Quán Trà Bên Bến ĐòCh.28 / 34
Chapter 28

Mái ngói và món nợ mới

Tiếng sấm đầu hạ rền vang từ mạn thượng nguồn sông Vọng Giang, ầm ào như tiếng cối đá khổng lồ nghiền nát bầu trời u ám. Gió quẩn xoáy từng cơn dữ dội từ mặt sông cuộn sóng, mang theo hơi nước tanh nồng xốc thẳng vào mé đông bến đò. Túp lều cỏ của quán trà Liễu gia oằn mình trong luồng chướng khí xám xịt. Rồi rào một tiếng, trận mưa rào tháng tư trút xuống như thác đổ, quất rát mặt đất nứt nẻ, gõ liên hồi buốt óc lên mái rạ đã mủn sau mấy mùa nắng lửa.

Nước mưa hòa cùng bùn đỏ trên triền đê rỉ qua những khe hở của lớp vách nứa trát rơm. Lớp bùn trát lâu năm đã bở tơi, gặp dòng nước xối xả liền nhão nhoét, trôi tuột từng mảng lớn xuống chân chõng tre.

Cả quán trà nhỏ rung lên bần bật. Tiếng "rầm" chát chúa vang lên khi mảng tường hướng tây giáp mé sông không chịu nổi sức ép của cơn gió giật, đổ sụp xuống sình lầy. Tiếng gãy răng rắc của rui mè mục vang lên khô khốc, để lại một khoảng trống hoác rộng gần trượng. Gió lốc chực chờ bên ngoài lập tức tràn vào, hất tung những tấm phên liếp cùng mớ tàu lá chuối khô che chắn tạm bợ nơi góc chái bếp dã chiến. Tàn tro, muội than từ bếp lò bị gió thổi bay mù mịt, quện chặt vào bụi nước lạnh buốt tạt ngang mặt người.

“Chạy dồn vào trong! Mau lên các bác, bước lùi sâu vào phía vách đá!”

Thanh Hà cao giọng hô lớn át cả tiếng gió gầm. Nàng vội vã ghì chặt đôi quai giẻ lót tay, thoăn thoắt nhấc chiếc ấm đồng đại đang sôi ùng ục trên kiềng than đỏ rực dời sang góc sàn cao ráo sát vách đá ong. Tà áo nâu sồng của nàng ướt đẫm nước mưa tạt ngang, dán chặt vào đôi bờ vai gầy guộc nhưng đĩnh đạc, vững vàng. Nước mưa từ mái hiên rách chảy tràn qua trán, cay xè mắt, nhưng đôi bàn tay nàng vẫn giữ chặt lấy ấm trà, không để sánh ra ngoài dù chỉ một giọt nước sôi.

Mấy người phu bến đang ngồi uống dở bát nước chè xanh hai văn vội vã chụp lấy đòn gánh và quang sọt. Đôi chân trần quẹt bùn bì bõm vội dạt cả vào góc gian trong. Bác phu than A Sinh ôm chặt đôi sọt rỗng bết dính bụi than đen kịt, nép sát lưng vào chiếc cột tre cái to nhất giữa lều. Bác vừa dùng ống tay áo vá chằng vá đụp quẹt vội dòng nước mưa đang xối xả trên trán, vừa ngửa cổ lo lắng ngó lên vì kèo đang run rẩy:

“Cô Liễu coi chừng kèo gãy! Gió giật kiểu xoáy trôn ốc thế này, cái mái rạ mủn quá rồi, khéo nó lột trơ cả rui mè nứa ra mất thôi! Cột tre này cũng lung lay tận gốc rồi cô ơi!”

Dưới mặt sàn, bùn đỏ quyện rơm rạ mục trôi lềnh bềnh, lấn dần từng tấc vào nơi kê những chiếc bàn con ghép bằng ván thùng gỗ tạp. Tiểu Mãn nhanh thoăn thoắt như sóc chuyền cành, hai tay ôm ghì lấy thố đường phèn bọc vải điều cùng chiếc hũ sành đựng những đồng tiền kẽm kiếm được từ ban sáng, lách qua khe hẹp giữa hai chiếc chõng nghiêng ngả để giấu tọt vào góc tủ gỗ duy nhất còn kê trên bục đá cao. Trong khi đó, Thanh Du dùng hết sức bình sinh ghì chặt tấm phên dầu trùm kín ba chiếc chum sành lớn ủ búp trà hè mới nhập từ mạn đồi Việt Trì về.

Hai bờ vai của cậu thiếu niên mười ba tuổi gồng cứng, những đường gân xanh nổi hằn trên mu bàn tay nhỏ nhắn. Đôi chân cậu bấm chặt xuống nền đất nện đang mềm nhũn, biến thành một vũng bùn lầy thụt đến mắt cá chân.

“Tỷ! Nước lũ từ triền đê đang xối thẳng vào chân móng tre rồi! Rễ tre chôn nông, đất lại ngậm no nước, chống đỡ không nổi nửa mùa lũ tháng bảy đâu tỷ ơi!” Thanh Du hét át tiếng gió rít qua khe nứa, giọng nói bắt đầu vỡ tiếng của cậu thiếu niên căng ra vì gắng sức.

Thanh Hà vội lao tới, một tay chẹn thêm một cây đòn gỗ chống đỡ mép phên dầu giúp em trai, một tay kéo Tiểu Mãn nép sát vào lòng mình. Nàng đưa mắt nhìn quanh toàn bộ gian lều tả tơi trong mưa gió.

Mảnh đất mé đông bến đò này, gian lều tranh vách đất ọp ẹp này từng là nơi dung thân duy nhất chở che cho ba linh hồn côi cút từ những ngày đầu nàng dắt díu em trai trốn chạy khỏi ngục tù lễ giáo của nhà họ Phạm. Khi ấy, trong tay nàng chỉ có chiếc trâm bạc cũ của mẹ lén đem cầm cố lấy vài đồng vốn dằn túi. Mái rạ này đã từng cùng nàng thức qua bao đêm đông giá rét, từng chứng kiến mẻ bánh hoa hòe đầu tiên ra lò thơm ngát, từng đón nhận những ngụm trà búp nõn ngọt hậu của sớm mai, và từng ghi dấu những canh khuya nàng ngồi chong ngọn đèn dầu lạc leo lét, chắt chiu đếm từng đồng tiền kẽm rỉ sét để tích lũy tiền chuộc thân cho Thanh Du.

Nhưng giờ đây, nhìn những vết nứt toác ngoằn ngoèo chạy dọc từ xà ngang xuống tận chân cột, nhìn mảng vách đất rơm đã sụp đổ hoàn toàn phơi trần toàn bộ gian bếp cùng kệ bát đĩa trước cơn thịnh nộ của đất trời, nàng hiểu thấu một điều tàn nhẫn: túp lều này đã hoàn thành sứ mệnh che mưa chở nắng tạm bợ của nó. Vật liệu tre nứa ọp ẹp này không thể nào gánh vác nổi giấc mộng an cư của ba chị em, càng không thể nào cầm cự nổi trước những cơn thịnh nộ dữ dằn của con nước sông Vọng Giang khi mùa lũ lớn tháng bảy sầm sập đổ về.

Nếu nàng không muốn toàn bộ cơ nghiệp gầy dựng bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu của ba chị em bị cuốn trôi theo dòng phù sa đỏ ngầu giận dữ, nàng buộc phải xây dựng lại toàn bộ. Phải là một công trình kiên cố bằng đá tảng, gạch nung và gỗ tốt, vững chãi như bàn thạch, hiên ngang vươn cao ngay trên chính mảnh đất nàng đã bỏ tiền thuê đứt khế ước dài hạn này.

Cơn mưa rào đầu hạ đến ào ạt mà tan đi cũng bất ngờ. Sau gần nửa canh giờ quần thảo điên loạn khắp khúc sông, mây đen dần tản mác về phía rặng núi Tây Lĩnh xa xăm. Khoảng trời bên trên bến nước dần quang đãng, để lộ mặt sông phẳng lặng lấp loáng những vệt nắng chiều vàng vọt, nhưng mé đông bến đò giờ đây chẳng khác nào một bãi chiến trường ngổn ngang bùn đất và rác rưởi.

Mấy người phu than cùng khách uống trà thở phào nhẹ nhõm, lục tục thu dọn quang gánh bước ra phía bờ sông để kịp chuyến đò chiều của Từ Bá. Vài người khách quen lối xóm đứng nán lại, xắn quần quá gối giúp ba chị em dọn dẹp xà bần, vần những khúc tre gãy và quét dọn lớp phù sa nhầy nhụa đang đọng lại trên mặt sàn.

Giữa lúc Thanh Hà cùng Thanh Du đang cào lớp bùn nhão nơi góc chái bếp sụp đổ, tiếng bước chân giẫm trên nền đất sũng nước bì bõm vang lên ngoài ngõ trúc. Ba bóng người mặc trường bào bằng vải dệt mịn màng, tà áo thêu viền cẩn thận, bước thong thả vào lều.

Đi đầu là Triệu chưởng quỹ—tay buôn khét tiếng chuyên thu gom nông sản trung gian dọc tuyến sông Vọng Giang, đồng thời là người chịu trách nhiệm áp tải các đội thuyền buôn lớn của Thương đoàn Tây Lĩnh qua lại bến này. Triệu chưởng quỹ đưa mắt đảo quanh cảnh tượng hoang tàn, nhìn lớp bùn đỏ ngập ngang mắt cá chân và mảng tường nứa toác hoác trơ cả xương tre, khẽ tặc lưỡi lắc đầu. Lão rút chiếc quạt nan bọc lụa giắt bên hông, phe phẩy trước mũi xua đi mùi bùn đất tanh nồng và mùi rơm rạ ẩm mốc đang bốc lên:

“Liễu cô nương, ta đã bảo với cô từ dạo lập xuân rồi mà cô chẳng chịu lọt tai. Thân gái dặm trường, một nách đèo bòng hai đứa nhỏ, lại thêm gánh nặng bến bãi cạnh tranh khốc liệt, cứ ôm khư khư lấy cái túp lều cỏ này thì làm sao chống chọi nổi với con nước dữ sông Vọng Giang? Trận dông lốc ban nãy mới chỉ là cái búng tay cảnh cáo của ông trời thôi đấy.”

Thanh Hà dừng tay chổi, dùng vạt tay áo khô bên trong gạt những lọn tóc mai ướt dính bết bên thái dương. Ánh mắt nàng bình thản, điềm đạm cúi đầu đáp lễ:

“Triệu chưởng quỹ quá bộ ghé quán. Chỗ ngồi ngổn ngang xà bần chưa kịp quét dọn, chẳng có lấy một chỗ sạch sẽ để ngài dừng chân, mong ngài lượng thứ cho. Tiểu Mãn, ra lu nước mưa sau hè múc gáo nước giếng sạch mời khách rửa tay.”

“Khỏi cần phiền phức thế đâu, ta đứng nói vài câu rồi đi ngay kẻo lỡ chuyến thuyền buôn.” Triệu chưởng quỹ xua tay, cẩn thận nhấc vạt áo lụa bước tránh một vũng nước đục ngầu, tiến lại gần chiếc bàn gỗ lim duy nhất còn vững chân. Giọng lão hạ thấp xuống, mang theo âm điệu ngọt ngào, từng trải của một kẻ lọc lõi chốn thương trường. “Ta nói thật lòng cho cô nghe, phận đàn bà buôn bán lấy đâu ra sức mà gánh núi đội non? Mấy vị đại thương nhân trong thương đoàn Tây Lĩnh chúng ta bên bờ tây vừa ngồi uống rượu bàn bạc trưa nay. Ai nấy đều khen tài nghệ pha trà chọn lá và cách chế biến bánh hoa hòe, bánh nếp của cô nương là hạng nhất khúc sông này. Bây giờ vách lều đã sụp, rui mè đã gãy, cô lấy đâu ra dăm ba chục lượng bạc trắng mà cất dựng lại? Hay là thế này đi: cô thuận tình sáp nhập quán trà này vào mạng lưới thương điếm phụ trợ của Thương đoàn Tây Lĩnh chúng ta.”

Thanh Du đang xách xô nước bùn đi ngang qua, nghe thấy mấy chữ "sáp nhập thương đoàn" liền khựng phắt lại. Đôi mắt đen láy của cậu thiếu niên quắc lên, cảnh giác dán chặt vào gương mặt béo tròn của lão thương nhân.

Triệu chưởng quỹ dường như chẳng bận tâm đến ánh nhìn của một đứa trẻ, lão cười xòa, phe phẩy quạt, tiếp tục vẽ ra một viễn cảnh rực rỡ:

“Chỉ cần cô gật đầu đặt bút ký vào khế ước gia nhập, thương đoàn sẽ lập tức xuất ngân quỹ, cấp toàn bộ ba mươi lượng bạc trắng tinh ròng để dựng ngay một tòa trà lâu hai tầng khang trang, cột gỗ lim, mái lợp ngói đỏ au, treo biển hiệu chính thức của Tây Lĩnh. Cô không phải bỏ ra dẫu chỉ một đồng kẽm tiền vốn, lại được giao toàn quyền làm quản sự quán, mỗi tháng hưởng bổng lộc cố định năm lượng bạc, cuối năm còn trích chia hoa hồng theo doanh số bán ra. Thuyền bè của thương đoàn chúng ta tấp nập cập bến, khách buôn nhiều tiền lắm của sẽ nườm nượp ghé quán tiêu bạc. Bọn sai nha hay phường trộm cướp bến bãi có muốn bén mảng tới quấy nhiễu cũng phải kiêng dè ba phần thế lực của Tây Lĩnh. Vừa có danh phận đàng hoàng, vừa có bạc trắng rủng rỉnh trong tay, cô lại đỡ phải dầm mưa dãi nắng lo nghĩ chuyện nợ nần thợ thuyền. Lời đề nghị béo bở đến bực này, cô đi khắp dọc bờ sông Vọng Giang này xem có tìm nổi người thứ hai ban phát cho cô không?”

Không gian trong túp lều bỗng chốc rơi vào một khoảng im lặng đến nghẹt thở. Tiếng gió ngoài sông đã lặng, chỉ còn lại tiếng nước mưa rỏ từng giọt tanh tách từ rui mè mục xuống chiếc chậu đồng móp méo đặt nơi góc cột.

Hai gã tùy tùng đi sau Triệu chưởng quỹ đứng khoanh tay, khóe môi nhếch lên nụ cười đắc thắng như thể đang chờ đợi một cái cúi đầu cảm tạ đầy hàm ơn của người đàn bà góa nghèo túng.

Thanh Hà đứng thẳng lưng. Đôi bàn tay nàng tuy thô ráp vì quanh năm vần than nhóm bếp nhưng các ngón tay đan vào nhau rất chặt, không hề run rẩy. Nàng nhìn thẳng vào đôi mắt híp giảo hoạt của Triệu chưởng quỹ, trong đáy mắt không hề gợn lên một tia dao động hay tham lam nào.

Nàng hiểu quá rõ cái giá của sự “bao bọc” mà những kẻ giàu sang thường hào phóng ban phát. Năm xưa, khi bước chân vào cánh cổng sơn son thếp vàng của nhà họ Phạm, nàng cũng từng được vỗ về bằng những lời hứa hẹn về một đời nhung lụa ấm êm, không phải bận tâm chuyện gạo tiền cơm áo. Để rồi kết cục nhận lại là gì? Toàn bộ tự do, tôn nghiêm và quyền làm một con người của nàng bị tước đoạt sạch trơn. Khi chồng chết, nàng bị gia tộc họ Phạm gạt ra lề đường như một món đồ rách nát, trắng tay không một tấc đất cắm dùi.

“Đa tạ thịnh tình của Triệu chưởng quỹ và các vị thương nhân Tây Lĩnh đã đoái hoài, đánh giá cao quán nước nhỏ nhoi này,” Thanh Hà cất giọng bình thản. Từng âm sắc nhả ra nhẹ nhàng nhưng đanh thép, dứt khoát như tiếng đá gõ vào nhau giữa thinh không. “Nhưng phần ý tốt này của ngài, Thanh Hà xin phép được từ chối.”

Nụ cười trên gương mặt phúng phính của Triệu chưởng quỹ thoáng chốc sượng trơ:

“Cô nương chê năm lượng bổng lộc mỗi tháng là ít ỏi ư? Hay là cô muốn thương đoàn trích thêm phần trăm hoa hồng trên mỗi cân trà hảo hạng bán ra?”

“Chuyện bổng lộc nhiều hay ít vốn không phải điều ta bận tâm,” Thanh Hà khẽ lắc đầu, ánh mắt nàng hướng qua khoảng tường nứa trống hoác, nhìn ra dòng nước đỏ ngầu phù sa của sông Vọng Giang đang cuộn trào về xuôi. “Thanh Hà mở quán trà này từ hai bàn tay trắng, từng gốc cột tre, từng viên gạch vỡ lót chân chõng đều thấm đẫm mồ hôi nước mắt của ba chị em, cùng sự cưu mang đùm bọc của bà con phu bến nghèo khó nơi đây. Một khi ta đã nhận trọn ba mươi lượng bạc của thương đoàn để sáp nhập, biển hiệu quán trà này sẽ mang tên họ khác, quyền định đoạt mua bán và giá cả sẽ hoàn toàn thuộc về Tây Lĩnh. Đến lúc ấy, thương đoàn muốn nâng giá một bát nước chè xanh lên tám văn, mười văn để đón khách sang giàu, xua đuổi những bác phu than, những chú thợ cày áo rách ra khỏi cửa, ta có quyền ngăn cản được không? Đến lúc thương đoàn muốn biến nơi này thành trạm trung chuyển hàng lậu, kín cổng cao tường, ta có giữ nổi chiếc chõng tre cho người lỡ đò nghèo khó ngồi nương chân tránh một cơn mưa giông hay không?”

Nàng bước lên nửa bước, nhìn thẳng vào mắt lão thương nhân, từng lời rành mạch:

“Cơ nghiệp này dẫu có nhỏ bé, dột nát, nhưng từng tấc đất, từng giọt trà nấu ra ở đây đều mang tên Liễu Thanh Hà, do chính ta toàn quyền quyết định. Ta thà vay nợ sòng phẳng ngoài chợ phiên, tự mình nai lưng làm lụng từ sáng sớm đến đêm khuya để trả dần từng hào từng cắc, chứ tuyệt đối không bán đứt sự tự chủ của bản thân để làm một kẻ làm thuê hưởng lương trên chính mồ hôi công sức của mình!”

Sắc mặt Triệu chưởng quỹ thoáng chốc chuyển từ ngạc nhiên sang xám ngoét vì bẽ bàng. Nếp nhăn nơi khóe mắt lão giật giật. Lão bực bội gõ mạnh chiếc quạt nan vào lòng bàn tay cái “chát”, cười nhạt:

“Khá khen cho cô nương có khẩu khí lớn! Nhưng miệng lưỡi cứng cỏi không nung ra được gạch ngói, lòng tự trọng cũng chẳng biến thành ba mươi lượng bạc trắng đâu! Để rồi xem, nước lũ tháng bảy dâng lên quét trơn cái bãi đất sình lầy này, lúc ấy có quỳ gối xin sáp nhập thì thương đoàn chúng ta cũng chẳng thèm ngó ngàng tới nữa!”

Dứt lời, lão chưởng quỹ hậm hực phất mạnh tay áo lụa, quay ngoắt người rảo bước ra phía bến đò, hai gã tùy tùng vội vã cắm đầu rảo bước theo sau, vạt áo quệt bùn lem luốc.

Tiểu Mãn nhìn theo bóng ba người khuất dần sau rặng liễu ven đê, khẽ thở phào một hơi dài rồi rụt rè bước lại gần, hai bàn tay nhỏ bé níu chặt lấy vạt áo nâu còn ẩm ướt của Thanh Hà:

“Mẹ ơi... ba mươi lượng bạc là nhiều lắm đúng không mẹ? Nhiều đến mức có thể mua được cả một chiếc thuyền lớn... Hay là... hay là từ tháng này con không nhận ba mươi văn tiền công nữa, con không cần mua guốc mới đâu, con góp hết số tiền ấy cho mẹ xây nhà...”

Thanh Hà cúi xuống, ngồi xổm trên nền đất ướt, ôm trọn lấy tấm thân nhỏ bé gầy guộc của đứa con gái nuôi vào lòng. Hơi ấm từ cơ thể non nớt ấy phả vào ngực nàng, xua tan đi cái giá buốt của cơn mưa đầu hạ:

“Tiền công mỗi tháng ba mươi văn của Tiểu Mãn là mồ hôi nước mắt, là công sức con bưng trà rửa bát sáng trưa. Mẹ đã ghi rành mạch vào cuốn sổ tích lũy riêng kia rồi, đó là vốn liếng lập thân mai sau của con, một văn tiền kẽm mẹ cũng không bao giờ đụng đến. Đừng sợ, trời đất không bao giờ triệt đường sống của người có chí, chỉ cần chúng ta đồng lòng chịu khó, ắt sẽ có cách vượt qua.”

Đêm hôm ấy, gió sông đã lặng hẳn. Sau khi tạm thời dọn sạch lớp bùn nhão và dùng chiếc bạt dầu lớn căng dây thừng chằng néo che chắn kín mảng tường nứa bị đổ sụp, gian lều nhỏ rực sáng ánh đèn.

Ngọn đèn dầu lạc đặt giữa chiếc bàn con bằng gỗ lim tỏa ra ánh sáng vàng ấm áp. Thanh Hà ngồi đối diện với Thanh Du. Cậu thiếu niên đã trải phẳng phiu tấm giấy bản khổ rộng có vẽ phác thảo mô hình Trà lâu Thanh Hà—bản vẽ mà cậu đã miệt mài tính toán, vẽ đi xóa lại suốt ba tháng ròng rã bên bờ sông. Cạnh đó, chiếc bàn tính bằng gỗ mun đen nhánh và hai cuốn sổ ghi chép nẹp chỉ xanh đã được mở sẵn.

“Thanh Du, em cầm bàn tính rà soát lại thật kỹ từng hạng mục vật liệu xây dựng cho tỷ xem,” Thanh Hà vừa nói vừa với tay mở chiếc tráp gỗ sơn then đặt cạnh chân bàn, trút toàn bộ số tiền dành dụm bấy lâu nay của quán lên mặt gỗ.

Những mẩu bạc vụn mười tuổi xám xịt lấp lánh dưới ánh đèn, nằm lẫn bên cạnh những xâu tiền kẽm được xỏ bằng dây gai chắc nịch, mỗi xâu đủ một trăm đồng ngay ngắn.

Thanh Du ngồi thẳng lưng, bàn tay thoăn thoắt gạt từng hạt gỗ mun. Tiếng kêu “lách cách, lách cách” giòn tan, dứt khoát vang lên đều đặn trong màn đêm tĩnh mịch:

“Thưa tỷ, theo đúng bản thiết kế giật cấp ba tầng mà đệ đã tham khảo từ các công trình đê điều và kho muối của huyện, để Trà lâu trụ vững qua mùa lũ lớn tháng bảy, chúng ta không thể dùng móng đất nện hay cọc tre được nữa. Chúng ta cần:

Thứ nhất, ba ngàn viên đá hộc tảng lớn lấy từ mỏ đá gò Thanh Khê để kè kiên cố bờ taluy và xếp lớp làm móng sâu, nâng cốt nền tầng một cao vượt qua ngấn nước đỏ số ba—tức là mức lũ lịch sử năm Thìn.

Thứ hai, sáu vạn viên gạch nung chín già, đặc ruột để xây tường chịu lực dày một thước cho toàn bộ tầng một.

Thứ ba, bốn mươi cây gỗ xoan ngâm nước đủ ba năm để làm rui mè, đòn tay, cùng tám cây cột lim già có đường kính một cái ôm tay người lớn để làm khung chịu tải chính cho tầng hai và phần gác trà ngắm cảnh.

Thứ tư, một vạn hai ngàn viên ngói mũi hài tráng men chống thấm, cộng thêm vôi sống tôi kỹ, cát sông đãi sạch, mười chum mật mía loại đặc để trộn hồ tam hợp miết mạch chống nứt.

Cuối cùng là tiền công nhật cho phường thợ nề tám người và phường thợ mộc sáu người làm ròng rã trong suốt hai tháng trời.

Tổng toàn bộ chi phí sau khi đã tính cả phần hao hụt vật tư thấp nhất cũng phải tròn ba mươi sáu lượng bạc trắng.”

Tiếng hạt bàn tính vừa ngưng lại, gian lều dường như chùng xuống một nhịp. Con số ba mươi sáu lượng bạc trắng như một tảng đá ngàn cân đè nặng lên không gian nhỏ hẹp.

Thanh Hà cẩn thận kiểm đếm lại từng xâu tiền, từng thỏi bạc vụn trên bàn. Sau khi trừ đi ba lượng bạc trắng đã dùng để chuộc thân cho Thanh Du ở huyện Nam Kiều hồi đầu năm, trừ đi mười phần trăm tiền công tích lũy riêng của Tiểu Mãn và một khoản nhỏ phòng khi ốm đau tai ương, nàng khẽ thở ra một hơi dài:

“Tiền mặt tích lũy thực tế của quán chúng ta lúc này chỉ có đúng chín lượng bạc trắng và hai trăm đồng tiền kẽm. Để giữ lại một lượng bạc làm vốn lưu động xoay vòng mua lá trà xanh, mua dầu phụng thắp đèn, gạo nước mắm muối hàng ngày, chúng ta chỉ có thể dốc ra tối đa tám lượng bạc và hai trăm đồng tiền mặt để chi dùng cho việc khởi công.”

“Nghĩa là chúng ta còn thiếu hụt ngót nghét hai mươi tám lượng bạc nữa,” Thanh Du ngẩng đầu lên, ánh mắt cậu lộ rõ vẻ âu lo nhưng không hề có nửa phần nản chí. “Tỷ đã kiên quyết cự tuyệt sự bao bọc của Thương đoàn Tây Lĩnh, vậy tỷ tính xoay xở khoản tiền thiếu hụt khổng lồ này từ đâu để kịp khởi công trước tuần trăng tới?”

Thanh Hà không đáp ngay. Nàng với tay lấy chiếc bút lông thỏ, chấm nhẹ vào đĩa mực chu sa đỏ thắm, rồi trên một góc tờ giấy bản trắng tinh, nàng chậm rãi vẽ ba vòng tròn khép kín đan cài vào nhau theo hình thế chân kiềng:

“Chúng ta sẽ đi bằng ba chân kiềng minh bạch. Không xin xỏ ai một đồng, không quỵ lụy cầu cạnh bất kỳ thế lực nào, và tuyệt đối không để bất kỳ người nào có cơ hội nắm quyền kiểm soát cơ nghiệp của chị em ta.”

Nàng đặt ngọn bút lông vào vòng tròn thứ nhất bên tay trái:

“Chân kiềng thứ nhất: Tám lượng bạc tiền vốn tự có của chúng ta. Đây là mồ hôi, là máu thịt tích cóp từng ngày, là cái gốc rễ căn bản nhất để chứng minh với thiên hạ rằng ta có thực lực, có quyết tâm và không phải một kẻ tay không bắt giặc.”

Ngọn bút lông dịch chuyển sang vòng tròn thứ hai nằm ở vị trí trung tâm:

“Chân kiềng thứ hai: Ký văn tự vay nợ thương mại có thế chấp và tính lãi sòng phẳng với Hàn Thụy. Huynh ấy là thương nhân buôn thuyền lớn, hiểu rõ luật lệ kinh doanh và trên hết, huynh ấy tôn trọng sự độc lập của ta. Ta dự tính sẽ mở lời vay huynh ấy đúng mười lăm lượng bạc trắng. Nhưng không phải vay ơn huệ! Lãi suất sẽ ấn định đúng bốn phân mỗi năm theo đúng biểu lệ của các tiền trang uy tín tại huyện Thanh Lâm. Thời hạn trả dứt điểm trong vòng hai mươi bốn tháng, chia đều ra trả theo từng quý một. Có hợp đồng giấy trắng mực đen, có người làm chứng đàng hoàng, và đặc biệt phải có một điều khoản cấm tuyệt đối bên cho vay can thiệp vào cách thức vận hành, bài trí hay công thức pha chế của quán.”

Thanh Du chăm chú lắng nghe, gật đầu lia lịa rồi chỉ ngón tay mảnh khảnh vào vòng tròn thứ ba còn bỏ trống:

“Thế còn khoản thiếu hụt nguyên vật liệu và chi phí hàng hóa hàng ngày, chừng hơn mười lượng bạc nữa thì sao hả tỷ? Thợ thuyền có thể trả dần, nhưng lò gạch, vựa vôi và các mối giao đường, giao bột gạo họ đâu có cho nợ tiền mặt lâu như thế?”

Thanh Hà mỉm cười, đôi mắt nàng ánh lên nét rạng rỡ đầy tự tin:

“Chân kiềng thứ ba chính là Hội nữ thương Đông Tân của Đỗ Nguyệt Nương! Thay vì ngửa tay đi vay thêm tiền mặt, ta sẽ lập một bản thỏa thuận ứng trước hàng hóa trả chậm. Nguyệt Nương là hội trưởng, chị ấy nắm trong tay đầu mối của ba chủ lò gạch nung lớn nhất bến Bắc, lại quen thân với vựa vôi tôi và các chủ thuyền buôn mật mía, bột nếp ở chợ phiên. Ta sẽ ký giao kèo ứng trước toàn bộ gạch ngói, vôi vữa xây dựng cùng nguồn bột gạo, đường phèn làm bánh cho quán trong vòng nửa năm. Đổi lại, mỗi tháng Trà lâu sẽ trích cố định đúng ba phần mười doanh thu bán trà bánh thực tế để hoàn trả dần tiền hàng cho Hội nữ thương, có cộng thêm một phần lệ phí bảo chứng công bằng. Làm như vậy, chúng ta không bị đè nặng bởi áp lực phải gom một cục tiền mặt khổng lồ trả nợ ngay tức khắc, mà chị em tiểu thương trong hội lại bảo đảm có được một đầu mối tiêu thụ hàng hóa ổn định lâu dài. Đôi bên cùng có lợi, dựa vào nhau mà đứng vững!”

Thanh Du nhìn chằm chằm vào ba vòng tròn đỏ son trên mặt giấy, rồi lại nhìn bảng tính chi li từng hạng mục của tỷ tỷ. Đôi mắt cậu thiếu niên sáng rực lên vì thán phục:

“Ba nguồn độc lập! Vốn tự có làm nền móng thực lực, vốn vay thương mại để thanh toán công thợ nặng nhọc, vốn hàng hóa trả chậm theo doanh thu để duy trì dòng tiền sống hàng ngày... Tỷ tính toán mạch lạc và chu toàn đến mức này, dẫu có là quan Thư lại Vũ Chính An khét tiếng xét nét của huyện nha đến kiểm tra khế ước, cũng chẳng thể bới ra được nửa điểm mập mờ!”

Sáng sớm hôm sau, khi màn sương mù ẩm ướt trên mặt sông Vọng Giang còn chưa kịp tan, tiếng dầm khua nước bì bõm đã vang lên đầu bến.

Đỗ Nguyệt Nương vừa thoăn thoắt gánh hai thúng bột nếp hoa vàng qua cầu ván bước lên bờ thì đã bị Thanh Hà đứng đón sẵn, kéo vội vào góc chái bếp còn thơm mùi tro mới.

Cầm tờ giao kèo bằng giấy bản dày dặn do đích thân Thanh Du nắn nót viết bằng chữ Nôm chân phương, rõ ràng từng dấu chấm phẩy, Đỗ Nguyệt Nương nheo đôi mắt sắc sảo đọc đi đọc lại từng dòng điều khoản. Đọc đến đâu, ngực chị phập phồng xúc động đến đó. Khi đọc xong dòng cam kết hoàn trả ba phần mười doanh thu kèm lệ phí bảo chứng, chị vỗ mạnh vào bắp đùi một cái “bét”, giọng cười giòn tan sang sảng vang động cả một góc lều:

“Hay! Hay lắm con bé Thanh Hà gan góc này! Cái lão Triệu béo bên Tây Lĩnh chiều hôm qua vừa ngồi huênh hoang ở điếm phà rằng cô thế nào cũng phải bò sang lạy lục lão để xin nhập quán kiếm miếng cơm thừa. Lão có nằm mơ giữa ban ngày cũng không thể ngờ nổi cô lại nghĩ ra được cái nước cờ sòng phẳng, đường hoàng đến bực này!”

Nguyệt Nương buông tờ giấy xuống, vươn đôi bàn tay thô ráp đầy những vết chai sần vì bưng thúng gánh gồng, nắm chặt lấy đôi tay của Thanh Hà. Giọng chị bỗng chùng xuống, rưng rưng:

“Chị đây từng nếm đủ mùi cay đắng đoạn trường vì cái thói tài sản đứng tên nhà chồng. Ngày xưa lúc bị nhà chồng ruồng rẫy đuổi ra khỏi cửa, hai bàn tay trắng không một đồng dắt cạp váy, nỗi uất ức nó nghẹn ứ đến tận họng, nên chị hiểu cái bụng của cô hơn ai hết! Đàn bà con gái chúng mình muốn ngẩng cao đầu mà sống giữa cõi đời này thì cơ nghiệp nhất định phải nằm trọn trong lòng bàn tay mình, mang tên họ của chính mình! Chuyện gạch ngói, vôi tôi, mật mía và nguồn bột nếp, đường cát, cô cứ để Hội nữ thương Đông Tân lo liệu. Chị đứng ra đem cả uy tín buôn bán mười mấy năm nay bảo lãnh với các chủ lò gạch gò bên kia sông. Bảo đảm giao đủ cho cô sáu vạn viên gạch đặc nung già lửa, tiếng kêu đanh như chuông, cùng bột nếp hoa vàng hảo hạng với giá gốc bình ổn suốt cả mùa xây dựng, không tăng dù chỉ một nửa đồng tiền kẽm!”

Nói đoạn, Nguyệt Nương rút ngay chiếc quản bút bằng đồng dắt bên cạp váy, chấm mực chu sa dứt khoát ký tên mình rồi ấn ngón tay cái điểm chỉ một nốt chu sa đỏ chót vào mép bản giao kèo ứng hàng:

“Cứ chiếu đúng theo thỏa thuận này mà làm! Mỗi tháng trích ba phần mười tiền lời trả dần, chị đây tin cái chữ tín của Liễu Thanh Hà cô hơn cả vàng mười!”

Tờ giao kèo của Nguyệt Nương vừa ráo mực thì bóng dáng cao ráo của Hàn Thụy đã xuất hiện ở đầu cầu ván bến đò. Chàng mặc bộ áo chẽn ngắn màu chàm sẫm gọn gàng, vạt áo giắt gọn vào thắt lưng da, trên tay cầm theo một cuộn thước dây bọc đồng cùng cuốn sổ đo đạc của giới thầu thợ.

Hàn Thụy bước vào gian lều, ánh mắt trầm tĩnh lướt qua mảng tường đổ đã được quét dọn sạch sẽ, rồi dừng lại trên gương mặt Thanh Hà. Chàng khẽ gật đầu chào mọi người một cách lịch thiệp, không hề thốt ra những lời thương hại hay an ủi sáo rỗng. Chàng đi thẳng tới chiếc bàn con, nơi đang bày la liệt những bản vẽ và giấy tờ tính toán.

Thanh Hà đón lấy ánh nhìn của chàng, hít một hơi sâu rồi đưa bản văn tự vay nợ mười lăm lượng bạc đã được viết sẵn sang phía chàng. Nàng giữ cho giọng nói của mình thật đĩnh đạc, chừng mực:

“Hàn gia, đây là bản khế ước vay nợ ta đã suy tính kỹ và tự tay lập nên. Mười lăm lượng bạc trắng mười tuổi, hạn trả trong hai mươi bốn tháng, lãi suất bốn phân một năm tính theo từng kỳ quý. Trong văn tự ghi rõ: khoản tiền này là nợ dân sự thương mại thuần túy. Bên cho vay không có quyền can thiệp vào quy mô bài trí, không can thiệp phương thức chọn trà làm bánh, cũng như không có quyền sở hữu hay định đoạt nhân sự của Trà lâu Thanh Hà. Ngài là người hiểu luật buôn bán, xin mời ngài xem qua, nếu thấy thỏa đáng thì hãy ký nhận.”

Hàn Thụy cầm tờ giấy lên, từng ngón tay thon dài lật mở chậm rãi. Ánh mắt chàng quét qua từng dòng chữ ngay ngắn, sắc sảo của Thanh Hà. Khóe môi chàng khẽ nhếch lên một nụ cười kín đáo nhưng chan chứa sự trân trọng từ tận đáy lòng.

Chàng hiểu nàng. Chàng hiểu sâu sắc người con gái đang đứng trước mặt mình coi trọng phẩm giá, danh dự và sự tự chủ hơn cả tính mạng. Nếu lúc này chàng mở lời cho không số bạc ấy, hay đưa ra một sự bao bọc trịch thượng mang ơn nghĩa đàn ông, nàng sẽ lập tức lùi bước và vĩnh viễn đóng chặt cánh cửa lòng mình lại.

“Văn tự viết rất chặt chẽ, câu chữ phân minh, rành mạch không kém gì các bậc túc nho chốn tiền trang.” Hàn Thụy đặt bản khế ước xuống mặt bàn, rồi từ trong bọc áo lấy ra một tập giấy ghi chép chi tiết đưa lại cho nàng. “Nhưng trước khi ký, cô nên xem qua phần này. Chiều qua nghe tin gió lốc quật sập vách lều của cô, sáng sớm nay tôi đã sang gặp phường thợ nề họ Chu chuyên nhận thầu các công trình hộ đê ở bến thượng lưu để thẩm định lại toàn bộ đơn giá.”

Thanh Hà kinh ngạc đón lấy tập giấy chi chít những nét mực ngay ngắn của Hàn Thụy. Chàng đã cẩn thận bóc tách từng mục chi phí thợ thuyền: thợ xẻ bao nhiêu tiền một thước gỗ xoan, thợ nề bao nhiêu tiền một ngày công, tỉ lệ pha trộn một thùng vôi tôi với bao nhiêu xẻng cát sông và mật mía để không bị hao hụt hồ vữa. Thậm chí, chàng còn ghi chú rõ ràng rằng phường thợ mộc địa phương thường có thói quen kê khống thêm mười phần trăm số đinh sắt và dầu sơn ta quét chống mối mọt.

“Có bản dự toán đối chiếu này, phường thợ sẽ không thể ăn bớt vật tư hay ép giá công nhật của cô được,” Hàn Thụy nhìn thẳng vào mắt nàng, giọng nói trầm ấm và chân thành. “Còn về điều khoản cấm can thiệp quyền quản lý... cô cứ yên tâm. Trà lâu Thanh Hà này trước sau vĩnh viễn là của riêng Liễu Thanh Hà. Tôi chỉ là một chủ nợ lấy lãi sòng phẳng theo kỳ hạn, và là một người bạn trà mong muốn nhìn thấy quán trà này vững vàng trước ba đào sóng gió mà thôi.”

Nói đoạn, chàng cầm bút lông chấm mực, dứt khoát viết hai chữ “Hàn Thụy” bên cạnh ngón tay điểm chỉ mực đỏ của Thanh Hà. Kế đó, chàng tháo chiếc túi gấm bên hông, đặt lên mặt bàn ba đĩnh bạc nén năm lượng trắng loáng, vuông vức, bên trên có đóng triện chìm sắc nét của tiệm bạc phủ Tây Lĩnh.

Mọi khúc mắc tài chính đã được khai thông bằng trí tuệ, sự minh bạch và lòng tự trọng kiên định. Ngày lành tháng tốt để làm lễ đặt viên đá móng đầu tiên được ấn định vào ba ngày sau đó.

Buổi sớm hôm làm lễ đặt móng đá, khúc sông mé đông bến đò Vọng Giang náo nhiệt chưa từng thấy.

Mặt trời đầu hạ vừa ló rạng sau rặng núi xa, xua tan dần lớp sương mỏng manh giăng mắc trên mặt nước, để lộ dải đất mé đông đã được san phẳng phiu. Những cọc tiêu bằng tre vót nhọn, buộc dây gai căng chỉ đỏ thẳng tắp chạy dọc theo đúng bản vẽ móng giật cấp chống lũ của Thanh Du.

Trên chiếc bàn mộc con kê sát mép nước, Thanh Hà bày biện một mâm cúng tạ đất đai đơn sơ nhưng thanh tịnh: một nải chuối tiêu xanh quả đều tăm tắp, một đĩa bánh hoa hòe trắng muốt thơm lừng mùi mật ong, và ba chén trà xanh hãm bằng thứ nước giếng đá ong Thanh Khê ngọt lịm.

Lão lái đò Từ Bá trong bộ áo vải nâu sồng sạch sẽ nhất, hai tay chống chiếc gậy tre già bóng loáng, đứng trang nghiêm bên cạnh chủ lễ là Thư lại Vũ Chính An. Vị thư lại huyện nha với bộ ria mép tỉa tót cẩn thận, tay cầm chiếc tráp gỗ đựng địa bạ và con dấu đỏ, đứng thị sát từng cọc mốc để đóng dấu chứng nhận ranh giới xây cất hoàn toàn hợp pháp theo đúng quy chế bến bãi của huyện Thanh Lâm.

“Giờ lành đã điểm! Khởi công đặt móng Trà lâu!”

Tiếng hô sang sảng của Từ Bá vừa dứt, một tràng pháo tép treo trên cành cây vông đồng nổ ran giòn giã. Tiếng pháo rộn rã bên mé sông như xua tan đi tất cả những xui xẻo, ẩm mốc, cơ cực của những ngày dông bão cũ.

Đúng lúc ấy, từ khúc sông phía ngoài vọng vào tiếng hò dô vang dội, nhịp nhàng theo nhịp chèo:

“Dô hò... là hò dô ta! Thuyền nặng rẽ sóng... cập bến Vọng Giang nào!”

Ba chiếc thuyền gỗ lòng sâu chở đầy đá hộc nặng trịch từ mỏ đá gò Thanh Khê từ từ rẽ sóng lướt tới, mũi thuyền chạm vào bờ phát ra tiếng “ục” trầm đục. Đứng ở mũi chiếc thuyền đi đầu chính là Lại Tam. Gã cởi trần trùng trục, để lộ tấm lưng vạm vỡ màu đồng hun cuồn cuộn cơ bắp, dải khăn đỏ buộc ngang trán ướt đẫm mồ hôi.

Kể từ sau phiên công đường xét xử vụ lệ phí bến bãi của huyện nha và sự ra đời của bản quy ước bốc dỡ công bằng do Thanh Du soạn thảo, nhóm cò bến bặm trợn của Lại Tam đã hoàn toàn lột xác. Không còn những trò chặn đường bóp nặn khách buôn hay vòi vĩnh tiền bảo kê nhơ bẩn, gã tập hợp mười mấy anh em tráng đinh chuyển hẳn sang làm nghề bốc xếp, khuân vác và vận tải đường sông lương thiện.

“Anh em đâu! Ghé sát mạn thuyền vào cầu ván! Dỡ đá cẩn thận, xếp theo hàng lối, chớ để mẻ góc mẻ cạnh!”

Lại Tam nhảy phắt từ mũi thuyền lên bờ cát, tay cầm chiếc bảng kê bằng gỗ bước nhanh về phía Thanh Hà. Gã vòng hai tay, cúi đầu chào theo đúng phép tắc, rồi chìa tấm thẻ tre có khắc các khấc ghi chi tiết số lượng đá:

“Thưa cô Liễu, thuyền đá hộc đợt đầu gồm một ngàn viên đá tảng xanh khai thác từ tầng sâu gò Thanh Khê đã cập bến đủ số lượng. Toàn bộ tiền cước vận tải đường sông và công phu khuân vác bốc dỡ từ lòng thuyền lên tận chân móng rãnh đào tính đúng theo bảng giá niêm yết của điếm sở: mười hai đồng tiền kẽm một chuyến xe cút kít, tuyệt đối không phụ thu thêm dẫu chỉ một đồng tiền nước nôi nào!”

Thanh Du nhanh nhẹn cầm chiếc thước gỗ bước tới mạn thuyền, gõ nhẹ vào từng khối đá tảng xanh rì, kiểm tra quy cách góc cạnh rồi quay lại gật đầu chắc nịch với Thanh Hà:

“Đá xanh già lửa, vuông vức, mặt phẳng chịu lực rất tốt, đúng chuẩn đá kè sông chống xói lở thưa tỷ!”

“Làm phiền bác Tam và anh em phu bến vất vả rồi,” Thanh Hà mỉm cười đôn hậu, mở tráp gỗ đếm đủ từng xâu tiền kẽm sáng bóng trao tận tay Lại Tam theo đúng biên nhận. “Tiểu Mãn đã bắc sẵn hai nồi nước chè xanh đậm lửa bên giàn dưa sau quán, anh em khuân xong chuyến này cứ ghé vào uống cho mát dạ, giải bớt mệt nhọc.”

Lại Tam đón lấy xâu tiền công chân chính do chính mồ hôi nước mắt mình làm ra, bàn tay gã khẽ run lên, khóe mắt đỏ hoe vì xúc động. Gã quệt vội giọt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên cằm, cất giọng sang sảng:

“Cô Liễu cứ yên tâm để bọn tôi lo! Mấy anh em phu bến chúng tôi cả năm qua sống nhờ bát nước chè xanh của cô, nay thấy cô dựng được trà lâu kiên cố để chống lũ, anh em chúng tôi dốc hết bình sinh làm cho cái móng đá này vững như bàn thạch mới thôi!”

Dưới sự đốc thúc của Lại Tam, đội phu bốc vác thoăn thoắt ghé vai khiêng từng tảng đá hộc nặng cả trăm cân từ lòng thuyền lên bờ. Tiếng đá va chạm chan chát, tiếng bánh xe cút kít kẽo kẹt cày sâu trên nền đất, tiếng đầm nện đất “thùng thình, thùng thình” hòa cùng tiếng cười nói rộn rã của cánh thợ nề.

Cùng lúc đó, cánh phu than của bác A Sinh cùng mấy chục người chèo đò ngang cũng lục tục kéo đến đông đủ. Họ không nhận dẫu chỉ một đồng tiền công nhật, ai nấy tự nguyện vác theo xẻng, vác đòn cọc xúm vào giúp Thanh Hà dọn sạch xà bần còn sót lại, người khiêng những súc gỗ xoan ngâm từ dưới bùn sông lên dội nước rửa sạch, người xếp ván thành từng chồng cao ráo ngay ngắn. Bác A Sinh vừa quệt bùn than bám trên má vừa cười ha hả:

“Phải dựng nhà ngói hai tầng cho thật đàng hoàng cô Liễu ạ! Mai này bão to lũ lớn có tràn về bến sông, dân phu bến chúng tôi chèo thuyền ghé qua cũng có một mái nhà vững chãi để uống bát nước chè xanh nóng hổi mà không sợ dột ướt lưng áo nữa!”

Cả một khúc bến Vọng Giang bừng bừng khí thế lao động khẩn trương, ấm áp tình người và sự sẻ chia chân chất. Mùi phù sa ướt át, mùi vôi sống tôi nồng nồng ngai ngái bốc lên nghi ngút từ những hố móng đá hòa quyện vào hương thơm the mát của những ấm trà xanh đang sôi ùng ục trên bếp lò dã chiến.

Thanh Hà đứng bên cạnh chiếc bếp than dựng tạm, đôi bàn tay nàng thoăn thoắt châm từng bát nước chè xanh sóng sánh bọt ngọc, chia từng đĩa bánh nếp nướng gừng đỏ cay nồng trao tận tay những người thợ nề đang ngồi nghỉ giải lao dưới bóng râm.

Nhìn những viên đá móng đầu tiên vuông vức, xanh thẫm được đặt chắc nịch xuống rãnh đất sâu, nàng cảm nhận rõ một luồng sức sống mãnh liệt đang dâng trào trong lồng ngực. Đây không đơn thuần chỉ là một quán trà buôn bán kiếm sống qua ngày. Đây là thành trì tự lập kiên cường của đời nàng, là bến đỗ bình yên mà không một thế lực nào, không một dòng nước lũ nào có thể tước đoạt khỏi tay ba chị em nàng được nữa.

Giữa cảnh tượng lao động ngổn ngang của công trường, tiếng cưa xẻ gỗ của cánh thợ mộc đang rộn rã vang lên từng hồi kẽo kẹt, gió sông bỗng thổi một luồng lốc xoáy cuốn theo bụi mù mạt cưa bay lả tả trong không trung.

Qua làn bụi gỗ bảng lảng, một bóng người gầy guộc đội chiếc nón lá rách tơi tả, tà áo vải thô sẫm màu đã lấm lem bùn đất dọc đường thiên lý, lặng lẽ lách qua những đống gỗ lạt ngổn ngang bước vào bến. Dáng người ấy xiêu vẹo vì kiệt sức, từng bước chân run rẩy như không còn chút hơi tàn, ánh mắt dáo dác nhìn quanh như một kẻ đang trốn chạy khỏi sự truy lùng ráo riết. Bóng người ấy ngập ngừng, rụt rè tiến về phía chiếc bếp than dã chiến nơi Thanh Hà đang đứng.

Thanh Hà dừng tay múc trà, trực giác nhạy bén mách bảo nàng điều chẳng lành. Khi bóng người ấy bước tới mép giàn che, run rẩy đưa bàn tay khẳng khiu, trầy xước nâng vành nón lá rách lên, ánh mắt hai người chạm nhau.

Dưới vành nón là một gương mặt hốc hác, nhợt nhạt không còn một giọt máu. Đôi môi nứt nẻ vì khát, nhưng trong đôi mắt ngấn lệ kia lại ánh lên một sự kiên cường và quyết tuyệt đến tột cùng.

Đó chính là Phạm Minh Châu.

Tiểu thư khuê các của gia tộc họ Phạm đã liều mình trốn thoát khỏi sự giam lỏng nghiêm ngặt của gia đình, mang theo vết thương lòng sâu hoắm và quyết tâm sắt đá đoạn tuyệt với cuộc hôn nhân ép gả tàn bạo, một thân một mình tìm về bến đò này để xin học nghề làm bánh và tìm lại chính cuộc đời mình.

Gió sông đầu hạ bỗng thổi lướt qua rặng cây bên bờ đê, lay động những cành lá xanh mướt mát.

Những chùm hoa hòe trắng ngà bung nở rủ xuống công trường ngổn ngang gạch ngói, tỏa ra một mùi hương dịu ngọt, thanh khiết—mùi hương ký ức ấm áp của người mẹ đã khuất, như đang dang tay ôm trọn lấy những đứa con kiên cường trước sóng gió cuộc đời.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories