Giống trà cổ và điều khoản độc quyền
Gió xuân từ mặt sông Vọng Giang thốc lên lồng lộng qua những rặng dương liễu cổ thụ chạy dọc bờ đê, cuốn theo hơi nước ngai ngái hòa lẫn mùi chồi non vừa bật vỏ sau chuỗi ngày giá rét. Nắng sớm non tơ rải một dải vàng óng ả lên mặt sóng dập dềnh, hắt ánh lân tinh rực rỡ lên hàng trăm cánh buồm, cột buồm của thuyền buôn xuôi ngược đang neo đậu san sát nơi khúc quanh bến đò. Phía rạp thi bên bờ tây, tiếng chiêng đồng bế mạc hãy còn ngân nga từng chặng, tiếng hò reo, tiếng cãi vã của phường buôn, tiếng xôn xao bàn tán quanh bảng điểm son vẫn chưa hề lắng xuống. Người ta vẫn đang không ngớt lời tụng ca bát nước trà sóng sánh, thanh tao tuyệt đỉnh mà Liễu Thanh Hà vừa dâng lên ban giám khảo, thứ phong vị đã bẻ gãy thế độc tôn ngạo nghễ của Trà lâu Nghênh Xuân. Thế nhưng, đối với Thanh Hà, tất cả những tràng pháo tay rộn rã và ánh mắt trầm trồ nơi sân thi lúc này đều đã lùi xa lại sau lưng, nhạt nhòa như một làn khói mỏng.
Nàng rảo bước thật nhanh, tà áo vải gai màu xanh vỏ đỗ khẽ bay là đà trên lớp cỏ đẫm sương, bám sát theo bóng lưng thô mộc, cao lớn của Trần Mộc Lan. Người đàn bà chủ đồi chè Tây Lĩnh sải những bước chân dài, dứt khoát của kẻ quen trèo đèo lội suối, đôi guốc mộc nện trên nền đất phù sa không một tiếng động thừa thãi. Sau mấy câu thì thầm ngắn ngủi nhưng nặng trịch sau bức màn bạt nơi hậu trường rạp thi, Mộc Lan không để lãng phí dù chỉ một cái chớp mắt. Bà dẫn nàng rẽ ngoặt khỏi con đường lát đá dẫn về khu chợ sầm uất, luồn sâu qua những bụi sậy già khô khốc đang xào xạc mé hạ lưu sông, men theo một dải cát bồi hẻo lánh ngập ngụa vỏ ốc và rêu xanh.
Nơi đây là một vụng nước khuất gió nằm lọt thỏm giữa doi cát và rặng bần cổ thụ, sóng chỉ vỗ ì oạp vào mạn một chiếc thuyền nan nhỏ chằng dây xích sắt vào chiếc cọc gỗ mục ngập nửa thân dưới bùn. Xung quanh tuyệt không một bóng người qua lại, họa hoằn chỉ có tiếng mấy con le le rúc rỉa lông cánh sâu trong vòm lau rậm rạp và tiếng chuông điểm tuần từ thuyền tuần kiểm vẳng lại từ bờ bên kia.
Trần Mộc Lan dừng bước dưới bóng râm của một thân bần ngả nghiêng. Bà đảo mắt nhìn quanh một lượt, ánh mắt sắc như dao cau quét qua từng bụi cỏ, từng khóm lau sậy, cảnh giác tới mức một chiếc lá khô rụng xuống nước cũng khiến khóe mắt bà giật nhẹ. Đôi bàn tay của Mộc Lan—những ngón tay gầy guộc, đen sạm, đầu ngón tay chai cứng và thâm đen vì nhựa trà tích tụ qua hàng chục mùa hái lượm—chậm rãi luồn sâu vào lớp áo tơi dệt bằng lá sồi đã ngả màu xám xịt. Từ trong túi áo ngực may sát vào lớp vải mộc lót trong, bà cẩn thận lôi ra một chiếc bọc nhỏ chừng nắm tay, được bao bọc kỹ lưỡng bởi ba lớp lụa tơ tằm thô nhuộm chàm thẫm. Tấm lụa đã sờn mép, thoang thoảng mùi hương trầm khô dùng để xua đuổi mối mọt từ trên miền núi cao.
Mộc Lan không mở ngay. Bà ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt Thanh Hà, lồng ngực phập phồng dưới manh áo tơi, giọng nói trầm đục, rắn rỏi như đá cuội đầu nguồn khe suối:
“Thanh Hà muội muội, thứ ta mang theo đây, cả đời làm trà của dòng họ Trần ở Tây Lĩnh chưa từng đem ra chợ bán lấy một đồng. Nó không phải trà vườn tỉa cành, xới xáo, bón phân tro như đám trà búp ngoài đồi thoải mà người ta vẫn gánh từng sọt bán rong dưới chợ huyện. Cả dải Tây Lĩnh non cao vực thẳm, chỉ duy nhất trên vách đá Mây Rủ—nơi quanh năm gió bấc gầm rú, mây mù giăng trắng xóa từ tháng Mười cho tới tận tiết Lập Xuân—mới có ba gốc trà cổ thụ rễ ăn sâu vào kẽ đá vôi. Rễ cây uống nước mạch ngầm rỉ ra từ lòng núi, búp cây ngậm trọn sương muối và khí lạnh của trời cao. Cả một năm ròng rã, chúng chỉ bật đúng một tuần lộc xuân ngắn ngủi trước tiết Thanh Minh chừng mươi ngày. Muội là người hiểu trà đến tận xương tủy, muội tự mình xem đi.”
Những ngón tay thô ráp của Mộc Lan khẽ khàng lật mở từng nếp lụa chàm. Động tác của bà nâng niu, cung kính đến độ tựa như đang mở một chiếc tráp đựng ngọc quý gia truyền. Khi lớp lụa cuối cùng hé ra dưới ánh nắng xuân hanh hao rọi xiên qua kẽ lá bần, một nắm lá trà khô hiện ra trước mắt Thanh Hà, khiến tim nàng khẽ nảy lên một nhịp thảng thốt.
Đó hoàn toàn không phải là những búp nõn tôm mảnh khảnh xoăn tít màu xanh lục nhạt thường thấy ở các hội thi hay các phẩm trà tiến vua của chốn kinh kỳ. Những búp trà này mập mạp, chắc nịch phi thường, phiến lá hơi uốn cong như chiếc móng rồng thuôn dài, màu xanh đen ánh lên sắc thép già. Nhưng điều khiến Thanh Hà phải sững sờ chính là toàn bộ bề mặt của từng búp trà, từng đốt lá non đều được phủ kín bởi một lớp lông tơ trắng muốt, mịn màng như nhung tuyết đầu mùa. Lớp lông tơ ấy dày và đều tăm tắp, dưới ánh mặt trời rọi vào liền lấp lánh như ngàn vạn hạt ngọc sương sớm đọng lại trên cành mà chưa kịp tan biến.
Thanh Hà vô thức nín thở. Nàng nâng hai bàn tay lên, cẩn trọng đón lấy mép mảnh lụa thô, tuyệt đối không dám dùng đầu ngón tay chạm trực tiếp vào búp trà vì sợ hơi ấm và mồ hôi từ da thịt sẽ làm dập nát lớp lông tơ mong manh tuyệt mỹ ấy. Nàng khẽ nghiêng đầu, đưa bọc lụa lại gần chóp mũi, từ từ nhắm mắt lại và hít vào một hơi thật dài, thật sâu qua lồng ngực.
Một luồng hương khí kỳ lạ, mãnh liệt và cổ kính lập tức ập tới, đánh thức mọi tế bào cảm giác trong nàng. Đó không phải là mùi cốm non thanh ngọt bảng lảng của trà búp đồng bằng, cũng chẳng phải mùi hoa lài, hoa sói ướp hương nồng nàn giả tạo. Nó là một tầng hương sâu thẳm, trầm mặc, dày dặn tựa như mùi của vách đá rêu phong sau cơn mưa đá, phảng phất mùi nhựa thông ngàn năm hòa quyện vào hương khói gỗ bách hong trên gác bếp mộc mạc của đồng bào miền sơn cước. Mùi khói ấy không hề gắt, không vương chút vị khét đắng nào của củi ẩm hay than non, mà mềm mại như một dải lụa mỏng ôm trọn lấy búp trà, làm bật lên hậu vị ngọt lịm, thanh khiết, hoang dại ẩn tàng sâu trong từng thớ diệp lục.
“Phiến lá dày dặn, lông tuyết đan dày như áo cừu, sống lá cứng cáp, gân lá nổi rõ như vân ngọc thạch,” Thanh Hà cất tiếng thì thầm, giọng nói run rẩy niềm thán phục không che giấu. “Lửa sao cực kỳ khéo léo, chỉ mượn hơi ấm của khói gỗ thông già để kìm giữ vị tươi, phong kín sinh khí của mầm non mà không làm sém một sợi tuyết trắng. Mộc Lan tỷ, giống trà này nếu cho vào ấm tử sa lòng dày, dùng nước giếng đá ong gò Thanh Khê đun trên lửa than hoa nhãn vừa độ sôi mắt cua, hạ nhiệt còn tám phần mười để đánh thức hương... nước trà khi rót ra chén ắt sẽ có màu vàng hổ phách trong vắt như mật ong rừng rỏ vào suối ngọc. Uống vào một ngụm, vị chát đằm thắm nơi đầu lưỡi sẽ lập tức tan biến, nhường chỗ cho vị ngọt mát cuộn trào nơi chân răng, thấm đẫm cuống họng suốt mấy canh giờ liền không dứt.”
Gương mặt sương gió của Trần Mộc Lan khẽ giãn ra, những nếp nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt và vầng trán xô lại thành một nụ cười hiếm hoi nhưng ngập tràn vẻ mãn nguyện, tự hào:
“Đúng là người có đôi tai nghe được tiếng nói của lá trà! Con mắt của muội sắc hơn cả kéo bấm của thợ lành nghề. Mụ họ Tống bên Nghênh Xuân và đám thương lái huyện dưới chỉ nhìn thấy món lợi trước mắt, nhìn thấy cái danh xưng trà hiếm để bày lên sập gụ tiếp đãi quan viên hòng kiếm bạc vạn, chứ chúng nó biết thế nào là cái hồn của mầm trà vách đá! Nửa tháng trước, mụ sai tên quản sự mang hẳn năm mươi lượng bạc trắng lên gõ cửa xưởng của ta, mắt ta còn chẳng buồn liếc tới một cái. Giống trà này ngậm khí lạnh của trời, tính tình quật cường nhưng cũng đỏng đảnh vô cùng. Ba cây đại thụ ấy, mỗi vụ xuân ta trèo thang dây vắt vẻo trên bờ vực hái cật lực cũng chỉ được ba mươi đến bốn mươi cân lá búp nõn tươi. Về xưởng, sấy bằng kỹ thuật bí truyền gia bảo, chắt chiu lắm mới thu được tám đến mười cân trà khô thượng phẩm.”
Nụ cười trên môi Mộc Lan chợt tắt ngấm, thay vào đó là vẻ u sầu, lo ngại:
“Nhưng khốn nỗi, lớp lông tuyết dày dặn này chính là phúc mà cũng là họa. Hễ rời khỏi núi cao, chỉ cần chạm phải chút hơi ẩm sông ngòi của miền hạ lưu, lớp tuyết kia sẽ lập tức hút no nước, thâm đen sì lại, mùi khói thơm biến thành mùi mốc chua nồng. Nếu giao trà này vào tay những kẻ chỉ biết ném tiền qua cửa sổ, chất đống trong những kho hàng ẩm thấp ven sông cho mục nát rồi chê bai ép giá... thì ta thà để búp trà già đi trên vách đá rụng xuống làm phân bón cho cây rừng, còn hơn ném ngọc quý của tổ tiên vào vũng bùn lầy!”
“Bà chủ Trần nói nghe thật khảng khái, nhưng bảo Trà lâu Nghênh Xuân ta ném ngọc vào bùn thì e là lời lẽ có phần cay nghiệt quá rồi đấy.”
Một giọng nói lanh lảnh, sắc sảo như lưỡi kéo cắt lụa bất thần vang lên từ phía sau những cành liễu rủ ven doi cát.
Những nhánh liễu mảnh mai đung đưa gạt sang hai bên, để lộ bóng dáng Tống Kim Phượng đang thong thả bước ra. Bà chủ lầu trà lớn nhất bến Vọng Giang hôm nay khoác chiếc áo lụa hoa màu nguyệt bạch thêu chỉ bạc lấp lánh nơi vạt áo, búi tóc kết hình mây cài một chiếc trâm ngọc bích sáng bóng, phong thái đoan trang, kiêu kỳ nhưng từng bước chân lại dứt khoát, vững vàng không một chút do dự. Đi ngay sát sau gót bà ta là gã quản sự béo tốt mặt đỏ gay vì mồ hôi, hai tay đang ôm khư khư một chiếc tráp gỗ trắc đen bóng khảm xà cừ, vẻ mặt vừa cung kính vừa kiêu căng.
Thanh Hà và Mộc Lan đồng loạt giật mình quay lại. Bàn tay Mộc Lan thoăn thoắt khép chặt mảnh lụa chàm, giấu biến bọc trà vào sâu trong lớp áo tơi, đôi mày rậm nhíu chặt lại thành một đường thẳng tắp, ánh mắt nhìn kẻ vừa tới tràn ngập vẻ đề phòng, cẩn trọng.
Tống Kim Phượng bước đến gần mép nước bãi cát, chiếc giày thêu hoa sen khẽ dừng lại cách mũi thuyền nan chừng vài bước. Ánh mắt bà ta lướt qua bọc áo tơi của Mộc Lan, rồi chậm rãi dừng lại trên gương mặt điềm tĩnh của Thanh Hà. Không còn vẻ căng thẳng, cay cú như lúc nếm bát nước trà giếng đá ong nơi rạp thi trưa nay, ánh mắt Tống Kim Phượng giờ đây đã lấy lại sự sắc bén, lạnh lùng và đầy toan tính của một thương nhân lọc lõi, kẻ đã từng khuynh đảo mọi mối buôn trà lớn nhỏ suốt mười dặm bến sông này.
“Bà chủ Trần,” Kim Phượng mở lời, ngữ điệu nhàn nhạt nhưng ẩn chứa một sức ép vô hình đè nặng lên không gian hoang vắng, “nửa tháng trước ta sai người gánh bạc lên núi, bà đóng chặt cửa cự tuyệt, bảo rằng trà chưa đủ độ chín. Hôm nay, sau khi tận mắt chứng kiến Quán trà Thanh Hà đoạt giải cao nhất về độ thuần khiết của nước vị nơi rạp thi, ta mới vỡ lẽ vì sao bà lại lần lữa không chịu hạ bút đặt dấu tay. Nghênh Xuân của ta đứng chân ở khúc sông sầm uất nhất bến bờ tây, lầu son gác tía, khách khứa toàn bậc quyền quý, thuyền buôn Nam Bắc dập dìu. Muốn giữ vững vị thế đệ nhất trà lâu, ta không thể thiếu một phẩm trà độc nhất vô nhị để định danh thiên hạ, đè bẹp mọi sự xoi mói của đám lái buôn phương xa.”
Nói đoạn, Tống Kim Phượng khẽ nghiêng đầu ra hiệu. Gã quản sự béo tốt hiểu ý ngay tắp lự, lập tức tiến lên một bước dài, đặt mạnh chiếc tráp gỗ trắc lên một phiến đá tảng phẳng phiu cạnh mép nước. Gã đưa ngón tay béo múp bật lẫy khóa đồng cái “tách” giòn tan.
Chiếc nắp tráp bật mở. Bên trong lót một lớp gấm đỏ thêu hoa văn chỉ vàng rực rỡ, và ngự trị trên nền gấm ấy là mười đĩnh bạc trắng nguyên bảo loại mười lượng một đĩnh, được đúc vuông vức, lấp lánh ánh kim loại lạnh buốt dưới ánh mặt trời rọi xiên. Mười đĩnh bạc xếp thành hai hàng ngay ngắn, sáng lóa đến chói mắt. Tròn một trăm lượng bạc trắng ròng rã.
Hơi thở của Trần Mộc Lan nghẹn ứ lại nơi lồng ngực. Một trăm lượng bạc trắng! Đối với một người làm vườn miền sơn cước quanh năm chỉ quen bán từng lạng trà đổi lấy gạo muối, tấm vải mộc và nông cụ bằng sắt, đây là một gia tài khổng lồ ngoài sức tưởng tượng. Một trăm lượng bạc đủ để bà chuộc lại toàn bộ nửa sườn đồi phía nam mà cha ông từng phải cầm cố năm mất mùa, đủ để mua thêm hàng trăm tấm nong tre, dựng lại dãy lò sấy gạch chỉ kiên cố, thậm chí thuê mướn thêm vài chục thợ hái lành nghề từ thượng nguồn về bao trọn vụ thu hoạch năm sau. Đó là giấc mơ cả đời của người trồng chè vách núi.
Thế nhưng, ánh mắt của Tống Kim Phượng khi nhìn xuống đống bạc ấy lại lạnh băng, tựa như ánh mắt của một tay thợ săn lành nghề vừa ném miếng mồi béo bở xuống trước miệng chiếc bẫy sắt.
“Một trăm lượng bạc ròng đặt cọc ngay tại chỗ,” Tống Kim Phượng gằn từng tiếng, ngón tay đeo nhẫn ngọc gõ nhẹ lên mép gỗ trắc từng nhịp đều đặn. “Nhưng đi kèm với số bạc này là một bản giao kèo bao tiêu độc quyền trong thời hạn năm năm. Toàn bộ sản lượng thu hái được từ ba gốc trà cổ thụ vách Mây Rủ, từ tuần lộc xuân đầu tiên cho tới lá búp mùa hè, xưởng trà họ Trần của bà chỉ được phép cung cấp duy nhất cho một mình Trà lâu Nghênh Xuân. Tuyệt đối không được bán ra ngoài dù chỉ một lạng, không được dấm dúi cho bất kỳ trà quán nào khác ven bờ đông hay các thuyền lái buôn vãng lai. Nếu để phát hiện một nhúm trà Mây Rủ lọt ra thị trường mà không qua tay Nghênh Xuân, khế ước ghi rõ: vườn trà của bà sẽ phải bồi thường gấp mười lần số bạc cọc này—đúng một ngàn lượng bạc trắng! Giấy trắng mực đen, có chữ ký của dịch trạm và nha môn huyện làm chứng.”
Kim Phượng tiến thêm một bước, nụ cười trên môi bà ta cong lên đầy vẻ áp đảo:
“Bà chủ Trần, một trăm lượng này đủ để bà ngồi rung đùi ăn trắng mặc trơn suốt nửa đời còn lại. Cần gì phải nhọc công lặn lội xuống bến đò này, đứng nơi đầu sóng ngọn gió để nài ép từng đồng bạc cắc từ những túp lều cỏ không có nổi một chiếc bàn gỗ tử tế?”
Gió sông bỗng thổi giật một cơn dữ dội, làm lớp áo tơi bằng lá sồi của Mộc Lan bay phần phật, va vào nhau lạo xạo. Người đàn bà miền núi nhìn chằm chằm vào tráp bạc sáng lóa, rồi lại ngước nhìn sang Thanh Hà đang đứng lặng im bên cạnh. Đôi mắt nâu sẫm của Mộc Lan co thắt lại trong một cơn giằng xé nội tâm ghê gớm. Bạc trắng lóa mắt thật, nhưng từng lời nói của Kim Phượng rơi vào tai bà lại chẳng khác nào những sợi dây thừng bện bằng da trâu đang siết chặt dần lấy cổ họng.
Bao tiêu độc quyền năm năm! Phạt bồi hoàn gấp mười lần nếu thiếu hụt sản lượng hoặc lọt hàng ra ngoài! Làm nghề nông, sống dựa vào vạt rừng đầu ngọn gió, ai dám vỗ ngực xưng tên bảo đảm trời đất sẽ mãi mưa thuận gió hòa? Chỉ cần một mùa đông giá rét kéo dài khiến sương muối táp cháy ngọn non, chỉ cần một trận bão đá quét qua vách đá Mây Rủ làm rụng sạch lá búp, hoặc một đợt sâu róm hoành hành... thì ba cây cổ thụ lấy đâu ra đủ số lượng trà khô để giao nộp cho Nghênh Xuân? Khi ấy, một ngàn lượng bạc tiền phạt treo lơ lửng trên đầu sẽ lập tức đè nát cả gia tộc họ Trần, nuốt chửng toàn bộ đồi chè, nương rẫy mồ hôi nước mắt của tổ tiên bà xuống vực thẳm không đáy!
Chưa kể, Mộc Lan không bao giờ quên bài học cay đắng của phường trà bờ tây năm ngoái. Tống Kim Phượng từng ký giao kèo thu mua ba mươi sọt trà hè của xưởng họ Lưu, nhưng khi thuyền chở trà vừa cập bến Vọng Giang gặp đúng đợt mưa rào, kho bãi ẩm thấp làm trà ngậm hơi nước, mụ ta liền vin vào cớ trà bị biến chất để hạ giá xuống còn một phần ba, dồn xưởng họ Lưu vào bước đường cùng phải bán xới bỏ xứ mà đi. Đối mặt với một kẻ thương trường tàn nhẫn và nhiều mưu mô như Kim Phượng, một người đàn bà chỉ biết trèo cây hái trà như bà làm sao nắm chắc phần thắng?
Thanh Hà đứng bên mạn thuyền, nàng nhìn thấy trọn vẹn từng nét biến đổi trên gương mặt của Mộc Lan: từ thảng thốt, dao động trước đống của cải bất ngờ, cho đến nỗi sợ hãi, bế tắc tột cùng trước chiếc thòng lọng vô hình đang siết lại. Nàng cũng thấu hiểu sâu sắc hiểm họa đang rình rập Quán trà Thanh Hà. Nếu để Nghênh Xuân độc chiếm toàn bộ nguồn trà cổ thụ Mây Rủ, quán trà nhỏ của nàng ở bờ đông sẽ vĩnh viễn bị giam hãm trong phân khúc trà bình dân vài đồng một bát, mãi mãi không bao giờ có được thứ “linh hồn” độc lập để bước lên hàng danh trà, không thể tạo dựng được tên tuổi vững chắc giữa dòng chảy thương nghiệp ngày càng khắc nghiệt trên bến Vọng Giang.
Thế nhưng, Thanh Hà không hề vội vã cất lời phản bác một cách bồng bột. Nàng biết rõ, ở chốn thương trường sặc mùi bạc tiền này, dùng tình cảm suông hay lòng thương hại của kẻ nghèo để ngăn cản một vụ buôn bán lớn chỉ là trò cười ấu trĩ. Kẻ mạnh nói chuyện bằng tiền, thì người khôn ngoan phải nói chuyện bằng sự an nguy sống còn của chính những đồng tiền ấy.
Nén chặt hơi thở, Thanh Hà khẽ chỉnh lại vạt áo, tiến lên nửa bước thật khoan thai. Nàng đứng ngang hàng với Mộc Lan, khẽ cúi đầu hành lễ theo đúng quy củ của người làm nghề trà đối với bậc đàn chị trong nghề, rồi ngẩng lên nhìn thẳng vào đôi mắt sắc lạnh của Tống Kim Phượng. Giọng nàng cất lên trong trẻo, trầm tĩnh nhưng rành rọt từng tiếng, át cả tiếng sóng vỗ ì oạp dưới chân thuyền:
“Tống nương tử quả nhiên là bậc hào phú danh bất hư truyền của bến Vọng Giang, một trăm lượng bạc trắng mở tráp ra không hề chớp mắt, thành ý ấy thật khiến người ta kinh ngạc. Thế nhưng, bản giao kèo độc quyền năm năm cùng mức phạt một ngàn lượng này, nếu hạ bút ký xuống hôm nay, muội e rằng không chỉ Mộc Lan tỷ tỷ phải nơm nớp lo sợ ngày tàn gia bại sản, mà ngay cả Trà lâu Nghênh Xuân của bà cũng đang tự dỡ đá ghè chân mình, chuốc lấy hiểm họa khó lường.”
Tống Kim Phượng nhướn đôi mày lá liễu thanh mảnh, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười nửa giễu cợt nửa tò mò, ngón tay gõ trên tráp bạc bỗng dừng bặt:
“Ồ? Cô chủ Liễu lại định dùng tài ăn nói để mê hoặc lòng người đấy ư? Quán trà của cô cả ngày bán được mấy mươi bát nước chè tươi, đếm từng đồng tiền kẽm rỉ sét, lấy tư cách gì mà đứng đây bàn chuyện an nguy với Trà lâu Nghênh Xuân? Tiền trao cháo múc, giấy trắng mực đen, có tiền ắt có quyền định đoạt thương cuộc. Nguy hiểm ở chỗ nào, cô nói thử cho ta mở rộng tầm mắt xem?”
“Muội không hề nói bừa để dọa dẫm, mà đang nói về cái lý sinh tử của nghề vận chuyển và chế tác trà đường sông,” Thanh Hà điềm nhiên đáp, ánh mắt nàng vững như bàn thạch, không hề né tránh cái nhìn sắc nhọn của đối phương. “Thứ nhất, giống trà cổ thụ vách Mây Rủ này sinh trưởng hoàn toàn dựa vào khí trời hoang dã. Đã là sản vật của trời, ắt phải chịu sự biến chuyển khôn lường của thời tiết. Năm nào sương muối rơi sớm hay sâu bệnh cắn ngọn, sản lượng thu hoạch sụt giảm chỉ còn một nửa, Mộc Lan tỷ tỷ lấy đâu ra đủ số lượng trà khô theo hạn ngạch cứng nhắc để bù đắp cho bà? Khi ấy, mang nhau ra chốn công đường nha môn, Nghênh Xuân dù có ép người ta đền bạc thì cũng chẳng có lấy một lạng trà quý để bán cho khách sang, danh tiếng lầu trà bị tổn hại vì thất hứa với khách; còn người trồng chè thì tan cửa nát nhà. Đó là lối làm ăn triệt đường sống của bạn hàng, đôi bên cùng bại, há phải là đạo kinh doanh bền vững của bậc đại thương?”
Tống Kim Phượng khẽ biến sắc, con ngươi hơi co lại. Lời Thanh Hà đánh trúng vào nỗi lo canh cánh bấy lâu nay của các phường buôn lớn khi bao tiêu nông sản miền núi. Nhưng chưa để Kim Phượng kịp cất lời thanh minh, Thanh Hà đã cất cao giọng, từng lời từng chữ đanh thép như búa bổ:
“Thứ hai—và đây mới là điểm chí mạng đối với Nghênh Xuân—chính là hiểm họa kho bãi và chặng đường thủy từ Tây Lĩnh về bến sông này! Búp trà Mây Rủ lá dày, nội chất đậm, nhưng lớp lông tuyết phủ ngoài lại mịn màng và háo nước gấp ba lần trà búp thông thường. Từ vách núi Tây Lĩnh xuống tới bến đò Vọng Giang phải qua ba chặng đò ngang, hai khúc thác ghềnh hiểm trở. Hiện nay đang là tiết tháng Hai, tháng Ba, mưa phùn dầm dề, hơi nước trên mặt sông bốc lên mù mịt như sương muối. Nếu chở trà bằng thuyền nan thô sơ không có vách ngăn sấy than chuyên biệt, hoặc khi về đến bến bờ tây mà phải nằm chờ trong kho trung chuyển quá ba ngày nồm ẩm, toàn bộ số lông tuyết kia sẽ hút no hơi nước, mốc ngầm từ trong lõi lá mà mắt thường không thể thấy ngay được.”
Thanh Hà dừng lại một nhịp, ánh mắt nàng chiếu thẳng vào vết thương lòng chưa lành của Tống Kim Phượng:
“Năm ngoái, vụ ba mươi sọt trà hè của Nghênh Xuân bị hỏng mốc biến chất trong kho bến bãi, thiệt hại bạc trăm, khiến việc tu sửa tầng hai của trà lâu phải đình trệ suốt mấy tháng ròng, chuyện đó dân buôn khắp bến sông này ai mà không biết? Nếu hôm nay Tống nương tử tham công, ôm trọn toàn bộ ba mươi, bốn mươi cân trà tươi quý giá này về chất đầy kho bờ tây, gặp đúng tuần mưa dầm đầu hạ làm trà biến sắc chua nồng... thì một trăm lượng bạc trắng trong chiếc tráp kia, chẳng phải sẽ như nắm muối bỏ vào dòng nước sông Vọng Giang, tan biến không còn một mảnh tăm hơi hay sao?”
Từng câu, từng chữ của Thanh Hà rơi ra rành rọt, chuẩn xác đến lạnh người. Chúng không phải là những lời suy đoán vô căn cứ, mà là sự am hiểu tường tận đến chân tơ kẽ tóc về đặc tính của từng búp trà, về con nước bến sông, và về cả tình hình tài chính thực tế của Trà lâu Nghênh Xuân. Đúng vậy, món nợ tiền gỗ và công thợ tu sửa tầng hai lầu trà từ năm ngoái đến nay Nghênh Xuân vẫn chưa thanh toán dứt điểm cho phường thợ mộc hạ lưu. Nếu năm nay vì lòng tham độc quyền mà dồn toàn bộ vốn liếng ôm trọn số trà đắt đỏ này, rủi ro nồm ẩm ập đến sẽ là đòn đánh sập toàn bộ dòng tiền của Nghênh Xuân.
Trần Mộc Lan đứng bên cạnh nghe như mở cờ trong bụng, bà đập mạnh bàn tay chai sạn lên đùi cái “đét”, giọng nói vang lên dứt khoát:
“Cô chủ Liễu nói trúng tim đen ta rồi! Trà này là giọt máu của vách đá, ta coi nó quý hơn cả mạng sống của mình. Ta thà bán ít đi một chút, ăn chắc mặc bền, nhìn thấy từng cân trà của mình đến tay người tri kỷ thưởng thức trọn vẹn phong vị thanh cao, còn hơn là giao hết vào tay một mối duy nhất rồi ngày đêm mất ăn mất ngủ, nơm nớp lo trời làm mất mùa hay mưa dầm làm ướt kho bãi để rồi bị gánh cái án phạt một ngàn lượng bạc lên đầu!”
Khí thế áp đảo ban đầu của Tống Kim Phượng hoàn toàn bị bẻ gãy. Gương mặt trang điểm phấn nụ kiêu kỳ của bà ta khẽ co giật, nụ cười biến mất hoàn toàn, đôi môi mỏng mím chặt lại thành một vệt dài. Ánh mắt Kim Phượng nhìn Thanh Hà không còn vẻ khinh nhờn của kẻ bề trên nhìn kẻ bần hàn, mà đã ánh lên tia lạnh lùng xen lẫn sự kiêng dè tột bậc trước một đối thủ thương trường có tầm nhìn vượt xa tuổi đời.
“Hừ, cô chủ Liễu quả nhiên miệng lưỡi sắc bén, phân tích thiệt hơn đâu ra đấy,” Tống Kim Phượng lạnh lùng cất giọng, cố vớt vát lại uy thế. “Nhưng thương trường không phải nơi để nói chuyện viển vông. Cô vạch ra trăm mối nguy hại như thế, chẳng lẽ chỉ là để khuyên bà chủ Trần mang trà về núi giấu kỹ trong chum? Đừng nói với ta là cô muốn chia phần miếng bánh này, trong khi cái quán trà lụp xụp bờ đông của cô thậm chí còn không gom nổi mười lượng bạc để đặt cọc cho nhà vườn đấy nhé!”
“Muội đương nhiên không có sẵn một trăm lượng bạc trắng để phô trương như Nghênh Xuân,” Thanh Hà mỉm cười điềm đạm, đôi mắt nàng sáng ngời một niềm tin son sắt, “nhưng muội có một phương kế vẹn toàn đôi bên, bảo đảm cho trà của Mộc Lan tỷ tỷ không bị rớt giá, Nghênh Xuân của bà giữ được vị thế tôn quý, mà rủi ro kho bãi thì được san sẻ đến mức thấp nhất: Một bản Khế ước ba bên minh bạch!”
“Khế ước ba bên?” Kim Phượng nhíu mày, ánh mắt lộ vẻ nghi hoặc.
“Phải, khế ước ba bên,” Thanh Hà cất giọng rành rẽ, ngón tay khẽ vạch từng đường dứt khoát trong không khí. “Thay vì một bên ép giá, ôm đồm độc quyền để rồi gánh trọn rủi ro thiên tai ẩm ướt, chúng ta chia hạn ngạch thu mua hợp lý theo từng đợt hái thực tế của vườn chè. Đợt hái đầu tiên trước tiết Thanh Minh—đợt trà búp nõn lông tuyết phẩm cấp cao nhất, sản lượng dự kiến chừng tám đến mười cân khô—Nghênh Xuân mua sáu phần để phục vụ tầng lớp quan lại, phú thương nơi lầu cao gác tía; Quán trà Thanh Hà gom vốn mua bốn phần để phục vụ khách sành trà bờ đông và định danh thương hiệu. Đến đợt hái thứ hai sau Thanh Minh, tỷ lệ chia đều năm — năm. Chúng ta cùng nhau lập một mức giá sàn cố định cho xưởng chè Tây Lĩnh, dù thị trường huyện ngoài có biến động trồi sụt thế nào, giá thu mua tận tay Mộc Lan tỷ tỷ tuyệt đối không bị sụt giảm dù chỉ một đồng.”
Thanh Hà dừng lại một nhịp, nàng nhìn thẳng vào mắt Tống Kim Phượng, nhấn mạnh từng từ ngữ then chốt:
“Và điều quan trọng nhất để giải quyết triệt để mối lo hỏng mốc đường sông: Hai bên chúng ta cùng góp chi phí thuê khoang thuyền kín chuyên dụng của Thương đoàn Tây Lĩnh! Trên khoang thuyền ấy, đáy lót ba lớp rơm khô phủ vôi bột tôi kỹ để hút cạn hơi ẩm mặt sông; trà khô được đóng vào các thùng gỗ thông nẹp chặt bằng sáp ong và bọc hai lớp vải dầu nhũ tương. Chi phí đóng thùng chống ẩm và tiền công thuê khoang áp tải, Nghênh Xuân và Quán trà Thanh Hà sẽ chia đều theo tỷ lệ hạn ngạch thu mua. Thuyền chở trà về tới bến Vọng Giang, bên nào nhận phần nấy ngay tại cầu tàu, tự chịu trách nhiệm lưu kho và pha chế theo phong cách riêng của mình.”
Nàng thở nhẹ ra một hơi, giọng nói trở nên ấm áp nhưng đầy uy lực thuyết phục:
“Như vậy, Mộc Lan tỷ tỷ bảo đảm được đầu ra ổn định, có tiền bạc trao tay mà không phải lo án phạt mất mùa đè nặng; Tống nương tử vừa có được phẩm trà thượng hạng độc nhất vô nhị để giữ vững vị thế đàn chị bờ tây, lại vừa cắt giảm được hơn nửa gánh nặng đọng vốn và triệt tiêu hoàn toàn nỗi sợ hư hỏng kho bãi mùa mưa dầm; còn Quán trà Thanh Hà chúng muội có cơ hội vươn lên cạnh tranh bằng tài nghệ pha chế chân chính. Đôi bên cùng có lợi, người làm trà được tôn trọng, bến Vọng Giang giữ được hòa khí. Tống nương tử thấy phương kế ấy có đáng để cùng ngồi lại bàn bạc hay không?”
Gió sông như ngừng thổi. Không gian bên mép cát bồi rơi vào một khoảng lặng tuyệt đối, chỉ còn nghe tiếng nước vỗ bì bọp vào lườn thuyền nan và tiếng xào xạc mơ hồ của những ngọn lau sậy rạp mình trong gió.
Tống Kim Phượng đứng chôn chân trên bãi cát, ánh mắt đảo qua đảo lại giữa gương mặt tự tin ngời sáng của Thanh Hà và ánh mắt kiên định của Mộc Lan. Là một người đàn bà từng trải, cả đời tính toán từng cắc bạc vụn để dựng nên cơ nghiệp Trà lâu Nghênh Xuân bề thế như ngày hôm nay, Kim Phượng thừa thông minh để nhận ra sự lợi hại khôn lường trong phương án mà Thanh Hà vừa vạch ra.
Bao tiêu độc quyền nghe thì oai phong lẫm liệt thật đấy, nhưng nó là con dao hai lưỡi có thể cứa đứt mạch máu tài chính của Nghênh Xuân bất cứ lúc nào nếu thời tiết trở chứng. Phương án chia sẻ hạn ngạch tuy tước đi quyền độc chiếm ngạo nghễ của bà ta, nhưng đổi lại, nó bẻ gãy hoàn toàn rủi ro vỡ nợ, chia sẻ một nửa chi phí vận chuyển đường thủy đắt đỏ, và quan trọng nhất: việc áp dụng kỹ thuật đóng thùng lót vôi sống cùng thuyền buôn chuyên dụng sẽ bảo đảm từng cân trà quý về đến bến sông đều giữ nguyên được phẩm cấp thượng hạng.
“Một đề xuất vô cùng thấu đáo, chặt chẽ và thấu hiểu sâu sắc quy luật vận tải đường sông.”
Một giọng nói trầm ấm, đĩnh đạc và quen thuộc bất ngờ vang lên từ phía sau hàng dương liễu cổ thụ.
Mọi ánh mắt trên bờ cát lập tức quay phắt về hướng âm thanh vừa phát ra. Cành liễu khẽ lay động, và Hàn Thụy sải những bước chân dài, vững chãi bước ra bãi cát.
Chàng đã cởi bỏ chiếc áo dài gấm thêu hoa văn tinh xảo cùng dải ngọc bội dành riêng cho vị giám khảo hội thi lúc ban trưa. Lúc này, Hàn Thụy khoác trên mình bộ y phục vạt chéo màu xanh chàm mộc mạc của giới thương nhân đường sông, ống tay áo buộc gọn ghẽ bằng dải lụa đen, mái tóc búi cao bằng trâm gỗ đàn hương, phong thái trầm ổn, đĩnh đạc tựa như một tảng đá ngầm ngàn năm sừng sững giữa dòng nước xiết. Đi sau lưng chàng là một tiểu đồng thông minh, nhanh nhẹn, hai tay đang cẩn thận ôm một chiếc bàn xếp nhỏ bằng gỗ thông và hộp bút nghiên, giấy lệnh của Thương đoàn Tây Lĩnh.
Hàn Thụy bước tới trước mặt mọi người, dừng lại cách Thanh Hà chừng hai bước chân. Ánh mắt chàng lướt qua nàng thật nhanh, đáy mắt sâu thẳm ánh lên một tia ấm áp và tán thưởng kín đáo, nhưng rồi ngay lập tức, chàng thu hồi vẻ dịu dàng ấy lại, thay bằng nét mặt nghiêm cẩn, chuyên nghiệp và đầy uy quyền của một người nắm giữ trọng trách vận hành thương trường lớn:
“Ta vừa đứng sau rặng liễu, nghe trọn vẹn từng lời phân tích thiệt hơn của cô chủ Liễu. Với tư cách là người chịu trách nhiệm điều phối mạng lưới vận tải thủy và giao dịch hàng hóa của Thương đoàn Tây Lĩnh trên toàn bộ lưu vực sông Vọng Giang này, ta nhận thấy mô hình liên kết ba bên ấy là giải pháp duy nhất khả thi để đưa giống trà vách đá Mây Rủ ra khỏi thung lũng một cách an toàn và bền vững.”
Hàn Thụy khẽ phất tay áo, ra hiệu cho tiểu đồng đặt chiếc bàn gỗ thông nhỏ xuống một khoảng cát bằng phẳng, trải xấp giấy bản dày dặn cùng nghiên mực son và bút lông ngay ngắn lên mặt bàn. Nhưng ngay khi tiểu đồng vừa mài mực xong, Hàn Thụy bỗng dừng tay lại. Chàng không vội cầm bút, mà đứng thẳng người, đưa mắt nhìn thẳng vào Tống Kim Phượng, rồi nhìn sang Trần Mộc Lan, và cuối cùng dừng lại ở mấy người phu bến đang tò mò dừng thuyền nhìn ngó đằng xa.
Giọng chàng cất lên đanh thép, sang sảng, từng lời rành rẽ vang xa trên mặt sóng, không một chút giấu giếm hay mập mờ:
“Tuy nhiên, trước khi ta chấp bút soạn thảo các điều khoản của bản khế ước ba bên này, có một việc cực kỳ hệ trọng cần phải được công khai minh bạch trước mặt tất cả các vị ở đây, cũng như trước sự chứng giám của quy chế làng buôn bến Vọng Giang!”
Hàn Thụy khẽ dừng lại một nhịp, ánh mắt uy nghiêm quét qua từng người:
“Ta—Hàn Thụy, hiện đang nắm giữ đúng ba phần mười cổ phần trong Thương đoàn Tây Lĩnh, có quyền điều phối thuyền buôn, kho bãi trung chuyển và thủy thủ đoàn từ thượng nguồn về tới tận cửa biển hạ lưu. Nhưng trong thương vụ hợp tác trà cổ thụ ngày hôm nay, Thương đoàn Tây Lĩnh chúng ta tuyệt đối chỉ tham gia với tư cách là bên trung gian thứ ba: cung cấp phương tiện vận tải bảo đảm an toàn kỹ thuật, chịu trách nhiệm bồi thường nếu thuyền đắm hoặc để ngấm nước trên đường đi, và đứng ra làm chứng bảo chứng cho khế ước theo đúng luật lệ giao thương đường thủy.”
Chàng quay hẳn người sang phía Thanh Hà, ánh mắt chàng nhìn nàng tràn đầy sự trân trọng tột cùng đối với một người đồng nghiệp độc lập, giọng nói càng thêm phần dứt khoát, trang nghiêm:
“Cô chủ Liễu Thanh Hà của Quán trà Thanh Hà tham gia vào bản giao kèo này hoàn toàn với tư cách một chủ thể kinh doanh độc lập, tự chủ hoàn toàn về tài chính, nguồn vốn thu mua và phương thức kinh doanh. Giữa Quán trà Thanh Hà và cá nhân ta, cũng như Thương đoàn Tây Lĩnh, tuyệt đối không có bất kỳ thỏa thuận ngầm, không có phụ phí ưu đãi khuất tất, và càng không có sự phụ thuộc hay bao bọc tài chính nào. Cô chủ Liễu có toàn quyền thương lượng, chấp thuận hoặc bác bỏ bất kỳ điều khoản nào bất lợi cho quán của mình!”
Hàn Thụy nhấn mạnh từng chữ cuối cùng, đanh thép như lời thề trước công đường:
“Nếu sau này có bất kỳ kẻ nào buông lời gièm pha, dị nghị rằng Thương đoàn Tây Lĩnh dùng quyền lực, tiền bạc hay phương tiện để nâng đỡ bất minh cho Quán trà bờ đông, làm méo mó trật tự cạnh tranh của bến đò, thì bản khế ước này sẽ lập tức bị hủy bỏ vô điều kiện, và Hàn Thụy ta sẵn sàng bước lên công đường huyện nha, chịu phạt mười trượng vì tội làm nhiễu loạn thị trường buôn bán của bản hạt!”
Lời tuyên bố quang minh chính đại, đanh thép và rạch ròi đến tận cùng ấy như một tiếng sét đánh tan mọi nghi ngại, đập tan mọi lời xì xào to nhỏ hay những mũi dùi hiểm độc có thể chĩa vào sự vươn lên của Quán trà Thanh Hà sau này. Hàn Thụy không chọn cách dùng tiền tài hay quyền thế của mình để “che chở” nàng như một nhánh tầm gửi yếu ớt; chàng chọn cách đứng sang một bên làm người bảo chứng khách quan, dựng nên một ranh giới minh bạch nhất để nàng tự mình đứng vững trên đôi chân của một người làm nghề chân chính.
Trần Mộc Lan thở phào một hơi dài, lồng ngực bà như trút bỏ được cả một tảng đá ngàn cân. Bà nhìn Hàn Thụy với ánh mắt ngập tràn sự kính nể và tin cậy tuyệt đối.
Tống Kim Phượng đứng lặng người, đôi mắt phức tạp nhìn sâu vào Hàn Thụy, rồi lại liếc sang Thanh Hà đang đứng thẳng lưng dưới nắng xuân, tà áo thô bay nhẹ trong gió nhưng ánh mắt rạng ngời vẻ kiêu hãnh và tự chủ. Một tiếng thở dài rất khẽ thoát ra từ lồng ngực người đàn bà chủ Trà lâu Nghênh Xuân. Tiếng thở dài ấy không phải là sự cay cú của kẻ chiến bại, mà là sự nể phục không thể che giấu của một thương nhân lão luyện trước hai con người trẻ tuổi nhưng hành xử đĩnh đạc, quang minh lỗi lạc đến mức không một kẽ hở nào có thể bắt bẻ.
“Được lắm!” Tống Kim Phượng dứt khoát vung nhẹ tay áo lụa, cất giọng sang sảng, phong thái sắc sảo của bà chủ lớn lại trở về trọn vẹn. “Hàn nhị gia đã quang minh chính đại, phân minh công tư như ngọn núi Tây Lĩnh thế này, Tống Kim Phượng ta há lại là kẻ hẹp hòi, không biết nhìn xa trông rộng hay sao? Hàn gia, xin mời người hạ bút! Trà lâu Nghênh Xuân chúng ta chấp thuận bản khế ước ba bên: Đợt hái trước Thanh Minh Nghênh Xuân nhận sáu phần, Quán trà Thanh Hà nhận bốn phần; đợt sau chia đều năm — năm; chi phí chống ẩm thuyền buôn chia theo đầu cân; giá sàn cố định tại xưởng cho nhà vườn của bà chủ Trần không thiếu một đồng tiền kẽm!”
Trần Mộc Lan mừng rỡ đến mức toàn thân run rẩy, hai hốc mắt sâu hoắm của người đàn bà vùng cao bỗng chốc đỏ hoe. Bà bước vội tới, nắm chặt lấy bàn tay nhỏ nhắn nhưng ấm áp của Thanh Hà, đôi bàn tay chai sạn siết chặt lấy tay nàng như siết lấy chiếc phao cứu sinh của cả cơ nghiệp đời mình:
“Thanh Hà muội muội... muội thực sự là ân nhân tái sinh của đồi chè nhà ta! Nếu không có sự thấu suốt và tấm lòng ngay thẳng của muội hôm nay, mầm trà quý của tổ tiên ta hoặc là bị bóp chết trong cảnh bần hàn, hoặc là bị người ta nuốt trọn cả gốc lẫn rễ...”
Thanh Hà mỉm cười dịu dàng, nàng dùng cả hai tay vỗ nhẹ lên mu bàn tay thô ráp của Mộc Lan, ánh mắt ấm áp chân thành:
“Mộc Lan tỷ tỷ đừng nói lời ân nghĩa. Người trồng chè đổ mồ hôi trên vách đá, người pha trà dốc trọn cái tâm bên bếp lò, chúng ta đều là những kẻ sống dựa vào hương vị của đất trời. Người làm nghề chân chính phải biết nắm tay nhau mà vượt qua sóng gió. Có như vậy, bát trà bưng ra cho khách buôn bến sông này mới giữ trọn được cái tình người mộc mạc và phong vị thuần khiết nhất.”
Dưới ánh hoàng hôn vàng rực đang dần buông xuống mặt sông Vọng Giang, ngọn bút lông trong tay Hàn Thụy lướt đi thoăn thoắt trên mặt giấy bản dày. Nét chữ chàng mạnh mẽ, phóng khoáng nhưng rành rọt từng nét, quy định chi tiết từng hạn mức giao hàng, từng quy chuẩn đóng thùng gỗ lót vôi sống, cách thức niêm phong bằng sáp ong, điều khoản giám định chất lượng độc lập ngay tại cầu tàu bến Vọng Giang, và mức giá sàn bảo hộ cho nhà vườn Tây Lĩnh.
Ba bản văn tự giống hệt nhau nhanh chóng được hoàn thành.
Tống Kim Phượng bước tới đầu tiên, nhận bút ký tên rồi rút chiếc ấn đồng chạm khắc hình phượng hoàng của Trà lâu Nghênh Xuân, ấn mạnh một vết chu sa đỏ thắm lên góc giấy. Kế tiếp, Trần Mộc Lan lau khô ngón tay cái chai sần vào vạt áo, chấm đẫm mực chu sa rồi dập một dấu vân tay đỏ rực, vững chãi như một tảng đá cắm sâu vào lòng đất.
Và cuối cùng, Liễu Thanh Hà bước tới chiếc bàn gỗ thông. Dưới ánh nhìn chăm chú đầy tin cậy của Hàn Thụy, nàng cầm lấy ngọn bút lông, nắn nót ký tên mình bằng nét chữ thanh mảnh nhưng cứng cáp phi thường: *Liễu Thanh Hà*. Nàng rút từ trong tay áo ra chiếc triện gỗ mộc nhỏ nhắn khắc bốn chữ “Quán Trà Thanh Hà” mà nàng tự tay đẽo gọt từ ngày đầu dựng quán, dập một dấu son vuông vức lên bản giao kèo.
Hàn Thụy mỉm cười, tự tay ký tên làm chứng với tư cách đại diện vận tải của Thương đoàn Tây Lĩnh, nét chữ sắc bén như lưỡi gươm chốt lại thương cuộc lịch sử ven bờ cát.
Khi Tống Kim Phượng thu lại một bản khế ước, bà quay sang gã quản sự, lạnh lùng ra lệnh đếm ba mươi lượng bạc trắng nguyên bảo từ trong tráp giao thẳng vào tay Trần Mộc Lan làm tiền cọc đợt đầu, bảy mươi lượng còn lại gã quản sự khóa nắp tráp ôm vội về kho.
Trước khi quay gót bước lên bờ đê, Tống Kim Phượng bỗng dừng lại trước mặt Thanh Hà chừng một gang tay. Đôi mắt sắc sảo của bà ta nhìn xoáy vào gương mặt điềm tĩnh của cô gái trẻ, trong đáy mắt ánh lên một tia bướng bỉnh khó thuần phục:
“Cô chủ Liễu, hôm nay trên bờ cát này, ta lại phải chịu thua cô một nước cờ. Nhưng là thua trong sự tâm phục khẩu phục trước lý lẽ và tầm nhìn của cô. Có điều, khế ước ký xong rồi, trà quý về bến chia đều cho đôi bên, cuộc so tài thực sự mới chỉ bắt đầu thôi. Mùa trà xuân này, hãy xem khách sành trà trên bến dưới thuyền, người ta sẽ trầm trồ trước phong vị thanh nhã của Quán trà bờ đông, hay sẽ tiếp tục say đắm trước sự xa hoa, quyền quý của Trà lâu Nghênh Xuân!”
Thanh Hà khẽ cúi đầu đáp lễ, cử chỉ ung dung, đĩnh đạc tựa mặt nước hồ thu:
“Thanh Hà xin rửa chén pha trà, chờ đợi ngày được cùng Tống nương tử luận bàn trà đạo trên bến sông này.”
Tống Kim Phượng khẽ hất tà áo lụa, quay người sải bước rời đi, bóng lưng kiêu hãnh khuất dần sau những rặng liễu rủ đang đung đưa trong gió chiều.
***
Chạng vạng buông xuống khúc sông Vọng Giang nhanh như một cái chớp mắt. Tiếng chuông thu đò từ chiếc thuyền mục của lão lái đò Từ Bá ngân dài từng hồi trầm ấm, lan tỏa trên mặt nước đỏ ối ráng chiều, báo hiệu một ngày chợ phiên và hội thi trà tấp nập đã dần đi vào hồi kết. Sương chiều từ mặt nước bốc lên là là, phủ một tấm màn lam mỏng manh lên những mái thuyền san sát.
Quán trà Thanh Hà mé bờ đông bến đò lúc này vẫn sáng rực ánh lửa bập bùng từ hai chiếc bếp lò đất nung. Mùi thơm giòn tan, ngòn ngọt của mẻ bánh nếp gừng nướng mật mía quyện với hương thơm chát ngọt ngào ngạt của những ấm trà xanh sôi già phả ra nghi ngút, xua tan hoàn toàn cái lạnh buốt của gió sông khi đêm về.
Khách khứa từ hội thi đổ về quán đông nghẹt ngoài sức tưởng tượng. Tiếng nói cười, tiếng chúc tụng, tiếng gọi thêm trà, thêm bánh râm ran khắp một góc bến. Ba dãy bàn tre dài được kê san sát nhau chật kín không còn một chỗ trống; những người khách đến muộn đành phải đứng tựa lưng vào hàng cột tre xiêu vẹo, hoặc ngồi bệt xuống những phiến đá quanh bờ rào cúc tần để chờ đến lượt mình được thưởng thức bát trà nổi tiếng vừa đoạt giải của cô chủ Liễu. Túp lều cỏ vốn đơn sơ, chắp vá bằng mấy tấm tranh tre nứa lá nay trở nên quá chật chội, quá tải rõ rệt trước lượng khách nườm nượp đổ về.
Chị Thục và thím Mộc luôn tay luôn chân bên chum nước và sọt than, người thì thoăn thoắt cọ rửa từng chiếc bát sứ thô cho sạch bóng, người thì quạt lò nướng bánh không ngơi nghỉ, trán ai nấy lấm tấm mồ hôi dù gió ngoài sông thổi vào lạnh ngắt. Ở góc bàn cạnh vách nứa, Liễu Thanh Du đang cặm cụi cúi đầu bên ngọn đèn dầu, ngón tay thoăn thoắt gạt bàn tính gỗ, ngòi bút lông lướt nhanh trên cuốn sổ cái bọc vải xanh để ghi chép từng khoản thu chi trong ngày hội.
Còn Tiểu Mãn—con bé như một chú chim sẻ nhỏ lanh lợi và hoạt bát—hai bàn tay thoăn thoắt bưng chiếc khay tre đựng đầy những bát trà nóng hổi, luồn lách uyển chuyển qua từng kẽ bàn chật hẹp mà không làm rớt một giọt nước ra ngoài. Nụ cười rạng rỡ luôn nở trên môi em, tiếng chào hỏi giòn tan, lễ phép vang lên không ngớt:
“Bác lái buôn thuyền muối ơi, trà đậm của bác đây ạ! Nước sôi vừa độ, bác uống chậm kẻo bỏng môi nhé!”
“Cụ đồ ngồi góc trong, con mang thêm cho cụ hai chiếc bánh nếp nướng mật mía nóng hổi đây ạ!”
Giữa lúc quán trà đang rộn rã, tấp nập như con thoi, một bóng người cao gầy, khoác chiếc áo bào màu xám tro giản dị của nha môn, dáng điệu nghiêm cẩn và mực thước từ từ bước qua ngạch cửa quán.
Đó chính là Thư lại Vũ Chính An.
“Vũ đại nhân!” Liễu Thanh Du ngẩng đầu lên khỏi cuốn sổ cái, vừa nhận ra người bước vào liền vội vã buông ngọn bút lông, toan đứng dậy vòng tay hành lễ.
Vũ Chính An khẽ xua tay, nụ cười hiếm hoi thoáng hiện trên gương mặt chữ điền vốn nghiêm nghị, sắt đá chốn công đường. Người thư lại nhìn quanh quán trà ấm cúng, hít sâu một hơi mùi khói bánh nếp gừng rồi chậm rãi cất giọng ôn tồn:
“Thanh Du cô nương cứ tự nhiên làm việc, không cần đa lễ. Ta vừa đi kiểm tra một lượt các thuyền hàng và chốt sổ bến bãi sau hội thi, đi bộ rạc cả cẳng, cổ họng khô rát nên ghé vào đây xin cô chủ một bát nước chè xanh làm ấm bụng thôi.”
Thanh Hà đang đứng trông coi ấm nước giếng trên bếp lò, nghe tiếng Vũ Chính An liền vội vàng bước ra. Nàng tự tay tráng sạch một chiếc bát sành màu da lươn bằng nước sôi, nghiêng chiếc ấm đất nung rót ra một bát trà xanh ngọt hậu sóng sánh, đặt ngay ngắn lên một chiếc đĩa tre con rồi cung kính bưng tới chiếc bàn nhỏ kê sát khung cửa sổ nhìn thẳng ra dòng sông Vọng Giang:
“Mời Vũ tiên sinh dùng nước. Hôm nay hội thi diễn ra suôn sẻ, trên bến dưới thuyền trật tự yên bình, bà con tiểu thương buôn bán thuận lợi, quả thực là nhờ công lao tuần sát và điều phối công tâm không quản ngày đêm của tiên sinh.”
Vũ Chính An ngồi xuống chiếc ghế tre, hai bàn tay đón lấy bát nước trà nóng hổi. Ông khẽ nhắm mắt, nâng bát trà lên ngang mũi để cảm nhận hơi ấm và làn hương thanh khiết bốc lên nghi ngút, rồi nhấp một ngụm nhỏ. Vị ngọt mát sâu thẳm của nước giếng đá ong Thanh Khê hòa cùng vị chát dịu êm của lá chè xanh như gột rửa hết mọi bụi bặm và mệt mỏi sau một ngày dài lăn lộn ngoài mưa nắng.
Đặt chiếc bát xuống mặt bàn tre, Vũ Chính An khẽ gật đầu, ánh mắt nhìn Thanh Hà tràn đầy sự tán thưởng chân thành:
“Nước ngọt, trà thơm, tâm người nấu lại ngay thẳng, sáng trong. Thảo nào mà khách buôn trên bến dưới thuyền, từ kẻ phu phen cho tới người sang trọng, ai ai cũng tìm về quán của cô để tìm lấy một chút thanh tịnh giữa chốn xô bồ. Nhưng Thanh Hà cô nương này, ta ghé qua đây lúc chiều muộn thế này, ngoài việc uống bát nước trà cho đỡ khát, còn có một chuyện công vụ cực kỳ trọng đại cần thông tri riêng cho cô.”
Thanh Hà khẽ giật mình. Trái tim nàng bỗng thắt lại một nhịp, hai bàn tay giấu dưới tà tạp dề vô thức đan chặt vào nhau. Nàng ngồi xuống chiếc ghế tre đối diện, lưng giữ thẳng, ánh mắt chăm chú nhìn vào nét mặt của người thư lại huyện nha:
“Dạ, tiên sinh có điều chi chỉ giáo? Thanh Hà xin rửa tai lắng nghe.”
Vũ Chính An không nói ngay. Ông khẽ đưa mắt nhìn về phía góc quán, nơi Tiểu Mãn đang cặm cụi dùng chiếc khăn vải thô lau khô từng chiếc bát sứ, đôi mắt con bé thỉnh thoảng lại lén nhìn về phía bàn của nàng với vẻ rụt rè, tò mò. Người thư lại huyện nha hạ thấp giọng xuống, chỉ đủ cho hai người đối diện nghe thấy, nhưng từng lời thốt ra lại vô cùng chắc nịch, đĩnh đạc:
“Hồ sơ xác minh nguồn gốc, lai lịch và thân thế của đứa trẻ tên Tiểu Mãn mà cô đệ trình lên huyện nha đúng ba tháng trước... hôm nay đã có kết quả xác minh thư tịch chính thức từ các nha môn.”
Trái tim Thanh Hà như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Nàng nín thở, lồng ngực phập phồng, hai bàn tay đặt trên mặt bàn tre khẽ run rẩy:
“Thưa tiên sinh... kết quả... kết quả thế nào ạ?”
“Ba tháng trước, sau khi nhận đơn xin xác nhận nuôi dưỡng của cô,” Vũ Chính An chậm rãi nói, giọng ông đều đặn như đang đọc một bản án trước công đường, “ta đã đích thân chấp bút, nhân danh quan Huyện lệnh phát công văn điều tra gửi tới nha môn ba huyện lân cận dọc theo triền sông. Đồng thời, theo đúng điều lệ hình tịch và luật tục cưu mang của triều đình, ta đã cho niêm yết thông cáo tìm thân nhân của đứa trẻ tại khắp các bến đò, bến chợ, từ thượng nguồn Tây Lĩnh cho tới cửa sông hạ lưu suốt đúng một trăm ngày ròng rã.”
Vũ Chính An nhìn sâu vào đôi mắt đang rưng rưng của Thanh Hà, khóe môi ông khẽ giãn ra thành một nụ cười đôn hậu:
“Thời hạn niêm yết thông cáo một trăm ngày đã chính thức kết thúc vào giờ Ngọ ngày hôm qua. Suốt một trăm ngày ấy, không có bất kỳ ai đến huyện nha khiếu nại, không có bất kỳ gia tộc nào tìm nhận huyết thống, và cũng tuyệt đối không có bất kỳ chủ lò gạch, chủ xưởng hay phường buôn nào đến tranh chấp quyền quản thúc hay đòi tiền chuộc thân đối với con bé.”
Một luồng dưỡng khí mát lành như tràn ngập vào buồng phổi Thanh Hà, làm tan biến hoàn toàn nỗi lo âu, thấp thỏm đã đè nặng lên tâm can nàng suốt bao tháng ngày qua. Đứa trẻ lang thang tội nghiệp ấy—con bé từng phải co ro ngủ trong những hốc kho than đầy chuột bọ ngoài bến đò, từng phải nhặt nhạnh từng mẩu bánh thừa ôi thiu nơi xó chợ, từng bị những trận đòn roi tàn nhẫn của đám ma cùi xua đuổi... cuối cùng đã thực sự thoát khỏi bóng ma của quá khứ tăm tối! Con bé đã an toàn, vĩnh viễn an toàn dưới mái nhà này.
“Điều đó... điều đó có nghĩa là...” Cổ họng Thanh Hà nghẹn lại, nàng ngập ngừng, giọng nói run rẩy trong niềm xúc động nghẹn ngào.
“Điều đó có nghĩa là, trên toàn bộ sổ bộ hộ tịch và hồ sơ hình tịch của huyện nha Thanh Lâm, đứa trẻ này đã được quan phụ mẫu chuẩn y, chính thức xác nhận là trẻ vô thừa nhận hợp pháp,” Vũ Chính An gật đầu dứt khoát.
Nói đoạn, ông đưa tay vào trong lớp áo bào xám, cẩn thận rút ra một phong thư công văn bằng giấy lệnh màu vàng ngà dày dặn, bên ngoài có niêm phong sáp và đóng dấu triện son vuông vức của quan Huyện lệnh, trang trọng đặt lên mặt bàn tre trước mặt Thanh Hà:
“Theo quy chế bản hạt và luật lệ triều đình, cô chủ Liễu Thanh Hà cô—với tư cách là người trực tiếp cưu mang, nuôi nấng và được lão lái đò Từ Bá đứng ra bảo chứng tư cách công dân bờ đông—nay đã có đầy đủ tư cách pháp lý tối cao để nhận nuôi đứa trẻ này làm nghĩa nữ. Kể từ giây phút này, tờ công văn hộ tịch này sẽ được lưu trữ tại huyện nha. Con bé sẽ chính thức có tên trong sổ đinh, sổ hộ của bến Vọng Giang, được pháp luật của triều đình che chở, được hưởng mọi quyền lợi của một đứa con hợp pháp. Từ nay về sau, trời đất chứng giám, quan nha bảo hộ, tuyệt đối không một kẻ nào, không một thế lực nào có quyền lôi kéo, ức hiếp hay bắt con bé rời xa cô được nữa!”
Từng lời của Vũ Chính An như những giọt nước mát lành tưới vào tâm can Thanh Hà. Nàng run run vươn tay chạm vào phong thư công văn, giọt nước mắt kìm nén bấy lâu bỗng lăn dài trên gò má.
Vừa lúc đó, Tiểu Mãn ôm chồng bát sứ sạch đi ngang qua chiếc bàn. Con bé nghe loáng thoáng được những từ “công văn”, “hộ tịch”, “nghĩa nữ”, đôi chân gầy gò bỗng như bị chôn chặt xuống nền đất nện ẩm ướt. Đôi mắt to tròn, đen láy của em mở to hết cỡ, nhìn chằm chằm vào phong bì có dấu triện son đỏ thắm nằm trên bàn, lồng ngực nhỏ bé phập phồng dữ dội dưới manh áo vải mộc chắp vá.
Vũ Chính An nhìn đứa trẻ tội nghiệp, ánh mắt vị thư lại vốn quen với những vụ án lạnh lùng bỗng trở nên vô cùng dịu dàng. Ông khẽ vẫy tay gọi:
“Lại đây, con bé kia.”
Tiểu Mãn giật mình, rón rén bước từng bước nhỏ lại gần bàn. Hai bàn tay nhỏ bé, gầy guộc còn vương chút nước lạnh khẽ chùi vội, chùi đi chùi lại vào mép chiếc tạp dề bằng vải thô.
Vũ Chính An cẩn thận gạt dải niêm phong, mở rộng tờ công văn bằng giấy cứng ra, trải phẳng phiu ngay trước mặt em. Trên nền giấy vàng trang nghiêm của huyện nha, từng dòng chữ mực đen chân phương, sắc nét được viết rõ ràng ghi lại quá trình điều tra một trăm ngày, phía dưới là dòng chữ xác nhận quyền nuôi dưỡng hợp pháp của người cưu mang: *Liễu Thanh Hà*.
Thế nhưng, ngay bên cạnh cái tên ấy, nơi ghi dòng chữ “Nghĩa nữ: ...”, lại là một khoảng trống tinh khôi, sạch sẽ, chưa hề có một nét mực nào chạm tới.
Vũ Chính An chỉ ngón tay vào khoảng trống ngay ngắn ấy, nhìn Tiểu Mãn rồi nhìn Thanh Hà, giọng nói trầm ấm mà thấm đượm tình người:
“Cầm lấy đi, đứa nhỏ. Quan nha đã chuẩn y, pháp luật đã bảo hộ. Nhưng trên cõi đời này, một con người sinh ra và lớn lên đàng hoàng không thể chỉ mang một cái biệt danh gọi theo ngày tiết ăn mày nơi bến đò bãi chợ. Cái tên ấy chỉ là nỗi đau của quá khứ trôi dạt. Còn tên họ thực sự của một đời người... là do cha mẹ trao cho.”
Tiểu Mãn run rẩy vươn hai bàn tay nhỏ bé, gầy guộc ra, đón lấy tờ công văn bằng giấy cứng từ tay vị thư lại. Đôi bàn tay em run bần bật, các ngón tay bấu chặt vào mép giấy như sợ chỉ cần lơi tay một khắc là giấc mơ tuyệt đẹp này sẽ tan biến như bọt nước phù du trên sông.
Đôi mắt em dán chặt vào khoảng trống tinh khôi bên cạnh tên của người đã dang tay cứu vớt cuộc đời mình. Rồi như một phản xạ tự nhiên từ tận đáy sâu của tâm can, con bé buông rơi chiếc khay tre xuống ghế, bất ngờ quay ngoắt lại nhìn Thanh Hà. Những giọt nước mắt kìm nén suốt bao tháng ngày lang thang tủi nhục bỗng chốc vỡ òa, tuôn rơi như mưa trên đôi má ửng hồng vì hơi lửa bếp than.
Em ôm chặt lấy tờ công văn có dấu triện son vào lồng ngực gầy guộc của mình, ngã quỵ xuống gối bên chân Thanh Hà, vùi đầu vào vạt áo nàng mà nghẹn ngào thốt lên tiếng gọi thiêng liêng xé ruột xé gan—tiếng gọi mà bấy lâu nay nó chỉ dám nuốt ngược vào trong, chỉ dám thì thầm trong những cơn mơ chập chờn nơi góc quán:
“Mẹ ơi... trên công văn người ta để trống phần tên họ của con...”