Quán Trà Bên Bến ĐòCh.29 / 34
Chapter 29

Bánh hoa hòe trở lại

Gió đầu hạ mang theo hơi ẩm mằn mặn của dòng Vọng Giang cuộn chảy, lướt thướt tràn qua những ngọn cây ven bờ rồi ùa vào bãi đất đang ngổn ngang công trình. Những cánh hoa hòe trắng muốt, nhỏ li ti như những hạt gạo nếp ngậm sương, rào rào trút xuống, rải một lớp thảm hoa mong manh lên bề mặt xám lạnh của những phiến đá hoa cương vừa mới được thợ đục đẽo và lát dở trên nền gian phòng trà mới.

Mùi vôi tôi ngai ngái, nồng gắt bốc lên từ những hố vôi sủi bọt, hòa lẫn vào cái ẩm ướt cố hữu của phù sa và mùi tanh nồng của bèo bọt mùa nước lớn. Nơi góc đất cao ráo nhất, nép sát bờ rãnh móng sâu hun hút chôn những tảng đá hộc Thanh Khê vuông vức, gian bếp tạm lợp mái nứa hong khói vẫn đang bền bỉ nhả những sợi khói lam mỏng mảnh lên trời chiều.

Bên trong gian bếp ấm mùi tro trấu ấy, không khí lại đặc quánh sự thảng thốt.

Trên chiếc chõng tre đã mòn nhẵn góc cạnh kê sát vách đất trát rơm nứt nẻ, Phạm Minh Châu ngồi thõng hai chân, toàn thân run rẩy như một nhánh liễu mảnh dẻ trước cơn giông tố. Nàng từng là hòn ngọc quý được nâng niu nơi khuê phòng họ Phạm, kẻ hầu người hạ bước nhẹ không dám phát ra tiếng động, vậy mà lúc này đây, chiếc áo lụa màu cánh chả sang trọng bậc nhất thành đông đã rách toạc một mảng lớn bên sườn áo, để lộ lớp vải lót trắng ngà lấm lem bùn đất sình lầy và bụi bặm của chặng đường thiên lý đào thoát. Tà áo trước bết bát những vệt bùn nâu khô cứng, gấu váy vướng đầy những hạt cỏ may nhọn hoắt. Đôi bàn tay vốn chỉ quen nâng quạt ngà chạm trổ, lướt trên phím đàn tranh hay tỉ mỉ luồn kim thêu thùa hoa điểu giờ đây chi chít những vết gai cào rớm máu, những vệt máu tươi đã khô đọng lại thành từng lằn nâu sẫm ngang dọc mu bàn tay, kết quả của những lần liều mình chui rúc qua bụi rậm gai góc sau hoa viên phủ đệ giữa đêm đen để tìm đường sống.

Thanh Hà bưng chiếc khay gỗ mộc bước tới, đặt vào đôi bàn tay lạnh ngắt của nàng một bát nước sành hoa nâu, bên trong chứa thứ nước chè xanh gừng tươi hãy còn nghi ngút khói. Hơi nóng hổi từ miệng bát bốc lên phả vào gương mặt tái nhợt của Minh Châu, xua đi phần nào cái lạnh buốt đang ngấm sâu vào tủy xương nàng. Minh Châu khẽ giật mình đánh thót một cái, bờ mi dày ướt đẫm khẽ run rẩy, ngước nhìn người chị dâu cũ bằng đôi mắt đỏ hoe, trũng sâu vì chuỗi ngày mất ngủ và hoảng loạn tột cùng.

“Uống từng ngụm nhỏ thôi,” giọng Thanh Hà trầm tĩnh, âm sắc dịu dàng mà dứt khoát tựa như một dải lụa mềm xoa dịu đi cơn chấn động trong lòng thiếu nữ. “Gừng già đào trên đồi cao vừa nướng chín tới trên than hoa đượm, nước chè xanh hái từ sớm mai chỉ vừa kịp hạ bớt nhiệt nồng. Uống chậm để hơi ấm lan dần, nhuận lại tỳ vị, xua bớt phong hàn và chướng khí muội đã hít phải suốt dọc đường đê ẩm ướt.”

Minh Châu run rẩy nâng bát nước bằng cả hai bàn tay trầy trụa. Miệng bát sành thô ráp chạm vào bờ môi nứt nẻ, khô khốc của nàng. Nàng hớp một ngụm nhỏ. Vị chát thanh ban đầu thấm qua đầu lưỡi nhanh chóng tan biến, nhường chỗ cho vị cay nồng ngọt hậu lan tỏa từ cuống họng, ngấm sâu xuống lồng ngực rồi chạy dọc khắp các kinh mạch đang co thắt vì sợ hãi. Cảm giác ấm áp bất ngờ ùa về khiến lồng ngực nàng nghẹn thắt lại. Một tiếng nấc nghẹn ngào bật ra từ đáy họng, rồi chẳng thể kìm nén thêm được nữa, Minh Châu buông vội chiếc bát xuống mặt bàn trà mộc mạc, hai đầu gối khuỵu xuống, toan quỳ sụp ngay trên nền đất nện đầy bụi dăm gỗ trước mặt Thanh Hà:

“Chị dâu… xin chị hãy rủ lòng thương mà cứu lấy muội! Cả đời này, dẫu có phải làm trâu làm ngựa, muội cũng không bao giờ dám quên ơn tái sinh của chị!”

Thanh Hà không để cho đầu gối của nàng chạm đất. Đôi bàn tay tuy thanh mảnh nhưng rắn rỏi của nàng đã nhanh như cắt luồn qua nách, giữ chặt lấy hai cánh tay gầy guộc của Minh Châu, dùng lực nâng bổng nàng dậy, ấn nàng ngồi ngay ngắn trở lại trên mặt chõng tre. Ánh mắt Thanh Hà nhìn thẳng vào nàng, nghiêm nghị, tỉnh táo mà chẳng hề gợn một chút lạnh lùng xa cách:

“Minh Châu, muội hãy ngồi cho ngay ngắn lại đã. Ta đã bị đuổi khỏi cổng lớn họ Phạm tròn một năm trời ròng rã sau ngày ca ca muội tạ thế, từ lâu đã không còn can dự vào việc riêng của nhà họ Phạm. Tiếng ‘chị dâu’ này, nếu là ngày thường gặp gỡ ngoài đường cái, nhớ tình xưa nghĩa cũ mà gọi nhau một tiếng thì ta nhận, nhưng bước chân vào bến sông này, trước mặt việc công và trước mắt thiên hạ thì mọi sự phải rành rọt phân minh. Muội vượt chặng đường xa hàng chục dặm tìm đến bến Vọng Giang trong bộ dạng tơi tả, hoảng loạn như thế này, rốt cuộc thì nơi phủ đệ tôn nghiêm ấy đã xảy ra biến cố gì?”

Nghe đến hai chữ “phủ đệ”, toàn thân Minh Châu lại co rúm lại, những giọt nước mắt kìm nén bấy lâu vỡ òa, tuôn rơi lã chã xuống mu bàn tay trầy trụa, làm nhòe đi những vệt máu khô:

“Mẹ… mẹ con đã nhận lời gả muội đi rồi! Bà đã nhận sính lễ mạ vàng mười hòm cùng khế ước năm mươi mẫu ruộng chiêm màu mỡ của nhà họ Tôn ở tận huyện bên. Người họ Tôn ấy… chính là viên tri huyện Tôn Đại Bằng đã ngoài năm mươi tuổi! Cả vùng huyện bên ai mà không biết lão là kẻ tàn bạo, độc ác khét tiếng, thói rượu chè hoang dâm vô độ, hai người vợ trước đều chết thảm thương dưới những trận đòn roi tàn khốc của lão trong phòng kín! Mẹ biết rõ hố lửa ấy, nhưng bà vẫn muốn đẩy muội vào làm kế thất cho lão, chỉ để đổi lấy một bức thư tiến cử lão hứa viết gửi lên tuần phủ đại nhân, dọn đường cho đứa con của người em họ bên ngoại được vào kinh ứng thí khoa thi mùa thu này! Sáng sớm nay, khi bà sai gia đinh dọn tráp bạc sính lễ vào sân, chuẩn bị đem ổ khóa sắt khóa chặt cửa viện để giam lỏng muội chờ ngày xuất giá, muội đã liều mình chui qua cái lỗ chõng mục nát dưới chuồng ngựa, bò qua bụi rậm gai góc trốn thoát ra bờ đê… Chị ơi, muội thà gieo mình xuống dòng Vọng Giang cuộn sóng này làm mồi cho tôm cá, chứ quyết không chịu để người ta đem bán thân xác mình vào chốn địa ngục trần gian ấy!”

Ở góc bếp, Tiểu Mãn nãy giờ đang lúi húi xếp lại mớ củi gộc khô hong trên gác bếp, nghe từng lời từng chữ xé lòng ấy liền siết chặt thanh củi nhãn trong tay, đôi mắt tròn xoe ánh lên sự đồng cảm sâu sắc xen lẫn phẫn uất tột cùng. Đứa trẻ từng nếm trải cảnh bị người ta chà đạp, buôn bán nơi đầu đường xó chợ hiểu quá rõ cái cảm giác nghẹt thở khi số phận mình bị kẻ khác định giá như một mớ hàng hóa ngoài chợ. Thanh Du đang đứng bên chiếc bàn gỗ mộc vừa mài xong nghiên mực, ngọn bút lông trong tay cậu khựng lại lơ lửng giữa không trung, khuôn mặt thiếu niên thoáng nét cau mày căm giận trước thói ép duyên tàn độc, lạnh lùng của những gia tộc vọng tộc luôn miệng rêu rao đạo lý gia phong.

Minh Châu run rẩy níu chặt lấy vạt áo vải thô nhuộm củ nâu của Thanh Hà, những ngón tay gầy gò bấm chặt vào thớ vải thô ráp như thể đó là chiếc cọc duy nhất trên dòng sông siết mà nàng có thể bấu víu, giọng khẩn thiết đến nghẹn ngào:

“Muội không dám mong cầu chị che giấu muội trọn đời trọn kiếp, cũng không dám làm phiền lụy đến cuộc sống của chị. Muội chỉ xin chị rủ lòng thương cho muội ở lại gian bếp này, dạy cho muội một cái nghề làm bánh, dạy cho muội cách tính toán sổ sách thu chi buôn bán. Muội có thể học gánh nước giếng gò, có thể nhóm lò, thổi lửa, quét dọn bến đò, lau chùi bàn ghế, làm bất cứ công việc nặng nhọc nào như một đứa ở thấp hèn nhất… Muội chỉ xin một chỗ nương thân, một bát cơm rau qua ngày và một con đường để đôi bàn tay này có thể tự nuôi sống bản thân, không bao giờ phải sống lệ thuộc vào sự định đoạt, mua bán của bất kỳ ai nữa!”

Gian bếp tạm bỗng chốc rơi vào một khoảng tĩnh lặng sâu hoắm.

Tiếng sóng nước sông Vọng Giang va đập ì oạp vào những chân kè đá mới dưới mép bến nghe rõ mồn một. Tiếng chim ri ríu rít chuyền cành trên tán cây hòe cổ thụ ngoài sân, cùng tiếng thở dài khe khẽ của gió sớm luồn qua khe liếp nứa, như càng khoét sâu thêm vào nỗi niềm trĩu nặng của những kiếp người trôi dạt.

Thanh Hà đứng lặng, ánh mắt bình thản nhưng sâu thẳm nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ hoe của cô em chồng cũ. Trong đôi mắt trũng sâu vì tuyệt vọng kia, nàng nhìn thấy một đốm lửa nhỏ nhoi—ngọn lửa của khát vọng được sống sót, khát vọng được làm chủ cuộc đời mình đang bùng cháy mãnh liệt sau bao năm tháng bị giam cầm nơi trướng gấm lầu son. Nàng thấu hiểu đến tận xương tủy cái cảm giác bị đem ra làm vật trao đổi, cái cảm giác bước chân ra khỏi cánh cổng sơn son thế gia vọng tộc mà trong tay không một tấc đất cắm dùi, không một kỹ năng sinh tồn, chỉ có hai bàn tay trắng và nỗi bơ vơ giữa dòng đời cuộn sóng. Nàng không thể và không bao giờ muốn ngoảnh mặt làm ngơ trước một người phụ nữ đang quẫy đạp tìm đường sống thoát khỏi vũng bùn phong kiến ấy.

Thế nhưng, cuộc đời trôi nổi nơi bến sông sóng gió một năm qua đã rèn giũa cho Thanh Hà một sự tỉnh táo lạnh lùng. Lòng thương xót nếu chỉ đơn thuần là sự cảm tính và thiếu đi sự rành mạch, dứt khoát của lý trí thì chẳng mấy chốc sẽ biến thành mầm mống gieo rắc tai họa khôn lường cho tất cả mọi người. Nàng đã nếm trải quá đủ những thủ đoạn nham hiểm, những điều tiếng thị phi và sự nhập nhằng rắc rối bắt nguồn từ lòng người nơi bến đò này. Muốn cứu một con người, không thể chỉ dang tay che chở bằng sự thương hại nhất thời; muốn người ta đứng vững, phải trao cho họ sự tự tôn và một nền tảng pháp lý rõ ràng.

“Minh Châu,” Thanh Hà chậm rãi lên tiếng, giọng nói trầm tĩnh, vang rền và chắc nịch tựa như tiếng đục gõ vào đá tảng. “Muội muốn thoát khỏi sự kìm kẹp, áp đặt của gia đình muội, ta sẵn lòng chỉ cho muội một con đường. Muội muốn học nghề để tự lập thân, tự nuôi sống mình bằng chính mồ hôi nước mắt, ta sẵn lòng dốc hết ruột gan truyền dạy. Nhưng bến đò Vọng Giang này là nơi buôn bán đường hoàng, làm ăn dựa trên khế ước minh bạch và luật pháp của triều đình, chứ tuyệt đối không phải chốn dung thân lén lút trong bóng tối, càng không phải là nơi ban phát ân huệ mập mờ để người đời có cớ dèm pha.”

Nàng nghiêng đầu, cất giọng gọi người em trai:

“Thanh Du, mài thêm một chút mực đặc, lấy một tờ giấy bản khổ lớn còn nguyên nếp gấp ra đây cho chị.”

Cậu thiếu niên mười ba tuổi lập tức hiểu ý chị gái. Cậu thoăn thoắt dọn sạch mặt bàn gỗ mộc, trải phẳng phiu tờ giấy bản màu vàng nhạt thơm mùi vỏ dó, chấm đẫm ngọn bút lông vào nghiên mực đen láy, đứng thẳng người chờ lệnh.

Thanh Hà nhìn thẳng vào Minh Châu, từng câu từng chữ phân định rành rọt như đao chém xuống đá:

“Hôm nay muội bước chân vào gian bếp này, thân phận của muội không phải là tiểu thư họ Phạm đến trốn nạn lánh đời, lại càng không phải là kẻ ăn người ở nương nhờ lòng trắc ẩn của ta. Muội chính là thợ học việc chính thức của Quán trà Thanh Hà. Chúng ta sẽ cùng nhau lập một bản văn tự rõ ràng, giấy trắng mực đen rành mạch: Thời hạn muội học việc và phụ bếp là đúng sáu tháng tròn. Trong suốt sáu tháng này, quán trà chịu trách nhiệm lo cho muội ngày hai bữa cơm no ấm bụng, cấp cho muội một gian phản gỗ sạch sẽ, kín gió bên chái bếp sau để nghỉ ngơi. Tháng đầu tiên học việc, quán trả công cho muội mười lăm văn tiền kẽm mỗi ngày, thanh toán sòng phẳng không thiếu một đồng vào đúng ngày rằm và ngày mùng một mỗi tháng. Sang đến tháng thứ hai, nếu tay nghề của muội thành thạo, có thể độc lập đứng lò nướng bánh và pha chế nước trà đúng vị, tiền công sẽ lập tức được tăng lên hai mươi văn một ngày, ngang bằng với mức công nhật của chị Thục và thím Mộc.”

Minh Châu ngẩn ngơ nhìn Thanh Hà, đôi mắt mở to ngập tràn sự kinh ngạc:

“Chị… chị còn trả tiền công cho muội sao? Muội đến đây xin miếng cơm qua bữa, lại còn được chị tận tình dạy nghề mưu sinh…”

“Trên đời này không có ai ở nhờ ở đậu không công ở bến sông này cả,” Thanh Hà lắc đầu, ngữ điệu dứt khoát không chút khoan nhượng. “Mỗi giọt mồ hôi muội bỏ ra để nhóm củi, gánh nước từ giếng gò, nhào bột nặn bánh là sức lao động chân chính, thì phải được đền đáp xứng đáng bằng đồng tiền bát gạo sòng phẳng. Tiền công ấy chính là phẩm giá của muội, là số vốn liếng danh chính ngôn thuận để muội tích lũy từng ngày, để mai này dù có sóng gió gì ập đến, muội vẫn có thể ngẩng cao đầu đứng vững trên đôi chân của chính mình mà không phải cúi lạy van xin ai. Đổi lại, muội phải tuân thủ nghiêm ngặt mọi quy củ nghiêm ngặt của quán trà: tuyệt đối trung thực trong từng cân nặng lạng hoa, từng bát mật, không làm dập nát hao hụt nguyên liệu, giữ cho chõ hấp và lò nướng luôn sạch bong không vương một hạt tro than. Và điều quan trọng nhất: bản văn tự này sẽ ghi rõ ràng họ tên, muội tự nguyện đem sức lao động đến đây làm công học nghề kiếm sống. Mai này, nếu người nhà họ Phạm có kéo đến gây rối, vu oan giá họa, chúng ta sẽ đàng hoàng đưa bản văn tự này ra trước mặt lý trưởng và phường bến để nói chuyện bằng lý lẽ công khai, chứ không một ai có thể tùy tiện chụp lên đầu quán trà này cái tội danh bắt cóc hay dung túng người trốn nhà!”

Từng lời phân tích thấu tình đạt lý, rành rẽ phân minh của Thanh Hà tựa như một dòng suối mát lành gột rửa đi mọi sự hoang mang, sợ hãi đang bủa vây tâm trí Minh Châu. Khối đá ngàn cân đè nặng trong lồng ngực nàng bấy lâu bỗng chốc vỡ tan. Nàng nhận ra người phụ nữ trước mặt không chỉ đang chìa tay cứu vớt nàng khỏi vũng lầy tăm tối, mà còn đang mở ra trước mắt nàng một chân trời hoàn toàn mới mẻ—một thế giới nơi người phụ nữ được nhìn nhận và tôn trọng bằng chính sức lao động, sự liêm chính và sự minh bạch của bản thân mình.

Ngọn bút lông trong tay Thanh Du lướt nhanh trên mặt giấy bản ráp mịn, để lại những hàng chữ chân phương, rắn rỏi: *“Văn tự học việc và phụ bếp bến Vọng Giang”*. Cậu thiếu niên đọc to từng điều khoản, mạch lạc và dõng dạc từng lời. Khi nét bút cuối cùng dừng lại, Thanh Du đặt nghiên mực sang bên, đẩy thỏi chu sa đỏ thắm về phía trước.

Minh Châu không một chút ngập ngừng, không một thoáng do dự. Nàng đưa ngón tay trỏ hãy còn hằn những vết xước gai cào, ấn mạnh vào thỏi chu sa rồi dập dứt khoát xuống góc dưới tờ văn tự. Một dấu điểm chỉ đỏ tươi, tròn trịa và rực rỡ in hằn trên nền giấy vàng nhạt, như một dấu mốc kiên định khép lại chuỗi ngày khuê các yếu đuối để bắt đầu một cuộc đời mới.

“Muội xin ghi lòng tạc dạ từng lời dạy bảo của chị,” Minh Châu cúi đầu thật sâu, giọng nghẹn lại nhưng không còn là sự yếu đuối, mà là sự run rẩy của lòng biết ơn vô hạn.

Tiểu Mãn nãy giờ đứng nép bên cạnh quan sát, thấy tờ văn tự đã hoàn tất liền thoăn thoắt chạy lại, bưng thau nước ấm có thả vài lát lá bưởi cùng chiếc khăn bông khô sạch sẽ đưa cho Minh Châu:

“Cô nương rửa tay đi cho sạch vết mực chu sa này. Từ nay cô nương đã là người một nhà của quán trà chúng ta rồi! Lát nữa em sẽ dẫn cô nương ra giếng đá múc nước, em chỉ cho cô nương cách chọn những thanh củi nhãn già đượm than hồng mà không hề cay mắt!”

Nụ cười rạng rỡ, hàm răng trắng bóng của đứa trẻ từng nếm trải bao cay đắng đầu đường xó chợ bừng sáng cả gian bếp chật hẹp, tựa như một ngọn lửa nhỏ ấm áp sưởi lành những vết thương lòng rách nát của nàng tiểu thư vừa thoát khỏi lầu son.

***

Mùa hoa hòe ven sông đang độ nở rộ nhất trong năm.

Thanh Hà đứng lặng bên khung cửa sổ mở rộng của gian bếp tạm, ánh mắt hướng về rặng cây cổ thụ chạy dài dọc triền đê bến Vọng Giang. Gió sớm lướt qua mang theo hương thơm ngòn ngọt, thanh khiết và hơi the the quen thuộc của những chùm hoa hòe trắng ngà.

Tròn một năm trước, cũng vào đúng cái mùa hoa hòe bung nở trắng xóa bến sông này, nàng đã ôm gói hành lý nhỏ cùng chiếc trâm cưới bạc giấu sâu trong ngực áo, cất từng bước chân nặng trĩu bước ra khỏi cánh cổng gỗ lim đồ sộ của nhà họ Phạm. Khi ấy, đón nàng chỉ có sự ghẻ lạnh tột cùng, những lời sỉ vả miệt thị của mẹ chồng và ánh mắt hờ hững của người đời. Một năm ròng rã trôi qua như một cái chớp mắt, mảnh đất bãi bồi hoang vu này đã chứng kiến bao phen nàng thắt lưng buộc bụng: từ hai bàn tay trắng dựng nên gian lều cỏ bán nước chè tươi ba văn một bát, vượt qua những thủ đoạn chèn ép đê hèn của bọn sai nha và tay chân Lại Tam, kiên cường chống chọi qua cơn lũ dữ cuốn trôi bờ bãi, và nay, từng khối đá Thanh Khê vững chãi đang được đặt móng để dựng xây nên một trà lâu hai tầng kiên cố bậc nhất bến sông.

Thế nhưng, sâu thẳm trong một góc khuất nơi tâm khảm nàng, vết thương lòng lớn nhất vẫn chưa một ngày nào thực sự khép miệng.

Nàng với tay lên chiếc kệ gỗ cao nhất nơi góc bếp, nơi đặt chiếc tráp gỗ hương nhỏ có gắn chiếc khóa đồng đã ngả màu ten sét. Bật chốt khóa, nàng kính cẩn nâng niu lấy ra một cuốn sổ tay bọc giấy bản đã ố vàng, mép giấy bồi sờn rách, cong queo theo năm tháng. Đó là di vật thiêng liêng nhất mà mẹ nàng—người thợ làm bánh tài hoa của đất tổ làng sen—đã để lại trước khi nhắm mắt xuôi tay.

Thanh Hà khẽ lật giở từng trang giấy mỏng. Những nét chữ thảo mộc mạc, run rẩy vì bệnh tật của mẹ ghi chép lại cẩn thận từng phương pháp phối trộn bột, từng bí quyết gia truyền tích lũy cả đời người: từ cách sên nhân bánh đậu xanh hoa mai sao cho mịn mướt như lụa, cách canh lửa cho mẻ bánh nếp gừng đỏ dậy mùi cay ngọt, cho đến công thức làm món bánh nướng hoa hòe trứ danh.

Ngón tay Thanh Hà dừng lại ở một trang giấy có vệt ố màu cánh gián loang lổ—dấu tích của giọt nước mắt nàng đã từng nhỏ xuống trong cơn tuyệt vọng cùng cực năm năm về trước.

Ngày ấy, mẹ nàng lâm bệnh nặng, hơi thở mỏng manh như ngọn đèn dầu cạn bấc trước cơn gió lộng. Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, trong cơn mê sảng vì đau đớn, bà chỉ thèm được nếm lại một miếng bánh hoa hòe nướng giòn ngọt thanh—món bánh gia truyền mà cả đời bà đã dồn hết tâm huyết hoàn thiện. Khi đó, Thanh Hà mới mười bảy tuổi, trong nỗi hoảng loạn và sợ hãi tột cùng trước bóng ma của cái chết, nàng đã lao vào bếp nhào bột trong nước mắt. Nàng hái nhầm những chùm hoa hòe dầm mưa đêm sũng nước úng mủ, canh sai lượng mạch nha trong tiết trời ẩm thấp, và đặt khay bánh lên lò than hồng khi nhiệt độ chưa đủ đượm. Mẻ bánh nướng năm ấy đã vỡ nát dưới đáy khay sắt, vỏ bánh cháy khét lẹt còn ruột bánh thì nhão nhoét, đắng ngắt vì mủ hoa. Mẹ nàng chưa kịp nhấp một miếng bánh ngọt lành quen thuộc nào thì bàn tay gầy guộc đã buông xuôi vĩnh viễn.

Nỗi ân hận, mặc cảm tội lỗi ấy đã biến thành một tảng đá đè nặng lên ngực nàng suốt những năm tháng làm dâu chịu nhục, và dai dẳng bám theo nàng cho đến tận những ngày đầu mở quán bên mép nước Vọng Giang. Dù sau này, nhờ sự chỉ dẫn tỉ mỉ về cách chọn bột nếp và khử sạch mủ cây của Đỗ Nguyệt Nương ở chợ Đông Tân, nàng đã làm được những mẻ bánh hấp hoa hòe mềm mướt bán kèm trà xanh ba văn một chiếc, được cánh phu bến và bạn hàng tấm tắc ngợi khen, nhưng mẻ bánh nướng chuẩn vị gia truyền của mẹ—với lớp vỏ mỏng giòn xốp như sương mai, ruột mềm dẻo ngậm trọn mật hoa thanh khiết—nàng vẫn chưa một lần dám nhóm lửa nướng lại trên lò than đỏ.

Nàng sợ thất bại. Nàng sợ nhìn thấy chiếc bánh nứt toác, sợ mùi khét đắng ấy sẽ kéo nàng trở về với căn phòng u tối ngập mùi thuốc bắc và nỗi bất lực tột cùng năm xưa.

“Chị Thanh Hà ơi!”

Tiếng gọi trong trẻo, ríu rít của Tiểu Mãn từ ngoài bờ đê vọng vào cắt đứt dòng hồi ức trĩu nặng. Con bé cùng chị Thục và thím Mộc vừa trở về từ rặng hòe ven sông, trên tay mỗi người bưng một chiếc sọt tre lớn đan bằng nứa tép, bên trong đầy ắp những chùm hoa hòe tươi roi rói vừa hái sớm.

Những nụ hoa hòe màu trắng ngà hãy còn chúm chím chưa bung cánh, từng giọt sương mai đầu hạ đọng long lanh trên cuống xanh biếc như những hạt ngọc trời ban, tỏa ra một làn hương the mát, ngọt lịm lan khắp không gian ẩm ướt của gian bếp.

Thanh Hà khép cuốn sổ tay lại, siết chặt bìa giấy bồi trong lòng bàn tay. Đôi mắt nàng ánh lên một sự kiên định chưa từng có.

Một năm đã qua. Trà lâu Thanh Hà đang từng ngày vươn cao trên nền móng đá Thanh Khê vững chãi trước sóng to gió lớn. Nàng đã không còn là cô thiếu nữ non nớt năm xưa, cũng không còn là người con dâu bị giam cầm trong nhẫn nhục. Đã đến lúc nàng phải đối diện với nỗi sợ hãi lớn nhất của đời mình, không phải chỉ để chứng minh tay nghề với thiên hạ, mà là để tự tay tháo gỡ nút thắt trong tâm khảm, để di sản vô giá của mẹ nàng được tái sinh rực rỡ và đàng hoàng nhất bên dòng Vọng Giang này!

“Tiểu Mãn, chị Thục, thím Mộc, mọi người mau vào đây,” Thanh Hà cất tiếng gọi, âm vực đanh chắc, ấm áp và tràn trề sinh khí. “Minh Châu, muội cũng rửa tay lại đây. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau làm lại món bánh nướng hoa hòe gia truyền của mẹ ta!”

***

Bốn người phụ nữ và một đứa trẻ nhanh chóng vây quanh chiếc bàn gỗ dài vừa được lau sạch bóng bằng nước lá bưởi thơm ngát. Trên mặt bàn, những chiếc nong tre lớn phơi hoa, các hũ sành đựng mật mía, chĩnh mạch nha vàng óng ánh như hổ phách, cùng những âu bột nếp cái hoa vàng xay mịn đã được sắp đặt ngay ngắn, tề chỉnh.

Thanh Hà xắn cao tay áo vải nâu sồng, để lộ đôi cánh tay thon thả nhưng săn chắc vì lao động dãi dầu sương gió. Nàng cầm lên một chùm hoa hòe ngậm sương, nâng ngang tầm mắt, tỉ mỉ chỉ cho Minh Châu và hai người thợ phụ:

“Mọi người nhìn kỹ nhé. Muốn bánh nướng hoa hòe giữ được hương thơm thanh khiết, không vương một gợn đắng chát nơi cuống họng, khâu đầu tiên và mang tính quyết định sống còn chính là tuyển chọn nụ hoa. Hoa hòe làm bánh nướng dứt khoát phải hái vào lúc trời vừa hửng sáng, khi các nụ hoa còn chúm chím ngậm sương đêm như những hạt gạo nếp. Tuyệt đối không tham hoa to mà hái những chùm đã bung nở toe toét, càng không được nhặt hoa rụng dưới gốc cây. Bởi hoa đã nở thì mật ngọt bên trong đã theo gió bay mất quá nửa, cánh mỏng manh dễ dập nát khi gặp nhiệt, còn phần cuống già lại tích tụ lượng mủ đắng rất đậm, nướng lên sẽ làm hỏng toàn bộ vị bánh.”

Đôi tay Thanh Hà thoăn thoắt ngắt từng nụ hoa nhỏ, nhẹ nhàng tách bỏ sạch sẽ những cuống hoa già cỗi và những chiếc lá sâu li ti. Minh Châu chăm chú quan sát từng cử chỉ của nàng, đôi mắt không chớp, rồi cẩn trọng đưa những ngón tay gầy guộc nhặt từng bông một cách nắn nót. Chị Thục và thím Mộc vốn là những người quen việc đồng áng, bàn tay thô ráp nhưng nhanh thoăn thoắt, chẳng mấy chốc nong tre đã phủ một lớp nụ hoa trắng ngà đều tăm tắp.

“Bây giờ đến khâu chần hoa,” Thanh Hà bắc chiếc nồi gang dày lên bếp lửa đang cháy đượm củi nhãn, đổ vào đó năm gáo nước giếng đá ong múc từ gò cao Thanh Khê. Nàng bốc một vốc muối hạt trắng tinh, rắc đều vào nồi:

“Nước giếng gò này có vị ngọt khoáng tự nhiên, nhưng nước phải sôi già, bốc khói nghi ngút mới được thả hoa vào. Phải nhớ cho đúng một nhúm muối hạt này. Vị mặn của muối khoáng sẽ giúp khóa chặt sắc xanh ngọc tự nhiên của cuống hoa, đồng thời ép hết chất mủ đắng trong thớ cánh tan biến vào nước. Nhưng nhớ kỹ: khi trút hoa vào, chỉ được chần đúng mười nhịp thở sâu, dùng đũa cả đảo nhẹ một vòng cho ngập đều rồi lập tức vớt ra ngay!”

Nước trong nồi gang sôi bùng lên, bọt trắng sủi tăm cuồn cuộn. Thanh Hà nhanh tay trút rổ nụ hoa vào nồi. Một tiếng “xèo xèo” vui tai reo vang, làn khói thơm dịu nhẹ lập tức bốc lên ngùn ngụt. Mười nhịp thở trôi qua trong sự nín thở theo dõi của mọi người. Rất nhanh và chuẩn xác, nàng dùng chiếc muôi tre lớn vớt trọn mẻ hoa ra, dìm ngập ngay vào một thau nước giếng đá lạnh buốt đã được chuẩn bị sẵn từ sớm.

“Đang nóng rực mà gặp lạnh đột ngột, cánh hoa sẽ co rút lại, giữ được độ giòn sần sật tự nhiên, không bị nhũn nhão hay biến thành màu thâm đen xỉn,” Thanh Hà vừa giải thích vừa lấy ra một tấm khăn vải màn sạch tinh, trắng muốt, trải phẳng trên mặt nong rồi vớt hoa rải đều lên trên.

“Minh Châu, muội nhìn kỹ thao tác này. Đây là kỹ thuật vắt ráo hoa. Người làm bánh non tay thường sốt ruột dùng cả hai bàn tay bóp nghiến cho kiệt nước, làm như thế các thớ cánh hoa sẽ dập nát hết, khi đưa vào lò nướng bánh sẽ bị chảy nước nhớt và mất sạch phong vị. Muội phải túm nhẹ bốn góc khăn lại, dùng lực ép từ từ của hai lòng bàn tay, lăn nhẹ bọc khăn từ mép này sang mép kia, để nước ẩm thấm hết vào thớ vải màn. Hoa sau khi vắt phải khô ráo bề mặt nhưng từng cánh hoa vẫn phải nguyên vẹn, căng mọng tựa như đang ngậm nước.”

Minh Châu cẩn trọng đón lấy bọc vải màn từ tay Thanh Hà. Ban đầu, ngón tay nàng tiểu thư còn ngượng nghịu, run rẩy vì sợ làm nát mẻ hoa quý giá. Nhưng nhìn vào ánh mắt khích lệ, ấm áp đầy tin tưởng của Thanh Hà, nàng hít sâu một hơi, thả lỏng các khớp ngón tay. Nàng kiên nhẫn ép nhẹ, lăn từng nhịp chậm rãi, nhịp nhàng theo đúng lời chỉ bảo. Khi tấm khăn vải màn được mở ra, từng nụ hoa hòe xanh mướt, ráo sạch nước nhưng căng tràn sức sống hiện ra nguyên vẹn trước mắt. Minh Châu khẽ reo lên một tiếng đầy hãnh diện, hai gò má ửng hồng trong ánh lửa lò.

“Khéo lắm! Tay nghề của muội rất mềm mại,” Thanh Hà mỉm cười tán thưởng, rồi nàng kéo chiếc âu sành lớn đựng mạch nha lại gần.

“Khâu định lượng mạch nha này chính là bí quyết sống còn của lò bánh bến sông,” Thanh Hà hạ thấp giọng, ánh mắt nàng trở nên sắc sảo, tinh anh của một người thợ lành nghề đã từng trả giá bằng bao mồ hôi nước mắt. “Trong cuốn sổ của mẹ ta truyền lại, tỷ lệ mạch nha và bột nếp luôn cố định theo một khuôn mẫu. Nhưng mẹ ta làm bánh ở làng quê đất cát cao ráo, gió khô hanh, còn chúng ta mở quán sát mép nước Vọng Giang này. Không khí bến sông đầu hạ sáng nắng chang chang nhưng hơi nước từ lòng sông bốc lên mịt mù suốt ngày đêm, độ ẩm không khí cao gấp bội phần. Nếu cứ máy móc làm theo đúng lượng mạch nha lỏng ghi trong sách cũ, mẻ bánh nướng ra lò sẽ bị ỉu mềm rất nhanh, vỏ bánh hút ẩm từ gió sông sẽ biến thành một bãi bột nhão nhoét chỉ sau nửa tuần hương.”

Nàng chỉ tay vào chiếc nồi đồng nhỏ đang cô mạch nha trên một bếp than riêng:

“Hôm nay gió đông nam thổi mạnh, mang theo hơi nước ẩm ướt, mạch nha phải được cô già lửa hơn thường lệ hai phần, kéo chỉ sợi tơ phải đứt giòn tan mới đạt. Tỷ lệ bột phải là mười phần bột nếp cái hoa vàng của chị Nguyệt Nương, trộn thêm đúng một phần bột tẻ xay khô để tạo khung bánh đứng vững, không bị xẹp khi nướng. Mạch nha rót vào bột phải giữ độ ấm vừa tay, nhào đều đến khi khối bột dẻo quánh, mịn màng như da em bé, không dính tay cũng không dính thành âu mới là chuẩn xác.”

Đôi bàn tay Thanh Hà thoăn thoắt đảo, nhào, thúc bột. Từng tiếng bột va vào thành âu “bành bạch” vang lên đều đặn, dẻo quánh. Nàng thoăn thoắt ngắt khối bột thành từng viên tròn đều đặn, dùng ngón tay cái ấn lõm ở giữa, khéo léo gập từng nụ hoa hòe xanh mướt vào lòng nhân bánh, rồi rải một lớp nụ hoa li ti lên bề mặt như những hạt ngọc điểm xuyết trên nền ngà.

Phía góc bếp, lò nướng mới xây bằng gạch nung chịu lửa—vốn là một góc trong thiết kế lò chống lũ kiên cố của Thanh Du—đang tỏa ra hơi nóng hừng hực. Lớp than hoa gáo dừa nổ lách tách, đượm lửa đỏ rực mà không hề bốc lên một sợi khói đen cay mắt.

Chị Thục nhanh tay lót những phiến lá chuối khô hong khói xuống đáy khay sắt nướng bánh. Từng chiếc bánh tròn trịa, xinh xắn được xếp ngay ngắn, giữ khoảng cách đều đặn trên mặt khay. Thanh Hà dùng đôi kẹp sắt đẩy khay bánh vào sâu trong lòng lò gạch. Cửa lò được khép lại cẩn thận, chỉ chừa một khe gió nhỏ bên dưới để điều hòa ngọn lửa.

Mọi ánh mắt trong gian bếp tạm đều đổ dồn về phía cửa lò nướng đang rực ánh lửa đỏ.

Thanh Hà đứng lặng bên miệng lò, ngọn lửa than hắt lên gương mặt thanh tú của nàng một sắc hồng rạng rỡ. Đôi bàn tay nàng chắp chặt lại trước ngực, trái tim đập thình thịch từng hồi trong lồng ngực. Năm năm trôi qua, mười hai tuần hương của định mệnh dường như đang cô đọng lại trọn vẹn trong khoảnh khắc nín thở này.

***

Một tuần hương chậm rãi trôi qua.

Từ khe thông gió của lò gạch nung, một làn khói mỏng màu trắng bạc bắt đầu lượn lờ bay ra. Cùng với làn khói ấy, một mùi thơm ngọt ngào, tinh khiết đến nao lòng bắt đầu bung tỏa, choán ngợp cả gian bếp tạm rồi nhanh chóng lan rộng ra khắp công trường ngổn ngang gạch đá.

Đó là mùi thơm bùi ngậy, nồng nàn của nếp cái hoa vàng vừa chín tới trên nhiệt độ cao, hòa quyện tuyệt hảo với vị ngọt the mát, thanh tao tựa như mật ong rừng của những nụ hoa hòe nướng lửa, xen lẫn mùi ngai ngái mộc mạc của phiến lá chuối khô hong khói bến sông. Mùi hương ấy không hề gắt nồng như đường mía bị cháy quá lửa, không ngấy mỡ như thứ bánh rán sao chép vụng về của tiệm Nghênh Xuân bờ tây, mà nó thanh tao, sâu lắng lạ thường. Chỉ cần hít một hơi sâu là cảm thấy lồng ngực khoan khoái, tinh thần sảng khoái như thể cả mùa hoa hòe tinh khôi của đất trời đang đọng lại trọn vẹn trong từng thớ bánh.

“Thơm quá… trời đất ơi, mùi thơm này tôi chưa từng ngửi thấy ở bất kỳ lò bánh nào trên bến đò này!” Chị Thục hít hà một hơi thật dài, hai mắt sáng rực lên, trầm trồ thốt lên.

Bên ngoài rãnh móng, đám phu bốc vác của phường Lại Tam đang gò lưng đẩy những chuyến xe cút kít chở đá hộc nặng trĩu cũng bất giác dừng chân. Mấy gã lực điền gầy guộc ngẩng đầu hít hít mũi, ánh mắt thèm thuồng nhìn dán vào gian bếp tạm. Bác phu than A Sinh đang cầm xẻng xúc đất bên bờ hào cũng phải buông xẻng, chống tay vào hông, ngửa mặt cười lớn sang sảng:

“Cô Liễu lại cho ra lò món bánh thần tiên gì thế này? Mùi thơm bay qua cả khúc sông Vọng Giang, làm lũ phu thuyền chúng tôi cồn cào cả ruột gan rồi đây này!”

Thanh Hà đeo đôi găng tay bằng vải thô dày, hít một hơi thật sâu để trấn tĩnh lồng ngực đang đập liên hồi, rồi từ từ kéo then cài, mở rộng cửa lò nướng.

Hơi nóng ùa ra ngùn ngụt, mang theo một luồng hương thơm ngào ngạt đến tột cùng.

Khay sắt được rút ra, đặt vững chãi lên mặt bàn gỗ mộc. Mọi người có mặt trong gian bếp đồng loạt “ồ” lên một tiếng đầy kinh ngạc và thán phục.

Từng chiếc bánh hoa hòe nở phồng đều đặn, tròn trịa, căng mọng mà không hề biến dạng. Lớp vỏ bên ngoài được nướng vàng ươm như màu rơm nếp phơi nắng giòn, lấm tấm những nụ hoa hòe xanh biếc nổi bật rực rỡ trên nền vàng ngà óng ả. Lớp vỏ giòn rụm đến mức dường như chỉ cần khẽ chạm nhẹ đầu ngón tay là có thể nghe thấy tiếng rôm rốp vỡ vụn đầy thích thú. Tuyệt nhiên không có một chiếc bánh nào bị nở bung nứt toác, không có một vệt cháy khét hay rỉ nước nhão nhoét như mẻ bánh đau thương năm xưa dưới đáy xửng tre mục nát!

Thanh Hà run rẩy đưa tay nâng một chiếc bánh nóng hổi lên. Chiếc bánh nhẹ bẫng trên lòng bàn tay nàng. Khi các đầu ngón tay nàng khẽ ấn nhẹ, lớp vỏ giòn tan phát ra tiếng vỡ giòn rụm khe khẽ, để lộ phần ruột bên trong mềm mướt, dẻo quánh, trong veo như ngọc bích, thơm ngát mùi mật hoa ngọt lành.

Nàng đưa chiếc bánh lên môi, cắn một miếng nhỏ.

“Rôm rốp…”

Lớp vỏ giòn tan vỡ òa nơi đầu lưỡi, ngay sau đó là vị mềm dẻo, ngọt thanh của bột nếp và mạch nha quyện chặt với độ giòn sần sật, the mát không còn một gợn đắng chát của nụ hoa hòe. Vị ngọt ấy không đọng lại gay gắt ở đầu lưỡi rồi biến mất như đường mía, mà ngấm sâu vào cuống họng, để lại một hậu vị thanh khiết, thơm mát bền bỉ đến kỳ lạ.

Đó chính là hương vị bánh hoa hòe năm xưa của mẹ! Không, nó thậm chí còn giòn xốp hơn, thanh thoát hơn và thích ứng một cách hoàn hảo với ngọn gió ẩm ướt của dòng Vọng Giang này!

Bao nhiêu ký ức u tối, bao nhiêu nỗi dằn vặt mặc cảm đè nặng suốt năm năm qua kể từ ngày mẹ trút hơi thở cuối cùng, bao nhiêu tủi nhục, đắng cay của những ngày làm dâu họ Phạm phải cúi đầu nuốt hận… tất cả như vỡ òa ra trong miếng bánh ngọt ngào này.

Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má Thanh Hà, rơi khẽ xuống vạt áo nâu sồng. Nàng không lau đi, mà mỉm cười qua làn nước mắt rưng rưng. Nàng biết, nơi suối vàng sâu thẳm, mẹ nàng đã có thể mỉm cười thanh thản an nghỉ. Bàn tay nàng hôm nay không còn là bàn tay non nớt, hoảng loạn làm hỏng mẻ bánh của năm xưa nữa. Nàng đã thực sự trưởng thành, đã kiên cường đứng vững trên đôi chân của chính mình, và di sản vô giá của mẹ nàng nay đã được tiếp nối trọn vẹn, đàng hoàng nở hoa rực rỡ ngay bên bờ bến sóng gió này.

“Minh Châu, muội nếm thử đi,” Thanh Hà gạt vội giọt nước mắt, bẻ đôi chiếc bánh nóng hổi trao một nửa cho cô em chồng.

Minh Châu đón lấy miếng bánh. Đôi bàn tay nàng tiểu thư khuê các giờ đây đã lấm lem bột trắng và vương vài vệt tro than của miệng lò nướng, những ngón tay thon thả đã bắt đầu có vết chai sạn đầu tiên của lao động. Nàng cẩn trọng đưa miếng bánh vào miệng, nhai thật chậm rãi.

Vị ngọt thanh khiết, ấm áp lập tức lan tỏa khắp khoang miệng. Từng thớ bánh giòn xốp dường như đang kể lại cho nàng câu chuyện về những nụ hoa ngậm sương sớm, về ngọn lửa than đượm hồng, về sự kiên nhẫn vắt từng giọt nước và kỹ thuật đo lường mạch nha chuẩn xác.

Đó là một hương vị hoàn toàn xa lạ mà nàng chưa từng được nếm qua trong suốt mười mấy năm sống trong nhung lụa của phủ đệ họ Phạm. Những món sơn hào hải vị ngày xưa nàng ăn đều ngập ngụa mùi vị của sự ban phát, của sự quản thúc và trói buộc danh gia vọng tộc. Còn miếng bánh này… miếng bánh này do chính đôi bàn tay nàng vừa nhặt hoa, vừa vắt ráo, vừa canh lửa mà làm nên!

Nó có hương vị của mồ hôi, của lao động lương thiện, và trên hết, đó chính là hương vị của sự tự do!

Một luồng sinh khí mãnh liệt bừng sáng trong đôi mắt ngấn lệ của Minh Châu. Nàng ngẩng cao đầu, nhìn ra dòng sông Vọng Giang cuộn sóng lấp lánh dưới ánh nắng hè, giọng nói tuy run rẩy nhưng chứa chan sự kiên cường sắt đá:

“Chị ơi… muội hiểu rồi. Tự do hóa ra không phải là thứ người khác ban ơn cho mình. Tự do nằm ngay trong đôi bàn tay biết làm lụng này! Dù mẹ có mang kiệu hoa tám người khiêng đến đón, dù họ có dùng gia pháp bức bách, muội cũng quyết không bao giờ quay lại cái lồng son ấy nữa!”

Thanh Hà ôm lấy bờ vai gầy guộc của Minh Châu, lòng trào dâng một niềm xúc động vô bờ.

Gian bếp tạm tràn ngập tiếng cười nói rộn rã. Tiểu Mãn, Thanh Du, chị Thục và thím Mộc đều được chia những chiếc bánh nóng hổi đầu tiên. Ai nấy vừa ăn vừa tấm tắc khen ngợi, tiếng reo vui rộn rã át cả tiếng sóng sông. Mùi thơm của mẻ bánh nướng hoa hòe lan tỏa ra tận bến đò, khiến khách đợi đò trên chuyến thuyền của Từ Bá vừa cập bến đã nô nức kéo nhau ùa vào cổng công trường, tiếng hỏi mua bánh râm ran khắp một góc trời:

“Bánh gì mà thơm lừng cả khúc sông thế này cô Liễu ơi?”

“Bán cho tôi năm chiếc mang sang bờ tây làm quà nào!”

Thanh Hà mỉm cười rạng rỡ, toan bước ra đón khách thì bỗng nhiên, một hồi ồn ào dữ dội từ phía đầu cầu tàu vang lên xé toạc bầu không khí ấm áp.

“Tránh hết ra! Lũ phu phen mạt rệp kia, có mắt như mù không thấy người nhà họ Phạm đến đây à?”

Tiếng quát tháo hống hách của gia đinh vang lên dữ tợn. Tiếng bước chân rầm rập của hơn chục tên tráng đinh áo xanh nẹp đỏ xông xáo gạt phăng đám đông khách đợi đò, kéo thẳng vào công trường đang thi công.

Ngay sau đó, tiếng gậy chống bịt đồng nện chan chát xuống nền đá hoa cương vừa lát dở, vang lên từng hồi đanh thép và giận dữ, cùng một giọng nói già nua, sắc lạnh rít qua kẽ răng:

“Nghịch phụ Liễu thị! Bắt cóc con gái ta, làm nhơ nhuốc gia phong họ Phạm! Mau ra đây chịu tội!”

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories