì, asen, cadimi và xét nghiệm vi khuẩn kỵ khí sinh nha bào Clostridium botulinum.”

Tín đẩy tờ biên bản lấy mẫu và bàn giao sang phía Lan, ngón tay trỏ gõ nhẹ lên dòng chữ in hoa đậm nét ở phần cam kết:

“Tôi xin nhấn mạnh lại lần nữa, toàn bộ chi phí kiểm nghiệm độc lập này do phía Hải Thành tự chi trả. Mỗi một đợt vận chuyển mắm bán thành phẩm từ Phú Hài về xưởng đóng chai Phong Nẫm đều phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình lấy mẫu và lưu mẫu đối chứng độc lập này. Nếu kết quả phân tích từ Quatest 3 có bất kỳ sai lệch nào vượt quá không phẩy năm độ đạm so với công bố, hoặc phát hiện bất kỳ chỉ tiêu vi sinh hay kim loại nặng nào vượt ngưỡng cho phép, Nam Lộ sẽ lập tức ra quyết định đình chỉ toàn bộ lô hàng, hủy bỏ quyền cung ứng của Hải Thành và áp dụng các chế tài phạt vi phạm hợp đồng kinh tế theo đúng các điều khoản đã ký kết.”

Lan đọc lướt qua từng điều khoản, từng câu chữ trong biên bản. Không một chút ngập ngừng hay do dự, cô cầm chiếc bút mực đen, ký dứt khoát vào vị trí đại diện cơ sở sản xuất:

“Hải Thành chúng tôi cam đoan tuân thủ đầy đủ và nghiêm túc quy trình kiểm soát này, anh Tín. Chúng tôi bán sản phẩm ra thị trường dựa trên chất lượng thực tế được chứng thực bằng khoa học, chứ không bao giờ dựa trên sự may rủi hay lời hứa suông.”

Sau khi chiếc xe bán tải của Tín rời khỏi khuôn viên xưởng cùng các chai mẫu niêm phong, gian phòng đóng chai Phong Nẫm dường như chùng xuống trong sự im lặng mệt mỏi. Tiếng quạt thông gió gắn trên vách tôn vẫn chạy rì rầm, thổi từng luồng gió nóng từ ngoài sân vào. Chị Liên mệt nhoài ngồi bệt xuống chiếc ghế nhựa xanh, đưa chiếc khăn rằn lên lau những giọt mồ hôi đọng trên trán, còn Phúc thì đứng tựa lưng vào mép khung cửa sắt, ánh mắt lấp lánh vẻ tính toan đầy bồn chồn.

“Chị Hai,” Phúc bước tới gần bàn làm việc, hạ thấp giọng xuống nhưng không giấu nổi sự phấn khích xen lẫn nôn nóng. “Hồi nãy em đứng ngó anh Tín kiểm tra, thấy mắm của chú Hai Trọng phối trộn với mắm cốt xưởng mình màu cánh gián lên đẹp rực rỡ, hương vị đậm đà không thua gì mẻ mắm nhĩ thùng ba năm của ba, lại đạt chuẩn ba mươi lăm độ đạm đàng hoàng qua máy móc đo đạc. Bây giờ hàng đóng chai mang nhãn Hải Thành truyền thống của xưởng mình ngoài chợ Phan Thiết với các đại lý mối quen đang bị đứt hàng nghiêm trọng vì ba nằm viện, cá không có người đảo bổi, khách hàng khắp nơi cứ gọi điện thoại hỏi mua liên tục mà mình đâu có mắm chín để giao. Hay là… hay là sẵn trớn đợt này, mình đánh tiếng mua đứt luôn mười ngàn lít của các nhà thùng bên Phú Hài? Vừa lấy ra một nửa để đóng cho Nam Lộ theo đơn Bếp Bờ Biển, vừa lấy nửa còn lại chiết vô chai thủy tinh dán nhãn Hải Thành đem giao cho các mối quen ngoài chợ để thu tiền mặt tươi về xoay xở liền? Đằng nào cũng qua hệ thống lọc tinh một micromet, đằng nào cũng có kết quả Quatest 3 chứng nhận an toàn thực phẩm, có ai phân biệt được đâu mà chị sợ?”

Lời đề nghị đầy thực dụng của Phúc khiến chị Liên cũng ngẩng đầu lên nhìn Lan. Ánh mắt người phụ nữ làm công lâu năm dường như cũng le lói một tia đồng tình, bởi chị hiểu rõ hơn ai hết áp lực công nợ và nỗi lo xưởng đóng cửa vì thiếu hụt tiền mặt đang đè nặng lên từng bữa ăn của công nhân. Nhưng chú Bảy Hòa thì đột ngột khựng lại. Đôi lông mày bạc thếch của người thợ cả chau lại thật chặt, bàn tay gầy guộc siết chặt lấy đầu gậy tre, ánh mắt già nua chiếu thẳng vào Lan như muốn dò xét tận đáy lòng cô gái trẻ xem bản lĩnh thực sự của người kế nghiệp xưởng mắm Hải Thành nằm ở đâu.

Lan hít một hơi sâu, lồng ngực cô thắt lại trước khi bình thản trở lại. Cô bước tới bên chiếc bàn làm việc, với tay lấy hai tập hồ sơ bìa cứng—một tập màu xanh dương và một tập màu đỏ tươi—đặt song song ngay ngắn trước mặt Phúc.

“Không được, Phúc,” Lan nói, giọng cô không hề gắt gỏng nhưng đanh lại, lạnh lùng và dứt khoát đến mức không để lại bất kỳ khoảng trống nào cho sự mặc cả. “Tuyệt đối không bao giờ được phép làm như vậy. Chừng nào chị còn chịu trách nhiệm điều hành xưởng này, chuyện đó vĩnh viễn không được phép xảy ra.”

“Ủa, sao lại không được hả chị Hai?” Phúc nhăn mặt, giọng anh cao dần lên vì ấm ức và không phục. “Đều là nước mắm cá cơm than ủ chượp truyền thống của xứ biển này cả, đều đạt ba mươi lăm độ đạm tự nhiên, có giấy kiểm nghiệm Quatest 3 đàng hoàng chứng minh không có hóa chất độc hại. Mình mua bán đàng hoàng sòng phẳng chớ có phải đi mua phẩm màu hay hương liệu công nghiệp trôi nổi về pha chế đâu mà chị khó khăn dữ vậy?”

“Bởi vì đó là hai lời hứa hoàn toàn khác nhau đối với khách hàng, Phúc à,” Lan đưa ngón tay chỉ vào tập bìa màu xanh. “Đây là bộ hồ sơ quản lý kỹ thuật cho dòng sản phẩm gia công Bếp Bờ Biển của chuỗi siêu thị Nam Lộ. Trên nhãn mác bao bì của họ, dòng chữ pháp lý ghi rất rõ ràng: ‘Sản xuất bởi Cơ sở Hải Thành từ nguồn nguyên liệu chọn lọc đạt tiêu chuẩn cơ sở’. Nam Lộ mua của chúng ta một chỉ tiêu kỹ thuật mang tính thương mại thuần túy. Họ mua sự đồng nhất về độ đạm, độ mặn, sự an toàn về vi sinh và thời hạn bảo quản ổn định trên kệ hàng. Chúng ta sử dụng bán thành phẩm thu mua có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng từ Phú Hài, đưa qua quy trình phối trộn có kiểm soát chặt chẽ, có công bố tiêu chuẩn chất lượng và chịu sự giám sát độc lập của bên thứ ba, đó là một mối quan hệ kinh tế sòng phẳng, hợp pháp và hoàn toàn minh bạch về mặt thương mại.”

Nói đoạn, Lan kéo tập hồ sơ màu đỏ lại gần, đặt cả bàn tay mình lên bề mặt bìa giấy:

“Còn đây là bộ hồ sơ lưu trữ toàn bộ lịch sử ba mươi năm của thương hiệu nước mắm Hải Thành. Em có bao giờ tự hỏi, tại sao suốt mấy chục năm qua, ba của chúng ta tạo dựng được cái tên Hải Thành đứng vững trên mảnh đất Phan Thiết đầy rẫy những lò mắm lớn nhỏ này không? Đó là nhờ từng giọt mắm mang nhãn hiệu Hải Thành đều được ủ ròng rã suốt mười hai đến mười tám tháng trời trong đúng mười bốn thùng gỗ bời lời tại bến sông Cà Ty. Từng con cá cơm than trong đó đều do chính bàn tay chú Bảy Hòa cài vỉ, đắp nỏ, dằn muối hạt Cà Ná, phơi sương phơi nắng qua hai mùa gió chướng mới chắt lọc ra được. Khách hàng thân thiết ngoài chợ hay người tiêu dùng khắp nơi tìm mua nước mắm Hải Thành không phải chỉ vì con số ba mươi lăm độ đạm vô hồn in trên nhãn, mà họ mua cái hương vị mộc mạc đặc trưng của chính cái xưởng này, họ mua sự cam kết bằng danh dự của gia đình mình rằng chai mắm họ mang về cho con cái họ ăn không bị lai tạp, không bị pha trộn từ bất kỳ nguồn gốc trôi nổi nào bên ngoài.”

Lan nhìn thẳng vào đôi mắt đang dao động của em trai mình, ánh mắt cô sắc lạnh nhưng chất chứa nỗi niềm day dứt khôn nguôi:

“Bốn năm trước ở công ty Dược Mekong trên Sài Gòn, chị đã từng tận mắt chứng kiến những người có ăn học đàng hoàng, vì muốn chạy theo chỉ tiêu doanh số cuối năm, vì muốn cứu vãn dòng tiền ngắn hạn mà bắt đầu trượt ngã bằng một sự mập mờ nhỏ nhặt: họ lén lút lấy nguồn nguyên liệu phụ trợ giá rẻ từ các xưởng gia công trôi nổi bên ngoài rồi dán nhãn thương hiệu cao cấp của công ty lên để xuất xưởng. Lúc đó, ban giám đốc và phòng kinh doanh ai cũng tự an ủi rằng: ‘Đều đạt tiêu chuẩn kiểm nghiệm cơ bản thì có hề hấn gì đâu’. Nhưng một khi em đã chấp nhận thỏa hiệp với sự dối trá lần thứ nhất, cái ranh giới đạo đức nghề nghiệp trong đầu em sẽ biến mất hoàn toàn. Đến khi gặp một đợt thanh tra đột xuất của cơ quan kiểm toán quốc tế, toàn bộ hệ thống sụp đổ tan tành trong chớp mắt. Cái giá phải trả không chỉ là tiền bạc, mà là sự nghiệp tiêu tan và danh dự của cả một đời người bị vấy bẩn. Chị chấp nhận bỏ việc ở thành phố quay về đây là để tìm cách cứu xưởng mắm của ba, chứ dứt khoát không phải để biến Hải Thành thành một cái xưởng đóng chai cơ hội, lừa dối những người khách hàng đã tin tưởng gia đình mình suốt mấy chục năm qua!”

Căn phòng đóng chai rơi vào một khoảng lặng tờ mờ và u uất. Chỉ còn tiếng gió biển rít qua khe cửa sắt, mang theo vị mặn chát của vùng duyên hải cọ xát vào da thịt. Phúc từ từ cúi gằm mặt xuống, hai vành tai đỏ ửng lên vì xấu hổ. Đôi bàn tay buông thõng bên hông của anh khẽ siết lại, sự bướng bỉnh trẻ con ban nãy dần nhường chỗ cho một sự thức tỉnh sâu sắc và bẽ bàng.

Chú Bảy Hòa khẽ thở phào một tiếng thật dài, như vừa trút bỏ được tảng đá ngàn cân đè nặng trong lồng ngực suốt từ sáng đến giờ. Người thợ cả già nua đưa bàn tay chai sần, run rẩy vì xúc động vỗ mạnh lên bờ vai gầy của Lan, khóe mắt kèm nhèm của ông hoe đỏ:

“Con nói đúng tróc từng chữ, Lan à. Ba mày mà còn khỏe mạnh ngồi đây nghe được mấy lời này của con, ổng có nhắm mắt xuôi tay cũng ngậm cười nơi chín suối. Cái nghề làm mắm truyền thống này ngộ lắm, cái thùng gỗ bời lời qua năm tháng có thể mục nát, cái niền tre có thể đứt gãy phải thay mới, nhưng cái sự thật nằm trong từng giọt nước mắm mà bị vẩn đục thì coi như vứt bỏ hết sản nghiệp của tiền nhân. Từ rày về sau, tao giao trách nhiệm cho con Thảo với con Liên: lập riêng biệt hai bộ sổ sách kế toán và kỹ thuật, sơn mã số phân biệt rạch ròi trên từng bồn chứa inox. Bồn nào dành cho Bếp Bờ Biển là của Bếp Bờ Biển, bồn nào của nhãn hiệu Hải Thành là của Hải Thành, con ruồi bay qua cũng tuyệt đối không được để lẫn lộn một giọt nào!”

Buổi chiều muộn buông xuống bến sông Cà Ty. Phúc lặng lẽ nhận nhiệm vụ dùng xe máy chở thùng xốp bảo ôn chứa các chai mẫu mắm niêm phong chạy thẳng lên bưu cục trung tâm thành phố Phan Thiết để làm thủ tục gửi chuyển phát hỏa tốc vào Quatest 3 ở Sài Gòn. Anh mang theo bên mình cuốn sổ theo dõi nguồn gốc xuất xứ lô hàng mà Lan vừa đích thân thiết lập, nắn nót ghi chép cẩn thận từng chi tiết kỹ thuật: số hiệu thùng TH-03 từ cơ sở Hai Trọng ở Phú Hài, ngày giờ mở nẹp lù, thể tích dịch mắm hút ra, độ đạm cảm quan đo tại hiện trường và mã số niêm phong kẹp chì của chuyên viên kiểm định Phạm Đức Tín.

Đứng nhìn bóng chiếc xe máy của Phúc khuất dần sau rặng phi lao xào xạc ven con đường cát, Lan quay trở lại bàn làm việc trong căn phòng nhỏ ở xưởng Cà Ty. Cô bật chiếc đèn bàn, mở cuốn sổ cái ghi chép công nợ cùng chiếc máy tính xách tay cá nhân để bắt đầu tính toán lại chi tiết dòng tiền thực tế của phương án thu mua bán thành phẩm vừa được thử nghiệm.

Thế nhưng, khi những con số tài chính bắt đầu nhảy múa trên bảng tính Excel, sự nhẹ nhõm ngắn ngủi ban trưa nhanh chóng bị dập tắt, thay vào đó là một gáo nước lạnh buốt dội thẳng vào tâm trí cô.

Giá mua mắm cốt thô ba mươi độ đạm của ông Hai Trọng tại xưởng Phú Hài là 12.500 đồng một lít. Chi phí thuê xe bồn composite chuyên dụng để vận chuyển mắm từ Phú Hài về điểm chiết rót Phong Nẫm tốn khoảng 400 đồng trên mỗi lít. Chi phí gửi mẫu kiểm nghiệm trọn gói tại Quatest 3 cho mỗi lô hàng năm ngàn lít (bao gồm xét nghiệm định lượng nitơ toàn phần theo Kjeldahl, histamine, kim loại nặng và vi sinh vật gây hại) tiêu tốn tròn 3.200.000 đồng, chia bình quân trên thể tích tương đương hơn 600 đồng cho mỗi lít mắm thô. Cộng thêm chi phí hóa chất tẩy rửa vô trùng đường ống, khấu hao màng lọc tinh một micromet, điện năng vận hành cánh khuấy và tỷ lệ hao hụt kỹ thuật tất yếu trong quá trình bơm chuyển bồn khoảng 1,5%, giá thành sản xuất thực tế của mỗi lít mắm bán thành phẩm sau khi hoàn tất phối trộn lên mức ba mươi lăm độ đạm đã chạm ngưỡng 14.800 đồng.

Khi Lan đưa con số này vào cấu trúc giá thành xuất xưởng hoàn chỉnh của một chai nước mắm Bếp Bờ Biển dung tích 500ml, bức tranh tài chính hiện ra nghiệt ngã đến rợn người:

Tiền nước mắm nguyên liệu cho một chai 500ml chiếm đúng 7.400 đồng. Tiền vỏ chai thủy tinh và nắp nhôm dập màng seal của bên bà Quyên là 3.800 đồng. Chi phí in ấn tem nhãn decal chống thấm nước và màng co nhiệt là 1.200 đồng. Vỏ thùng carton năm lớp đóng mười hai chai tốn 500 đồng mỗi đơn vị chai. Chi phí nhân công chiết rót, đóng thùng thủ công cùng khấu hao máy móc tại điểm Phong Nẫm tốn thêm 1.600 đồng…

Tổng giá thành sản xuất thực tế tại cửa xưởng đã đội lên tới 14.500 đồng cho mỗi chai thành phẩm 500ml!

Trong khi đó, bản dự thảo hợp đồng cung ứng hàng Tết mà Trần Mai Chi vừa gửi qua thư điện tử hôm trước đã kiên quyết ép đơn giá thu mua của Nam Lộ xuống mức kịch trần là 14.720 đồng một chai!

Lan thả lỏng người, tựa hẳn lưng vào thành ghế gỗ cứng, hai bên thái dương cô giật lên từng cơn đau nhức nhối. Biên lợi nhuận gộp của toàn bộ phương án thu mua bán thành phẩm ngoài này chỉ vỏn vẹn… 220 đồng trên một chai nước mắm 500ml! Cả một đơn hàng khổng lồ gồm hai mươi lăm ngàn chai, nếu xưởng vận hành hết công suất ngày đêm mà không để xảy ra bất kỳ sự cố bể vỡ chai lọ, rách nhãn mác hay lỗi kỹ thuật nào, cơ sở Hải Thành chỉ thu về một khoản lợi nhuận tượng trưng vỏn vẹn năm triệu năm trăm ngàn đồng!

Đó là một con số lợi nhuận gần như bằng không trước một khối lượng công việc và rủi ro khổng lồ.

Chưa dừng lại ở đó, cái bẫy dòng tiền mới thực sự là đòn chí mạng: Để gom đủ năm ngàn lít mắm cốt thô của ông Hai Trọng, Lan bắt buộc phải xuất quỹ ngay lập tức ba mươi mốt triệu hai trăm ngàn đồng tiền mặt để thanh toán năm mươi phần trăm đợt đầu cho ông Trọng trả nợ tiền muối ngay trong tuần này. Tiền đặt cọc mua vỏ chai thủy tinh, nắp nhôm cho bên bà Quyên và tiền tạm ứng in tem nhãn cho nhà in ở Phan Thiết cũng ngốn thêm hàng chục triệu đồng tiền tươi thóc thật. Trong khi đó, điều khoản thanh toán của Nam Lộ chỉ chấp thuận tạm ứng hai mươi phần trăm giá trị hợp đồng (khoảng bảy mươi ba triệu đồng), phần còn lại lên tới hơn ba trăm triệu đồng sẽ áp dụng điều khoản công nợ Net 45 ngày làm việc kể từ ngày giao đủ hàng vào kho tổng—điều đó đồng nghĩa với việc phải đến tận cuối tháng Giêng hoặc sang đầu tháng Hai năm sau, tức là qua hẳn Tết Nguyên đán, Hải Thành mới có thể nhận được tiền thanh lý quyết toán!

Phương án thu mua bán thành phẩm ngoài mà chú Bảy Hòa dày công dẫn dắt thực chất chỉ là một giải pháp tình thế thuần túy về mặt kỹ thuật sản xuất. Nó giúp xưởng tháo gỡ điểm nghẽn về sản lượng tức thời, giúp bảo vệ hệ thống mười bốn thùng chượp gỗ bời lời của ba cô không bị rút kiệt phá hủy, và giữ cho công nhân có việc làm đều đặn. Nhưng về mặt tài chính doanh nghiệp, nó không hề tạo ra bất kỳ thặng dư tiền mặt nào để Lan trả bớt khoản nợ lãi nóng đang thúc bách cho cô Dung, cũng không đủ sức bù đắp quỹ lương đang cạn kiệt từng ngày của những người thợ già. Hơn thế nữa, năm ngàn lít mắm của ông Trọng mới chỉ giải quyết được một phần ba áp lực sản lượng khổng lồ mà Nam Lộ đang ráo riết đòi hỏi.

Màn đêm buông xuống bến sông Cà Ty tự bao giờ. Mặt nước đen sẫm phản chiếu những ánh đèn le lói từ những chiếc ghe chài neo đậu ven bờ. Tiếng chuông điện thoại đặt trên mặt bàn làm việc bỗng rung lên bần bật, phá tan bầu không khí tĩnh mịch và cắt đứt dòng suy nghĩ trĩu nặng của Lan.

Màn hình hiển thị cuộc gọi đến từ Trần Mai Chi.

Lan khẽ nhắm mắt lại, điều chỉnh nhịp thở của mình cho thật ổn định, rồi bấm nút kết nối và đưa máy lên tai:

“Em nghe đây, chị Chi.”

“Chào Lan,” giọng nói của Mai Chi vang lên từ đầu dây bên kia, sắc sảo, dồn dập và mang theo sự quyết đoán lạnh lùng quen thuộc của một nhà quản trị mua hàng lão luyện tại một tập đoàn bán lẻ lớn. “Chuyên viên kiểm định Đức Tín vừa gửi báo cáo nhanh về quy trình phối trộn thử nghiệm tại Phong Nẫm chiều nay. Về mặt kỹ thuật, phòng QA của Nam Lộ đã phê duyệt hồ sơ truy xuất nguồn gốc và phương án lưu mẫu đối chứng độc lập của bên em.”

“Cảm ơn chị Chi. Chúng em đang chuẩn bị hoàn tất các thủ tục gửi mẫu vào Quatest 3 theo đúng yêu cầu của anh Tín để bổ sung phụ lục chất lượng,” Lan bình tĩnh đáp lời.

“Nhưng vấn đề hiện tại không còn nằm ở chỗ kết quả kiểm nghiệm nữa, Lan à,” Mai Chi ngắt lời cô, giọng nói hạ thấp xuống nhưng mang theo sức ép nghẹt thở của một tối hậu thư thương mại không thể thương lượng. “Chị vừa bước ra khỏi cuộc họp giao ban chiến lược hàng Tết khẩn cấp của Ban Giám đốc Khối Bán lẻ Nam Lộ. Lãnh đạo cấp cao của tập đoàn dứt khoát không chấp nhận phương án giao hàng chia nhỏ giọt thành nhiều đợt năm ngàn chai như em vừa đề xuất trong văn bản phản hồi sáng nay.”

Tim Lan khẽ thắt lại, các ngón tay cô siết chặt lấy thân máy: “Ý chị là sao, chị Chi? Quy mô đóng chai thủ công kết hợp bán tự động của Hải Thành cần một nhịp độ giao hàng an toàn để bảo đảm tuyệt đối chất lượng kiểm soát trên từng lô…”

“Lãnh đạo Nam Lộ yêu cầu một điều kiện dứt khoát: Nếu Hải Thành muốn giữ được hợp đồng cung ứng toàn bộ lô hàng Bếp Bờ Biển cho mùa Tết năm nay, cơ sở của em bắt buộc phải ký cam kết dành trọn vẹn một trăm phần trăm công suất đóng chai tại điểm Phong Nẫm cho riêng Nam Lộ trong suốt chín mươi ngày tới. Tuyệt đối không được phân tán bất kỳ nguồn lực hay công suất nào cho bất kỳ nhãn hàng nào khác, kể cả dòng sản phẩm nhãn riêng truyền thống của Hải Thành. Nếu cơ sở của em không ký bản cam kết độc quyền công suất này trước mười bảy giờ chiều ngày mai, Nam Lộ sẽ lập tức chấm dứt đàm phán và chuyển toàn bộ hạn mức đơn hàng hai mươi lăm ngàn chai này sang cho đối tác sản xuất dự phòng ở thị xã La Gi.”

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories