Quán Trà Bên Bến ĐòCh.27 / 34
Chapter 27

Tên gọi của Tiểu Mãn

Ánh nắng sớm rọi qua những kẽ nứa rách rưới của góc chái bếp, kéo từng vệt sáng dài xôm xốp bụi tro, hắt thẳng lên mép tờ công văn huyện nha mang viền mực đen mà Tiểu Mãn đang siết chặt trong mười đầu ngón tay khẳng khiu.

Mặt giấy lệnh sắc màu vàng ngà, xơ ráp dưới những vết chai sần thô nhám—vết tích của bao tháng năm quanh năm cời than ủ trấu, múc nước sông và cọ rửa ấm chén bến đò. Tờ công văn ấy mỏng manh, nhẹ bỗng khi gió sớm từ mặt sông Vọng Giang lùa qua khe liếp thổi tạt vào, nhưng dưới mắt con bé mười một tuổi, nó dường như nặng hơn cả một tảng đá hộc dìm đáy thuyền. Từng hàng chữ chân phương ngay ngắn do ngọn bút lông của quan phụ mẫu huyện Thanh Lâm phóng hạ vạch rõ từng sự tình, rành rọt không một nét thừa: sau trọn vẹn một trăm ngày niêm yết thông cáo nơi cổng chợ búa, đầu mối cầu tàu và cửa nha môn ba huyện giáp ranh, tịnh không có bất kỳ ai đến khiếu nại tung tích, không một thân nhân huyết tộc đến nhận mặt, cũng chẳng có chủ nợ hay phường buôn nô bộc nào trình trích lục đòi quyền sở hữu. Đứa trẻ lang thang nơi bến sông Vọng Giang nay chính thức được pháp luật triều đình xác nhận là trẻ vô thừa nhận, hoàn toàn đủ điều kiện để được người khác cưu mang, lập khế ước nhận nuôi hợp pháp.

Thế nhưng, ánh mắt Tiểu Mãn không dừng lại ở những triện son hay lời lẽ nghiêm trang của nha môn. Đôi ngươi đen láy, phủ một màng sương đùng đục của em cứ đóng đinh trân trối vào dòng chữ cuối cùng nằm sát mép dưới. Nơi đề mục in sẵn ba chữ “Nghĩa nữ: ...” vẫn chỉ là một vệt giấy trắng trơn, trống hoác, không có lấy nửa giọt mực khô đọng lại.

Chỗ trống ấy như một hố sâu thăm thẳm. Nó nhắc cho em nhớ rằng, giữa trời đất bao la này, em chẳng có lấy một cái gốc rễ để bám vào, chẳng có một manh mối nào để tự chứng minh mình là ai.

Tiếng bước chân rất nhẹ vang lên trên nền đất nện. Thanh Hà khẽ khàng đi tới, tà áo vải thô nhuộm màu vỏ cây sột soạt lướt qua thành bồ trấu. Nàng không vội lên tiếng, chỉ dịu dàng quỳ một bên gối xuống nền đất còn vương mùi tro bếp ẩm và hơi nước ngai ngái bốc lên từ lòng sông, vòng đôi tay mềm mại ôm trọn bờ vai đang co rúm, run lên bần bật của cô bé. Hơi ấm từ lồng ngực Thanh Hà xuyên qua manh áo vải mộc vá víu sờn vai, từng chút một thẩm thấu, vỗ về nhịp thở dồn dập, hoảng loạn của đứa nhỏ.

“Sao thế con? Cả đêm qua lại trằn trọc không chợp mắt được chút nào à?” Thanh Hà thì thầm bên tai em, giọng nói êm đềm như dòng nước giếng đá ong buổi sớm. Bàn tay nàng khẽ vén những lọn tóc con lòa xòa trước vầng trán dính bụi tro của Tiểu Mãn, rồi chậm rãi vuốt dọc sống lưng gầy guộc nhô lên từng đốt xương sắc cạnh.

Tiểu Mãn cắn chặt bờ môi dưới nứt nẻ đến rớm máu. Em nhìn tờ giấy lệnh trong tay, rồi lại ngước nhìn đôi mắt trong trẻo, thăm thẳm nét bao dung của người phụ nữ trước mặt. Đáy mắt cô bé dâng lên một tầng sương nước dày đặc, chao đảo, rồi bất thần vỡ òa thành hai dòng lệ nóng hổi lăn dài trên đôi gò má lem luốc những vệt than củi chưa kịp rửa. Con bé chôn chặt mặt vào hõm vai Thanh Hà, hai bàn tay gầy gò bấu chặt lấy vạt áo nàng, cả người run rẩy co rúm lại như con chim non ướt cánh giữa cơn mưa rào đầu hạ.

“Mẹ ơi... con... con sợ lắm...” Tiếng Tiểu Mãn nghẹn lại nơi cuống họng, méo mó đứt quãng giữa từng cơn nấc tủi hờn đã dồn nén suốt bao ngày đêm. “Con không có tên... Con thật sự không nhớ nổi cha mẹ sinh ra con đã từng đặt cho con cái tên gì. Đầu óc con mông muội lắm... Con chỉ nhớ mờ mờ... mùa đông năm đó rét thấu xương thấu thịt, người ta đem vứt con ở góc chợ bến than, con đói lả đi, đói đến mức phải bới đống rác mà nhai cả những bã mía người ta nhổ ra đất...”

Thanh Hà siết chặt cánh tay hơn một chút, áp má mình lên mái tóc khô xơ khét mùi nắng gió của cô bé. Lòng nàng thắt lại từng cơn buốt nhói, cảm giác như chính da thịt mình đang bị cứa rách bởi những cơ cực mà đứa trẻ này từng gánh chịu.

“Cái tên ‘Tiểu Mãn’... chẳng phải do cha mẹ hay họ hàng nào đặt cho con cả,” Tiểu Mãn nấc lên từng chặp, trút hết nỗi mặc cảm tự ti đã chôn sâu tận đáy lòng từ những ngày đầu tiên rụt rè bước chân vào quán trà bên mé sông. “Năm đó, đúng vào ngày tiết Tiểu Mãn, con đói lả người, hai chân sưng phù không bước nổi nữa, phải lết đến sạp bánh rán góc chợ Đông Tân ngửa bàn tay bẩn thỉu ra xin ăn. Người ta mắng chửi con là quân trộm cắp, người ta cầm chổi đót xua đuổi con như đuổi một con chó dại tha rác... Lúc con tưởng mình sắp chết cóng bên rãnh nước thì có một bà lão bán bánh nếp qua đường rủ lòng thương. Bà ấy dừng gánh lại, nhét vào lòng bàn tay run rẩy của con một mẩu bánh nếp nóng hổi vừa vớt ra khỏi chõ... Bà ấy bảo với con: ‘Hôm nay là tiết Tiểu Mãn, trời đất bắt đầu đổ nắng ấm rồi, hạt lúa ngoài đồng bắt đầu mẩy hạt, mong con ráng nuốt miếng bánh này mà qua được cơn đói, ráng mà sống tiếp nghe con...’ Từ hôm ấy, ai hỏi con tên gì, con cũng lí nhí tự xưng mình là Tiểu Mãn... Con dùng cái tên xin ăn ấy để nhớ mẩu bánh nếp cứu mạng, để nhắc mình là đứa trẻ đã nhặt được một mạng sống bên lề đường.”

Cô bé ngẩng khuôn mặt đầm đìa nước mắt lên nhìn Thanh Hà, ánh nhìn tràn ngập nỗi sợ hãi, bơ vơ và tự ti tột cùng:

“Mẹ ơi, trên tờ giấy của huyện nha, người ta ghi tên mẹ đàng hoàng, tôn nghiêm... Mẹ là chủ quán trà, mẹ được cả bến sông này kính trọng, mẹ nuôi dạy anh Thanh Du học chữ thánh hiền, anh ấy sau này sẽ đi thi, sẽ làm thầy làm quan... Còn con... con chỉ là một đứa trẻ không gốc tích, không họ hàng, không biết mình từ xó xỉnh nào trôi dạt đến chốn này. Một cái tên nhặt được nơi đầu đường xó chợ như thế, liệu có bôi tro trát trấu vào thanh danh của mẹ không? Một đứa trẻ không lai lịch, không tông tộc như con... liệu có xứng đáng được bước chân vào sổ hộ tịch nhà họ Liễu, có xứng đáng được làm người nhà của mẹ và anh Thanh Du không?”

Từng lời, từng chữ của cô bé như những mũi kim đâm thấu tâm can Thanh Hà. Nàng nhớ lại buổi chiều tà của nhiều tháng trước, khi lần đầu tiên nhìn thấy em—một đứa trẻ gầy trơ xương sườn, đôi mắt lấm lét như chực chờ những trận đòn roi vô cớ, co ro gặm mẩu bánh bao thiu mốc meo dưới gầm chiếc chõng tre mé chái bếp. Đứa trẻ ấy đã vì sợ bị đuổi ra đường mà đêm nào cũng len lén gom từng đồng tiền kẽm khách thưởng vùi sâu dưới chân lò đất; đứa trẻ ấy đã thức khuya dậy sớm, đội rét căm căm quét từng tấc đất bến đò, nhóm từng bếp than hồng, gom từng mảnh củi mục trôi dạt ven sông, chỉ mong đổi lấy một chỗ nương thân không bị xua đuổi. Dù những tháng qua em đã có chỗ ngủ ấm áp bên chái sau, có cơm nóng canh ngọt ba bữa đủ đầy, có tiền công mỗi tháng ba mươi văn cất cẩn thận trong chiếc hộp gỗ then đồng nhỏ, nhưng cái gốc rễ tủi nhục của kiếp người trôi dạt vẫn luôn như một chiếc dằm nhức nhối cắm sâu vào tâm hồn non nớt của em.

“Ai bảo con không xứng đáng?”

Một giọng nói trầm đục, sang sảng vang lên từ ngoài ngưỡng cửa lợp lá dừa nước. Tiếng gậy gỗ nghiến gõ cộc cộc trên nền đất nện dập tắt tiếng thút thít nghẹn ngào của Tiểu Mãn. Lão lái đò Từ Bá chống gậy bước qua tấm rèm cói, chiếc áo bạt nhuộm củ nâu đã bạc phếch màu nắng gió khoác hờ trên bờ vai lực lưỡng dù đã hơi còng. Nụ cười trên gương mặt chằng chịt nếp nhăn của lão vừa hiền từ lại vừa mang theo sự cương nghị của người đã từng dầm mưa dãi nắng suốt nửa đời người.

“Bác Từ...” Tiểu Mãn vội vã đưa mu bàn tay áo thô quệt vội dòng nước mắt, lí nhí cất tiếng chào, đầu hơi cúi thấp xuống như muốn giấu đi sự bẽ bàng.

Từ Bá dựng cây gậy gỗ nghiến vào cột cái của quán trà, chậm rãi bước tới bên chiếc bàn gỗ mộc mạc. Lão kéo một chiếc ghế đẩu ngồi xuống, đưa đôi bàn tay thô ráp, sần sùi với những khớp ngón tay to bè vì bao năm ghìm chặt mái chèo vượt sóng dữ, nhẹ nhàng xoa lên chỏm đầu bờm xờm của Tiểu Mãn.

“Con bé ngốc này,” Từ Bá cất giọng ôn tồn, từng lời thong thả, khoan thai như nhịp sóng vỗ êm đềm vào mạn thuyền lúc con nước đứng. “Lão già này chèo đò trên khúc sông Vọng Giang này ngót nghét bốn mươi năm có lẻ. Lão chở không biết bao nhiêu chuyến đò, chở từ kẻ áo gấm đi thi đến phường cùng đinh chạy loạn, chứng kiến không biết bao nhiêu bận lũ thượng nguồn đổ về rồi lại rút đi. Con có biết dòng Vọng Giang cuồn cuộn này từ đâu chảy tới không? Nó bắt nguồn từ những khe đá vô danh tít trên núi cao Tây Lĩnh kia kìa. Nó gom từng giọt nước mưa rơi xuống tán lá rừng hoang, gom từng dòng suối nhỏ chảy qua bùn lầy, qua sỏi đá gai góc mà tụ lại thành dòng. Khi nó chảy qua bến đò này, người ta gọi nó là Vọng Giang, người ta dùng nước của nó để tưới mát những cánh đồng ngô bãi bồi xanh mướt, dùng mạch nước ngầm thanh khiết của nó thấm qua tầng đá ong mà hãm nên những ấm trà ngon nuôi sống cả bến sông này. Chẳng có người sành trà nào chê con nước đầu nguồn là bắt đầu từ khe đá hoang hay hốc bùn tối tăm cả.”

Lão lái đò đưa tay chỉ ra phía bến sông ngoài kia, nơi màn sương sớm bảng lảng đang tan dần dưới ánh bình minh ửng hồng trên mặt nước:

“Cội nguồn thật sự của một con người, đứa nhỏ à, không nằm ở chỗ người đó sinh ra trong lầu son gác tía hay rơi rớt chốn bờ bụi lề đường. Cội nguồn của con bắt đầu từ chính mảnh đất mà con chọn dừng chân, nơi có người vì con mà thức khuya dậy sớm nhóm bếp nấu cho con bát cháo nóng khi con ốm, nơi có người sẵn sàng mang danh dự, mồ hôi và tấm lòng của mình ra che chở cho con trước bàn dân thiên hạ. Mẹ Thanh Hà của con không nhìn gốc tích để dang tay đón con về; cả cái bến đò Vọng Giang này yêu mến con vì con chịu thương chịu khó, thật thà, chăm chỉ, thấy việc là xắn tay áo vào làm, chứ chẳng có ai rảnh rỗi đi hỏi cha mẹ con là ai để mà định giá một đứa trẻ. Con đã hiểu ra chưa?”

Tiểu Mãn chớp chớp mắt, bờ mi ướt đẫm khẽ run lên từng hồi. Em ngước nhìn lão lái đò râu tóc bạc phơ, rồi lại quay sang nhìn Thanh Hà. Trong ánh mắt của người phụ nữ trẻ tuổi đang mỉm cười nhìn em, tuyệt nhiên không có lấy một mảy may thương hại ban ơn của kẻ bề trên, mà chỉ có sự tin cậy sắt son, lòng bao dung vô bờ bến và tình mẫu tử thiêng liêng, ấm áp đang sưởi ấm tâm hồn côi cút của em.

“Mẹ đón con về, giữ con lại bên cạnh, là vì con là con gái của mẹ,” Thanh Hà nâng hai bàn tay nhỏ bé, gầy guộc của Tiểu Mãn lên, áp chặt vào má mình để em cảm nhận trọn vẹn hơi ấm thịt da. “Những ngày tháng trôi dạt cơ cực, đói rét nơi đầu đường xó chợ đã vĩnh viễn khép lại rồi. Hôm nay, chúng ta cùng lên công đường huyện nha, đường hoàng đĩnh đạc ghi tên con vào sổ bộ triều đình, cho con một mái nhà, một danh phận vững chãi mà từ nay về sau, cả đời này không có bất kỳ ai có quyền tước đoạt hay khinh khi con nữa. Đi thôi con, Thanh Du đã chuẩn bị xong giấy mực từ sớm rồi.”

Bên chiếc bàn trà góc trong cùng, Liễu Thanh Du—cậu thiếu niên mười ba tuổi trong bộ áo vải thô tề chỉnh, vạt áo phẳng phiu, mái tóc đen nhánh được búi cao gọn gàng bằng một chiếc trâm tre mộc—đã đứng đợi từ lúc nào. Cậu cẩn thận đặt chiếc nghiên mực đá xám và ngọn bút lông vào tay nải nhỏ bằng vải chàm, bước lại gần. Thanh Du chìa bàn tay ấm áp của mình về phía Tiểu Mãn, trên gương mặt tuấn tú, sáng sủa bừng lên nụ cười rạng rỡ của một người anh trai:

“Đi thôi muội muội. Hôm nay cả nhà chúng ta cùng đi.”

Tiểu Mãn nhìn bàn tay đang chìa ra trước mặt mình, nhìn ánh mắt ấm áp của Thanh Du, nỗi sợ hãi nghìn trùng đè nặng trong lòng bấy lâu dường như đã bị nụ cười ấy và ánh mắt của mẹ Thanh Hà xua tan sạch sẽ, như sương sớm tan biến trước ánh mặt trời rực rỡ. Em hít một hơi thật sâu, đưa bàn tay nhỏ bé nắm chặt lấy tay anh trai, rồi khẽ gật đầu thật mạnh:

“Vâng! Con đi với mẹ và anh!”

***

Đoàn người bốn người rời khỏi quán trà bến Vọng Giang, rảo bước trên con đường đê trải đá dăm mịn dẫn thẳng về phía huyện thành Thanh Lâm. Sáng nay trời quang mây tạnh sau những ngày nồm ẩm kéo dài. Gió từ lòng sông lồng lộng thổi qua những rặng dừa nước và rặng tre đực ken dày ven bờ, mang theo mùi phù sa nồng đượm và hương thơm ngọt ngào của lúa non thì con gái từ các cánh đồng trũng bạt ngàn hai bên sườn đê.

Con đường đá dăm lạo xạo dưới những bước chân. Khác với vẻ lấm lét, sợ hãi của những đứa trẻ cùng đinh hay co ro nép vào bóng người lớn mỗi khi bước chân lên đường quan lộ, Tiểu Mãn hôm nay được Thanh Hà nắm chặt tay dắt đi ở giữa. Một bên em là Thanh Du chững chạc, tay xách bọc tay nải nhỏ, từng cử chỉ đều toát lên phong thái ngay thẳng của người đọc sách; một bên là lão lái đò Từ Bá với tấm lưng tuy còng vì năm tháng dãi dầu nhưng từng bước chân chống gậy gỗ nghiến nện xuống nền đá lại vô cùng đĩnh đạc, vững như bàn thạch. Còn Thanh Hà, nàng bước đi với tư thế hiên ngang, lưng thẳng tắp, tà áo nâu mộc mạc bay nhẹ trong gió sớm, gương mặt thanh tú toát lên vẻ bình thản, kiên định của một người phụ nữ đã tự tay chèo chống qua giông bão để dựng xây bến đỗ cho riêng mình.

Đi chừng một tuần nhang thì cổng thành Thanh Lâm hiện ra sừng sững sau lũy tre xanh. Huyện nha nằm ở khu trung tâm phố xá sầm uất, nơi hội tụ các phường buôn lụa, buôn gốm và các hiệu thuốc bắc danh tiếng. Cổng lớn nha môn được sơn son uy nghiêm, hai bên có lính canh mặc giáp vải viền đỏ bồng giáo đứng nghiêm cẩn, phía trên vòm cổng treo bức biển đồng chạm trổ bốn chữ lớn thếp vàng “Thanh Lâm Huyện Nha” trang trọng và uy nghiêm.

Trái ngược với vẻ ồn ào, sợ sệt của những người dân có việc vướng vào vòng kiện tụng hay tranh chấp đất đai đang co ro, ngơ ngác nơi góc sân rợp bóng cây bàng cổ thụ, Thanh Hà dẫn mọi người bước qua ngạch cửa đá một cách đĩnh đạc. Nàng không hề có vẻ khép nép, e dè của người thứ dân hèn mọn, mà toát lên sự đàng hoàng của một người lương thiện bước vào chốn công môn để thực thi một việc công minh chính đại.

Họ bước vào sảnh tả của công đường, nơi đặt nha phòng chuyên trách Hộ tịch và Thương vụ của huyện. Gian phòng này rộng rãi, thoáng đãng nhưng thâm nghiêm, mùi gỗ lim hòa quyện cùng mùi mực tàu và giấy bản mới tạo nên một bầu không khí trang trọng đặc trưng của chốn quyền nha. Phía sau chiếc bàn gỗ lim rộng thênh thang kê sát bức hoành phi, Thư lại Vũ Chính An đang ngồi ngay ngắn trong bộ quan phục màu chàm sẫm, cổ áo viền lụa trắng chỉnh tề. Trên bàn ngổn ngang những tập hồ sơ giấy bản bồi dày đóng chỉ gai ngũ sắc, một chiếc nghiên mực đoan thạch đen nhánh lóng lánh ánh nước cùng chiếc hộp gấm đỏ mở nắp, để lộ chiếc ấn triện đồng lớn chạm khắc hình nghê vờn ngọc tinh xảo.

Nghe tiếng bước chân bước vào sảnh đá, Vũ Chính An dừng ngọn bút lông thỏ đang phê duyệt dở một bản trương bạ, ngẩng đầu lên. Ánh mắt vốn nghiêm cẩn, sắc sảo thường ngày của vị thư lại huyện nha khi chạm vào bóng dáng nhóm người bến đò bỗng chốc giãn ra, thoáng hiện vẻ ấm áp và kính trọng. Ông vội buông bút xuống gác sứ hình rặng núi, đứng dậy, hai tay chắp lại khẽ nghiêng mình chào:

“Từ lão bá, cô chủ Liễu. Mời mọi người vào trong ngồi dùng nước.”

“Làm phiền Vũ đại nhân phải bận tâm tiếp đón sớm thế này,” Từ Bá cười khà khà, tiếng cười sang sảng làm gian phòng nha môn bớt đi vẻ ngột ngạt. Lão đặt cây gậy tựa vào thành chiếc ghế gỗ tía kê bên bàn trà rồi khoan thai ngồi xuống. “Lão già này hôm nay gom góp chút danh dự và uy tín của nửa đời cầm chèo bên dòng Vọng Giang này, đến đây để làm người bảo chứng cho hai mẹ con nhà cô chủ Liễu, mong đại nhân chiếu theo phép công triều đình mà sớm hoàn tất thủ tục hộ tịch cho con bé.”

“Từ bá quá lời rồi. Lão bá là bậc tiền bối đức cao vọng trọng bến sông, lời nói của lão bá ở đất này nặng tựa nghìn cân, quan trên ai nấy đều vị nể,” Vũ Chính An ôn tồn đáp lễ, đoạn quay sang nhìn Thanh Hà bằng ánh mắt đầy thiện cảm. “Lại thêm cô chủ Liễu Thanh Hà đây vốn ăn ở phúc đức, buôn bán minh bạch, đối đãi với khách đò và phu bến ai ai cũng một lòng ngợi khen. Hồ sơ niêm yết thông cáo tròn một trăm ngày qua các bến hạt không hề có một lời khiếu nại hay tranh chấp nào phát sinh, đó chính là minh chứng rõ ràng nhất cho cái duyên trời định của hai mẹ con.”

Nói đoạn, Vũ Chính An bước tới chiếc tủ chè bằng gỗ gụ chạm hoa mai kê sát tường, mở khóa đồng, kính cẩn rút ra cuốn sổ hộ tịch tổng bộ của huyện Thanh Lâm. Cuốn sổ dày cộp, nặng trịch, bọc ngoài bằng lụa điều đỏ thắm đã ngả màu thời gian, bên trong là danh sách hộ khẩu, nhân đinh, khế đất của toàn bộ cư dân trong hạt được triều đình phê duyệt và lưu trữ cẩn mật qua nhiều đời quan lại. Vũ Chính An lật giở từng trang giấy bản dai mịn, tiếng giấy sột soạt vang lên đều đặn trong gian phòng vắng. Ông dừng lại ở trang ghi địa phận bến đò Vọng Giang, tìm đến đúng mục hộ tịch của Liễu Thanh Hà.

Vị thư lại trải phẳng tờ công văn điều tra một trăm ngày lên mặt bàn gỗ lim, nhấc quản bút lông thỏ chấm đượm vào nghiên mực đoan thạch sóng sánh, rồi ngước nhìn thẳng vào Thanh Hà, cất giọng trang trọng:

“Cô chủ Liễu, theo luật lệ hiện hành của triều đình, người nhận dưỡng tử hay nghĩa nữ có toàn quyền quyết định việc đặt lại tên họ cho con trẻ để chính thức ghi vào hộ tịch, định rõ huyết thống, quyền thừa tự và quyền sở hữu sản nghiệp sau này. Việc này can hệ đến cả cuộc đời con bé về sau. Cô đã suy tính kỹ càng xem sẽ ban cho con bé một cái tên mới như thế nào chưa?”

Cả gian phòng nha môn bỗng chốc chìm vào yên ắng lạ thường. Thanh Du nín thở nhìn chị gái, bàn tay siết nhẹ mép bọc tay nải đựng nghiên mực. Từ Bá thong thả vuốt chòm râu bạc trắng như cước, mỉm cười lặng lẽ chờ đợi.

Thanh Hà không vội vàng cất lời đáp lại vị quan thư lại. Nàng quay người lại, từ từ ngồi xổm xuống trên nền đá hoa cương mát lạnh, sao cho ánh mắt mình ngang bằng với tầm mắt của Tiểu Mãn. Nàng đưa hai bàn tay ấm áp nắm lấy đôi bàn tay nhỏ nhắn đang khẽ run rẩy của cô bé, nhìn sâu vào đôi mắt đen láy chất chứa bao nỗi niềm mặc cảm của em. Giọng nói của nàng cất lên, dịu dàng như làn gió thoảng nhưng mang theo sự tôn trọng tuyệt đối dành cho một sinh mệnh độc lập:

“Tiểu Mãn, con nghe thấy lời quan đại nhân vừa nói rồi đấy. Đây là cuộc đời của chính con, là cái tên sẽ đi cùng con suốt một đời này, khi con lớn khôn, khi con lập gia đình và làm nên cơ nghiệp. Con có muốn đổi sang một cái tên khác thật hay, thật đài các, mang ý nghĩa êm ấm hơn không? Dù con chọn cái tên nào, mẹ cũng hoàn toàn ủng hộ, và con mãi mãi là con gái yêu quý của mẹ.”

Tiểu Mãn ngẩn ngơ nhìn Thanh Hà. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, dường như cả cuộc đời mười một năm trôi nổi của em cuộn về như một thước phim quay chậm. Em nhớ lại những đêm đông rét mướt nằm co quắp dưới mái hiên chợ than, nhớ những trận đòn roi vô cớ của những kẻ hung tợn xua đuổi kẻ ăn mày, nhớ cái đói cồn cào thấu ruột thấu gan, nhớ mẩu bánh nếp nóng hổi đẫm tình người giữa ngày đầu hạ năm nào. Và rồi, em nhớ đến bếp lửa rực hồng ấm áp của quán trà bến Vọng Giang, nhớ bát cháo hoa thơm mùi hành lá mẹ Thanh Hà bón cho em khi em sốt li bì, nhớ những chữ cái đầu tiên anh Thanh Du cầm tay nắn nót chỉ dạy trên cát mịn bờ sông.

Cái tên ấy từng gắn liền với thân phận một đứa trẻ ăn mày hèn mọn, nhưng cũng chính cái tên ấy là chứng nhân cho sự kiên cường sống sót của em, là sợi dây vô hình dẫn lối cho em tìm về với mái ấm này, tìm về với người mẹ và người anh trai mà em yêu thương hơn cả sinh mạng mình. Nó là vết sẹo của quá khứ, nhưng đồng thời cũng là bông hoa nở ra từ bùn lầy để đón nhận ánh mặt trời tái sinh.

Một tia sáng kiên định, trong trẻo bỗng bừng lên trong đôi mắt ngấn lệ của Tiểu Mãn. Cô bé siết nhẹ bàn tay mẹ Thanh Hà, hít một hơi thật sâu, rồi ngẩng cao đầu. Từng lời nói của em cất lên rành rọt, trong trẻo và dứt khoát, vang vọng khắp gian phòng nha môn trang nghiêm:

“Mẹ ơi... con muốn được mang họ Liễu của mẹ... Con muốn cả đời này được làm người nhà họ Liễu. Nhưng xin mẹ và quan đại nhân cho con được giữ lại cái tên ‘Tiểu Mãn’. Con muốn cả đời này khắc ghi rằng mình đã từng vượt qua những ngày đói rách, cơ cực nhất để sống sót, để con luôn biết trân trọng mái ấm, trân trọng từng bát cơm manh áo mà mẹ đã trao cho con ngày hôm nay. Con không sợ cái tên ăn mày ấy làm con hèn kém, con muốn tên con là Liễu Tiểu Mãn!”

Một nụ cười rạng rỡ, ngập tràn xúc động bừng nở trên khuôn mặt thanh tú của Thanh Hà. Nàng nghẹn ngào gật đầu, vươn tay ôm chặt lấy đầu con gái vào lòng, vuốt ve bờ má gầy guộc:

“Tốt lắm! Con gái của mẹ có chí khí lắm! Kể từ hôm nay, con là Liễu Tiểu Mãn!”

Thanh Du đứng bên cạnh khẽ thở phào một hơi nhẹ nhõm, khóe mắt cậu rưng rưng niềm tự hào khôn xiết.

Từ Bá không kìm được xúc động, vỗ mạnh bàn tay to bè xuống mặt bàn tre, cười lớn một tràng sảng khoái: “Hay! Rất hay! Một cái tên đâm chồi từ giông bão sương gió, nay lại được tắm mát bằng dòng nước nghĩa tình của bến Vọng Giang! Cái tên ấy đẹp hơn vạn lần những danh xưng hoa mỹ mà rỗng tuếch! Lão già này khâm phục con bé!”

Vũ Chính An ngồi phía sau bàn lim mỉm cười gật đầu đầy tán thưởng. Vị thư lại nghiêm nghị hít sâu một hơi, thẳng lưng, ngón tay cầm quản bút lông thỏ đưa lên vô cùng thuần thục. Dưới ánh sáng buổi sớm mai rọi qua khung cửa sổ công đường, trên trang sổ hộ tịch dày dặn của huyện Thanh Lâm, ngay dưới dòng chữ ghi tên chủ hộ Liễu Thanh Hà, ngọn bút lông sắc sảo phóng hạ từng nét chữ chân phương, rồng bay phượng múa nhưng vững chãi vô cùng:

*“Huyện Thanh Lâm, bến Vọng Giang. Nghĩa nữ: Liễu Tiểu Mãn. Tuổi ước đoán: mười một. Nhận nuôi hợp pháp theo lệnh chuẩn y ngày mười lăm tháng Hai năm Ất Dậu.”*

Viết xong nét chữ cuối cùng, Vũ Chính An cẩn thận gác bút lên giá sứ. Ông mở chiếc đĩa sứ đựng chu sa đỏ tươi, cầm chiếc ấn triện đồng vuông vức của nha môn huyện Thanh Lâm chấm đều mực son. Trước sự chứng kiến trang nghiêm của bốn người, vị thư lại ấn mạnh con triện đồng xuống mặt giấy, in hằn bên cạnh tên của hai mẹ con một dấu mộc sắc nét, đỏ rực như ánh bình minh và vững chãi như bàn thạch.

“Cộp!”

Tiếng ấn triện đanh gọn vang lên giữa gian phòng tĩnh lặng, như một chiếc then cài vững chắc khóa chặt lại toàn bộ những cay đắng, tủi nhục của quá khứ, mở toang ra một cánh cửa rạng rỡ của cuộc đời mới.

Vũ Chính An đứng dậy, nâng bằng hai tay bản trích lục hộ tịch bằng giấy lệnh có viền rồng mây trang trọng, bước vòng qua bàn gỗ lim, trao tận tay Thanh Hà:

“Chúc mừng cô chủ Liễu. Kể từ giây phút này, trước sự bảo hộ của triều đình và sự chứng giám của bến hạt sở tại, Liễu Tiểu Mãn đã chính thức là nghĩa nữ hợp pháp của cô. Được hưởng trọn vẹn mọi quyền lợi về nhân thân, danh phận và quyền thừa kế tài sản theo luật định, được pháp luật che chở suốt đời.”

Thanh Hà cúi mình thật sâu, hai tay cung kính đón nhận bản hộ tịch mỏng manh nhưng nặng tựa ngàn cân. Đó là lời thề son sắt của nàng với một đứa trẻ, là bến đỗ bình yên mà nàng đã dùng tất cả sự dũng cảm và tấm lòng để tạo dựng. Tiểu Mãn nép sát vào hông mẹ, bàn tay nhỏ bé run rẩy khẽ chạm vào vệt mực chu sa còn hơi ẩm ướt trên mặt giấy lệnh. Nước mắt lại một lần nữa trào ra nơi khóe mi cô bé, nhưng lần này không còn là những giọt lệ tủi hờn cơ cực của một đứa trẻ không tên, mà là những giọt nước mắt nghẹn ngào của niềm hạnh phúc và tự do viên mãn.

***

Khi bốn người rảo bước trở về đến bến đò Vọng Giang thì mặt trời đã lên tới đỉnh đầu, tỏa ánh nắng chói chang xuống dòng sông đang độ con nước lớn. Mặt nước sông ban trưa lấp lánh như được dát một lớp bạc vụn khổng lồ, gió sông thổi phần phật làm dịu đi cái hanh hao của buổi trưa đầu hạ.

Khách đợi đò và đám phu bến đang ngồi nghỉ dưới bóng râm của rặng phi lao, từ xa trông thấy bóng dáng quen thuộc của nhóm người trở về, lập tức râm ran cất tiếng chào hỏi rộn rã. Bác phu than A Sinh với chiếc khăn rằn vắt ngang vai, người lấm lem bụi than đen nhẻm, đứng phắt dậy bên mạn thuyền gỗ, vẫy tay thật mạnh:

“Cô chủ Liễu về rồi đấy à! Xong xuôi việc giấy tờ cho con bé rồi chứ?”

“Xong cả rồi bác A Sinh ơi!” Thanh Du tươi cười lớn tiếng đáp lại thay chị, nụ cười rạng rỡ như xua tan mọi mỏi mệt của quãng đường dài.

Tiếng cười nói, lời chúc mừng mộc mạc của những người lao động nghèo nơi bến sông hòa cùng tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền, làm bừng sáng cả một khúc sông quen thuộc.

Thanh Hà bước vào quán, việc đầu tiên nàng làm là tháo chiếc nón lá, dỡ tấm rèm che nắng mé hiên và mở toang cánh cửa sổ nhìn ra bãi bồi ven sông lộng gió. Không gian quán trà lập tức tràn ngập ánh sáng và khí trời mát rượi.

“Thanh Du, mang sổ sách của quán ra đây cho chị,” Thanh Hà tháo chiếc khăn trùm đầu màu chàm, cất giọng điềm tĩnh, rõ ràng nhưng chứa đựng một sự dứt khoát lạ thường.

“Dạ, em mang ra ngay đây ạ!” Thanh Du thoăn thoắt bước vào buồng trong, lát sau bưng ra một chiếc tráp gỗ hương đựng tiền kẽm và cuốn sổ cái dày cộp bọc vải xanh—cuốn sổ mà cậu thiếu niên vẫn ngày ngày nắn nót ghi chép từng đồng thu chi ra vào của quán trà.

Từ Bá đặt cây gậy vào góc quán quen thuộc, kéo ghế ngồi xuống bên chiếc bàn trà sát cửa sổ. Chị Thục bên góc bếp nhanh nhảu bưng lên một ấm chè xanh mới hãm còn bốc khói nghi ngút cùng mấy chiếc bát sành da lươn. Lão lái đò thong thả nhấp một ngụm trà nóng, đưa mắt nhìn theo từng cử chỉ của Thanh Hà với vẻ tò mò, thích thú. Tiểu Mãn đứng nép một bên mép bàn, hai bàn tay đan chặt vào nhau trước vạt tạp dề vải thô, trái tim nhỏ bé vẫn đập rộn ràng sau chuyến đi huyện nha vừa rồi.

Thanh Hà ngồi xuống bàn, chậm rãi lật giở từng trang sổ cái. Ánh mắt nàng lướt qua những con số chi tiết được ghi chép cẩn thận: tiền bán trà búp tôm hai văn một bát, trà tâm sen ba văn một ấm, từng mẻ bánh hoa hòe, bánh nếp nướng gừng đỏ ngọt bùi bán cho khách bộ hành và các đoàn thuyền buôn xuôi ngược trong suốt những tháng ngày gian khó vừa qua. Dưới các khoản thu là những khoản chi rành mạch: tiền thuê đất dựng lều năm mươi văn mỗi tháng nộp cho phường bảo họ Đào, tiền lệ phí bến bãi, tiền mua bột nếp, mật mía và đường phèn từ cửa hàng của chị Nguyệt Nương, tiền nhập lá trà tươi từ vườn đồi Mộc Lan bên kia sông, cùng tiền công nhật trả sòng phẳng cho chị Thục, thím Mộc phụ bếp...

Kiểm tra xong một lượt, Thanh Hà khẽ gật đầu hài lòng. Nàng mở bọc tay nải của mình, lấy ra một cuốn sổ nhỏ hoàn toàn mới bằng giấy bản bồi dày, bìa bọc lụa màu hoa đào mộc mạc—vật phẩm mà nàng đã bí mật ghé tiệm giấy uy tín nhất huyện thành mua về sáng nay. Nàng trải phẳng cuốn sổ nhỏ lên mặt bàn, đưa ngọn bút lông đã chấm mực cho em trai:

“Thanh Du, chữ em đẹp và ngay ngắn, viết giúp chị lên bìa cuốn sổ này: *Sổ tích lũy lập thân của Liễu Tiểu Mãn*.”

Thanh Du thoáng ngơ ngác mất một nhịp, rồi đôi mắt sáng ngời của cậu thiếu niên lập tức bừng lên niềm thấu hiểu và thán phục sâu sắc. Cậu ngồi ngay ngắn lại, cẩn thận nắn nót từng nét chữ Nôm chân phương, đĩnh đạc. Từng chữ hiện lên đen nhánh, nổi bật trên nền lụa đào thơm mùi hồ nếp mới.

Thanh Hà đón lấy cuốn sổ, mở trang giấy đầu tiên ra trước mặt tất cả mọi người. Nàng mở tráp tiền của quán trà, thong thả đếm ra từng đồng kẽm sáng loáng, xâu thành ba chuỗi tiền tròn trịa, mỗi chuỗi đúng một trăm văn, đặt ngay ngắn bên cạnh cuốn sổ bìa lụa:

“Hôm nay có Từ Bá ngồi đây làm người chứng giám, có Thanh Du làm người phụ trách ghi chép sổ sách cho gia đình. Kể từ giờ phút này, Tiểu Mãn đã là người mang họ Liễu, danh chính ngôn thuận là con gái của ta. Một đứa trẻ lớn lên trong nhà, ngoài việc được nuôi nấng cơm ăn áo mặc no ấm, thì cần phải có một cái gốc rễ tài chính vững vàng để có thể tự lập, ngẩng cao đầu khi bước chân vào đời.”

Thanh Hà nhìn thẳng vào Tiểu Mãn, giọng nói nàng đượm vẻ nghiêm cẩn của một người chủ gia đình, nhưng từng thanh âm lại chan chứa sự chở che, yêu thương sâu sắc:

“Quy tắc tài chính của gia đình họ Liễu ta từ hôm nay được ấn định minh bạch: Tiền công phụ giúp quán trà mỗi tháng ba mươi văn của Tiểu Mãn vẫn được giữ nguyên vẹn, con có toàn quyền chi dùng hoặc cất vào chiếc hộp gỗ then đồng riêng như bấy lâu nay. Nhưng ngoài khoản tiền công ấy, bắt đầu từ ngày hôm nay, mỗi một tháng, ta sẽ trích riêng đúng một phần mười—tức mười phần trăm tổng số tiền lời ròng của Quán trà Thanh Hà sau khi đã trừ hết mọi chi phí—để chuyển thẳng vào cuốn sổ tiết kiệm này cho con.”

Tiểu Mãn giật nảy mình thảng thốt, hai mắt mở to bàng hoàng. Con bé luống cuống xua tay lia lịa, giọng run rẩy:

“Mẹ! Không được đâu mẹ ơi! Tiền lời của quán mẹ còn bao nhiêu việc phải lo toan... Mẹ còn phải tích cóp để trả nợ dần tiền vay bác Hàn Thụy làm kè đá chắn sóng năm ngoái, còn phải lo tiền ăn học, tiền mua giấy mực cho anh Thanh Du, rồi mai này anh ấy đi thi trường huyện tốn kém lắm... Con còn nhỏ thế này, ở quán có cơm ăn ngày ba bữa, có áo ấm mặc, lại được mẹ nhận làm con gái là cái phúc phận lớn nhất đời con rồi, con đâu dám nhận số tiền lớn như thế của mẹ!”

“Con nghe mẹ nói cho rõ đây, đây không phải là tiền mẹ cho riêng con để tiêu xài phung phí hay mua sắm bánh trái lặt vặt,” Thanh Hà giữ chặt lấy đôi bàn tay nhỏ nhắn của con bé, nghiêm giọng giải thích, từng lời rành rọt khắc sâu vào tâm trí đứa trẻ. “Số tiền này sẽ do anh Thanh Du đích thân ghi sổ, kiểm đếm mỗi cuối tháng dưới sự giám sát của mẹ. Nó sẽ được tích lũy đều đặn từ tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác. Khi tích đủ số lượng, mẹ sẽ đổi dần thành bạc nén để gửi vào ngân hiệu an toàn. Đó là của hồi môn, là vốn liếng lập thân của con sau này. Dù mai sau lớn lên con muốn học nghề làm bánh, muốn mở một quán buôn bán của riêng mình, hay khi con xuất giá gả về nhà người khác, con sẽ luôn có một khoản tài sản riêng hợp pháp đứng tên mình. Có khoản tiền ấy lận lưng, con mới có thể tự chủ cuộc đời, ngẩng cao đầu mà sống đàng hoàng, không bao giờ phải chịu cảnh nhục nhã, luồn cúi hay phải quỳ lạy phụ thuộc vào lòng thương hại của bất kỳ ai!”

Ngồi bên cạnh, Từ Bá nghe từng lời gan ruột của Thanh Hà mà khóe mắt cay cay. Lão lái đò đặt bát nước chè xanh xuống bàn, thở dài một hơi đầy cảm thán, rồi đưa tay vuốt chòm râu bạc:

“Cô chủ Liễu à... Lão già này sống lênh đênh trên khúc sông này chừng ấy năm, thấy người ta nhận con nuôi thiên hạ nhiều lắm rồi. Nhưng phần nhiều người ta nhận con nuôi là để kiếm thêm một đứa hầu đứa hạ trong nhà, đỡ phải tốn tiền thuê mướn kẻ làm công, hoặc để sau này già yếu có người cung phụng. Mấy ai được như cô, thân mình còn đang vất vả chèo chống nơi bến sông sóng gió, chưa lo bản thân giàu sang phú quý, mà đã biết nhìn xa trông rộng, lo dựng nền móng, sắm sửa vốn liếng lập thân cho một đứa trẻ không cùng máu mủ! Cô làm như thế này là gieo cái gốc đạo lý sâu nghìn trượng vào lòng đất. Con bé Tiểu Mãn này thật sự là có phúc ba đời mới được bước chân vào cửa nhà cô!”

Thanh Du cũng mỉm cười ấm áp. Cậu cầm ngọn bút lông, cẩn thận chấm mực rồi ghi rành rọt dòng chữ đầu tiên vào trang giấy mới tinh của cuốn sổ bìa lụa đào: *“Ngày rằm tháng Hai năm Ất Dậu: Nhập quỹ lập thân đợt một: Ba trăm văn tiền kẽm.”* Cậu ngẩng lên nhìn Tiểu Mãn, khẽ nháy mắt tinh nghịch: “Từ nay về sau, muội chính là tiểu phú bà của quán trà bến Vọng Giang này rồi đấy nhé! Phải ráng mà giữ sổ cho cẩn thận!”

Tiểu Mãn ôm chặt cuốn sổ bìa lụa màu hoa đào vào trước ngực, áp vào bờ môi còn run rẩy. Nước mắt con bé lại một lần nữa ứa ra, nhưng trên gương mặt gầy guộc đã bừng lên một nụ cười rạng rỡ như đóa cúc dại ngậm sương đón nắng sớm. Em nép sát vào lòng Thanh Hà, vùi đầu vào ngực mẹ, thì thầm tiếng gọi thiêng liêng mà trọn một đời này em sẽ đem sinh mệnh ra gìn giữ:

“Mẹ... con đội ơn mẹ cả đời này!”

***

Không khí xúc động lắng dịu trong tiếng nước sông vỗ nhè nhẹ vào chân cọc tre ven quán. Đúng lúc ấy, Thanh Du bỗng đứng bật dậy, gương mặt thiếu niên bừng lên vẻ phấn khởi xen lẫn một sự bí hiểm đầy hào hứng. Cậu nhanh nhẹn chạy lại góc chiếc chõng tre nơi cậu vẫn ngồi học bài mỗi tối, cẩn thận lấy ra một cuộn giấy bản khổ lớn được bọc ngoài bằng lớp vải dầu chống ẩm, buộc chặt bằng sợi dây đay mềm.

“Bác Từ, chị, Tiểu Mãn, mọi người mau qua đây nhìn này!”

Cậu hào hứng đặt cuộn giấy lên bàn, gạt ấm chén và đĩa bánh sang một bên, rồi nhẹ nhàng mở nút buộc, trải rộng tờ giấy bản lớn ra khắp mặt bàn gỗ lim.

Thanh Hà và Từ Bá cùng ghé mắt nhìn vào. Đập vào mắt họ là một bức vẽ đồ bản phác thảo vô cùng công phu, tỉ mỉ, được vẽ bằng mực tàu đen nhánh kết hợp với những đường kẻ cữ bằng thước gỗ chuẩn xác đến từng phân, từng tấc. Từng nét vẽ thanh mảnh nhưng dứt khoát, thể hiện một tư duy không gian sắc sảo đáng kinh ngạc của một cậu thiếu niên mới mười ba tuổi.

Đó không phải là một túp lều tranh vách đất tạm bợ, chắp vá như nơi họ đang sinh sống bấy lâu nay. Hiện ra trên mặt giấy là một cơ ngơi khang trang, bề thế và vững chãi: một trà lâu hai tầng lợp mái ngói mũi hài uốn cong thanh thoát, phần móng được kè kiên cố bằng những tảng đá hộc lớn ăn sâu vào bờ đê để chống sạt lở mùa nước dâng.

Tầng dưới của trà lâu có hiên rộng mở thoáng đãng ra ba phía đón gió sông. Chính giữa là một gian bếp lớn được thiết kế hệ thống lò đun kép có ống dẫn khói thông thẳng ra phía ngoài bờ sông xa, tránh cho khói bếp quẩn vào chỗ khách ngồi. Các dãy bàn trà bằng gỗ mộc được bố trí ngăn nắp, khoa học, đặc biệt ở mé ngoài sát bờ sông là một dãy bàn dài rộng rãi dành riêng cho cánh phu than, phu thuyền với những khoảng trống rộng để họ có thể đặt quang gánh, đòn xóc mà không sợ va quẹt vào người khác.

Trong khi đó, tầng hai được thiết kế tinh tế với hệ thống lan can con tiện bằng gỗ tiện tròn, chia thành các gian phòng trà thanh nhã, có mành trúc che nắng và cửa chớp lật đón gió, nhìn thẳng ra khung cảnh mênh mông, hùng vĩ của dòng Vọng Giang và dãy núi Tây Lĩnh phía chân trời xa. Hệ thống mái đua rộng vươn ra ngoài để che chắn những cơn mưa rào mùa hạ và gió bão đường sông.

“Đây là...” Thanh Hà ngỡ ngàng, đôi mắt mở to, ngón tay nàng run run lần theo từng nét mực kẻ móng nhà và hệ thống cột kèo phức tạp trên giấy.

“Đây là Trà lâu Thanh Hà mới của chúng ta!” Thanh Du tự hào cất giọng, ánh mắt cậu sáng ngời nhiệt huyết và khát vọng của tuổi trẻ. “Mấy tháng nay, nhất là sau trận lũ lụt lớn mùa thu năm ngoái, em nhận thấy túp lều tranh này của nhà mình ngày càng trở nên chật chội và xuống cấp nghiêm trọng. Khách qua bến đò dừng chân uống trà đông gấp ba, gấp bốn lần trước đây. Những buổi trưa cao điểm khi các chuyến đò cập bến cùng lúc, người ta không có chỗ ngồi, phải đứng chen chúc tràn cả ra mép bùn lầy ngoài bờ sông. Đã thế, mái cỏ tranh dặm đi dặm lại bao nhiêu lần vẫn dột nát mỗi khi mưa lớn, vách đất trát nứa thì bị ngấm nước sông mục ruỗng từng mảng lớn ở góc chái bếp. Em đã lén đo đạc lại toàn bộ diện tích mảnh đất bến đông mà chị ký khế ước thuê dài hạn với bác Đào phường bảo, rồi dựa theo những cuốn sách về kiến tạo nhà cửa mà em mượn được ở nhà thầy đồ trên huyện, ngày đêm tính toán vẽ nên bản thiết kế này!”

Cậu thiếu niên đưa ngón tay chỉ vào từng khu vực được phân chia rành rọt trên bản vẽ, hào hứng thuyết minh từng chi tiết:

“Mọi người nhìn xem, phần chân móng này sẽ dùng toàn bộ đá hộc lấy từ mỏ đá gò Thanh Khê, kè giật cấp ba tầng vô cùng kiên cố, dù mùa lũ nước sông dâng cao tới đâu cũng không sợ bị xói mòn sạt lở. Tầng một vẫn giữ nguyên những bàn trà bình dân hai văn một bát cho các bác phu than, phu thuyền đúng như tâm nguyện bấy lâu của chị—để những người lao động nghèo khó nhất luôn có chỗ ngồi uống nước, nghỉ chân ấm cúng. Còn tầng hai, không gian thanh tịnh thoáng đãng sẽ dùng để phục vụ những loại trà cao cấp—như trà Mây Rủ của vườn cô Mộc Lan hãm bằng nước giếng đá ong thanh khiết—dành cho các thương nhân, khách buôn chuyến lớn xuôi ngược đường sông. Trà lâu này dựng lên, gia đình chúng ta sẽ có phòng ở đàng hoàng, sạch sẽ trên tầng hai, có kho cất giữ trà khô ráo không sợ hơi ẩm bốc lên làm mốc trà, và khách khứa qua lại hai bờ sông Vọng Giang sẽ có một nơi dừng chân vững chãi, ấm áp nhất!”

Từ Bá chăm chú ghé sát mặt nhìn từng đường nét, ngón tay sần sùi của lão lần theo những điểm nối mộng giằng và cột cái. Đôi mắt già nua của người đã bôn ba cả đời trên sông nước bỗng ánh lên sự kinh ngạc tột cùng:

“Thằng bé này... đầu óc nó phi thường thật! Cái cách tính toán cột kèo phân bổ lực chống chịu sức gió này rất khéo, đúng chuẩn lối cất nhà ven sông chịu được bão lớn cấp sáu, cấp bảy. Chỗ thoát khói lò đun và cách bố trí móng giật cấp này nếu không phải người am tường thực tế sông nước thì không thể nào nghĩ ra được. Cháu mà dùi mài kinh sử, sau này đi thi trường huyện, trường tỉnh, chắc chắn sẽ làm rạng danh dòng họ Liễu!”

Thanh Hà ngắm nhìn bản vẽ phác thảo tỉ mỉ của em trai, trong lồng ngực nàng dâng lên một niềm tự hào và xúc động khôn xiết, nhưng đi liền sau đó lại là một nỗi âu lo trĩu nặng trong tâm can. Nàng khẽ ngước mắt nhìn quanh túp lều quán hiện tại của mình: những thanh tre đực xông khói đã ngả màu đen kịt vì bồ hóng, mái tranh xơ xác trơ trụi sau một mùa đông dài dầm dề sương muối và trận lũ lụt tàn khốc năm ngoái, vách đất trát nứa phía mé sau chái bếp đã bắt đầu nứt nẻ những đường dài ngoằn ngoèo như mạng nhện, đất bở ra từng mảng nhỏ rơi lả tả xuống nền.

Một trà lâu kiên cố hai tầng lợp mái ngói mũi hài, móng đá vững chãi như thế này chính là giấc mơ cháy bỏng nhất trong tim nàng từ cái ngày bế bọc đồ rách rời khỏi cửa nhà họ Phạm, tay trắng bước ra đời với chiếc trâm cài tóc giấu nơi đáy áo. Nàng muốn cho các em một mái nhà thực sự, muốn bến đò này có một chốn nương náu đàng hoàng cho muôn vạn khách đò xuôi ngược.

Thế nhưng, hiện thực thì luôn nghiệt ngã và lạnh lùng. Chi phí để biến bản vẽ tinh xảo trên trang giấy này thành một cơ ngơi sừng sững bên bờ sông là một con số khổng lồ đối với một quán trà bình dân. Tiền mua gỗ lim làm cột cái, tiền rui mè gỗ xoan ngâm, tiền ngói mũi hài nung chín đỏ, tiền thuê thợ xẻ, thợ mộc, thợ nề... ước tính sơ bộ cũng phải tiêu tốn từ ba mươi đến bốn mươi lượng bạc trắng nguyên bảo.

Trong khi đó, toàn bộ số tiền vốn tích lũy chắt bóp của quán trà Thanh Hà hiện tại, sau khi đã bỏ ra ba lượng bạc để chuộc Thanh Du thoát khỏi cảnh làm con nợ cho nhà họ Trịnh, sau khi trích quỹ lập thân cho Tiểu Mãn và trả dần từng đợt nợ gốc lẫn lãi cho hiệu buôn Hàn Thụy, thì trong tráp gỗ của nàng chỉ còn lại vỏn vẹn chưa đầy mười lượng bạc. Con số mười lượng ấy so với ba mươi, bốn mươi lượng bạc cần có quả thực còn quá xa vời, như một khoảng cách mênh mông không dễ gì khỏa lấp trong một sớm một chiều.

“Thanh Du... em vẽ đẹp lắm, tính toán chu toàn lắm, có chí khí của một đấng nam nhi...” Thanh Hà khẽ mỉm cười, đưa tay xoa nhẹ mái tóc của em trai, nhưng giọng nói nàng thoáng chùng xuống, đượm vẻ trầm ngâm trăn trở. “Chỉ có điều... số bạc cần có để cất dựng nên một cơ ngơi bề thế, khang trang như thế này là quá lớn, vượt xa toàn bộ số vốn liếng mà chị em mình hiện có. Chúng ta buôn bán chăm chỉ, tằn tiện chắt chiu từng đồng kẽm, có lẽ cũng phải cần thêm ít nhất một đến hai năm buôn may bán đắt nữa, gom góp từng bát trà, từng mẻ bánh thì mới có thể tính đến chuyện...”

Nàng chưa kịp nói hết câu thì bầu trời ngoài sông bỗng nhiên tối sầm lại trong tích tắc.

Không gian xung quanh dường như bị bóp nghẹt bởi một sự thay đổi áp suất đột ngột. Gió sông bỗng ngưng bặt trong giây lát rồi bất ngờ nổi lên cuồn cuộn thành từng cơn lốc xoáy dữ dội, mang theo hơi ẩm lạnh buốt xộc thẳng vào trong quán trà, thổi tung tà áo và những trang giấy trên bàn.

Phía chân trời Tây Lĩnh, những đám mây đen kịt như mực tàu từ đỉnh núi ùn ùn kéo tới tầng tầng lớp lớp, nặng trĩu, che khuất hoàn toàn ánh mặt trời ban trưa rực rỡ chỉ trong chớp mắt. Cả khúc sông Vọng Giang đang từ màu bạc sáng lóa bỗng chốc đổi sang màu xám chì u ám, rợn ngợp.

“Đùng... Đoàng!”

Một tiếng sấm đầu mùa hạ nổ vang rền rĩ, xé toạc không gian u tối. Tia chớp ngoằn ngoèo rạch ngang bầu trời, ánh sáng xanh lét phản chiếu xuống mặt sông đang bắt đầu cuộn sóng cuồng nộ. Tiếng sấm chấn động mặt đất, làm rung chuyển cả những hàng cọc tre cắm ven bờ.

“Rào... rào... rào!”

Cơn mưa rào đầu hạ—hung hãn, dữ dội và bất ngờ như một trận thủy trận—đổ ập xuống mặt đất như trút nước. Gió giật từng cơn điên cuồng, rít lên từng hồi qua những rặng tre ven đê, làm toàn bộ hệ thống khung tre của quán trà rung lên bần bật, các khớp nối cót két gầm rú thảm hại như muốn gãy rời.

Mái cỏ tranh mục nát sau nhiều tháng dầm mưa dãi nắng không thể nào chống đỡ nổi lượng nước khổng lồ trút xuống xối xả. Từng dòng nước mưa đục ngầu nhanh chóng xuyên qua các khe hở rách nát, nhỏ tong tòng, rồi tuôn thành từng vệt nước xối thẳng xuống nền đất nện bên trong quán.

“Mau lên! Tiểu Mãn lấy hết xô chậu trong bếp ra hứng dột! Thanh Du kéo tấm bạt dầu che chắn lại mấy chum trà khô kẻo ẩm mốc hết!” Thanh Hà hốt hoảng hô lớn, vội vã lao mình về phía chái bếp lấy nẹp tre chằng lại cánh cửa liếp đang bị gió giật tung.

Nhưng nàng vừa dứt lời, chưa kịp bước tới bậc cửa bếp, thì một chuỗi âm thanh rợn người bất ngờ vang lên:

“Rắc... rắc... răng rắc!”

Tiếng tre gãy giòn tan kèm theo tiếng đất vữa nứt toác phát ra từ góc tường mé đông—nơi vốn đã bị dòng nước lũ mùa thu năm ngoái ngâm ẩm chân vách suốt nửa tháng ròng, đất đã bở mục từ lâu mà nàng chưa có đủ tiền bạc để gia cố lại bằng gạch đá.

Áp lực khủng khiếp của cơn gió giật đầu mùa cùng lượng nước mưa trút xuống xối xả đè nặng lên mái tranh đã trở thành giọt nước tràn ly cuối cùng.

Trước ánh mắt bàng hoàng, kinh hãi của cả bốn con người đang đứng trong quán trà, toàn bộ mảng vách đất trát nứa rộng gần một trượng ở góc chái bếp bất ngờ đổ sập hoàn toàn xuống nền đất, phát ra một tiếng “rầm” chát chúa, đinh tai nhức óc!

Bùn đất nhão nhoẹt, rơm rạ vụn nát cùng những thanh nứa gãy vụn văng tung tóe khắp sàn nhà. Mảng tường sụp đổ để lộ ra một khoảng trống hoác to tướng nhìn thẳng ra bờ sông đục ngầu, mặc cho gió bão gầm rít và những đợt mưa rào đầu hạ lạnh buốt thỏa sức thốc thẳng vào trong gian quán nhỏ bé, mong manh giữa đất trời giông bão.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories