Sổ Nợ Nhà MìnhCh.21 / 35
Chapter 21

Người cô cần tiền trước tuổi già

Chiếc quạt trần ba cánh bằng sắt tráng men xanh đã ngả màu gỉ sét trong văn phòng luật sư Lê Hoàng Sơn quay từng vòng nặng nhọc trên trần nhà quét vôi cũ. Cứ mỗi lần đổi trục quay, từ khớp nối sắt lại phát ra một tiếng cót két khô khốc, xua đi một luồng gió nồm ran rát, phả thẳng xuống mặt bàn kính dày đặt giữa phòng. Gió thốc qua những thanh chớp gỗ màu nâu sẫm của ô cửa sổ nhìn ra đường Trần Hưng Đạo mang theo cái vị mặn nồng quen thuộc của biển Phan Thiết, quyện lẫn với mùi giấy lưu trữ ẩm mốc, mùi mực in đóng dấu và thoang thoảng mùi trà lài nguội ngắt trong chiếc ấm sành cũ đặt nơi góc bàn.

Không có tiếng máy điều hòa rì rầm đều đặn như những cao ốc văn phòng kiểm toán tại quận Nhất nơi Lan từng gắn bó suốt những năm tháng tuổi trẻ; không có những tấm kính cách âm hai lớp ngăn biệt con người khỏi cái bỏng rát của cuộc đời. Ở đây, giữa lòng thị xã ven biển đang cựa mình trong nắng trưa hầm hập, không gian bị bủa vây bởi tiếng còi xe máy gắt gỏng từ ngã tư bùng binh Chợ Lớn vọng lại, tiếng kim đồng hồ quả lắc bằng gỗ mít gõ nhịp lách cách trên vách tường, và sự im lặng quánh đặc, căng như một sợi dây cước kéo căng hết cỡ giữa bốn con người đang ngồi đối diện nhau.

Họ ngồi chia thành hai chiến tuyến rõ rệt qua mặt bàn kính hình chữ nhật. Một bên là cô Dung, ngồi lẻ loi trên chiếc ghế bành khung gỗ bọc simili màu nâu da bò đã rạn nứt chi chít những đường chân chim, để lộ cả lớp mút xốp ố vàng bên trong. Đối diện bà là ba mẹ con Lan: Lan ngồi chính giữa, bên tay phải là bà Hạnh trong chiếc áo bà ba màu tro nhạt, còn bên tay trái là Phúc, vai căng cứng, hai bàn tay đan chặt giấu dưới gầm bàn. Luật sư Sơn ngồi ở đầu bàn bên phía tay phải cửa ra vào, hai bàn tay thon dài đan vào nhau đặt ngay ngắn trên tập hồ sơ đóng bìa các-tông xanh mang dòng chữ in hoa nắn nót: *“Hồ sơ tư vấn pháp lý: Cơ sở Nước mắm Hải Thành”*. Cặp kính gọng kim loại phản chiếu ánh sáng lấp loáng từ cửa sổ, che bớt ánh mắt sắc sảo nhưng điềm tĩnh của người đàn ông đã quen nhìn thấu những đổ vỡ gia đình núp bóng sau những tranh chấp tài sản.

Trước mặt họ, nằm trơ trọi trên mặt kính sáng bóng, là hai chứng từ mang tính chất sinh tử đối với số phận của nhà thùng Hải Thành.

Tờ thứ nhất là mẩu giấy biên nhận viết tay trên giấy kẻ ô vuông tập học sinh, đã ngả sang màu vàng vôi, mực tím Cửu Long lem nhem ở góc dưới do từng bị dính nước mưa. Tờ giấy ghi vỏn vẹn mấy dòng: *“Hôm nay ngày 12 tháng 4 năm 2014, tôi Nguyễn Thị Hạnh, vợ anh Võ Văn Thành, có nhận đủ của cô Võ Thị Dung số tiền mặt 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) và 03 (ba) lượng vàng miếng SJC để lo việc ghe và mở xưởng. Hẹn khi nào xưởng xuất lứa mắm đầu sẽ tính toán trả đủ cả vốn lẫn lãi theo giá thị trường.”* Phía dưới là chữ ký nguệch ngoạc của bà Hạnh, run rẩy và run rẩy như chính tâm trạng của người đàn bà cả đời chưa từng biết đến một bản hợp đồng dân sự đúng nghĩa.

Tờ thứ hai, vừa được cô Dung rút ra từ chiếc túi xách giả da cũ sờn góc và đập mạnh xuống bàn cách đây năm phút, là một bức thư tay dài hai trang. Giấy kẻ ngang mỏng dính, các đường gấp khúc đã rách mép, thủng lỗ chỗ như tàn thuốc châm vì bị mở ra gập vào hàng trăm lần trong suốt mười năm ròng rã. Đó là nét chữ của ông Võ Văn Thành. Nét chữ nghiêng nhiều sang bên phải, những nét móc của chữ *g*, chữ *y* kéo dài đầy phóng khoáng, ngang tàng của một người đàn ông miền biển quen đón đầu những ngọn sóng lớn ngoài khơi xa, nhưng lại hoàn toàn thiếu đi sự cẩn trọng, chặt chẽ tối thiểu của một bản giao ước kinh tế.

Mũi quạt trần vừa quét qua một vòng nữa, mép giấy rách bay phần phật, đập vào mặt kính nghe lách tách.

Cô Dung ngồi thẳng lưng, hai gò má hóp lại nhô cao, nổi bật những vết nám đen sạm vì nắng gió của ba mươi năm ngồi sạp vải ngoài chợ Phan Thiết. Bà mặc chiếc áo sơ mi hoa màu tím than, cổ áo sờn mép đã ngả sang màu cháo lòng sau hàng trăm lần giặt giũ bằng xà phòng bột rẻ tiền. Bàn tay bà — những ngón tay gầy guộc, thô ráp, các khớp xương bè ra vì cả đời phải khuân vác những súc vải dày — đang bấu chặt vào quai túi xách để trên đùi. Những đường gân xanh ngoằn ngoèo nổi rõ dưới lớp da mỏng dính, mu bàn tay run lên từng nhịp rất khẽ nhưng dồn dập.

— Mấy người coi đi, — giọng cô Dung khàn đặc, khô khốc như tiếng rơm khô bị giẫm đạp dưới nắng trưa. Ngón tay trỏ tay phải của bà chỉ thẳng vào dòng chữ gần cuối trang thứ hai của bức thư. Móng tay bà cắt sát, viền móng còn vương chút bụi vải màu chàm. — Đọc lớn lên cho chị dâu với hai đứa cháu thành phố nó nghe! Tự tay anh Hai viết cho tôi trước bữa tôi mang tiền với vàng qua giao cho chị Hạnh. Mực Cửu Long của ảnh, chữ ký gạch đít của ảnh mười năm trước, ai mà cãi cho được? Ai mà dám nói bà cô ruột này bày đặt giấy tờ giả để về cướp xưởng của anh em?

Lan nghiêng người tới trước, vươn tay chặn nhẹ lên góc bức thư để ngọn gió quạt không làm nó xô lệch thêm nữa. Đầu ngón tay cô chạm vào mặt giấy ráp, cảm nhận được cái lạnh lẽo của thời gian đã phủ lên từng con chữ của cha mình. Cô đọc lướt qua những dòng đầu viết về vụ bão năm Giáp Ngọ, về chuyến ghe bạn chìm ở bãi cạn làm mất trắng bốn mươi triệu tiền lưới và tiền dầu, rồi mắt cô dừng lại ở đoạn văn định mệnh được viết bằng nét bút mực đậm hơn bình thường:

*“...Út gom góp đưa cho anh lo mở thêm bốn cái thùng chượp với đặt cọc cái máy chiết ngoài Nha Trang, anh với chị ghi dạ. Nhà mình với nhau, trước sau gì cũng là cơ ngơi tổ tiên để lại cho mấy anh em. Khi nào xưởng khấm khá sẽ tính cổ phần cho cô út đàng hoàng, không để út chịu thiệt một cắc...”*

Đặc biệt, bên dưới chữ *“tính cổ phần cho cô út đàng hoàng”*, có một nét gạch chân bằng bút bi màu mực đỏ, nét gạch run rẩy, đứt đoạn, màu mực đỏ tươi hơn màu mực xám của bức thư gốc rất nhiều. Rõ ràng nét gạch đó mới được vẽ thêm vào trong những năm gần đây, khi những cơn đau tim bắt đầu hành hạ người đàn bà góa bụa, khi sự lo sợ về một tương lai mịt mờ không nơi bấu víu bắt đầu cào xé tâm can bà từng đêm.

Bên cạnh Lan, Phúc khẽ cựa quậy. Chiếc ghế gỗ kêu lên một tiếng *rắc*. Cậu nhìn trừng trừng vào nét gạch đỏ kia, cơ hàm bạnh ra, lồng ngực phập phồng dưới lớp áo thun đen bạc màu. Hai nắm đấm của cậu siết chặt trên đầu gối, mười đầu ngón tay trắng bệch vì dồn lực. Phúc hít một hơi sâu, môi mấp máy chực bung ra những lời gay gắt mà cậu đã nhịn từ tuần trước, nhưng Lan đã kịp thời liếc mắt sang. Ánh nhìn của Lan không hề có sự giận dữ, chỉ có sự sắc lạnh, kiên định và một lời cảnh báo không lời nghiêm khắc đến mức khiến Phúc phải ngậm chặt miệng lại, nuốt ngược cơn thịnh nộ vào trong cuống họng.

Bên phía còn lại, bà Hạnh co rúm người lại. Người mẹ cả đời chỉ biết quanh quẩn bên cái bếp lò nấu cơm cho thợ, nhóm từng mồi lửa, gánh từng thùng nước muối để nuôi chồng nuôi con giờ đây như một chiếc bóng mờ nhạt. Bà cúi gằm mặt xuống, hai mắt dán chặt vào mặt kính bàn, nơi in bóng hình phản chiếu méo mó của chính bà. Hai bàn tay bà bấu chặt lấy gấu chiếc áo bà ba màu tro, vặn vẹo nó đến nhăn nhúm, các khớp ngón tay run lẩy bẩy như người đang lên cơn sốt rét.

— Cô Út, — Lan cất tiếng. Giọng cô trong trẻo nhưng giữ ở một trường độ trầm thấp, bình thản và chắc nịch, hoàn toàn đối lập với sự căng thẳng đang chực nổ tung trong gian phòng. — Tụi con ngồi đây với cô hôm nay, có mặt mẹ con, có mặt em Phúc, và có luật sư Sơn đại diện pháp lý cho hộ kinh doanh của ba con, không phải để đôi co hay tìm cách phủ nhận lá thư này. Con biết nét chữ của ba. Ba con viết bức thư này gửi cho cô vào năm 2014, điều đó là sự thật. Tụi con chưa từng nói cô mang giấy tờ giả mạo đến để ép uổng mẹ con con.

— Bây không nói giả mạo, nhưng bữa trước bây nói cái gì? — Cô Dung cười gằn một tiếng, nhưng tiếng cười vừa bật ra khỏi cổ họng đã lập tức vỡ vụn thành một cơn thở dốc khò khè. Bàn tay phải của bà rời khỏi quai xách, đưa lên ôm chặt lấy ngực trái, nơi chiếc áo hoa tím than đang phập phồng một cách bất thường. Những ngón tay bà ấn sâu vào thớ vải, như thể đang cố đè nén một cơn co thắt buốt nhói đang chạy dọc theo động mạch. — Bữa trước ở sân xưởng, bây đứng trước mặt bàn dân thiên hạ, trước mặt mấy thằng thợ khuân vác, bây đem luật này điều nọ ra nói với tao. Bây bảo ba bây chưa chết nên chưa mở thừa kế. Bây bảo đất xưởng đứng tên một mình anh Hai tao nên tao không có quyền bước chân vô đòi chia đất. Bây học hành chữ nghĩa đàng hoàng trên đất Sài Gòn, bây làm kiểm toán cho Tây cho Tàu, bây đem mấy cuốn luật dày cộp về để bịt miệng một bà cô ruột buôn thúng bán bưng! Nhưng bây có hỏi mẹ bây coi, năm mươi triệu với ba cây vàng hồi năm 2014 nó lớn cỡ nào không?

Bà Hạnh giật thót mình, bả vai gầy guộc run rẩy. Bà ngước đôi mắt đỏ hoe, đục ngầu vì khóc nhiều lên nhìn em chồng, môi mấp máy mãi mới phát ra được những âm thanh đứt quãng:

— Cô Út ơi... tui lạy cô... hồi đó tui với anh Hai cô thiệt tình dồn vô đường cùng... Ghe ngoài khơi bị nạn, mấy nhà bạn thuyền kéo tới sân xưởng đòi tiền bồi thường tính mạng, đòi tiền sửa vỏ... Không có năm mươi triệu với ba cây vàng của cô Út đắp vô bữa đó, người ta xiết luôn cái dàn thùng bốn chiếc mới dựng... Tui biết ơn cô Út cả đời, chưa bao giờ tui dám quên...

— Chị biết ơn? — Đôi mắt cô Dung trừng lên, nhưng tia giận dữ vừa lóe lên đã nhanh chóng bị dập tắt bởi một làn nước mỏng manh, cay đắng dâng đầy khóe mi. Giọng bà đột ngột chùng hẳn xuống, không còn sự chua ngoa, đanh đá của một người đi đòi nợ thường thấy, mà trĩu nặng một nỗi tuyệt vọng đến xé lòng. — Chị nói chị biết ơn, vậy chị có biết cái đống tiền vàng đó ở đâu ra không? Tiền đó là tiền tôi bán rẻ miếng đất hương hỏa bên ngoại dưới thị trấn Tân Minh, cộng với mồ hôi nước mắt mười mấy năm trời tôi ngồi thối mông ở cái sạp vải ẩm thấp ngoài chợ! Hồi đó người ta tới hỏi mua miếng đất, tôi tiếc đứt ruột không muốn bán. Nhưng thấy anh ruột mình chạy vạy đầu này đầu kia, tóc bạc trắng sau một đêm vì ghe chìm, tôi cắn răng bán tống bán tháo cho người ta để lấy một cọc tiền tươi đem về đưa cho chị. Tôi nghĩ... tôi nghĩ anh em ruột thịt cùng một mẹ sinh ra, ảnh làm ăn được thì sau này ảnh che chở cho mình. Ảnh hứa cho tôi phần hùn trong xưởng, để lỡ mai này tôi già yếu, không chồng không con, thân gái một mình thì mỗi mùa cá tôi có được đồng ra đồng vô từ mấy giọt nước mắm mà mua chén cơm, thang thuốc...

Cô Dung dừng lại, lồng ngực kéo lên một hơi dài nghe rợn người, tựa như không khí không thể lọt qua nổi cuống phổi đang co thắt. Bà buông chiếc túi xách xuống bàn kính cái *cộp*, bàn tay run rẩy thọc sâu vào ngăn trong, lôi ra một chiếc khăn tay mùi-xoa cũ kỹ đã sờn rách bốn góc viền ren. Bà chấm vội lên hai khóe mắt đã ướt đẫm, rồi không dừng lại ở đó, bà lôi tiếp ra một bọc ni-lông nhỏ màu trắng đục buộc thắt nút bằng dây thun gai.

Bà giật phăng sợi dây thun. Những thứ bên trong bọc ni-lông rơi lả tả xuống mặt bàn kính, ngay cạnh bức thư ố vàng của ông Thành.

Đó là bốn vỉ thuốc tây đã bóc dở — những viên thuốc màu hồng nhạt và màu trắng mang dòng chữ in chìm *Digoxin*, *Furosemide* và *Concor* — cùng một cuốn sổ khám bệnh bìa màu vàng nhạt đã quăn góc của Viện Tim Tâm Đức tại Thành phố Hồ Chí Minh, bên ngoài có dán tấm thẻ bảo hiểm y tế đã mờ hết mã số thẻ.

— Mấy người tưởng tôi tham lam lắm hả? — Tiếng khóc của cô Dung rốt cuộc vỡ òa, nghẹn ngào và thảm thiết giữa bốn bức tường quét vôi xám lạnh. Bà đập bàn tay gầy trơ xương lên cuốn sổ khám bệnh. — Mấy người tưởng thấy anh Hai nằm xuống một chỗ là tôi nhảy vô xâu xé miếng đất, đuổi mẹ con bây ra đường chắc? Tôi bị hở van hai lá mức độ ba trên bốn cả ba năm nay rồi! Đợt vừa rồi tôi ngất xỉu ngay giữa lối đi chợ cá, người ta khiêng tôi vô trạm xá, bác sĩ dưới này lắc đầu bảo tim tôi giãn to quá rồi, phải chuyển vô Chợ Rẫy hay Tâm Đức để mổ thay van hoặc đặt dù, nếu không thì một cơn phù phổi cấp là tôi đi đứt! Chi phí phẫu thuật với nằm hồi sức sơ sơ cũng ngót nghét cả trăm triệu bạc...

Bà đưa ống tay áo quệt ngang mặt, nước mắt lăn dài qua những nếp nhăn sâu hoắm nơi khóe miệng:

— Còn cái sạp vải ngoài chợ... bây giờ người ta lên mạng bấm điện thoại mua đồ may sẵn chở tới tận cửa, ai còn mua vải khúc đem đi thợ may nữa? Có tuần lễ tôi ngồi từ sáu giờ sáng tới năm giờ chiều không bán nổi ba thước vải lụa tơ tằm! Tiền hoa hồng sạp, tiền thuế môn bài tháng nào cũng âm, tôi phải đi vay nóng năm phân ngoài chợ để đắp vô đóng tiền điện... Tôi năm mươi bảy tuổi rồi Lan ơi! Tim tôi bây giờ nó đập lúc loạn xạ như trống làng, lúc nghẽn lại như có tảng đá đè trên ngực. Tôi không chồng, không con, mai mốt tôi liệt một chỗ hay tắt thở trong căn nhà lá dưới bờ kè thì ai chôn? Tôi không cần xưởng mắm của anh Hai bây để làm giàu, tôi cần một cục tiền đút túi để đi mổ tim! Tôi cần tiền sống sót qua cái tuổi già khốn nạn này! Bây hiểu chưa Lan?

Tiếng nấc nghẹn ngào của người đàn bà buôn bán lam lũ dội vào mặt bàn kính, rơi lõm bõm vào tiếng quạt trần quay đều đều trên trần nhà. Gian phòng như chìm hẳn xuống đáy biển sâu, ngột ngạt và buốt lạnh.

Phúc ngồi sững sờ, hai bàn tay đang nắm chặt dưới gầm bàn từ từ nới lỏng ra. Ánh mắt bặm trợn, đầy vẻ thù địch và cảnh giác của chàng trai trẻ ban nãy bỗng chốc biến mất hoàn toàn, thay vào đó là sự bàng hoàng, bối rối và một nỗi xấu hổ tột cùng hiện rõ trên gương mặt non nớt. Cậu nhìn trân trân vào mấy vỉ thuốc trợ tim đang nằm chỏng chơ trên mặt kính, nhìn sang đôi bàn tay run rẩy gầy gò của người cô ruột mà tuần trước cậu từng lớn tiếng xua đuổi, rồi cúi gục đầu xuống, hai tai đỏ ửng lên vì ngượng ngùng.

Bà Hạnh thì không kìm được nữa, bà vùi mặt vào hai lòng bàn tay chai sạn, từng tiếng khóc thút thít nghẹn ngào bật ra từ lồng ngực người mẹ khốn khổ:

— Cô Út ơi... trời đất ơi sao cô giấu... tui đâu có biết cô bệnh ngặt nghèo tới mức này...

Lan ngồi bất động. Từng lời nói, từng giọt nước mắt và hình ảnh bọc thuốc tây của cô Dung như những mũi kim châm thẳng vào tâm trí cô. Suốt hai tuần qua, kể từ cái ngày định mệnh ba cô ngã quỵ bên miệng thùng chượp số 4 rồi cô Dung kéo người tới xưởng lớn tiếng đòi phong tỏa tài sản, trong đầu một người làm nghề kiểm toán như Lan luôn tự động dựng lên một hàng rào phòng thủ vững chắc. Cô nhìn nhận cô Dung như một rủi ro pháp lý cần phải vô hiệu hóa; cô coi những lời đe dọa của cô ruột là một đòn tấn công cơ hội nhằm trục lợi trên nỗi đau của gia đình lúc ba cô thập tử nhất sinh. Cô đã chuẩn bị sẵn trong đầu những điều luật sắc bén nhất của Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp, những án lệ dân sự về vô hiệu hóa thỏa thuận miệng, quyết tâm không để bất kỳ ai cướp đi một tấc đất hay một giọt mắm của xưởng Hải Thành.

Nhưng lúc này đây, nhìn người đàn bà góa bụa, già nua đang ngồi đối diện, Lan nhận ra sự sắc bén của lý trí kế toán đôi khi lại tàn nhẫn đến mù quáng. Cô Dung không phải là một kẻ tống tiền tham lam. Đằng sau sự cay nghiệt, đằng sau những lời đe dọa làm ầm ĩ nơi công quyền chỉ là nỗi hoảng loạn cùng cực của một con người đơn độc đang đứng bên bờ vực của cái chết và sự nghèo đói. Bà không muốn phá nát xưởng của anh trai, bà chỉ đang vùng vẫy trong tuyệt vọng để giành giật lấy một cơ hội sống sót cho chính mình.

Luật sư Lê Hoàng Sơn khẽ hắng giọng. Tiếng hắng giọng trầm ấm của anh kéo mọi người trở về với thực tại. Anh không vội vã ngắt lời cảm xúc của cô Dung, mà kiên nhẫn chờ cho tiếng nấc của bà lắng xuống bớt, rồi mới từ tốn với tay lấy tập hồ sơ bìa xanh, lật mở từng trang tài liệu đã được đánh số cẩn thận. Cử chỉ của người luật sư trẻ tuổi toát lên sự chuyên nghiệp, thận trọng nhưng không hề lạnh lùng.

— Thưa bà Dung, — Sơn cất tiếng, ánh mắt anh nhìn thẳng vào cô Dung với sự thấu cảm chân thành. — Trước hết, với tư cách cá nhân, tôi rất chia sẻ với bệnh tình và hoàn cảnh sống ngặt nghèo hiện tại của bà. Nghe những lời tâm sự của bà, tôi hiểu món tiền bà đưa cho ông Thành mười năm trước không đơn thuần là một khoản tiền cho vay lấy lãi, mà đó là toàn bộ vốn liếng mồ hôi nước mắt, là tình nghĩa anh em ruột thịt và là niềm hy vọng duy nhất cho tuổi già của bà.

Sơn dừng lại một nhịp, đẩy nhẹ gọng kính lên sống mũi:

— Tuy nhiên, hôm nay tôi ngồi ở đây với tư cách là luật sư tư vấn pháp lý cho hộ kinh doanh Hải Thành và gia đình chị Lan. Trách nhiệm nghề nghiệp của tôi buộc tôi phải tách bạch rạch ròi giữa tình cảm gia đình và giá trị pháp lý thực tế của các tài liệu này. Chúng ta không thể giải quyết một bế tắc tài chính bằng những ngộ nhận về luật pháp, bởi vì sự ngộ nhận chỉ kéo dài thêm sự thù hận và dẫn tới những phán quyết bất lợi cho chính bà nếu sự việc bị đẩy ra tòa án.

Sơn dùng đầu ngón tay trỏ chạm nhẹ vào bức thư của ông Thành:

— Thứ nhất, về bức thư viết tay này. Trong thư, ông Thành có viết câu: *“Khi nào xưởng khấm khá sẽ tính cổ phần cho cô út đàng hoàng”*. Xét dưới góc độ của Bộ luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp, câu này chỉ mang tính chất của một lời hứa hẹn trong nội bộ thân tộc, là một điều kiện treo trong tương lai mang nặng tính tình cảm. Bức thư này hoàn toàn không đủ yếu tố cấu thành một thỏa thuận góp vốn hay hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp hợp pháp.

Cô Dung vội quệt nước mắt, giọng bà run rẩy nhưng vẫn cố chấp bấu víu:

— Sao lại không đủ? Ảnh viết rành rành hai chữ “cổ phần” đó luật sư! Chữ của người lớn, của anh ruột viết ra giấy trắng mực đen mà bảo không tính là sao?

— Thưa bà, tôi giải thích rõ để bà hiểu, — Sơn ôn tồn nói. — Thứ nhất, tại thời điểm năm 2014 cũng như hiện tại, xưởng Hải Thành không hoạt động dưới hình thức Công ty cổ phần hay Công ty trách nhiệm hữu hạn. Cơ sở này đăng ký hoạt động dưới hình thức Hộ kinh doanh cá thể do một mình cá nhân ông Võ Văn Thành đứng tên đại diện pháp luật. Pháp luật Việt Nam quy định rõ: Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân và không được quyền phát hành, phân chia hay chuyển nhượng “cổ phần”. Khái niệm “cổ phần” mà ông Thành viết trong thư chỉ là cách dùng từ dân dã, cửa miệng của người dân lao động chứ không có giá trị pháp lý về mặt tổ chức doanh nghiệp.

Sơn lật sang một trang tài liệu tiếp theo, chỉ vào các điều khoản trích dẫn:

— Thứ hai, để một giao dịch được công nhận là góp vốn kinh doanh, văn bản thỏa thuận bắt buộc phải xác định rõ: tỷ lệ vốn góp của bà chiếm bao nhiêu phần trăm trên tổng giá trị tài sản được định giá của cơ sở tại thời điểm năm 2014; phương thức phân chia lợi nhuận hằng năm; và quan trọng nhất là nghĩa vụ cùng chịu rủi ro thua lỗ nợ nần trong suốt mười năm hoạt động vừa qua. Bức thư này không có bất kỳ điều khoản nào về việc định giá tài sản hay chịu rủi ro. Và điều quyết định là: tên của bà chưa từng được đăng ký bổ sung vào danh sách thành viên hộ kinh doanh tại Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã.

Sơn ngừng lại, đưa mắt nhìn sang hai tờ trích lục bản đồ địa chính được anh kẹp riêng ở góc bìa hồ sơ:

— Thứ ba, và đây là điều quan trọng nhất liên quan đến yêu cầu chia đất xưởng của bà: Toàn bộ cơ ngơi của gia đình chị Lan hiện nay nằm trên hai thửa đất hoàn toàn tách biệt. Thửa đất số 42 có diện tích 320 mét vuông, là phần đất có ngôi nhà cấp bốn mà gia đình đang sinh sống. Nguồn gốc thửa đất này là tài sản thừa kế riêng của bà Nguyễn Thị Hạnh từ cha mẹ ruột để lại từ năm 1988, trước thời kỳ hôn nhân với ông Thành. Thửa đất này hoàn toàn không dính líu gì đến tài sản của ông Thành hay dòng họ Võ. Còn Thửa đất số 43 có diện tích 480 mét vuông, nơi đặt dãy nhà thùng chượp và sân phơi mắm, là đất do cá nhân ông Võ Văn Thành đứng tên quyền sử dụng đất.

Sơn nhìn thẳng vào mắt cô Dung, giọng điệu đanh thép nhưng chuẩn mực:

— Bức thư viết tay của ông Thành không được công chứng, không được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã phường, không hề đăng ký biến động đất đai tại Văn phòng Đăng ký đất đai. Nó không xác lập bất kỳ quyền sở hữu chung, quyền sử dụng chung hay quyền tài sản nào của bà Dung đối với Thửa đất số 43. Nếu hôm nay bà Dung nộp đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết để đòi phân chia đất xưởng hay đòi phong tỏa tài sản, tôi khẳng định với bà: Tòa án sẽ bác toàn bộ yêu cầu phân chia quyền sử dụng đất. Cơ quan tài phán sẽ chỉ thụ lý vụ việc dưới dạng một tranh chấp dân sự về “Hợp đồng vay mượn tài sản” thông thường giữa các cá nhân.

Mặt cô Dung tái mét đi. Bàn tay đang ôm ngực của bà từ từ buông thõng xuống mặt bàn kính, các ngón tay run rẩy như không còn chút sức lực nào. Đôi môi thâm xì của bà mấp máy:

— Vậy... vậy là tờ giấy này của tôi... bao nhiêu năm tôi cất trong đáy tủ... coi như là giấy lộn sao luật sư? Anh ruột tôi gạt tôi trắng trợn vậy sao?

— Thưa bà Dung, xin bà bình tĩnh, — Sơn nhẹ nhàng ngắt lời. — Tôi nói bức thư không có giá trị chia đất hay chia cổ phần, nhưng tôi chưa bao giờ nói nó là giấy lộn. Ngược lại, bức thư này cùng với tờ biên nhận do bà Hạnh ký là những chứng cứ vật chất vô cùng vững chắc để chứng minh một sự thật khách quan: Ông Võ Văn Thành và gia đình có nhận của bà khoản tiền năm mươi triệu đồng và ba cây vàng vào ngày 12 tháng 4 năm 2014. Pháp luật bảo vệ quyền đòi lại tài sản chính đáng này của bà. Ông Thành có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ cho bà. Điểm mấu chốt ở đây là: Bà có quyền đòi lại tiền và vàng, nhưng bà không có quyền đòi chia đất hay cưỡng chế đóng cửa xưởng mắm.

Nói xong, Sơn khẽ khép tập hồ sơ lại. Anh ngả người ra sau lưng ghế, nhìn người phụ nữ luống tuổi với vẻ mặt đầy sự thận trọng và đứng đắn của một luật sư có đạo đức nghề nghiệp:

— Và để bảo đảm tính khách quan tuyệt đối cho buổi làm việc hôm nay, tôi xin có một khuyến nghị rất thẳng thắn với bà Dung: Tôi là luật sư do chị Lan mời đến để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho cơ sở Hải Thành. Tôi không đại diện cho quyền lợi của bà. Để tránh tình trạng xung đột lợi ích và để bà không có cảm giác mình bị một luật sư chuyên nghiệp cùng gia đình chị Lan dùng kiến thức chuyên môn lấn lướt, bà hoàn toàn có quyền — và tôi khuyên bà nên làm điều đó — nhờ một luật sư độc lập hoặc liên hệ Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Thuận để cử người hỗ trợ pháp lý riêng cho bà trong các buổi thương lượng tiếp theo. Việc đó sẽ giúp bà hiểu rõ nhất vị thế pháp lý của mình một cách hoàn toàn công tâm.

Sự thẳng thắn, rành mạch và minh bạch đến mức bất ngờ của luật sư Sơn khiến gian phòng rơi vào một khoảng lặng sâu hoắm.

Cô Dung ngơ ngác nhìn người luật sư trẻ tuổi. Suốt từ đầu buổi tới giờ, bà luôn thủ sẵn tâm thế của một con nhím xù lông, sẵn sàng gào thét, cào xé vì nghĩ rằng người ta thuê luật sư về là để dùng mưu mô, mánh khóe xé bỏ mẩu giấy nợ của bà, đuổi bà ra khỏi cửa tay trắng. Nhưng thái độ đàng hoàng, không hề giấu giếm hay gài bẫy, thậm chí còn khuyên bà tìm người trợ giúp pháp lý độc lập của Sơn đã đánh sập hoàn toàn bức tường nghi kỵ cuối cùng trong lòng bà.

Lan nhìn cô ruột, rồi lại nhìn sang mẹ. Bà Hạnh vẫn đang ngồi thút thít, những giọt nước mắt lăn dài trên mu bàn tay nhăn nheo. Nhìn cảnh tượng ấy, lồng ngực Lan trào dâng một nỗi xót xa vô bờ bến.

Cô bỗng hiểu ra toàn bộ bi kịch của gia đình mình trong suốt ba thập kỷ qua. Bi kịch ấy không bắt nguồn từ lòng tham, mà bắt nguồn từ chính cái nếp nghĩ xuề xòa, trọng tình cảm mù quáng và thói quen giải quyết mọi việc bằng sự nể nang của ba cô.

Ba cô, ông Võ Văn Thành, là một người đàn ông miền biển ruột để ngoài da, cả đời trọng chữ tín, trọng anh em, nhưng lại luôn trốn tránh việc đối diện với những cam kết cụ thể trên giấy trắng mực đen. Khi ghe chìm, khi túng quẫn, ông nhận tiền của em gái út với lòng biết ơn thật sự. Ông viết bức thư tay ấy bằng tất cả tấm lòng của một người anh cả muốn bù đắp cho em, muốn cơ ngơi tổ tiên để lại là của chung cả gia đình. Nhưng sự cẩu thả, thói quen làm ăn kiểu gia đình trị, kiểu “anh em một nhà tính toán chi li làm gì cho tổn phước” đã khiến ông lần lữa năm này qua tháng khác. Ông không bao giờ chịu ngồi lại để làm thủ tục định giá, không chịu làm giấy tờ góp vốn minh bạch, không chịu lập kế hoạch tài chính trả nợ. Ông cứ để mặc cho những lời hứa hẹn mơ hồ ấy trôi theo từng mẻ cá, từng mùa muối, để mặc cho món nợ tình nghĩa ấy mưng mủ, ung nhọt dưới đáy chiếc hộp sắt tây.

Và rồi, khi một cơn tai biến bất ngờ ập xuống đánh gục ông trên miệng thùng chượp, cái ung nhọt mười năm ấy lập tức vỡ tung ra. Người phải gánh chịu hậu quả, người phải đứng mũi chịu sào trước miệng lốc xoáy không phải là ông, mà lại là ba người phụ nữ: mẹ cô run sợ trước nguy cơ mất đi mảnh đất cha ông để lại; cô ruột cô quằn quại trong nỗi sợ chết đói và bệnh tật bủa vây; còn bản thân cô — một người con gái vừa từ bỏ sự nghiệp ở thành phố trở về — phải đơn độc đứng ra thu dọn đống đổ nát của một mô hình quản trị gia đình mục ruỗng.

Lan hít một hơi thật sâu. Luồng không khí mằn mặn của biển Phan Thiết tràn vào lồng ngực giúp tâm trí cô trở nên sáng rõ và sắc lạnh hơn bao giờ hết. Cô kéo chiếc ghế gỗ của mình sát lại gần mặt bàn kính, thu ngắn khoảng cách với cô Dung. Ánh mắt cô nhìn thẳng vào đôi mắt sưng mọng, hoang mang của người cô ruột, cất lời rành rọt từng tiếng một:

— Cô Út. Luật sư Sơn đã phân tích rất rõ ràng mọi khía cạnh pháp luật, và con tin cô đã hiểu rõ: về mặt pháp lý, yêu cầu chia đất xưởng hay đòi phong tỏa cơ sở là điều hoàn toàn không thể thực hiện. Nhưng hôm nay, con ngồi ở đây với cô không phải để thắng thua một vụ kiện tụng. Con ngồi đây với tư cách là con gái của ba Thành, là người chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ xưởng Hải Thành trong những ngày ba nằm viện. Con muốn nói chuyện với cô bằng trách nhiệm và đạo nghĩa làm con, làm cháu.

Cô Dung khẽ ngẩng đầu lên, bờ môi run rẩy mấp máy nhưng không nói được lời nào.

— Con biết cô không hề muốn phá nát cái xưởng này, — giọng Lan ấm áp hẳn lại, từng lời nói chạm thẳng vào nỗi đau của người đối diện. — Cô cần tiền để mổ tim, cần một khoản tài chính chắc chắn để phòng thân khi tuổi già bóng xế không nơi nương tựa. Nhu cầu đó của cô là hoàn toàn chính đáng, là quyền lợi hợp pháp mà bất kỳ con người nào cũng phải có. Ba con mười năm trước nhận của cô năm mươi triệu đồng và ba cây vàng để dựng nên bốn cái thùng chượp kia, nhờ đó mà xưởng mới vượt qua cơn hoạn nạn để tồn tại đến ngày hôm nay. Món nợ đó là có thật, ơn nghĩa đó là có thật. Xưởng Hải Thành và gia đình con có trách nhiệm tuyệt đối phải hoàn trả cho cô. Tụi con không bao giờ có ý định quỵt nợ, cũng không bao giờ vin vào chuyện ba con ngã bệnh hay vin vào các kẽ hở luật pháp để phủi tay chối bỏ nghĩa vụ của mình!

— Bây... bây nói thiệt bụng không Lan? — Giọng cô Dung lạc đi, đôi mắt đỏ hoe mở to nhìn cháu gái, như thể không tin nổi vào những gì mình vừa nghe được. — Bữa trước... bữa trước thằng Phúc nó còn quát vào mặt tao, bảo tao là thứ cô ruột thừa nước đục thả câu tới cướp đất cướp nhà...

Nghe cô nhắc đến mình, Phúc không kìm được nữa. Chàng trai hai mươi mốt tuổi đột ngột đứng bật dậy, hai tai đỏ bừng, đầu cúi gằm xuống trước mặt cô ruột. Hai bàn tay cậu nắm chặt mép quần, giọng nghẹn ngào vì hối hận:

— Con sai rồi cô Út... Bữa đó con thấy ba nằm thở máy trong phòng cấp cứu, dây nhợ cắm đầy người, huyết áp tụt liên tục... Con hoảng quá, con sợ ba chết, sợ mất xưởng nên con mới nói bậy nói bạ... Con xin lỗi cô Út. Con nhỏ dại không biết chuyện cô bị bệnh tim nặng vậy... Cô tha lỗi cho con...

Cô Dung sững sờ nhìn đứa cháu trai. Những nếp nhăn căng cứng trên vầng trán bà bỗng chốc giãn ra, bờ môi run rẩy không thốt nên lời. Bà vội đưa chiếc khăn tay lên lau giọt nước mắt vừa ứa ra lăn dài xuống cằm.

Lan đưa tay kéo Phúc ngồi xuống lại, rồi quay sang tiếp tục với cô Dung, giọng điệu chuyển sang sự quyết đoán, thực tế của một người làm kinh tế:

— Phúc nó xin lỗi cô là đúng đạo làm cháu. Nhưng phần con, con cũng phải nói rất sòng phẳng để cô hiểu rõ thực trạng tài chính hiện tại của xưởng Hải Thành: Xưởng vừa trải qua một đợt khủng hoảng dòng tiền cực kỳ nghiêm trọng. Toàn bộ tiền gửi ngân hàng đứng tên ba con hiện đang bị phong tỏa tạm thời theo thủ tục dân sự vì ba chưa thể ký ủy nhiệm chi; tiền hàng đợt vừa rồi giao cho các chuỗi siêu thị như Nam Lộ phải mất đúng bốn mươi lăm ngày làm việc mới được đối soát thanh toán. Quỹ tiền mặt của xưởng có những thời điểm cạn kiệt đến mức chỉ còn chưa đầy ba triệu đồng, mẹ con con phải chạy vạy từng bữa để trả lương nhật cho mười bốn người thợ, gom từng đồng mua chai thủy tinh và đóng tiền thuốc men hằng ngày cho ba ở bệnh viện tỉnh.

Lan nhấn mạnh từng từ, ánh mắt cô không hề né tránh:

— Nếu bây giờ cô ép xưởng phải nôn ra ngay lập tức một cục tiền mặt hàng trăm triệu đồng, hoặc cô tiếp tục nộp đơn kiện đòi kê biên niêm phong đất xưởng, thì con xin thưa thật với cô: chỉ có duy nhất một kết cục xảy ra. Đó là xưởng Hải Thành sẽ lập tức vỡ nợ, phá sản và buộc phải đóng cửa! Toàn bộ mắm đang ủ trong hai mươi thùng chượp sẽ hỏng hết, mười bốn người thợ làm thuê cho ba hai mươi năm qua sẽ mất việc, mất chén cơm nuôi con. Và quan trọng nhất: khi đất xưởng bị đưa vào diện tranh chấp kê biên chờ tòa án xét xử kéo dài hai ba năm, cô cũng sẽ không thể thu hồi được một đồng tiền mặt nào để kịp thời đi mổ tim! Lúc đó, cả gia đình này cùng dắt tay nhau xuống hố, không ai được lợi gì cả.

Cô Dung ngồi lặng đi. Những lời phân tích sắc bén, logic và đầy sức nặng của Lan như ghim từng nhát búa vào tâm trí bà. Bàn tay bà vô thức miết nhẹ lên mặt kính, ánh mắt nhìn vô định vào khoảng không gian trước mặt. Sau một hồi lâu im lặng đến nghẹt thở, bà thở dài một tiếng nặng trọc, giọng khàn khàn:

— Vậy... vậy bây giờ bây tính sao? Bây nói cho tao nghe coi, giải quyết cách nào cho vẹn cả đôi đường?

Lan mở cuốn sổ tay bìa da màu đen của mình ra, lật đến trang giấy trắng đã được cô kẻ sẵn bảng tính từ đêm hôm trước. Cô đặt cây bút bi kim loại bên cạnh, nhìn thẳng vào cô ruột:

— Con đề xuất một phương án hòa giải trên tinh thần minh bạch, sòng phẳng và có tính khả thi tuyệt đối như sau: Hôm nay, ngay tại văn phòng luật sư Sơn, hai bên chúng ta sẽ thống nhất xác lập một nguyên tắc chung: Tạm thời gác lại hoàn toàn và vô điều kiện mọi tranh chấp, khiếu nại liên quan đến quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 43 cũng như cái gọi là “cổ phần xưởng”. Hai bên cùng công nhận bản chất của khoản tiền năm 2014 là một nghĩa vụ nợ tài chính hoàn trả vốn mà cơ sở Hải Thành và gia đình con có trách nhiệm thanh toán cho cô Út Dung.

Cô Dung gật đầu thật chậm:

— Tao đồng ý! Tao đã nói rồi, tao đâu có thiết tha gì cái mảnh đất hôi hám mùi mắm đó! Tao giữ đất xưởng rồi tao biết làm mắm, biết bán cho ai chắc? Tao chỉ cần tiền đi mổ tim với tiền dưỡng già thôi!

— Dạ. Về mặt số liệu, — Lan tiếp tục, ngón tay cô lướt trên trang sổ. — Tờ biên nhận ghi nhận năm mươi triệu đồng tiền mặt và ba cây vàng SJC từ tháng 4 năm 2014. Con là dân kiểm toán, con hiểu rất rõ giá trị thời gian của tiền tệ. Nếu sau mười năm ròng rã mà tụi con chỉ trả đúng năm mươi triệu đồng tiền mặt gốc thì cô Út chịu thiệt thòi quá lớn do lạm phát và trượt giá của đồng tiền. Do đó, con đề xuất cơ cấu khoản nợ sẽ bao gồm hai phần: Phần thứ nhất là toàn bộ vốn gốc gồm năm mươi triệu đồng tiền mặt cộng với giá trị quy đổi của ba cây vàng theo thời giá thỏa thuận hợp lý; Phần thứ hai là một khoản hỗ trợ trượt giá tài chính tính theo lãi suất cơ bản của ngân hàng trong suốt thời gian qua. Tổng số tiền này sẽ được xưởng Hải Thành cam kết hoàn trả đầy đủ cho cô theo một Lộ trình thanh toán cụ thể, chia nhỏ thành từng đợt gắn liền với chu kỳ thu tiền hàng từ hệ thống siêu thị Nam Lộ.

Lan quay sang nhìn luật sư Sơn:

— Anh Sơn, theo quy định của pháp luật hiện hành, để một thỏa thuận hoàn trả công nợ có lộ trình như vậy có giá trị pháp lý ràng buộc tuyệt đối, bảo vệ quyền lợi trọn vẹn cho cô Dung mà không làm gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh của xưởng, chúng ta cần tiến hành những bước thủ tục nào?

Luật sư Sơn khẽ mỉm cười, ánh mắt lộ rõ sự tán thưởng trước tư duy xử lý khủng hoảng vừa nhân văn vừa chặt chẽ của Lan. Anh kéo tập giấy A4 trắng tinh về phía mình, tháo nắp bút máy:

— Rất rõ ràng và minh bạch. Quy trình chuẩn mực sẽ gồm hai bước: Ngay tại buổi làm việc hôm nay, tôi sẽ giúp hai bên lập một Biên bản ghi nhớ hòa giải sơ bộ. Biên bản này ghi nhận sự tự nguyện của bà Dung trong việc rút lại toàn bộ các yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất, cam kết không thực hiện bất kỳ hành vi nào gây cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh tại Thửa đất số 43. Đổi lại, phía cơ sở Hải Thành cam kết công nhận nghĩa vụ nợ tài chính và sẽ xây dựng một Bản lộ trình hoàn trả công nợ chi tiết trước ngày ba mươi tháng này.

Sơn dừng lại, nhìn sang cô Dung để giải thích thêm:

— Sau đó, Bản lộ trình hoàn trả chi tiết — trong đó ghi rõ từng ngày, từng tháng xưởng phải chuyển khoản cho bà Dung bao nhiêu tiền, chế tài phạt vi phạm nếu chậm trễ ra sao — sẽ được hai bên ký kết chính thức. Để bà Dung hoàn toàn yên tâm kê cao gối ngủ mà không sợ phía gia đình chị Lan nuốt lời, chúng ta sẽ mang văn bản thỏa thuận đó ra Phòng Công chứng số 1 tỉnh Bình Thuận để công chứng công khai, hoặc yêu cầu Văn phòng Thừa phát lại lập vi bằng xác thực toàn bộ giao dịch. Khi đã có vi bằng hoặc văn bản công chứng, nếu phía xưởng vi phạm lộ trình thanh toán, bà Dung hoàn toàn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cưỡng chế tài sản để thu hồi nợ mà không cần phải trải qua một vụ kiện tụng kéo dài nhiều năm tại tòa án.

Nghe đến hai chữ “công chứng” và “vi bằng”, gương mặt cô Dung dường như giãn hẳn ra. Người buôn bán nhỏ như bà cả đời chỉ sợ những lời hứa suông trót lưỡi đầu môi của người thân trong nhà, nay nghe có luật sư đứng ra bảo đảm, có công chứng nhà nước đóng dấu đỏ bảo hộ, tảng đá đè nặng trong lồng ngực bà suốt bao tháng ngày dường như đã được dỡ bỏ quá nửa.

Tuy nhiên, bà vẫn đưa mắt nhìn sang chị dâu, giọng nói còn vương chút ngập ngừng:

— Nhưng... còn anh Hai bây? Ảnh nằm một chỗ trong bệnh viện... ảnh có ưng thuận chuyện này không? Hay mai mốt ảnh tỉnh lại rồi ảnh lại quở trách mẹ con bây tự tiện quyết định?

Bà Hạnh lúc này mới ngẩng đầu lên hẳn. Người phụ nữ quanh năm lam lũ đưa hai bàn tay run rẩy sang bên kia mặt bàn kính, nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay gầy trơ xương của cô em chồng. Hai bàn tay của hai người phụ nữ lam lũ — một bên chai sạn vì cời than nấu cơm cho thợ, một bên thô ráp vì khuân vác súc vải ngoài chợ — siết chặt lấy nhau giữa ánh nắng trưa rực rỡ đang chiếu qua khung cửa sổ:

— Cô Út đừng lo... Anh Hai mấy hôm nay tỉnh táo nhiều lắm rồi, đã tập cử động lại được rồi. Mấy bữa nằm trên giường bệnh, mỗi lần nhìn thấy tui là mắt ảnh cứ rưng rưng, ảnh cứ chỉ trỏ vô góc tủ như muốn nhắc tui chuyện tiền nong của cô Út mà ảnh nói không thành tiếng được. Tui hiểu tính chồng tui, ảnh thương cô Út từ hồi còn cởi trần tắm biển chung với nhau. Chiều nay tui với con Lan vô bệnh viện, tụi tui sẽ thưa lại hết đầu đuôi chuyện này cho ảnh nghe. Biết cô Út chịu thông cảm, biết có lộ trình trả tiền để cô Út đi mổ tim đàng hoàng, ảnh mừng còn không hết, ảnh mới an lòng mà dưỡng bệnh được...

Hai giọt nước mắt nóng hổi lại một lần nữa ứa ra trên khóe mắt sưng mọng của cô Dung, nhưng lần này không còn là những giọt nước mắt cay đắng, uất hận của sự cùng đường, mà là sự vỡ òa nhẹ nhõm sau bao nhiêu năm trời sống trong dằn vặt và nghi kỵ. Bà rút chiếc khăn tay ra lau vội hai má, rồi nhìn sang Lan, khẽ gật đầu:

— Được rồi. Nghe con Lan nó phân tích đâu ra đó, có tình có lý, có giấy tờ pháp luật đàng hoàng như vậy, cô Út chịu. Cô Út chỉ cần có tiền đút túi đặng tháng sau vô Chợ Rẫy mổ tim, có tiền phòng thân lúc nhắm mắt xuôi tay. Tụi bây lập giấy tờ đi, cô Út ký. Cô Út cam đoan từ nay về sau không bao giờ bước chân tới xưởng quậy phá hay nhắc tới chuyện chia đất cát nữa. Mẹ con bây ráng mà lo thuốc men cho ba bây, ráng mà giữ lấy cái xưởng mắm... Đừng để cái thương hiệu Hải Thành của ổng sụp đổ uổng công cả đời gầy dựng...

— Dạ, con cảm ơn cô Út, — Lan khẽ cúi đầu, một tiếng thở phào nhẹ nhõm vô thức thoát ra khỏi lồng ngực cô. Cảm giác căng thẳng đè nặng lên từng thớ thịt suốt hai tuần qua bỗng chốc tan biến như bọt sóng biển.

Trong bốn mươi lăm phút tiếp theo, không khí trong văn phòng luật sư Lê Hoàng Sơn hoàn toàn thay đổi. Không còn sự đối đầu nghẹt thở, chỉ còn tiếng ngòi bút máy của Sơn chạy sột soạt trên nền giấy trắng, tiếng thảo luận rà soát từng câu chữ, từng mốc thời gian một cách cẩn trọng và chuẩn mực.

Bản Biên bản làm việc hòa giải sơ bộ được soạn thảo xong và in ra thành bốn bản chính. Từng điều khoản được Sơn đọc to, mạch lạc giữa phòng: ghi nhận chi tiết nguồn gốc khoản tiền gốc năm mươi triệu đồng và ba cây vàng SJC; ghi nhận sự tự nguyện từ bỏ mọi yêu cầu phong tỏa đất xưởng và cổ phần của bà Võ Thị Dung; cam kết của đại diện cơ sở Hải Thành về việc hoàn tất dự thảo Lộ trình hoàn trả tài chính có công chứng trước ngày ba mươi tháng này; và điều khoản bảo mật thông tin nội bộ để không làm ảnh hưởng đến uy tín thương mại của xưởng mắm đối với các đối tác bên ngoài.

Khi bốn chữ ký cùng được đặt xuống góc dưới của từng bản biên bản — chữ ký nắn nót của Lan, chữ ký run rẩy của bà Hạnh, chữ ký nguệch ngoạc của cô Dung và con dấu đỏ tròn cùng chữ ký xác nhận của luật sư Lê Hoàng Sơn — chiếc quạt trần phía trên dường như quay nhẹ nhõm hơn hẳn. Mùi mực in còn ấm nóng bốc lên từ những trang giấy mới, xua tan hoàn toàn cái lạnh lẽo của những nghi kỵ, thù hằn đã tích tụ suốt một thập kỷ qua.

Cô Dung cẩn thận gấp đôi bản biên bản của mình, nhét sâu vào ngăn trong cùng của chiếc túi xách giả da, đặt nằm ngay ngắn bên cạnh cuốn sổ khám bệnh và bọc thuốc trợ tim. Bà đứng dậy, chỉnh lại vạt áo sơ mi hoa tím than, rồi đưa mắt nhìn sang Phúc đang đứng lúng túng bên cạnh cửa. Ánh mắt bà nhìn đứa cháu trai đã dịu lại rất nhiều, phảng phất nét đượm buồn của người lớn đối với con trẻ trong nhà:

— Thằng Phúc... bữa nào rảnh rỗi ghé qua sạp cô Út ở chợ... Cô Út gom sẵn mấy khúc vải kate với vải thô dệt dày để trong bao tải rồi. Đem về cho mấy chú thợ ở xưởng may thêm mấy cái tạp dề với áo bảo hộ lao động mà mặc cho đỡ tanh mùi mắm, bỏ lăn lóc ngoài chợ chuột bọ nó cắn uổng lắm...

Phúc giật mình, gãi gãi mái tóc bù xù, hai má ửng đỏ, cậu lí nhí đáp:

— Dạ... con nhớ rồi cô Út. Chiều mai con chạy xe ba gác đi giao mắm ngoài Phan Rí về ngang chợ, con ghé sạp con phụ cô khuân vô...

Cô Dung khẽ gật đầu, không nói thêm lời nào nữa, quay người bước nhanh xuống cầu thang gỗ dẫn ra đường lớn. Bóng lưng gầy guộc, hơi còng của bà khuất dần sau cánh cửa chớp, hòa vào dòng người và xe cộ đang tấp nập ngược xuôi dưới cái nắng trưa rực rỡ của đường Trần Hưng Đạo.

***

Đầu giờ chiều, cái nắng Phan Thiết bắt đầu ngả sang sắc vàng gay gắt, đổ lửa xuống khoảng sân xi măng rộng thênh thang trước Khoa Phục hồi chức năng của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Thuận. Gió biển từ phía Cửa Kê Gà thổi thốc vào đất liền mang theo hơi nóng hầm hập, làm xao xác những hàng phi lao khẳng khiu, xơ xác đứng dọc theo bờ tường bao quét vôi vàng ố.

Lan cùng bà Hạnh bước nhanh dọc theo dãy hành lang dài hun hút của khu nhà ba tầng. Mùi thuốc sát trùng Javel nồng nặc xộc vào mũi quyện lẫn với mùi cồn đỏ, mùi dầu xoa bóp gừng và mùi ẩm thấp đặc trưng của một bệnh viện công lập tuyến tỉnh miền Trung. Tiếng bước chân của hai mẹ con gõ đều đều trên nền gạch hoa cũ kỹ, nhưng nhịp bước hôm nay thanh thoát và nhẹ nhõm hơn rất nhiều so với những chuỗi ngày trĩu nặng âu lo vừa qua. Trong chiếc túi xách đeo bên hông của Lan, bản biên bản ghi nhớ hòa giải vừa ký nằm phẳng phiu bên cạnh cuốn sổ tay kế toán. Mặc dù trước mắt cô vẫn còn một bài toán khổng lồ về thanh khoản cần phải giải quyết — làm sao để xoay xở đủ tiền mua năm tấn cá cơm than tươi, làm sao gom đủ chi phí mua mười ngàn vỏ chai thủy tinh và nhãn mác chuẩn bị cho đơn hàng đợt hai của siêu thị Nam Lộ, đồng thời trích lập quỹ trả nợ từng tháng cho cô Dung — nhưng việc dập tắt được ngòi nổ tranh chấp đất đai trong gia đình đã tháo bỏ được tảng đá ngàn cân đang đè nặng lên sự sống còn của xưởng Hải Thành.

Đẩy cánh cửa kính mờ dẫn vào phòng tập Vận động trị liệu, một luồng không khí mát lạnh từ hai chiếc máy điều hòa gắn tường phả thẳng vào mặt, làm dịu đi cái rát bỏng của nắng gió trưa hè.

Gian phòng rộng chừng tám mươi mét vuông, sàn nhà được trải thảm cao su chống trượt màu xanh ngọc bích. Khắp phòng bố trí các thiết bị tập luyện chuyên dụng cho bệnh nhân đột quỵ và chấn thương tủy sống: những chiếc giường tập bọc simili màu xanh dương kê sát vách tường, những khung thanh xà song song bằng inox sáng loáng, hệ thống ròng rọc treo tạ kéo tay, và những chiếc rổ nhựa đựng đầy bóng cao su gai, bóng bóp tay đủ màu sắc rực rỡ.

Ở góc trong cùng, ngay cạnh ô cửa sổ kính nhìn ra rặng hoa giấy đỏ rực ngoài sân sau, ông Võ Văn Thành đang ngồi tựa lưng vào mép chiếc giường tập vật lý trị liệu cỡ lớn.

Ông mặc bộ quần áo bệnh nhân bằng vải thô kẻ sọc xanh trắng rộng thùng thình. Nửa thân người bên phải của ông hơi đổ nghiêng một cách bất lực sang một bên, bàn chân phải đặt trên chiếc nẹp chỉnh hình bằng nhựa trắng. Khuôn mặt vuông vức, sạm đen vì nắng gió của người đàn ông từng một thời tung hoành trên khắp các bến cá Phan Thiết giờ đây hõm sâu, gầy rộc đi trông thấy. Một bên khóe miệng của ông hơi trễ xuống do di chứng của cơn tai biến mạch máu não làm liệt dây thần kinh số bảy ngoại biên.

Đứng bên cạnh ông là kỹ thuật viên Đinh Thị Hà, một phụ nữ trạc bốn mươi tuổi với vóc dáng đậm đà, nhanh nhẹn trong bộ đồng phục y tế màu xanh cốm. Chị Hà đang kiên nhẫn cúi người, hai bàn tay chị giữ chặt lấy khớp cổ tay phải và mu bàn tay phải của ông Thành, nhẹ nhàng hướng dẫn ông thực hiện bài tập thụ động nhằm giải phóng tình trạng co cứng cơ:

— Nào bác Thành, thả lỏng bả vai ra, đừng gồng cứng cơ ngực như vậy, — giọng chị Hà nhẹ nhàng, kiên nhẫn nhưng đầy tính kỷ luật vang lên đều đặn. — Hít sâu bằng mũi... phình bụng lên... rồi thở chậm ra bằng miệng... Đúng rồi, tập trung ý nghĩ của bác vào các đầu ngón tay nào. Cố gắng hình dung bác đang cầm chiếc gáo dừa múc nước mắm...

Nghe tiếng lách cách của cánh cửa kính mở ra và tiếng bước chân quen thuộc, ông Thành từ từ quay đầu lại. Đôi mắt ông — đôi mắt màu nâu sẫm, tinh anh của một người thợ mắm lão luyện cả đời chỉ cần ngửi mùi hương bay qua cánh mũi hay nếm một giọt nước mắm nhĩ nơi đầu lưỡi là biết chính xác độ đạm và độ chín của cá — bỗng chốc sáng bừng lên khi nhìn thấy bóng dáng của vợ và con gái bước vào phòng.

— Ba, — Lan bước nhanh tới bên mép giường tập, khẽ khom người xuống, hai bàn tay cô nhẹ nhàng đón lấy bàn tay trái — bàn tay lành lặn không bị liệt — của ông.

Bàn tay thô ráp, chai sần với những vết sẹo dài do dao rọc mang cá để lại của ông Thành lập tức siết chặt lấy những ngón tay thon thả của con gái. Bàn tay ông ấm nóng, run rẩy từng chặp, truyền qua da thịt Lan một luồng sinh khí mãnh liệt của một người đang khát khao giành giật lại sự sống từ tay tử thần.

Bà Hạnh đặt chiếc làn mây đựng một chục cam sành và chiếc bình giữ nhiệt chứa cháo hạt sen hầm thịt nạc lên chiếc bàn inox cạnh giường. Bà ngồi xuống chiếc ghế nhựa thấp bên cạnh chồng, đưa bàn tay run run vuốt lại những sợi tóc bạc lòa xòa trước trán ông Thành, giọng bà nghẹn ngào nhưng ánh lên niềm vui không thể giấu giếm:

— Anh Hai... tui với con Lan vừa bên văn phòng luật sư Sơn về nè anh. Gặp cô Út Dung rồi. Mọi chuyện thu xếp êm xuôi hết trơn rồi anh ơi... Không có cãi cọ, không có tranh chấp đất đai gì hết ráo. Con Lan nó đứng ra tính toán một cái lộ trình trả nợ đàng hoàng, rành mạch từng đợt cho cô Út đi mổ tim bên Chợ Rẫy. Cô Út hiểu chuyện rồi, mừng lắm, ký vô biên bản hòa giải rồi anh... Cô Út còn dặn thằng Phúc chiều mai ghé sạp lấy vải vụn về may đồ bảo hộ cho thợ xưởng nữa kìa...

Nghe bà Hạnh nhắc đến tên cô Út Dung và chuyện xưởng mắm, lồng ngực ông Thành phập phồng dữ dội dưới lớp áo bệnh nhân kẻ sọc.

Cơ mặt ông giật giật liên hồi. Đôi mắt người đàn ông miền biển chuyển biến từ vẻ căng thẳng, âu lo tột cùng — nỗi dằn vặt của một người cha, người anh đã gây ra nợ nần rồi bất lực nằm nhìn cơ nghiệp gia đình trên bờ vực sụp đổ — sang một sự chấn động sâu sắc. Một vệt ửng đỏ lan dần từ cổ lên hai gò má sạm đen vì gió biển. Nhịp thở của ông dồn dập hơn, gấp gáp hơn.

— Kìa bác Thành, hít thở sâu vào, đừng xúc động quá huyết áp lại tăng vọt lên bây giờ, — chị Hà vội vàng lên tiếng nhắc nhở, một tay chị đặt lên vai ông để ổn định tư thế. Nhưng rồi, ánh mắt của người kỹ thuật viên vật lý trị liệu đột ngột sững lại, dán chặt xuống bàn tay phải của người bệnh.

Lan và bà Hạnh cũng nín thở nhìn theo ánh mắt của chị Hà.

Bàn tay phải của ông Thành — bàn tay suốt hơn một tháng qua hoàn toàn bất động, mềm oặt và lạnh lẽo như một cành cây khô héo vì tổn thương vùng vỏ não vận động — lúc này đang đặt úp trên lớp đệm simili màu xanh của giường tập.

Đột nhiên, dưới sự kích thích tột độ của niềm xúc động và sự giải tỏa tâm lý to lớn vừa được cởi bỏ, từng đường gân xanh ngoằn ngoèo trên mu bàn tay phải của ông khẽ gồ lên, căng cứng.

Đầu ngón tay trỏ giật nhẹ một cái.

Rồi đến ngón tay giữa.

Từng ngón, từng ngón tay phải thô ráp của người thợ mắm bắt đầu co lại một cách chậm chạp, run rẩy dữ dội nhưng vô cùng dứt khoát. Đó hoàn toàn không phải là một phản xạ co giật vô thức của cơ bắp, mà là một cử động chủ động có ý thức rõ ràng. Năm đầu ngón tay ông bấu chặt vào lớp da simili của mặt đệm, kéo căng bề mặt đệm tạo thành những nếp gấp nhăn nhúm.

— Trời đất ơi... kìa! Bác Thành cử động được bàn tay rồi! — Chị Hà reo lên khe khẽ, giọng chị run lên vì kinh ngạc và phấn khởi tột độ của một người làm nghề điều trị phục hồi chức năng. — Bác Thành làm được rồi! Tín hiệu dẫn truyền thần kinh vận động từ vỏ não xuống tủy sống đang phục hồi lại rồi! Tuyệt vời lắm bác Thành ơi! Cố lên, giữ nguyên cử động đó!

Bà Hạnh bàng hoàng đưa hai bàn tay lên ôm chặt lấy miệng, toàn thân bà run lên bần bật, những giọt nước mắt hạnh phúc vỡ òa trào ra giàn giụa trên đôi gò má nhăn nheo:

— Anh Hai... anh Hai ơi... tay anh cử động được rồi... Trời Phật phù hộ cho nhà mình rồi anh ơi...

Ông Thành mở to đôi mắt đục ngầu nhìn chằm chằm vào những ngón tay đang run rẩy bấu chặt lấy mặt đệm của chính mình. Lồng ngực ông nghẹn ứ lại, một tiếng nấc nghẹn ngào từ sâu thẳm cuống họng bật ra xé tan sự tĩnh lặng. Hai giọt nước mắt lớn trào ra từ khóe mắt sâu hoắm, lăn dài qua những nếp nhăn nheo trên má, rớt xuống mu bàn tay phải đang cựa quậy.

Ông cố hết sức quay đầu sang phía Lan. Bàn tay trái của ông siết chặt lấy tay con gái như muốn truyền hết tất cả phần sinh lực còn lại trong cơ thể mình cho cô. Một bên khóe miệng méo xệch của ông run rẩy mở ra, cuống họng phát ra những âm thanh lục bục, khó nhọc. Ông dồn toàn bộ luồng dưỡng khí trong lồng ngực, cố gắng liên kết từng luồng hơi để phát âm từng từ đứt quãng, nghẹn ngào:

— L... Lan... đ... đ... được... c... con...

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories