Bốn người dưới một mái
Bếp lửa quán trà bập bùng soi bóng bốn người quây quần trong gian lều mới sửa, nhưng bầu không khí giữa hai đứa nhỏ lại căng thẳng như dây đàn chực đứt.
Mái lều tranh sau trận đại hồng thủy vừa qua rốt cuộc cũng đã được lợp lại bằng những nùi rạ nếp khô thơm nức mùi đồng bãi, từng lớp rạ dày dặn ken chặt lấy nhau ngăn những ngọn gió đêm se lạnh từ mặt sông Vọng Giang thổi thốc vào. Dưới chân, nền đất nện ẩm ướt cũng đã được rải kín một lớp vôi bột tôi trắng muốt do Tống Kim Phượng cất công đong từng thúng gửi sang từ xóm Chợ Gai để khử uế trừ tà, xua đi thứ mùi bùn non ngai ngái lưu cữu sau đợt ngập lụt kinh hoàng. Thế nhưng, dẫu vách nứa đã được gia cố vững chãi và khói bếp đượm hương vỏ bưởi khô thoang thoảng ấm nồng, gian nhà lá nhỏ bé dường như vẫn quá đỗi chật chội trước sự dò xét cẩn trọng và những nỗi bất an câm lặng của hai đứa trẻ.
Tiểu Mãn ngồi co ro sát góc chõng tre ọp ẹp kê sát vách phía đông. Đôi cẳng chân khẳng khiu như hai que sậy thu lu vào trong chiếc quần cộc vá chằng vá đụp, hai cánh tay gầy guộc ôm ghì lấy đầu gối, cằm tì chặt xuống xương bánh chè nhô nhọn hoắt. Cặp mắt đen láy của con bé chốc chốc lại liếc xéo về phía góc phản đối diện, nơi ngọn đèn dầu lạc leo lét đang phập phồng tỏa ra một quầng sáng vàng vọt, run rẩy.
Ở phía bên kia, Liễu Thanh Du đang ngồi ngay ngắn trên tấm phản gỗ tạp. Lưng cậu bé thẳng tắp như một nhánh trúc non mọc giữa khe đá, hai vai buông lỏng tự nhiên, toát ra cái cốt cách nền nếp của con nhà gia giáo dẫu trên người chỉ phong phanh manh áo vải thô nhuộm chàm đã bạc phếch nơi đầu vai. Cậu bé lặng lẽ cúi đầu, đôi bàn tay gầy gò với những khớp ngón thô ráp cẩn thận vuốt thẳng từng nếp gấp đã sờn rách của mấy cuốn sách học trò mang về từ bến Nam Kiều. Chiếc nghiên đá ong mòn vẹt bờ mép đặt bên cạnh tờ giấy bản úa vàng được cậu dùng một mảnh vải vụn lau đi lau lại đến không còn một hạt bụi. Thanh Du hiểu chuyện đến mức tội nghiệp; cậu cố thu mình lại trong một góc nhỏ hẹp nhất của tấm phản, cử chỉ nhấc tay, lật giở từng trang giấy hay đặt chiếc quản bút trúc đều nhẹ nhàng, thận trọng đến mức gần như không phát ra bất kỳ một tiếng động nào, tựa hồ sợ rằng chỉ một hơi thở mạnh của mình cũng sẽ chiếm đoạt mất phần không gian vốn đã ít ỏi của gian lều.
Thế nhưng, chính cái vẻ điềm đạm, nề nếp toát ra từ từng cử chỉ có học thức ấy lại như một bức tường vô hình nhưng lạnh lẽo dựng lên trước mặt Tiểu Mãn, khiến lồng ngực con bé thắt lại, ngột ngạt đến nghẹt thở. Con bé cắn chặt môi dưới, những ngón tay gầy guộc bấu chặt vào lớp vải thô ráp trên đầu gối, ánh mắt vừa tị hiềm vừa hoang mang không sao giấu giấu giếm giếm nổi.
Sáng hôm sau, khi tiếng gà gáy le te bên xóm Chợ Gai vừa dứt, màn sương trắng đùng đục bảng lảng trên mặt sông Vọng Giang bắt đầu tan dần theo từng nhịp chèo khua rộn rã đầu ngày của cánh thuyền chài xuôi ngược. Tiếng nước vỗ bì bõm vào mạn thuyền hòa cùng tiếng gọi nhau í ới của cánh lái buôn đường dài báo hiệu quán trà mé sông của Thanh Hà bước vào nhịp làm ăn quen thuộc. Ánh nắng hanh hao của tiết cuối thu rọi xiên qua những rặng tre ngà ven bãi, rải một màu vàng sánh như mật ong rừng lên bờ kè đá hộc vững chãi vừa được dân xóm phụ nhau dựng xong sau lũ.
Thanh Hà trở dậy từ lúc trời còn nhá nhem tối, khi sương muối còn đọng ướt đẫm trên ngọn cỏ gianh. Nàng thoăn thoắt quấn lại dải yếm lụa điều đã bạc màu, xắn cao tay áo, dùng thanh cời sắt khêu lại đám than ủ từ đêm trước trong lòng chiếc lò đất nung ba chân. Ba chiếc ấm đồng cũ kỹ đựng đầy nước giếng đá ong múc từ gò Thanh Khê được nàng bắc lên ba kiềng sắt, ngọn lửa củi phi lao bốc lên rừng rực, tỏa ra làn khói thơm dịu xua tan cái lạnh buốt của buổi sớm mai.
Vừa trở tay gạt bớt tàn tro trắng dưới cửa lò, Thanh Hà đã nghe thấy tiếng bước chân êm ái sau lưng. Nàng quay đầu lại thì thấy Thanh Du đã tươm tất trong bộ áo vải thô màu chàm sạch sẽ. Mái tóc đen nhánh của cậu bé được búi gọn gàng sau gáy bằng một chiếc trâm tre con, khuôn mặt thanh tú dẫu còn vương nét xanh xao vì chuỗi ngày lao dịch cực nhọc nhưng đôi mắt lại sáng ngời, trong trẻo. Cậu bước nhẹ đến bên chị gái, khẽ khàng cất tiếng bằng một giọng trầm ấm, lễ phép:
"Chị Hai, để em phụ một tay với chị. Bác họ trước nay vẫn thường bảo, người trong nhà dù lớn dù nhỏ cũng không ai được phép ngồi không ăn cơm thiên hạ. Những việc nặng nhọc như bửa củi, khiêng vại, gánh nước em làm ở lò gạch bờ nam quen rồi, tay chân chai sạn cả chẳng ngại gì đâu. Việc nhẹ việc nặng ở quán chị cứ bảo, em làm được hết, chị đừng để em ngồi rảnh rỗi."
Nhìn đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt những vết sẹo cứa nông sâu do cạnh gạch non và đất sét khô cứa vào, lại nhìn dáng dấp mảnh khảnh gượng gạo cố tỏ ra rắn rỏi của đứa em trai vừa dứt khỏi nanh vuốt của nhà bác họ, đáy lòng Thanh Hà dâng lên một nỗi xót xa khôn xiết. Nàng khẽ thở dài, mỉm cười dịu dàng rồi giơ bàn tay ấm áp phủ đầy tàn tro lên vuốt lại nếp cổ áo cho em, lắc đầu nói nhỏ:
"Ở đây là bến đò Vọng Giang, không phải lò gạch bến Nam Kiều của nhà bác Thuận, không ai bắt em phải gồng mình chứng minh điều gì để đổi lấy bát cơm manh áo cả. Em vừa trải qua bao phen kinh hoàng, thân thể còn chưa lại sức, việc nặng đã có sức nước sức gió và có chị lo liệu. Nhưng mà quán trà vừa dọn lại sau đợt lũ dữ, những tấm thẻ tre niêm yết giá trà bánh nước nôi treo trước hiên quán đã bị nước bùn đỏ ngầu làm nhòe hết mực nho, mấy hôm nay buôn bán lu bu khách khứa hỏi giá liên miên chị chưa kịp chép lại. Em biết chữ, chữ lại ngay ngắn chân phương đúng lối nhà nho, em giúp chị viết lại toàn bộ thẻ tre treo ngoài hiên quán nhé."
Nghe đến đó, đôi mắt Thanh Du bỗng chốc sáng rực lên như hai vì sao đêm. Đã hai năm ròng rã chịu cảnh đày đọa ở lò gạch bờ nam, hai năm trời cậu phải chôn vùi ước mơ đèn sách bên đống đất sét nhão nhoét, ngày ngày chịu đựng những trận đòn roi và tiếng chửi rủa của Liễu Đức Thuận, cậu thèm được cầm lại cán bút lông, thèm được ngửi lại mùi mực tàu thơm ngai ngái hơn bất cứ thứ gì trên đời này. Nỗi khao khát ấy như dòng suối mát lành tưới tắm vào tâm hồn khô hạn bấy lâu của cậu bé mười ba tuổi.
Thanh Du vội vàng cúi đầu vâng dạ. Cậu bước nhanh lại góc bàn nhỏ kê cạnh cửa sổ nhìn thẳng ra bến đò, nơi ánh sáng ban mai rọi vào tỏ tường nhất. Cậu trải phẳng phiu một miếng vải thô sạch lên mặt bàn nứa, đặt chiếc nghiên đá ong mòn vẹt xuống, rồi tỉ mỉ nhỏ từng giọt nước giếng trong vắt lên mặt nghiên. Thỏi mực tàu đen bóng được cậu cầm thẳng đứng, xoay tròn từng vòng thật đều tay, thật nhẹ nhàng, nhẫn nại mài cho đến khi một lớp mực đen nhánh, sánh mịn và thơm hương tùng bách đọng lại dưới lòng nghiên.
Đúng lúc ấy, Tiểu Mãn từ ngoài mép bến bước lên, hai tay khom khom xách theo chiếc thùng gỗ nặng trịch đựng nước sông để tráng chén bát. Vừa bước chân qua ngưỡng cửa, nhìn thấy cảnh tượng ấy, con bé bỗng khựng lại như bị ai giáng một búa vào ngực. Đôi chân trần bấm chặt xuống nền đất nện phủ vôi bột, đôi mắt mở to trừng trừng nhìn vào góc bàn, nơi những thanh thẻ tre bằng cật nứa già đã được vót nhẵn bóng, xếp thành từng hàng thẳng tắp như đội ngũ quân binh đang chờ lệnh.
Thanh Du ngồi xuống chiếc ghế con, lưng thẳng tắp, hít một hơi thật sâu để gom hết sự tĩnh tâm trong lồng ngực rồi mới hạ ngọn bút lông xuống mặt tre. Đôi ngón tay gầy guộc nhưng cầm bút vô cùng chuẩn xác, đầu ngọn lông mềm mại lướt đi thoăn thoắt, uyển chuyển như rồng bay phượng múa. Từng nét chữ Nôm chân phương, đĩnh đạc và sắc sảo hiện lên đều đặn trên nền tre vàng nhạt: *Trà xanh búp tôm hai văn*, *Trà búp nõn ướp tâm sen ba văn*, *Bánh hoa hòe ba văn*, *Bánh nếp gừng mật mía ba văn*. Từng nét sổ thẳng tắp, từng móc son dứt khoát, từng dấu chấm tròn trịa đều đặn như hạt đỗ, mực đen nhánh thấm sâu vào từng thớ cật tre láng bóng, rõ ràng và rành mạch đến mức khách bộ hành từ xa bước lên cầu ván chỉ cần liếc mắt một cái là có thể đọc được vanh vách từng chữ.
Không chỉ dừng lại ở việc viết thẻ tre, khi thấy Thanh Hà vừa tất bật đón nửa xe than củi của bác tiều phu gò Thanh Khê gánh sang rồi vội vã ghi chép vài con số ngoằn ngoèo vào mép mảnh giấy bản rời, Thanh Du liền chủ động bước lại gần, cất lời xin chị giao lại việc kiểm kê hàng họ. Cậu nhận lấy cuốn sổ bìa xanh bọc vải bổi đã ố vàng, ngồi ngay ngắn kẻ lại các cột mục thu chi rõ ràng theo từng ngày: lượng than nhập kho, số lượng củi gộc tiêu hao cho ba cữ đun nước sáng, trưa, chiều, cùng số tiền kẽm đã chi trả sòng phẳng cho người bán.
Bằng sự cẩn trọng bẩm sinh và trí nhớ tuyệt vời của một đứa trẻ từng phải âm thầm nuốt nước mắt theo dõi từng mớ chi phí khống, từng mưu mô bớt xén tiền công của vợ chồng Liễu Đức Thuận bên bờ nam, Thanh Du đối chiếu chuẩn xác từng xâu tiền đồng với lượng củi thực nhận. Đôi mắt sắc sảo của cậu chỉ lướt qua một lượt đã nhận ra ngay chỗ người bán than tính dôi ra ba bó củi vụn ẩm nước ở đáy sọt, nhẹ nhàng chỉ ra bằng giọng điệu lễ độ nhưng khúc chiết khiến bác tiều phu chỉ biết gãi đầu cười xòa nhận lỗi rồi vui vẻ bớt lại số tiền thừa.
Nhìn những tấm bảng giá bằng thẻ tre mới tinh đung đưa nhè nhẹ dưới mái hiên lộng gió cùng cuốn sổ hàng ngăn nắp, mực còn thơm mùi giấy mới đặt ngay ngắn nơi góc chạn bát, khách qua bến ghé vào uống trà ai nấy đều trầm trồ tấm tắc ngợi khen.
Bác phu than A Sinh vừa đặt đôi đòn gánh nặng trĩu xuống bờ kè, bước lên hiên quán, ngửa cổ uống một hơi cạn sạch bát nước chè xanh đậm lửa, liền đưa tay quẹt ngang chòm râu mép lấm tấm mồ hôi, cười ha hả bảo:
"Cô Hà khéo dạy em thật đấy nhé! Quán trà nhỏ mé sông bến đò này mà có chữ nghĩa đàng hoàng treo ngay trước mặt, sổ sách lại quy củ, minh bạch đâu ra đấy thế này thì trông chẳng khác gì mấy hiệu trà lớn trên phố huyện cả. Cánh phu phen thuyền bè tụi tôi mắt nhắm mắt mở bước vào, nhìn vào tấm thẻ tre là biết giá cả rõ ràng, bụng dạ yên tâm không lo bị bắt chẹt nửa đồng kẽm, uống bát nước cũng thấy thanh thản cả người!"
Những lời tán dương chân thành ấy của khách qua đường như những giọt mật ngọt rót vào lòng Thanh Hà, khiến nàng vừa tự hào vừa ấm áp khôn xiết. Thế nhưng, đối với Tiểu Mãn đang đứng nép mình sau vại nước lớn bên hiên sau, từng câu từng chữ ấy lại chẳng khác nào những mũi kim nhọn hoắt đâm thẳng vào tâm can non nớt của nó.
Con bé đứng chết lặng, đôi bàn tay gầy khẳng khiu túm chặt lấy vạt áo vá đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra. Nỗi sợ hãi tột cùng vốn đã âm ỉ cháy âm ỉ trong lòng nó suốt từ đêm qua đến giờ bỗng chốc bùng lên dữ dội như một ngọn lửa hoang.
Trong đôi mắt đầy ám ảnh của Tiểu Mãn, Thanh Du không chỉ là em trai ruột thịt máu mủ của chị Hà, mà còn là một người có học thức đàng hoàng, biết đọc văn tự, biết múa bút viết chữ đẹp, lại biết tính toán sổ sách tinh tường hơn bất cứ ai. Còn nó thì sao? Nó chỉ là một đứa trẻ mồ côi ăn xin lang thang đầu đường xó chợ, không cha không mẹ, không gốc gác quê hương, một chữ bẻ đôi giắt lưng cũng không có. Cả đời nó từ trước đến nay chỉ thạo mỗi việc cắm đầu cắm cổ rửa chồng bát đĩa tanh ngắt, gánh những thùng nước sông nặng trĩu sái cả bả vai, và cúi rạp người xuống lượm lặt từng đồng tiền lẻ, tiền boa rơi vãi dưới gầm chõng tre của khách qua đường.
Tiểu Mãn cắn chặt môi đến ứa máu, bụng bảo dạ trong nỗi tuyệt vọng câm lặng: *Chị Hà đã chuộc được em trai ruột thịt về rồi. Cậu ấy vừa giỏi giang vừa khéo léo thế kia, biết viết bảng giá sang trọng, biết giữ tiền giữ sổ rành mạch cho quán, cái quán trà này cần gì một đứa ăn bám vô tích sự như mình nữa? Sớm muộn gì chị ấy cũng đuổi mình đi thôi... Đúng rồi, sớm muộn gì mình cũng bị tống cổ ra đường, y hệt như cái lần bà bán bánh rán ở chợ Đông Tân năm ngoái từng xua đuổi mình khi bà ta đón được đứa cháu họ ở quê ra phụ việc vậy.*
Càng nghĩ, lồng ngực Tiểu Mãn càng thắt lại, sống mũi cay xè, nước mắt chực trào ra nơi khóe mi. Suốt cả buổi sáng hôm ấy, con bé đâm ra phụng phịu, mặt mày ủ rũ như chiếc lá úa ngâm nước lũ. Ai gọi bát trà, ai xin thêm ấm nước nóng, nó cũng chỉ dạ lí nhí một tiếng cộc lốc trong cổ họng rồi cúi gằm mặt lủi nhanh đi chỗ khác, tránh né tất cả những ánh nhìn của mọi người.
Đến giữa buổi, khi một thuyền buôn gốm sứ vừa cập bến khiến quán đông nghẹt người, khách ngồi tràn cả ra mé hiên đá, Thanh Du thấy Tiểu Mãn một mình gồng lưng bưng chiếc khay gỗ tròn xếp bốn bát trà bốc khói nghi ngút, bước đi chao đảo vì sức nặng của nước sôi, liền vội vã buông cây bút trên tay bước tới định đỡ lấy giùm:
"Tiểu Mãn, để tôi bưng bớt hai bát cho, nước sôi sùng sục thế này nặng lắm, coi chừng vấp mép ván trượt chân bỏng da đấy."
Thế nhưng, vừa thấy bóng Thanh Du bước tới, Tiểu Mãn liền vùng vằng nghiêng hẳn người sang một bên để né tránh cái vươn tay của cậu. Cặp mắt con bé trợn tròn, trừng trừng nhìn Thanh Du đầy vẻ hằn học, giọng the thé gắt gỏng:
"Không cần cậu đụng tay vào! Đừng có giả vờ tốt bụng! Việc bưng bê đón khách, rửa chén lau bàn xưa nay là việc của tôi ở cái quán này! Cậu hay chữ, cậu giỏi giang thì cứ việc ngồi một chỗ trên phản mà vẽ vời sổ sách sang trọng của cậu đi, đừng có tìm cách giành giật việc của tôi!"
Nói dứt lời, chẳng đợi Thanh Du kịp phản ứng, con bé thoăn thoắt lách người qua khe hẹp giữa bàn nứa, bặm môi bước thoăn thoắt mang khay trà ra bàn cho khách với vẻ mặt cau có, hậm hực.
Thanh Du đứng sững sờ giữa lối đi hẹp. Đôi bàn tay cậu vẫn ngập ngừng giơ lơ lửng giữa không trung, khuôn mặt thanh tú thoáng chốc đỏ bừng lên vì ngượng ngùng và bối rối trước ánh mắt tò mò của mấy người khách ngồi gần đó. Cậu bé mím chặt môi, lặng lẽ rụt tay lại, cụp mắt xuống rồi chầm chậm quay trở về bàn sổ sách. Cậu ngồi xuống chiếc ghế con, cầm lại cây bút nhưng ngọn bút ngập ngừng giữa khoảng không, không tài nào hạ xuống trang giấy bản được nữa.
Đến giữa trưa, khi chuyến đò ngang của Từ Bá chở đoàn khách buôn sang bờ tây sông Vọng Giang, quán trà mé sông mới tạm thời vắng khách. Gió sông thổi qua những khe nứa mát rượi, xua đi bớt cái oi nồng của buổi trưa hanh hao. Tranh thủ lúc nông nhàn, Thanh Hà mang chiếc thúng tre sang sạp bột của Đỗ Nguyệt Nương ở đầu bến để lấy thêm hai đấu bột nếp hoa vàng và một niêu mật mía đặc sánh để tối về chuẩn bị nấu mẻ bánh gừng mật phục vụ khách chuyến đò sớm ngày mai. Trước khi rảo bước rời đi, nàng không quên ngoái đầu dặn dò hai đứa nhỏ ở nhà chịu khó quét dọn lại gian bếp và khoảng chái sau cho tươm tất, sạch sẽ.
Sau khi bóng dáng Thanh Hà khuất sau rặng tre đầu bến, trong gian lều tranh chỉ còn lại tiếng củi than lách tách nổ nhỏ trong lòng lò đất đắp. Tiểu Mãn cắm cúi cầm chiếc chổi đót quét mạng nhện trên vách nứa phía trước hiên quán. Con bé cố tình vung chổi thật mạnh, va đập cán tre vào vách liếp tạo nên những tiếng kêu lạch cạch thật lớn, thật chát chúa giữa không gian yên ắng, như thể đang dùng hết sức bình sinh để gào thét, để chứng minh cho gian quán này thấy rằng sự hiện diện và sức lao động của nó là không thể nào thay thế được.
Ở phía sau, Thanh Du sau khi cẩn thận lau sạch ngọn bút lông, đậy nắp nghiên mực và xếp gọn những thẻ tre còn thừa vào góc chạn, liền lặng lẽ xách chiếc chổi đót khác bước xuống góc bếp phía sau để quét dọn đám rơm rạ mục và đất cát vương vãi sau đợt dọn bùn lụt.
Góc bếp phía sau chiếc lò đất nung vốn là một nơi vô cùng ẩm thấp và tối tăm, sát mé tường đất đắp vách đá hộc. Ở đó có đặt một chiếc lu sành cũ kỹ màu da lươn đã bị nứt một đường dài dọc theo thân lu, miệng lu đậy hờ bằng một mảnh sành vỡ mà Thanh Hà thường dùng để ủ tro bếp giữ ấm cho những đêm đông giá rét. Thấy bụi đất và rác rơm bám đầy quanh chân lu bốc mùi ẩm mốc, Thanh Du bèn khom lưng xuống, hai tay ôm lấy thân lu, dùng sức đẩy chiếc lu sành sang một bên để có thể quét sạch lớp rác mục đọng bên dưới đáy.
Thế nhưng, chiếc lu sành vốn đã nứt toác lại phải ngâm mình trong dòng nước lũ đục ngầu suốt mấy ngày đêm trước đó nên lớp xương gốm bên trong đã trở nên giòn vụn, mục ruỗng. Khi Thanh Du vừa mới dùng lực kéo nhẹ một cái, phần thân dưới của chiếc lu bất ngờ vỡ toác ra thành hai mảnh lớn.
"Rắc!"
Một tiếng gãy vỡ khô khốc, chói tai vang lên giữa gian bếp vắng lặng.
Chiếc lu sành đổ nghiêng sang một bên, làm tróc một mảng tro than xám xịt và để lộ ra một hốc đất nhỏ được khoét sâu, vuông vức ngay dưới chân tường gạch nung giáp mép nền đá. Và nằm gọn ghẽ, kín đáo bên trong chiếc hốc đất ấy là một chiếc hộp gỗ nhỏ nhắn làm bằng gỗ thị đã ngả màu nâu sẫm, phía trên nắp có gắn một chiếc then cài bằng đồng sáng bóng, sạch sẽ không vương một hạt bụi than.
Thanh Du giật mình trố mắt nhìn vật lạ vừa lộ ra. Cậu buông chiếc chổi đót, vừa khom người xuống định nhìn cho rõ thì từ phía cửa trước, một bóng người gầy guộc đã lao vụt vào như một cơn lốc dữ dội.
"Buông ra! Mau buông tay ra! Trả lại cho tôi! Đồ quân ăn cướp ban ngày!"
Tiểu Mãn hét toáng lên, tiếng thét the thé, chói gắt xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của buổi trưa vắng. Con bé lao bổ tới như một con thú nhỏ bị dồn vào đường cùng, hai mắt đỏ ngầu vằn lên những tia máu, mái tóc bù xù bay tán loạn phủ kín trán. Nó chẳng màng đến những mảnh sành sắc nhọn của chiếc lu vỡ đang vương vãi lởm chởm dưới nền đất, nhào thẳng cả thân mình xuống đất, dùng hai cánh tay khẳng khiu ôm chầm lấy chiếc hộp gỗ then đồng, siết chặt nó vào sát lồng ngực gầy guộc của mình như thể đang dùng cả tính mạng để bảo vệ báu vật duy nhất trên đời.
Nước mắt con bé tuôn trào lã chã, lăn dài trên đôi gò má lem luốc tro than và bụi vôi. Nó vừa khóc nấc lên từng chặp nghẹn ngào, vừa ngước nhìn Thanh Du bằng ánh mắt trừng trừng đầy thù hận, căm phẫn và khiếp hãi tột cùng:
"Cậu lục lọi chỗ này làm gì?! Cậu rình mò rình rập để lấy trộm tiền của tôi đúng không?! Cậu cậy mình là em trai ruột thịt của chị Hà, cậu cậy mình có học chữ nghĩa đàng hoàng, cậu muốn đuổi tôi đi ra đường rồi tịch thu hết tiền của tôi chứ gì?! Tôi không cho! Tôi tuyệt đối không cho cậu đụng vào! Đây là tiền công của tôi! Là tiền chị Hà trả cho tôi đàng hoàng bằng mồ hôi nước mắt của tôi! Cậu đừng có hòng cướp mất bát cơm của tôi!"
Thanh Du đứng chết trân tại chỗ, bàn tay đang vươn ra nửa chừng khựng lại cứng đờ. Cậu bé mười ba tuổi vừa trải qua hai năm trời sống trong sự nghi kỵ cay nghiệt, bị bóc lột đến tận xương tủy và từng ngày từng giờ phải chứng kiến những toan tính lừa lọc, gian dối sổ sách của gia đình bác họ Liễu Đức Thuận bên bến Nam Kiều, trong lòng vốn dĩ đã hình thành một nỗi căm ghét tột cùng đối với những hành vi mờ ám, giấu giếm. Nay bỗng dưng nhìn thấy chiếc hộp gỗ khóa chặt chôn sâu dưới hốc đất sau chân lò, lại bị quy chụp là kẻ cắp, kẻ cướp giật giữa ban ngày ban mặt, lòng tự trọng và sự kiêu hãnh của một đứa con nhà gia giáo bỗng chốc bùng nổ dữ dội.
Khuôn mặt Thanh Du đỏ bừng lên vì tức giận, hai bờ môi mỏng mím chặt run rẩy, lồng ngực phập phồng nghẹn ứ:
"Tôi... tôi chỉ quét dọn góc bếp ẩm mốc, chiếc lu sành cũ tự vỡ chứ ai thèm rình mò lục lọi đồ đạc của cô làm gì! Với lại, đã cùng ở chung dưới một mái lều tranh, cùng ăn chung một nồi cơm, cùng chung lưng đấu cật chia ngọt sẻ bùi với chị tôi qua bao cơn hoạn nạn, cớ sao cô phải lén lút đào hốc chôn giấu tiền bạc sau chân lò như kẻ trộm làm điều khuất tất thế kia? Chẳng lẽ cô không tin tưởng chị tôi, hay là cô sợ người trong cái nhà này sẽ tham lam chiếm đoạt tiền bạc của cô?!"
"Cậu thì biết cái quái gì mà nói!" Tiểu Mãn gào lên, nước mắt nước mũi giàn giụa khắp mặt, hai bàn tay nó bấu chặt vào chiếc hộp gỗ đến mức móng tay găm sâu vào thớ gỗ thị. "Cậu có bao giờ phải chịu cảnh nhịn đói ba ngày ba đêm liền, bụng đói cồn cào phải đi bới rác xin ăn rồi bị người ta xua chó ra đuổi cắn như đuổi tà ma chưa? Cậu có bao giờ nếm trải cái cảm giác bị người ta tống cổ ra đường giữa đêm đông mưa phùn gió bấc rét buốt thấu xương mà trong túi áo không có nổi một đồng kẽm rỉ sét để mua một mẩu khoai khô lót dạ chưa?! Cậu sinh ra có cha có mẹ, có chữ nghĩa nâng đỡ, cậu thì hiểu thế nào được nỗi khổ của một đứa ăn mày như tôi! Tôi không tin cậu! Tôi không tin ai trên đời này hết! Cậu về đây là để cướp chỗ, để tống cổ tôi đi!"
"Hai đứa đang làm cái trò gì thế này?!"
Một giọng nói thanh thoát nhưng đanh thép, vang dội như một tiếng sấm rạch ngang bầu không khí đặc quánh mùi giận dữ.
Thanh Hà đứng sững nơi ngưỡng cửa bếp, chiếc nón lá rách vành còn cầm trên tay, chiếc thúng đựng hai đấu bột nếp hoa vàng và niêu mật mía được nàng đặt vội vàng xuống bậu cửa tre. Đôi mắt nàng mở to bàng hoàng nhìn khắp cảnh tượng hỗn loạn trước mắt: những mảnh sành sắc nhọn vỡ nát ngổn ngang dưới nền đất, bụi than xám xịt bay mù mịt khắp gian bếp, Tiểu Mãn ngồi bệt dưới đất ôm chặt chiếc hộp gỗ khóc nấc lên từng cơn rung bần bật cả bờ vai gầy, còn Thanh Du thì đứng trơ trọi run rẩy, hai nắm tay siết chặt bên sườn, đôi mắt ngấn lệ vì uất ức và tổn thương sâu sắc.
Bầu không khí trong gian lều lập tức chùng hẳn xuống, ngột ngạt đến nghẹt thở. Cả hai đứa trẻ đều giật nảy mình, tiếng cãi vã im bặt, chỉ còn lại tiếng nấc xé lòng, dồn dập của Tiểu Mãn hòa cùng tiếng than củi lép bép trong lò đất.
Thanh Hà bước nhanh vào trong, xoay người đóng then cài cửa bếp lại để ngăn những ánh mắt tò mò soi mói từ phía bến đò nhìn vào. Nàng không hề vội vàng cất tiếng mắng mỏ hay thiên vị bất kỳ ai. Đặt chiếc nón lá lên chạn, nàng lẳng lặng bước đến góc bếp, cẩn thận nhặt từng mảnh sành vỡ sắc nhọn xếp gọn gàng vào chiếc xẻng tre đem đổ ra góc vườn, tránh cho hai đứa trẻ giẫm phải mà đứt chân. Sau đó, nàng bước lại chậu thau đồng, múc một gáo nước giếng mát lành, giặt sạch chiếc khăn vải thô rồi nhẹ nhàng tiến lại quỳ một chân xuống trước mặt Tiểu Mãn:
"Lau mặt đi con, tro than bám đầy mắt mũi rồi kìa."
Tiểu Mãn run rẩy rụt người lùi lại phía sau, đầu cúi gằm xuống, hai cánh tay vẫn ghì chặt chiếc hộp gỗ then đồng giấu biến ra sau lưng. Con bé ngước nhìn Thanh Hà bằng ánh mắt thảng thốt, vừa sợ hãi vừa mang nặng mặc cảm tội lỗi, bờ môi mím chặt không dám vươn tay đón lấy chiếc khăn ướt từ tay nàng.
Thanh Hà khẽ thở dài, đưa tay nhẹ nhàng chấm chiếc khăn ẩm lên lau sạch vệt nước mắt và tro than trên đôi gò má gầy guộc của Tiểu Mãn, rồi nàng mới chậm rãi quay sang nhìn đứa em trai đang đứng chết trân bên cạnh. Ánh mắt nàng nhìn Thanh Du vô cùng nghiêm nghị, nhưng sâu thẳm trong đáy mắt lại chất chứa một vẻ trầm tĩnh, bao dung:
"Thanh Du, em nói cho chị nghe, rốt cuộc đầu đuôi câu chuyện vừa rồi là thế nào?"
Thanh Du nuốt khan một ngụm nước bọt nghẹn ắng nơi cổ họng, cố nén giọt nước mắt đang chực trào ra trên khóe mi vì nỗi tủi thân và uất ức đang dâng trào trong lồng ngực:
"Chị Hai... Em quét dọn góc bếp phía sau lò, vô tình đẩy chiếc lu sành nứt khiến nó vỡ toác ra. Chiếc lu vỡ làm lộ ra chiếc hộp gỗ này trong hốc tường. Em thề với chị là em chưa hề chạm tay vào chiếc hộp, vậy mà Tiểu Mãn vừa chạy vào đã xông tới chửi em là quân ăn cướp ban ngày, bảo em muốn tịch thu tiền của nó, muốn đuổi nó đi... Em... em chỉ tức giận bảo rằng, đã là người sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn một nồi cơm, cùng chịu hoạn nạn gian khó với chị, cớ sao phải lén lút đào hốc chôn giấu tiền bạc sau chân lò như kẻ trộm làm điều khuất tất thế kia? Chẳng lẽ ở quán trà này, chị đối đãi với nó không công bằng, không đủ đầy hay sao mà nó phải nghi kỵ, giấu giếm người trong nhà như vậy?"
Thanh Hà đứng yên lặng lắng nghe từng lời trần tình của em trai, nét mặt nàng điềm tĩnh, không hề biến đổi một nét cơ nào. Đợi cho Thanh Du dứt lời và tiếng thở của cậu bé dần chậm lại, nàng mới khẽ buông một tiếng thở dài nhẹ như làn gió thoảng. Nàng bước lại gần, vươn bàn tay ấm áp đặt lên bờ vai đang run rẩy của cậu bé, khẽ hỏi:
"Thanh Du, em nghĩ rằng hễ cứ sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung một mâm cơm thì tất cả mọi thứ trên đời này đều phải phơi bày trần trụi ra trước mắt nhau, không một ai được phép có một góc riêng tư cho chính mình sao?"
Thanh Du ngước đôi mắt ướt đẫm nhìn chị gái, ánh mắt lộ rõ vẻ băn khoăn, hoang mang:
"Nhưng... giấu giếm tiền bạc sau chân lò, giấu trong bóng tối chẳng phải là biểu hiện của sự nghi kỵ, không thật lòng coi nhau là ruột thịt người nhà hay sao chị? Ở bên bờ nam bến Nam Kiều, bác dâu cả ngày giấu giếm tiền riêng trong vách buồng để dành dụm mua ruộng cho con trai bác ấy, ngoài mặt thì than nghèo kể khổ, bảo không có nổi một đồng kẽm mua sách vở cho em ăn học... Hai năm qua em đã chứng kiến biết bao cảnh giấu giếm dối trá đê tiện ấy rồi, em ghét cay ghét đắng sự khuất tất lén lút ấy lắm chị ơi!"
"Đó là chuyện của nhà bác Thuận bên Nam Kiều, không phải là chuyện dưới mái nhà này của chị em ta," giọng Thanh Hà chùng xuống, dịu dàng hơn nhưng từng lời từng chữ nàng thốt ra đều vô cùng rõ ràng, đanh thép và dứt khoát. "Em nghe cho thật kỹ đây, Thanh Du. Chiếc hộp gỗ thị có then đồng kia không phải là đồ ăn cắp ăn trộm, càng không phải là thứ giấu giếm điều gì khuất tất, nhơ bẩn. Chính tay chị đã trao chiếc hộp gỗ ấy cho Tiểu Mãn vào đầu mùa hạ năm nay."
Thanh Du giật mình sững sờ. Cậu ngơ ngác nhìn chị gái, rồi lại đưa mắt nhìn xuống chiếc hộp gỗ thị sẫm màu trong vòng tay của Tiểu Mãn, đôi mày nhíu lại đầy vẻ kinh ngạc.
Thanh Hà kéo chiếc ghế đẩu thấp bằng gỗ xoan kê lại gần bên bàn bếp rồi ngồi xuống, khẽ vẫy tay kéo cả hai đứa trẻ lại gần bên mình. Nàng nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của Tiểu Mãn đặt vào lòng bàn tay ấm áp của mình, rồi cất giọng trầm ấm, kể lại rành rẽ từng biến cố:
"Trước khi chị tìm được cách chuộc em về từ lò gạch, Tiểu Mãn đã cùng chị thức khuya dậy sớm qua không biết bao nhiêu ngày mưa gió bão bùng. Con bé từng là một đứa trẻ mồ côi ăn mày đầu đường xó chợ, từng bị người đời xua đuổi, hắt hủi, đánh đập và vứt bỏ không biết bao nhiêu lần giữa mùa đông giá rét. Nỗi sợ hãi tột cùng về việc một ngày nào đó lại bị tống cổ ra đường, lại phải chịu cảnh đói khát bơ vơ đã ăn sâu vào từng đường gân thớ thịt của con bé rồi. Hồi mới về quán phụ việc cho chị, nó mót từng đồng tiền kẽm rỉ sét do khách bộ hành làm rơi dưới cầu ván, chắt chiu từng cắc tiền boa lẻ loi mà khách hảo tâm cho riêng, rồi lén lút giấu dưới chân lò đất nung này. Khi chị phát hiện ra, chị không hề mắng mỏ, không hề tra khảo, và càng không bao giờ có ý định tịch thu của nó dù chỉ nửa đồng kẽm. Ngược lại, chính tay chị đã tìm mua chiếc hộp gỗ thị này trao cho nó, định mức tiền công cho nó mỗi tháng ba mươi văn tiền sòng phẳng như một người làm công chân chính, và cho phép nó được toàn quyền cất giữ, tích cóp tài sản riêng của chính bản thân nó."
Thanh Hà ngước mắt nhìn thẳng vào đôi mắt đang dao động dữ dội của em trai, ánh mắt nàng chất chứa sự nghiêm khắc của một người chị cả gánh vác cả gia đình, nhưng cũng tràn ngập sự thấu hiểu bao la của một người từng nếm trải mọi đắng cay nhân thế:
"Thanh Du, em phải nhớ điều này: con người ta dù nghèo khó đến đâu, dù sống chung dưới một mái nhà gắn bó ruột thịt hay người dưng cưu
mang lẫn nhau, ai nấy đều có quyền riêng tư và quyền sở hữu những thứ do chính mồ hôi nước mắt mình làm ra. Tiểu Mãn kiếm được tiền công bằng sức lao động rửa chén, gánh nước, dọn quán của nó; khách cho nó tiền boa vì nó đon đả, chu đáo. Số tiền trong chiếc hộp gỗ ấy là mồ hôi, là niềm hy vọng và là chỗ dựa tinh thần của con bé. Việc nó cất giữ ở đâu, giữ bao nhiêu là quyền của nó, chừng nào nó không trộm cắp của quán hay gian dối với chị. Em không thể vì một chữ 'người một nhà' mà bắt người khác phải từ bỏ quyền tự do và sự an toàn của riêng họ. Em nóng vội phán xét con bé giấu giếm, khuất tất là em đã sai rồi."
Từng lời nói của Thanh Hà rành rẽ, khúc chiết, rơi vào khoảng không gian tĩnh mịch của gian lều như từng tiếng chuông đồng thong thả gõ nhịp, dội thẳng vào tâm can Thanh Du. Gian bếp nhỏ chỉ còn nghe tiếng củi cháy lách tách nơi đáy lò và tiếng thở khe khẽ, nghẹn ngào của đứa trẻ mồ côi.
Thanh Du sững sờ chôn chân tại chỗ. Những lời của chị gái như một luồng ánh sáng lạnh buốt rọi thẳng vào góc khuất hẹp hòi vừa manh nha trong suy nghĩ non nớt của cậu, bóc trần sự đường đột và thói trịch thượng vô căn cứ mà chính cậu cũng không nhận ra. Cậu bàng hoàng nhận thấy mình đã để cái danh xưng "em trai ruột", cái định kiến mù máng về sự "trong sạch, quang minh" biến thành một thứ vũ khí tàn nhẫn, vô tình giáng xuống đầu một đứa trẻ vốn dĩ đã chịu quá nhiều thương tích của cuộc đời.
Từng đợt ký ức đen tối, lạnh lẽo nơi lò gạch cũ bỗng chốc từ tầng sâu dĩ vãng cuồn cuộn ùa về bóp nghẹt lồng ngực cậu thiếu niên.
Thanh Du nhớ lại những đêm đông rét buốt thấu xương nơi lán thợ, gió bấc rít qua từng khe vách nứa rách nát, thổi thốc vào da thịt những hạt bụi than cay xè. Cậu nhớ lại đôi bàn tay nứt nẻ rớm máu của chính mình khi run rẩy giấu giếm từng mảnh giấy con con—những lá thư chan chứa tình thương mà chị Hà thiên lý tương tư gửi đến—vào tận đường viền gấu áo vá chằng vá đụp. Cậu nhớ như in cái cảm giác tim đập thình thịch đến nghẹt thở mỗi bận Liễu Đức Thuận mang bộ mặt hằm hằm, sặc sụa mùi rượu rẻ tiền bước vào, giật tung cái bọc tay nải rách của cánh phu phen để sục sạo, lục lọi từng manh chiếu, từng vạt cỏ khô chỉ để xem bọn họ có lén giấu giếm được vài ba cắc kẽm hay mẩu khoai lùi nào không.
Nỗi khiếp nhược, sự nhục nhã khi chốn nương náu cuối cùng của bản thân bị giẫm đạp thô bạo ấy, cậu há chẳng phải đã từng nếm trải đến tận cùng xương tủy đó sao? Chẳng phải trong những tháng ngày tăm tối, cùng quẫn đến cùng cực ấy, chính cậu cũng từng khát khao đến cháy bỏng có được một góc nhỏ bí mật, một chốn tôn nghiêm bất khả xâm phạm để cất giữ chút hơi ấm tình thân mà không bị bất kỳ ai nhòm ngó, phán xét hay cướp đoạt hay sao?
Vậy mà chỉ vừa mới bước chân về đây, vừa được sống dưới mái che chở ấm êm của chị, cậu lại đem chính cái sự nghi kỵ tàn nhẫn ấy trút lên đầu Tiểu Mãn—một đứa trẻ thậm chí còn côi cút, bơ vơ và chịu nhiều cay đắng hơn cả mình.
Thanh Du cúi gầm mặt xuống. Vành tai cậu đỏ rực lên, rồi vết ửng đỏ lan dần xuống cổ, nóng bừng vì xấu hổ và ân hận tột cùng. Hai bàn tay cậu buông thõng bên hông, những ngón tay khẳng khiu bối rối xoắn chặt vào nhau, khớp ngón tay trắng bệch ra vì dằn vặt. Cậu không dám ngước lên nhìn thẳng vào mắt chị, lại càng không dám nhìn vào khuôn mặt đẫm nước mắt của Tiểu Mãn đang ngồi co ro bên cạnh.
Thanh Hà khẽ thở dài một tiếng thật nhẹ. Ánh mắt bao dung của nàng chuyển từ bóng dáng thất thần của em trai sang khuôn mặt tái nhợt của Tiểu Mãn. Đứa trẻ lúc này đã thôi nấc nở dữ dội, nhưng bờ vai gầy guộc dưới lớp áo vá vẫn còn run lên từng chặp ngắt quãng. Đôi mắt to tròn sưng húp, viền mi đỏ hoe ngước lên nhìn nàng đầy vẻ bất an và kinh sợ, trong khi những ngón tay nhỏ thó, đen đúa vẫn ghì chặt lấy chiếc then cài bằng đồng của chiếc hộp gỗ thị như một phao cứu sinh duy nhất giữa biển đời giông bão.
"Còn Tiểu Mãn," giọng Thanh Hà chùng xuống, nghiêm khắc nhưng chan chứa sự xót thương vô hạn. "Chị đã nói với con biết bao nhiêu lần rồi? Quán trà này là nhà của con, chừng nào con còn chăm chỉ, thật thà thì không một ai có quyền đuổi con đi hết. Thanh Du là em trai ruột của chị, nhưng cậu ấy về đây là để cùng chị em ta gầy dựng cuộc sống, chứ không phải về để cướp mất bát cơm của con. Con thấy cậu ấy viết bảng giá đẹp, thấy cậu ấy kiểm sổ giỏi, con không mừng cho quán mà lại đi sinh lòng ghen ghét, phụng phịu, xa lánh người ta. Khi người ta vô tình làm vỡ lu, con chưa hỏi đầu đuôi xuôi ngược đã gào lên mắng nhiếc, chụp mũ cậu ấy là đồ cướp ngày. Hành xử như thế có xứng đáng là một đứa trẻ hiểu chuyện, biết điều mà chị hằng tin tưởng không?"
Từng lời răn dạy như dòng nước ấm len lỏi vào cõi lòng đang đóng băng vì sợ hãi của Tiểu Mãn. Đứa trẻ run rẩy buông lỏng hai cánh tay vốn dĩ đang ghì chặt trước ngực. Chiếc hộp gỗ thị sẫm màu trượt dần xuống, nằm im lìm trên hai đầu gối khẳng khiu của nó. Con bé cúi gục đầu xuống ngực, cằm chạm vào cổ áo thô nhám. Hai giọt nước mắt to tròn, mặn chát đọng lại nơi khóe mi rồi lăn dài qua gò má gầy guộc, rơi "tách" một tiếng thật trong trẻo ngay trên mặt nắp hộp nhẵn bóng vương bụi tro.
"Con... con sai rồi thưa chị Hà," Tiểu Mãn lí nhí trong cổ họng, giọng con bé nghẹn ngào, run rẩy như muốn vỡ vụn ra từng mảnh trong bầu không khí ấm áp của gian bếp. "Con sợ... con sợ lắm chị ơi. Mấy hôm nay thấy cậu Du về, cậu ấy vừa sáng dạ vừa biết chữ nghĩa, lại là ruột thịt của chị... con cứ sợ cậu ấy về thì chị không cần con nữa. Con thì dốt nát không biết lấy một chữ bẻ đôi, con chỉ biết làm mấy việc chân tay bẩn thỉu lem luốc... Con sợ chị chê con vô dụng, con sợ chị đuổi con đi... Con sợ lại phải quay về những ngày bới rác gặm vỏ ngô ngoài bến sông..."
Bao nhiêu tủi hờn, bao nhiêu nỗi hoảng loạn tích tụ suốt mấy ngày qua vỡ òa ra theo tiếng khóc nấc nghẹn ngào. Đứa trẻ rụt rè đưa mu bàn tay áo thô lên quẹt ngang mặt, nhưng càng quẹt thì dòng nước mắt tủi thân lại càng trào ra giàn giụa.
Thanh Hà không nói thêm một lời trách cứ nào nữa. Nàng nghiêng người tới, giang rộng vòng tay ôm chặt cả hai đứa trẻ vào lòng mình. Vòng tay của người chị cả vững chãi, ấm áp, phảng phất mùi hương nếp mới thơm dịu quyện lẫn hương trà xanh tươi mát và vị khói lam chiều quen thuộc của gian bếp nhỏ. Nàng để đầu Tiểu Mãn tựa vào vai trái, tay phải vỗ về lưng Thanh Du, nhẹ nhàng xoa dịu những nỗi đau hằn sâu trong tâm hồn hai đứa trẻ sớm phải chịu cảnh đời vùi dập.
"Không ai đuổi con đi cả," Thanh Hà dịu dàng cất giọng, bàn tay nàng khẽ xoa đầu Tiểu Mãn, vuốt lại những lọn tóc tơ lơ thơ rối bời vì gió sông. "Hai đứa các con đều là những đứa trẻ phải chịu nhiều cay đắng, thiệt thòi từ bé. Nhưng từ nay, dưới mái lều này, chúng ta là một gia đình. Gia đình không phải là nơi ai lấn lướt ai, càng không phải nơi bắt ép nhau phải giống hệt nhau. Gia đình là nơi mỗi người đều có chỗ đứng của mình, biết tôn trọng tài sản, ranh giới của nhau, và cùng nhau san sẻ gánh nặng. Hai đứa có hiểu không?"
Một sự tĩnh lặng thiêng liêng bao trùm lên gian lều bến đò. Hơi ấm từ lồng ngực Thanh Hà như dòng suối trong lành xua tan đi mọi băng giá, nghi kỵ và sợ hãi.
Thanh Du hít một hơi thật sâu, lồng ngực cậu phập phồng run rẩy. Cậu ngẩng đầu lên khỏi bờ vai ấm của chị, đôi mắt đã lấy lại sự trong sáng, cương nghị vốn có của một người thiếu niên được rèn giũa qua hoạn nạn. Cậu nhìn thẳng vào khuôn mặt đẫm lệ, hốc hác của Tiểu Mãn. Không còn chút ngập ngừng hay cao ngạo nào nữa, Thanh Du bước lùi lại một bước, chỉnh đốn lại vạt áo vải thô trên người, rồi chắp hai tay trước ngực, gập người cúi đầu thật sâu trước cô bé nhỏ hơn mình vài tuổi:
"Tiểu Mãn, vừa rồi là do tôi hấp tấp, không hiểu chuyện mà đã lớn tiếng xúc phạm cô. Tôi xin lỗi cô. Chiếc lu đất bị vỡ, chiều nay tôi sẽ sang bên lò gạch cũ lấy đất sét miết lại thật chắc chắn cho cô."
Tiểu Mãn ngẩn ngơ trố mắt nhìn cậu thiếu niên đang nghiêm cẩn cúi đầu trước mình. Nó ngồi chết trân trên chiếc ghế đẩu, hai bờ môi khẽ mấp máy mà không thốt nên lời. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ, sống kiếp con sâu cái kiến đầu đường xó chợ, nó chỉ quen với những cái tát trời giáng, những cú đá thô bạo vào mạn sườn, những lời chửi rủa rủa sả xua đuổi như tà ma của những kẻ giàu sang quyền thế. Chưa từng có một ai—huống chi người này lại là một cậu ấm biết chữ, biết tính toán sổ sách, là em trai ruột của người mà nó tôn kính nhất—chịu hạ mình cúi đầu, chắp tay tạ lỗi với một đứa trẻ mồ côi rách rưới bằng sự chân thành, mực thước và tôn trọng đến nhường này.
Cảm giác ngỡ ngàng qua đi, nhường chỗ cho một nỗi ngượng ngùng đỏ ửng lan khắp đôi gò má gầy guộc của con bé. Tiểu Mãn luống cuống đứng bật dậy, hai tay vội vàng ôm chiếc hộp gỗ thị giấu tọt ra sau lưng một cách vụng về, rồi đưa tay quẹt vội giọt nước mắt còn đọng nơi khóe mi. Nó bối rối cúi gập người đáp lễ, lí nhí thanh minh:
"Tôi... tôi cũng sai rồi. Tôi không nên mắng cậu là đồ cướp... Cậu đừng giận tôi nhé."
Bóng chiều dần buông xuống trên dòng Vọng Giang đỏ đục phù sa. Ánh hoàng hôn cuối cùng nhuộm tím những dải mây ngang trời, hắt lên mặt nước mênh mông một sắc vàng cam huyền ảo. Gió thu se lạnh từ ngoài lòng sông thổi thốc vào bờ bãi, làm rạt rào những rặng lau sậy trắng xao xác. Khói bếp từ gian lều nhỏ mé đông của quán trà bốc lên nghi ngút, uốn lượn từng dải bảng lảng trên mái lá rồi chầm chậm quyện vào làn gió thu, mang theo mùi hương của củi gỗ, mùi cá tươi và nếp mới, sưởi ấm cả một góc bến sông quạnh quẽ.
Bữa cơm tối hôm ấy được dọn ra trên chiếc chõng tre đã được lau chùi sạch bóng, nhẵn thín đến mức soi rõ ánh lửa bập bùng.
Ngay chính giữa mâm cơm là một âu đất lớn đựng bát canh cá nấu ngót đang bốc khói nghi ngút, thơm lừng ngây ngất. Những khúc cá trôi sông béo mẫm, vảy bạc trắng tinh khôi—chiến lợi phẩm của chuyến câu ban chiều mà Từ Bá cất công mang sang tặng—được ninh vừa chín tới, thớ thịt cá trắng ngần, mềm mại mà không hề bở nát. Nước canh trong veo ngọt lịm, đậm đà vị ngọt thanh tự nhiên của thịt cá sông quyện cùng vị chua dịu dàng, óng ả của những lát cà chua chín mọng. Trên mặt bát canh bồng bềnh những cọng hành hoa xanh mướt thái đều tăm tắp, những nhánh thì là thơm ngát đặc trưng xua tan mùi tanh của nước sông, điểm xuyết thêm vài lát ớt chỉ thiên đỏ chót, cay nồng ấm bụng giữa tiết trời chớm lạnh.
Đặt bên cạnh âu canh nghi ngút khói là một chiếc đĩa gốm mộc mạc bày những chiếc bánh nếp mật mía dẻo quánh do chính tay Thanh Hà vừa làm xong lúc chạng vạng. Những chiếc bánh tròn trịa mang màu nâu cánh gián vàng óng ả, phủ một lớp mật mía sánh mịn lấp lánh dưới ánh đèn, bên trên rắc một nhúm vừng rang vàng ruộm thơm nức mũi. Chỉ nhìn làn khói mỏng manh và hít hà mùi thơm ngọt ngào ấy thôi cũng đủ khiến bụng dạ hai đứa trẻ cồn cào sau một buổi chiều dài căng thẳng.
Ánh đèn dầu hỏa hạt đỗ đặt giữa mâm tỏa ra một quầng sáng vàng dịu dàng, ấm áp, soi rõ từng đường nét trên khuôn mặt của ba chị em. Sau khi cẩn thận múc cho mỗi đứa một bát canh đầy ắp những khúc cá ngọt thịt, Thanh Hà khẽ đặt đôi đũa tre xuống mép mâm, ánh mắt nàng trở nên đăm chiêu, giọng nói cất lên ôn tồn nhưng đầy vẻ trang trọng:
"Hôm nay, trước mặt cơm canh này, chị muốn phân chia ranh giới công việc trong quán thật rõ ràng, để từ mai hai đứa cứ theo thế mà làm, không ai giẫm chân lên ai, cũng không ai phải thấp thỏm lo âu nữa."
Nghe tiếng chị nói nghiêm cẩn, cả Thanh Du lẫn Tiểu Mãn đều lập tức buông đũa, ngồi ngay ngắn thẳng lưng lại, đưa mắt chăm chú lắng nghe từng lời răn dạy.
"Thanh Du," Thanh Hà nhìn em trai, ánh mắt nàng chan chứa sự tin cậy nhưng cũng đầy kỳ vọng của một người gánh vác cả gia đình. "Em có học thức, tính toán cẩn thận và chữ nghĩa chân phương. Trách nhiệm của em là quản lý toàn bộ sổ sách mua bán của quán, từ việc nhập củi than, kiểm đếm trà bánh mỗi ngày, đến việc viết lại các thẻ tre niêm yết giá khi có món mới. Nhưng quan trọng hơn cả, việc phụ quán chỉ là việc làm thêm vào những giờ rảnh rỗi. Mục tiêu chính của em là phải dành thời gian ôn luyện thi cử, sang xuân chị sẽ nộp hồ sơ xin cho em vào học ở trường huyện Thanh Lâm. Chị dành riêng cho em góc bàn cạnh cửa sổ và ngọn đèn dầu mỗi tối để đọc sách, không ai được làm phiền em lúc học bài."
Nghe những lời ruột gan ấy của chị, Thanh Du thấy sống mũi mình cay xè. Cậu bé siết chặt đôi bàn tay trên đầu gối, bờ môi mím chặt cố ngăn không cho giọt nước mắt xúc động lăn ra. Ước mơ được trở lại bàn học, được cầm bút nghiền ngẫm kinh thư vốn dĩ là thứ cậu tưởng chừng đã vĩnh viễn bị chôn vùi dưới những hố gạch nung ngùn ngụt khói độc. Giờ đây, chính người chị gái lam lũ này lại đang dùng từng đồng bạc chắt chiu từ bát nước trà xanh để thắp lại ngọn lửa tiền đồ cho cậu.
Thanh Du cúi đầu, giọng nghẹn ứ: "Em xin nghe lời chị dạy. Em nhất định sẽ học hành chăm chỉ, ngày đêm dùi mài kinh sử, quyết không phụ công ơn trời biển của chị."
Thanh Hà mỉm cười hiền từ, khẽ gật đầu, rồi chuyển ánh mắt ấm áp sang Tiểu Mãn đang ngồi hồi hộp, hai bàn tay cứ nắm chặt lấy mép áo chõng tre:
"Còn Tiểu Mãn, công việc của con là linh hồn của quán trà này. Không ai có thể thay thế được con trong việc đón khách, xốc vác trước hiên bến. Con có tài quan sát sắc mặt khách rất tinh tế, lại nhớ mặt từng bạn hàng, từng bác phu than, phu gạo qua đò. Khách nào thích uống trà đậm cỏng vị mồ hôi, khách nào thích trà thanh nhuận họng, chỉ cần nhìn từ xa là con đã biết để đon đả chào mời. Thêm nữa, việc đun nước giếng đá ong gò Thanh Khê đúng cữ—khi nào nước vừa sủi tăm cua, khi nào nước sôi già phải hạ nhiệt tráng ấm—con đã học được từ chị, con phải chịu trách nhiệm giữ lửa cho ba lò nước lúc nào cũng sẵn sàng phục vụ. Tiền công của con vẫn giữ nguyên ba mươi văn mỗi tháng, cơm ăn áo mặc chị lo, và chiếc hộp gỗ kia là tài sản riêng bất khả xâm phạm của con."
Từng câu, từng chữ của Thanh Hà rót vào tai Tiểu Mãn như một dòng suối mát lành gột rửa sạch bong mọi nỗi sợ hãi, hoài nghi và mặc cảm đã giày vò con bé suốt bấy lâu. Không phải là một kẻ ăn nhờ ở đậu, không phải là một đứa tôi đòi có thể bị vứt bỏ bất cứ lúc nào! Chị Hà nói nó là "linh hồn của quán trà", công việc của nó là thứ không ai có thể thay thế được!
Tảng đá vô hình nặng trĩu đè nghiến lồng ngực Tiểu Mãn bấy nay dường như tan biến hoàn toàn vào thinh không, chỉ để lại một niềm tự hào và niềm xúc động dạt dào khôn tả. Đôi mắt con bé lấp lánh như có ngàn vì sao soi chiếu. Nó bưng bát canh cá lên, húp một ngụm nước dùng đậm đà chua thanh ngọt dịu, cắn một miếng bánh nếp dẻo thơm ngào ngạt mật mía. Chưa bao giờ trong cả cuộc đời côi cút trôi nổi của mình, nó được thưởng thức một bữa cơm gia đình ngon lành, ấm cúng và trọn vẹn sự an yên đến nhường này.
Sau bữa cơm tối chan hòa tiếng cười nói, ánh trăng mười rằm tròn vành vạnh bắt đầu nhô cao khỏi rặng tre xanh rì bên kia bờ sông. Ánh trăng vằng vặc như dát một dải lụa bạc lấp lánh, trải dài trên mặt nước Vọng Giang mênh mông, huyền ảo.
Thanh Hà bận rộn bên chõ hấp bánh hoa hòe đặt trên bếp lò mé ngoài để chuẩn bị mẻ bánh điểm tâm sớm mai cho khách qua đò, nàng kín đáo nhường lại khoảng không gian gian ngoài cho hai đứa nhỏ.
Gió đêm thổi qua khung cửa sổ mang theo hơi sương lạnh buốt. Thanh Du ngồi bên chiếc bàn gỗ nhỏ cạnh song thưa, cẩn thận đổ vài giọt nước giếng vào chiếc nghiên đá rồi cầm thỏi mực Tàu mài chầm chậm. Từng vòng mài đều đặn, nhịp nhàng làm dậy lên một mùi hương mực thanh tao, trầm mặc. Sau một hồi ngập ngừng, cậu bé ngẩng lên, nhìn sang Tiểu Mãn đang ngồi co ro dưới ánh đèn dầu vách nứa, chăm chú phân loại từng thanh củi khô. Thanh Du khẽ cất tiếng gọi:
"Tiểu Mãn, lại đây tôi bảo cái này."
Tiểu Mãn giật mình thon thót, vội vàng buông thanh củi trên tay xuống, chùi chùi hai bàn tay dính chút muội than vào vạt tạp dề rồi rụt rè bước lại mép bàn: "Cậu gọi tôi có việc gì thế?"
Thanh Du mỉm cười ôn hòa, cậu lấy ra một tờ giấy bản trắng tinh phẳng phiu cùng một chiếc bút lông cán trúc nhỏ nhắn. Cậu chấm nhẹ đầu lông vũ vào nghiên mực đen sánh, gạt nhẹ cho bớt mực thừa rồi đưa chiếc bút về phía cô bé:
"Chị Hai bảo tôi mỗi tối đều phải học bài. Nhưng trước khi học bài của tôi, tôi muốn dạy cô tập viết. Cô có muốn học viết tên họ của mình không?"
Tiểu Mãn sững người, đôi mắt mở to hết cỡ, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ đến mức toàn thân run lên bần bật: "Tôi... tôi cũng được học chữ sao? Tôi làm gì có tên họ đàng hoàng, tôi chỉ tự gọi mình là Tiểu Mãn thôi mà..."
"Tên Tiểu Mãn là một cái tên rất đẹp," ánh mắt Thanh Du chan chứa sự chân thành, nụ cười hiền hậu xua tan hoàn toàn vẻ nghiêm nghị thường ngày. "Tiểu Mãn là tiết khí lúa bắt đầu đơm hạt, tràn trề no đủ, vạn vật đều sinh sôi nảy nở. Nào, cô cầm bút thế này này, ngón trỏ và ngón cái giữ lấy thân trúc, ngón giữa đỡ bên dưới, cổ tay phải thả lỏng ra thì nét mực mới không bị run."
Thanh Du kiên nhẫn vươn tay ra, nắm lấy bàn tay nhỏ bé, chai sần vì sương gió và việc nặng của Tiểu Mãn. Cậu tỉ mỉ uốn nắn từng ngón tay thô ráp của con bé đặt đúng vị trí trên thân bút, rồi nhẹ nhàng đưa tay dẫn dắt ngòi bút lướt trên mặt giấy bản mịn màng.
"Đây là chữ 'Tiểu', nghĩa là nhỏ nhắn. Một nét sổ thẳng ở giữa, hai nét phẩy nhẹ hai bên... Còn đây là các chữ số: nhất là một vạch ngang, nhị là hai vạch, tam là ba vạch... Cô chỉ cần học thuộc từ một đến mười, sau này khách đưa bao nhiêu tiền kẽm, cô liếc mắt là đếm được ngay, không sợ ai lừa gạt nữa."
Tiểu Mãn cắn chặt môi dưới, nín thở nhìn theo từng vệt mực đen nhánh, óng ả chầm chậm hiện hình trên nền giấy trắng tinh. Bàn tay nó vụng về, cứng đờ vì quen cầm đòn gánh và giẻ lau, đưa những nét chữ ngoằn ngoèo, xiêu vẹo như chân gà bới. Nhưng nhìn cái chữ méo mó ấy, trong lồng ngực con bé lại dâng trào một niềm kiêu hãnh và xúc động khôn xiết. Nó đã tự tay viết được tên của chính mình! Nó không còn là một đứa cùng đinh mù chữ, chỉ biết quẹt ngón tay dính mực đỏ chu sa điểm chỉ một cách nhục nhã mỗi khi người ta bắt ký vào những tờ văn tự vô nhân đạo nữa rồi!
Để đáp lại tấm chân tình mộc mạc của cậu bạn nhỏ, sau khi viết kín nửa trang giấy bản, Tiểu Mãn hào hứng kéo tay Thanh Du ra góc chái bếp, nơi chất cao ngất ngưởng những bó củi khô mà quán vừa thu mua gom về. Con bé xắn tay áo lên, chỉ vào từng súc gỗ, sôi nổi chia sẻ những kinh nghiệm thực tế sống còn mà nó đã chắt lọc được suốt bao năm tháng lăn lộn, nếm mật nằm gai nơi bến sông này:
"Cậu nhìn này, sau này nhận củi cho quán, cậu phải nhớ kỹ lời tôi dặn nhé! Đây là gỗ nhãn già, vỏ xù xì nứt nẻ thế này này, cầm lên nặng trịch tay. Loại củi này đượm lửa vô cùng, cháy êm và than giữ nhiệt được lâu lắm, dùng để ủ tro cho ấm trà xanh thì nước ngọt lịm cả buổi không bị nguội. Còn đây, đây là gỗ xoan ngâm nước, nhìn ngoài thì bóng bẩy nhưng xốp xộp, đun lên nhiều khói mù mịt cay xè mắt, lại mau tàn tro, không bao giờ được mua đắt đâu đấy!"
Thanh Du chăm chú lắng nghe từng lời rành rẽ của con bé, đôi mắt cậu mở to đầy thán phục. Cậu cúi xuống, đưa tay sờ nắn từng thớ gỗ nhãn ram ráp, chắc nịch rồi lại nhấc thử khúc gỗ xoan nhẹ bẫng lên để so sánh, gật đầu lia lịa:
"Hóa ra việc chọn củi đun nước cũng có nhiều đạo lý sâu sắc đến thế. Nếu không có cô chỉ bảo cặn kẽ, tôi nhìn khúc gỗ nào cũng tưởng giống nhau cả, khéo lại bị mấy tay buôn củi bịp bợm qua mặt."
Thấy Thanh Du lắng nghe mình bằng thái độ tôn trọng tuyệt đối, Tiểu Mãn bỗng khựng lại. Nụ cười rạng rỡ trên môi con bé chợt chùng xuống, ánh mắt thoáng chút âu lo, căng thẳng. Nó ngó nghiêng ra phía cửa bếp xem chị Hà có chú ý không, rồi hạ thấp giọng hết mức, ghé sát vào tai Thanh Du thì thầm bằng một vẻ mặt vô cùng hệ trọng:
"Cậu Du này, có một chuyện này... tôi giấu kín trong lòng bấy lâu nay, chưa dám kể với chị Hà vì sợ chị ấy thêm lo nghĩ, nhưng thấy cậu biết chữ nghĩa phân minh, lại can đảm, tôi muốn kể cho cậu nghe..."
Thanh Du giật mình, sắc mặt lập tức trở nên nghiêm túc: "Chuyện gì thế cô?"
Tiểu Mãn nuốt nước bọt, giọng thì thào run rẩy:
"Hồi trước, cái đợt khắp chợ Đông Tân rộ lên lời đồn bôi nhọ danh dự của chị Hà ấy, tôi đã tận mắt nhìn thấy gã Cẩu Nhị lén đưa tiền cho hai mụ bán cá để đặt điều... Mà gã Cẩu Nhị đó chính là tay sai đắc lực nhất của Lại Tam. Ngày xưa hồi tôi còn đi xin ăn đói rách ngoài cổng chợ, chính gã Cẩu Nhị từng vứt cho tôi mấy mẩu bánh thừa để tôi canh chừng hàng cho gã... Sau này nếu có chuyện gì đối chất trước công đường, tôi... tôi sẽ không sợ gã nữa đâu, tôi sẽ đứng ra làm chứng cho chị Hà!"
Lời nói quả quyết của đứa trẻ gầy gò khiến Thanh Du không khỏi chấn động. Cậu nhìn thẳng vào đôi mắt kiên định của Tiểu Mãn, cảm nhận được lòng trung thành và sự dũng cảm phi thường ẩn sâu bên trong cái vóc dáng nhỏ bé kia. Thanh Du đưa tay nắm chặt lấy bờ vai gầy guộc của con bé, siết nhẹ như truyền thêm sức mạnh:
"Cô làm đúng lắm. Cái ác không thể che giấu mãi bằng sự đe dọa được. Chúng ta có lý lẽ, có sổ sách chứng cứ đàng hoàng, không việc gì phải sợ lũ người ấy cả."
Đúng lúc đó, tiếng bước chân nện cồm cộp, vững chãi trên mặt cầu ván gỗ ngoài mé bến sông phá tan không gian tĩnh mịch của đêm thu. Tiếng đập nước bì bõm quen thuộc của mái chèo vừa gác lên mạn thuyền vang lên, theo sau đó là một bóng người cao lớn, vạm vỡ mang theo chiếc áo tơi lá sột soạt gác trên vai bước vào hiên quán.
"Cô chủ quán trà còn thức đấy chứ? Cho lão già này một bát nước trà tối làm ấm cái bụng nào!"
Là Từ Bá! Lão lái đò dạn dày sương gió vừa neo xong chuyến thuyền đêm muộn chở những người khách buôn chuyến cuối cùng cập bến. Lão bước vào quán, khuôn mặt phong trần rạng rỡ một nụ cười sảng khoái, mang theo hơi lạnh nồng nàn của sông nước Vọng Giang.
Thanh Hà nghe tiếng gọi liền tươi cười bước ra từ gian bếp, hai tay bưng một chiếc bát sứ hoa lam đựng đầy ắp thứ nước trà xanh búp hè sóng sánh ánh vàng hổ phách, khói thơm nghi ngút, cung kính trao tận tay lão lái đò già:
"Bác Từ mới về đấy ạ? Nước giếng đá Thanh Khê tối nay ngọt lắm, bác uống cho ấm người rồi hẵng về nghỉ. Đầu gối của bác mấy hôm nay trời trở lạnh có còn đau nhức nhiều không?"
Từ Bá đỡ lấy bát trà nóng, hai bàn tay thô ráp, gân guốc áp chặt vào thành bát để đón lấy hơi ấm lan tỏa. Lão đưa lên miệng nhấp một ngụm thật dài, nhắm nghiền mắt lại tận hưởng vị chát đậm đà lan tỏa nơi đầu lưỡi rồi hóa thành hậu vị ngọt lịm nơi cuống họng, đoạn khà một tiếng sảng khoái tột cùng. Lão đưa bàn tay vuốt chòm râu bạc phơ ướt đẫm sương đêm.
Đôi mắt tinh anh, từng trải qua muôn trùng sóng gió của lão đưa nhìn qua khung cửa sổ gian trong. Dưới ánh sáng vàng vọt, ấm áp của ngọn đèn dầu hạt đỗ, lão nhìn thấy Thanh Du đang kiên nhẫn cầm tay chỉ cho Tiểu Mãn từng nét chữ trên trang giấy bản trắng tinh, hai đứa trẻ chốc chốc lại nhìn nhau cười khúc khích, không khí hòa thuận, gắn bó tựa như anh em ruột thịt một nhà.
Lão lái đò già khẽ gật đầu, cất tiếng cười khà khà trầm ấm vang vọng cả một khúc sông đêm:
"Khá lắm! Khá lắm cô Hà ạ! Nhìn cảnh này, lão thấy mát lòng mát dạ vô cùng. Người ta ở đời, muốn đứng vững trước sóng to gió lớn của dòng Vọng Giang này thì trước hết cái mái nhà bên trong phải thuận hòa, êm ấm đã. Giờ thì cô không còn đơn thương độc mã nữa rồi. Có thằng em trai hay chữ giữ nề nếp sổ sách, có con bé Tiểu Mãn lanh lợi xốc vác đón khách, lại có tay nghề làm bánh pha trà tuyệt hảo của cô... Quán trà nhỏ này từ nay đã thực sự có đủ một mái nhà ấm áp, đủ sức chở che, đùm bọc lấy nhau qua mọi giông bão cuộc đời!"
Thanh Hà đứng bên hiên lều, đưa mắt nhìn hai đứa em nhỏ trong gian phòng ấm, trong lồng ngực nàng dâng lên một niềm xúc động ngập tràn. Nàng khẽ mỉm cười, đôi mắt rưng rưng ngấn lệ. Nàng cảm nhận sâu sắc rằng bao nhiêu đắng cay, tủi nhục mà nàng phải cắn răng chịu đựng từ cái ngày dứt áo bước ra khỏi cổng nhà họ Phạm, vượt qua mùa lũ dữ kinh hoàng cuốn trôi tất cả, cho đến những mưu mô hiểm độc, chèn ép bẩn thỉu của phường gian thương... tất cả những nhọc nhằn ấy rốt cuộc đã được đền đáp xứng đáng bằng sự bình yên trọn vẹn và hơi ấm gia đình thiêng liêng dưới mái lều tranh mộc mạc này.
Nhưng sự thanh thản ngọt ngào ấy chưa kịp lắng sâu thì từ phía bờ sông đối diện, hướng huyện nha Thanh Lâm, một âm thanh trầm đục, trang nghiêm bất ngờ xé toạc màn sương đêm tĩnh mịch vọng sang.
*Kooong... kooong... kooong...*
Tiếng chiêng đồng ở nha môn huyện vọng sang bến đò, báo hiệu phiên xét xử lệ phí bến bãi chính thức bắt đầu.