Quán Trà Bên Bến ĐòCh.19 / 34
Chapter 19

Quyết toán một người em

Con đò ngang chầm chậm cập bờ sông Nam Kiều trong sương sớm, Thanh Hà nắm chặt bọc bạc ba lượng trong tay áo, bước nhanh lên bờ đê đất đỏ cùng Đỗ Nguyệt Nương.

Hơi sương mùa thu còn đọng mờ trên những bãi mía, ruộng ngô ngả rạp sau trận lũ lớn. Gió bấc non từ phía hạ lưu thổi ngược lên mang theo cái lạnh se sắt của buổi giao mùa, luồn qua làn áo nâu thô đã bạc màu sương nắng. Đất ven sông sau khi nước bạc rút đi quánh đặc lại thành một thứ phù sa non dẻo quẹo, bám riết lấy từng bước đi, dính chặt vào đế đôi guốc mộc cũ và viền gấu váy của hai người đàn bà. Mỗi bước nhấc lên lại nghe một tiếng "bọp" nặng nề của đất ướt níu chân người.

Phía xa xa, ẩn hiện sau rặng tre còi cọc xơ xác vì bão gió là những cột khói xám xịt từ mấy lò gạch Nam Kiều đang chậm chạp bốc lên nền trời màu chì đục ngầu. Mùi đất nung ngai ngái, ngạt thở hòa lẫn với mùi khói củi ướt nồng cay, quẩn quanh trong từng luồng gió lạnh, phả vào sống mũi một vị tanh nồng của bùn sông và than đá rã rời.

Đỗ Nguyệt Nương vừa rảo bước vừa đưa tay xốc lại chiếc giỏ tre trĩu nặng trên khuỷu tay. Đôi mắt phượng sắc sảo của chị đảo nhanh quanh từng bờ vùng, bờ thửa, quét qua những vạt khoai nước cháy lá rồi dừng lại nơi mấy lò gạch xỉ than chất cao như gò mả. Chị khẽ hắng giọng, cất tiếng nói sang sảng, cố tình xua đi cái không khí ảm đạm, lạnh buốt của buổi sớm bờ nam:

"Muội cứ vững tâm mà bước, việc đâu còn có đó. Bác họ thì bác họ, buôn có bạn bán có phường, tính sổ là tính sổ rành mạch, không thể đem cái danh nghĩa người cùng họ ra mà đè đầu cưỡi cổ nhau được. Mấy lão nông kiêm chủ lò ở cái bến Nam Kiều này quanh năm chỉ biết đất bùn với xỉ than, quen thói nạt nộ dân phu phen nghèo khó, lại tưởng đàn bà góa bụa bên bờ đông sang chuộc em là dễ bề ép giá, dọa nạt. Hôm nay có chị đi cùng muội, một phân một ly tiền gạo, từng thúng trấu, cọng rau, bát nước chị vạch trần ra bằng hết giữa ban ngày ban mặt, xem lão Liễu Đức Thuận kia còn mặt mũi nào mà đòi nuốt trọn mười lượng bạc trắng của chị em muội!"

Nghe tiếng người chị họ hàng kết nghĩa đầy nghĩa khí bên cạnh, Thanh Hà khẽ thở hắt ra một làn khói mỏng. Bàn tay giấu trong tay áo rộng khẽ miết nhẹ qua lớp vải bọc lấy ba thỏi bạc mười tuổi nằm êm ái, trĩu nặng bên ngực áo. Ba lượng bạc này là mồ hôi, nước mắt của những buổi sáng thức từ canh ba đỏ lửa, chắt chiu từ từng ấm trà xanh hai văn kẽm, từng chiếc bánh bột lọc sen bốn văn chao đảo trên quang gánh những ngày nắng đổ lửa nơi góc bến. Nó còn là một phần tiền sòng phẳng nàng vay mượn từ sự tin cậy của Hàn Thụy để tôn tạo lại bờ kè quán bến đông.

Nàng không tiếc tiền để cứu em ruột. Nhưng nàng nhất quyết không để thói tham tàn, bủn xỉn biến tình máu mủ thành món hàng để người ta mặc sức chèn ép, giẫy đạp lên danh dự của hai chị em.

"Muội chỉ mong chuộc được Thanh Du về yên lành, danh chính ngôn thuận, có giấy trắng mực đen trước mặt lý trưởng và dân làng," Thanh Hà khẽ đáp, ánh mắt hướng về rặng tre đầu xóm Nam Kiều, nơi những mái nhà tranh rách nát đang dần hiện rõ sau làn sương. "Dẫu sao cũng là người cùng họ, ngày cha mẹ muội mất đi, bác ấy dẫu có hà khắc thì cũng là người mở cửa cho Thanh Du nương tựa một bát cơm qua ngày đoạn tháng. Giải quyết bằng lẽ phải và nhân nghĩa vẫn là hơn, tránh để thằng bé sau này bước chân ra đời phải mang tiếng là đứa vong ân bội nghĩa, bội bạc tông tộc."

Đỗ Nguyệt Nương liếc nhìn nét mặt điềm đạm nhưng kiên nghị của Thanh Hà, trong lòng không khỏi thầm khen ngợi. Con người ta ở vào nghịch cảnh, vừa thoát khỏi cảnh bần hàn mà giữ được cái đầu lạnh cùng sự sáng suốt như thế thật hiếm có.

Căn nhà ba gian lợp mái rạ trộn đất sét của Liễu Đức Thuận nằm nép mình bên cạnh ba lò gạch thủ công ngổn ngang những đống xỉ than đen ngòm và gạch vụn vỡ nát. Bức tường đất trát rơm nứt nẻ chằng chịt như mạng nhện sau những ngày ngâm lũ. Trước khoảng sân đất hẹp, bùn non sau khi nước rút chỉ được vét sơ sài tấp thành từng ụ nham nhở, rỉ ra thứ nước vàng quạch hôi hám. Mấy chú lợn còi giơ cả xương sườn đang ủi mõm cồn cào tìm thức ăn bên chiếc máng gỗ sứt cạp.

Vừa thấy bóng hai người phụ nữ bước qua chiếc cổng tre ọp ẹp buộc bằng dây khoai ngứa, một người đàn ông trạc ngoài năm mươi tuổi, dáng người thô đậm, vai bè như lực điền, da dẻ ngăm đen vì nắng gió và khói lò, đã từ trong gian nhà tối tăm bước xăm xăm ra hiên. Đó chính là Liễu Đức Thuận. Đi sau gót ông ta là hai ba gã thợ đốt lò người trần trùng trục, mặt mũi lấm lem bùn đất và vài người hàng xóm hiếu kỳ quanh xóm bến ghé lại ngó nghiêng.

Thanh Hà dừng lại nơi mép thềm đất, đôi guốc mộc gõ nhẹ trên viên gạch sống lót đường. Nàng ngay ngắn chắp hai tay trước ngực, cúi đầu chào theo đúng tôn ti trật tự:

"Thưa bác họ, hôm nay cháu sang đón Thanh Du về như lời cháu đã hẹn trước mùa lũ."

Liễu Đức Thuận không buồn đáp lễ. Đôi mắt ti hí đùng đục của ông ta đảo nhanh qua tay nải nhỏ gọn và vóc người mảnh dẻ của Thanh Hà, rồi buông ra một tiếng hừ khô khốc từ kẽ răng vàng ố khói thuốc. Ông ta không thèm mời khách vào nhà, chỉ quay ngoắt người bước thụt lùi vào gian giữa, kéo lê chiếc ghế đẩu chân thấp cọt kẹt trên nền đất ẩm, rồi đập mạnh một cuốn sổ giấy bổi vàng khè, rách bươm mép lên mặt bàn tre cũ kỹ.

Tiếng "bốp" chát chúa vang lên giữa gian nhà ẩm mốc, làm đàn gà con trong xó bếp sợ hãi tao tác nhảy loạn xạ.

"Đón về? Mày nói nghe nhẹ tựa lông hồng vậy hả con kia!" Đức Thuận vuốt chòm râu lưa thưa cứng như rễ tre dưới cằm, cất giọng the thé, the thé nhưng cố gằn cho thật to để từng lời từng chữ bay vút ra tận ngoài sân, lọt vào tai đám thợ lò và xóm giềng. "Mày mở to mắt ra mà nhìn vào cuốn sổ nợ này xem! Hai năm qua, một tay tao nuôi nấng thằng Du, từ bát cơm hột gạo, manh áo tấm quần cho đến tiền thuốc thang trận ốm liệt giường mùa rét năm ngoái. Mày có biết nuôi một thằng con trai đang tuổi ăn tuổi lớn nó tốn kém như thế nào không?"

Ông ta chỉ ngón tay thô ráp, móng tay đóng đầy ghét đất đen xì vào cuốn sổ, giọng càng lúc càng cao:

"Chưa kể nó làm việc thì vụng về, đụng đâu hỏng đấy! Cuốc đất thì làm gãy đóm cuốc, đòn gánh gánh rơm thì làm nứt đôi, xe cút kít chở đất sét vào lò thì làm mòn vẹt cả then hoa sắt! Tao tính cả chi phí ăn mặc, công dưỡng dục của người làm cha làm bác, cùng với tiền hao mòn nông cụ suốt hai mươi bốn tháng ròng rã... tròn trặn mười lượng bạc trắng không thiếu một văn! Mày có đủ mười lượng bạc đặt ngay ngắn lên mặt bàn này thì dắt người đi; bằng không, nó phải ở lại đây làm thuê gánh đất sét, đẩy than thêm ba năm nữa để trừ nợ họ hàng! Đừng có hòng dùng vài ba câu ngọt nhạt mà dắt con cháu họ Liễu đi khơi khơi!"

Mấy người hàng xóm đứng tựa bờ rào dâm bụt bắt đầu xì xào to nhỏ. Có tiếng thở dài ái ngại: "Trời đất ơi, mười lượng bạc! Người làm ruộng cả đời chắt bóp chẳng biết có cầm nổi một thỏi bạc nén ba lượng hay không, lấy đâu ra mười lượng mà chuộc con nít!" Lại có kẻ chặc lưỡi phụ họa với chủ lò: "Nhưng mà nuôi con nít hai năm trời tốn kém thật, lại thuốc thang lúc ốm đau, bác họ đòi bồi hoàn âu cũng là thói đời..."

Nghe thấy con số mười lượng bạc phi lý đến mức nực cười ấy, Thanh Hà còn chưa kịp cất lời thì Đỗ Nguyệt Nương đã bước phắt lên phía trước. Chị không hề nao núng, trái lại còn bật ra một tiếng cười khẩy giòn tan, lanh lảnh làm át hẳn những tiếng bàn tán xôn xao ngoài sân.

"Cộp!"

Nguyệt Nương dằn mạnh chiếc giỏ tre xuống góc bàn làm mấy chiếc ấm chén đất nung nảy lên tanh tách. Chị xắn cao tay áo lụa nâu, để lộ chiếc vòng bạc bản to chạm hoa văn sáng lóa, rồi thản nhiên đưa tay lật phắt cuốn sổ giấy bổi của Đức Thuận về phía mình, hành động dứt khoát đến mức lão chủ lò không kịp trở tay ngăn cản.

"Liễu lão bác à, bác nói câu ấy ra mà cái miệng không thấy thẹn, cái tai không thấy ngượng hay sao?" Nguyệt Nương nheo mắt, lướt thật nhanh qua từng dòng chữ thô kệch, nguệch ngoạc ghi chép bằng than vụn hòa với mực dỏm nhòe nhoẹt. Giọng chị sang sảng, từng câu từng chữ sắc lẻm như dao rọc giấy: "Tôi là Đỗ Nguyệt Nương, chủ sạp bột đường ở chợ Đông Tân, buôn bán ngược xuôi trên cái bến sông này đã mười lăm năm có lẻ. Bác mang mớ chữ nghĩa bôi lem bôi luốc, con số ma mãnh này ra dọa mấy bà góa phụ non nớt hay lũ thợ cày ít học thì được, chứ muốn qua mắt con buôn chợ phiên như tôi thì bác lầm to rồi!"

Ngón tay trỏ mập mạp của Nguyệt Nương dí thẳng vào một dòng mực son nham nhở giữa trang sổ, ánh mắt sắc như dao cau nhìn xoáy vào mặt Đức Thuận:

"Bác nhìn vào dòng này xem! Tháng Chạp năm ngoái, bác dám ghi vào sổ cho thằng Du ăn gạo trắng thượng phẩm với giá hai mươi sáu văn một thăng? Ô hay chưa kìa, cả cái huyện Thanh Lâm này ai chả biết vụ đông năm ngoái lúa trúng mùa lớn, gạo tẻ ngon nhất bến chợ Đông Tân thuyền đỗ đầy ắp cũng chỉ bán mười bốn văn một thăng, gạo đỏ mễ ăn độn ở mạn bờ nam này cùng lắm mười một văn là kịch trần! Bác cho cháu bác ăn ngọc thực của triều đình hay sao mà kê khống lên hai mươi sáu văn một thăng hả lão bác? Lại còn mảnh vải thô nhuộm củ nâu may chiếc áo cộc hè năm kia, bác ghi rành rành bốn mươi lăm văn một thước? Khắp cái vùng Vọng Giang này vải thô dệt tay bán lẻ đắt nhất chợ phiên cũng chỉ hai mươi văn, mua cả cây về xẻ ra may chỉ mười bảy văn một thước! Bác đội giá lương thực, vải vóc lên gấp đôi gấp ba giá chợ từng mùa vụ, lại còn cộng cả tiền hao mòn đòn gánh gãy, then hoa xe cút kít, đến cả tiền cám bèo trôi máng lợn bác cũng gom hết vào đầu một đứa trẻ mười ba tuổi! Bác đang tính sổ nuôi cháu ruột hay bác đang đem cân thịt xẻ xương nó ra bán giữa chợ trời thế hả?"

Từng lời, từng dẫn chứng của Nguyệt Nương rành rọt, đanh thép, chuẩn xác đến từng con số khiến mấy bác nông dân và phu đốt lò đứng ngoài cổng nghe xong liền đưa mắt nhìn nhau rồi gật gù:

"Phải đấy! Năm ngoái gạo rẻ rề, nhà tôi mua gạo tẻ ăn tết có mười ba văn rưỡi một thăng chứ mấy!"

"Vải thô củ nâu thì phiên chợ Đoài tháng Năm vừa rồi tôi mua cho con gái có mười tám văn một thước, làm quái gì có giá bốn mươi lăm văn!"

Mặt Liễu Đức Thuận thoáng chốc chuyển từ màu tái xám sang đỏ lựng như gạch vừa ra lò. Bị bóc mẽ trắng trợn ngay trước mặt đám thợ lò dưới trướng và bà con chòm xóm, thói gia trưởng độc đoán trong người lão bốc lên ngùn ngụt. Lão đập rầm bàn đứng phắt dậy, ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào mặt Nguyệt Nương:

"Bà... bà là con mụ buôn bán ngoài bến, chớ có sang đất Nam Kiều này mà ăn ốc nói mò! Nhà tao nuôi nó thì tao biết! Cơm ngày ba bữa ấm bụng, áo mặc kín lưng, giá cả mùa màng thất thường, lúc bão lúc lũ sao người ngoài bờ cõi tường tận được! Chúng mày muốn quịt nợ thì nói thẳng ra một lời!"

"Bác không tường thì cháu tường."

Một giọng nói thiếu niên trong trẻo nhưng trầm tĩnh, dứt khoát vang lên từ phía chái bếp tối om ẩm thấp.

Bức rèm rơm cũ kỹ rẽ ra, Liễu Thanh Du bước từng bước chậm rãi vào gian giữa.

Cậu bé mười ba tuổi đứng sững trước ngưỡng cửa. Trên người cậu là chiếc áo cộc vải thô nhuộm củ nâu đã rách toạc hai bên bả vai, được chắp vá tạm bợ bằng những mảnh vải xơ xác khác màu. Gấu quần xắn cao quá gối để lộ đôi cẳng chân khẳng khiu, gân guốc, còn lấm lem những vệt bùn sét xám khô cứng lại như vảy ốc. Khuôn mặt cậu gầy gò, hốc hác, hai gò má nhô cao vì thiếu ăn và lao lực sớm, nhưng đôi mắt thì sáng quắc — một ánh sáng kiên định, tự trọng và bình thản đến lạ lùng.

"Thanh Du!" Thanh Hà khẽ thốt lên nghẹn ngào. Lồng ngực nàng nhói buốt như có dải lụa thắt chặt lại khi nhìn thấy trên đôi vai gầy guộc của đứa em trai là những vết sẹo lồi lõm, chai sần tím tái vì đòn gánh và dây kéo xe cút kít hằn sâu vào da thịt. Nàng toan bước vội lại ôm lấy em, nhưng Thanh Du đã khẽ lắc đầu, ánh mắt thoáng nét mỉm cười kín đáo như muốn bảo chị hãy yên lòng.

Thanh Du bước tới bên bàn tre ọp ẹp. Cậu không hề nhìn người bác họ với vẻ sợ sệt như mọi ngày. Từ trong chiếc túi áo chắp vá trước ngực, cậu cẩn thận rút ra ba mảnh giấy bản cũ, mép giấy đã sờn rách và ố vàng vì mồ hôi, được gấp ngay ngắn làm tư. Cậu chậm rãi mở từng mảnh giấy ra, vuốt cho thật phẳng phiu rồi đặt ngay ngắn lên mặt bàn tre, nằm song song với cuốn sổ bôi lem của Liễu Đức Thuận.

Đó là những dòng chữ Nôm chân phương, thẳng hàng ngay lối, nét chữ cứng cáp được viết bằng mực tàu mài kỹ trên đá mài. Dẫu mực có chỗ đã phai màu theo năm tháng, nhưng từng ngày tháng, từng con số, từng tên người thuê mướn đều hiện lên rõ ràng, mạch lạc đến kinh ngạc.

"Thưa bác họ, thưa bác Trưởng thôn và bà con chòm xóm," Thanh Du quay sang hướng mọi người đứng ngoài sân, vòng tay cúi đầu chào rồi cất tiếng rành rọt. "Hai năm trước, khi cha mẹ cháu qua đời, nhà cửa bị họ nội bên cha siết nợ đuổi đi, cháu mang ơn bác họ đã mở cửa cho cháu vào ở tạm dưới mái chái bếp này. Cháu luôn ghi nhớ từng bát cơm củ khoai bác cho trong lúc bơ vơ khốn khó. Nhưng hai năm qua, cháu chưa từng dám lười nhác nửa ngày để ăn không hạt thóc của nhà bác. Từng ngày cháu làm gì, ở đâu, kiếm được bao nhiêu tiền, cháu đều tự tay ghi chép lại không sót một việc."

Thanh Du đưa ngón tay gầy guộc chỉ vào mảnh giấy thứ nhất:

"Vụ chiêm năm ngoái, cháu sang thôn Đoài dắt trâu và cày bừa thuê cho nhà phú hộ Trương tổng cộng bốn mươi hai công nhật. Mỗi công nhật người ta trả mười lăm văn tiền kẽm và một bát cơm trưa độn khoai. Toàn bộ sáu trăm ba mươi văn tiền công ấy, cháu đem về nộp đủ tận tay bác gái, việc này có ông quản gia nhà họ Trương làm chứng. Vụ gặt tháng Mười, cháu đi gặt đập thuê cho các chủ ruộng ven bến đò Nam Kiều và phụ việc kéo lúa cho lò gạch, được trả công bằng ba mươi tám thúng thóc tạp. Ba mươi tám thúng thóc ấy bác đều cho người chở về đổ thẳng vào chum lớn trong buồng, trừ sạch vào phần thóc ăn của cháu."

Cậu lật tiếp mảnh giấy bản thứ hai, giọng nói vẫn giữ một nhịp điệu trầm tĩnh, rõ ràng đến từng âm sắc:

"Sang đầu năm nay, ngoài việc sáng sớm dắt trâu ra bãi bồi cắt cỏ, cháu nhận gánh đất sét tươi từ bãi bồi ven sông lên cho ba lò gạch Nam Kiều ròng rã suốt sáu tháng trời. Mỗi xe cút kít chở đất sét vượt qua cây cầu ván trơn trượt được trả hai đồng tiền kẽm. Cháu đẩy được một ngàn hai trăm chuyến, tính ra là hai quan bốn tiền đồng kẽm, toàn bộ số tiền ấy bác họ đều thu giữ không thiếu một đồng. Những ngày đò đông khách, cháu ra bến vác than vụn và dỡ chum vại cho các thuyền gốm ngược ngàn, tiền công nhật bác đều bảo bỏ vào chiếc rương khóa đồng góc nhà. Toàn bộ tiền cháu lao động làm thuê nộp lại cho bác trong hai năm qua cộng lại là năm quan sáu trăm văn tiền kẽm và hai tạ thóc lúa!"

Thanh Du ngẩng cao đầu, ánh mắt trong veo nhưng đanh thép nhìn thẳng vào khuôn mặt đang co rúm lại của Liễu Đức Thuận:

"Tiền gạo hẩm râu ngô và hai manh áo cộc bác may cho cháu trong hai năm qua, tính theo thời giá đắt đỏ nhất của chợ huyện cũng chưa tới bốn quan tiền! Mồ hôi, công sức và cả máu thịt của cháu đổ ra trên bãi bùn hai năm nay đã thừa sức bù đắp tiền cơm áo bác cưu mang. Cháu chưa từng là đứa ăn bám! Cớ sao bác lại nói cháu là kẻ phá hoại, ăn hại để ép chị cháu phải nộp mười lượng bạc trắng mới được đưa cháu về?"

Từng lời, từng con số của cậu thiếu niên mười ba tuổi như từng gáo nước lạnh buốt tạt thẳng vào khoảng không gian oi nồng của gian nhà tre. Cả đám thợ lò và xóm giềng đứng ngoài sân bỗng ồ lên kinh ngạc:

"Thảo nào! Thảo nào ngày nào tôi cũng thấy thằng bé cong lưng đẩy xe đất sét qua cầu ván từ lúc gà gáy le te đến tận lúc đỏ đèn lò!"

"Trời đất ơi, một ngàn hai trăm chuyến xe cút kít! Người lớn đẩy còn còng cả lưng, trẹo cả hông, huống chi đứa trẻ con khẳng khiu chừng ấy!"

"Con nhà gia giáo có khác, làm đâu ghi đấy rành rẽ từng đồng thế kia thì ai mà cãi cho được!"

"Lão Thuận phen này tính quịt trắng công sức của đứa cháu mồ côi rồi..."

Liễu Đức Thuận đứng chết trân tại chỗ, hai bàn tay buông thõng bên sườn khẽ run rẩy. Khuôn mặt lão từ đỏ tía chuyển sang xám ngoét. Cuốn sổ tính gian với những con số khống vụng về nằm trơ trọi, thảm hại bên cạnh ba mảnh giấy bản ngay hàng thẳng lối của đứa cháu nhỏ. Bị dồn vào bước đường cùng, đuối lý hoàn toàn trước mắt bàn dân thiên hạ, sự bẽ bàng và nỗi sợ mất đi nguồn nhân công miễn phí khiến tính khí cộc cằn, ngang ngạnh của lão chủ lò bốc hỏa.

Lão vung mạnh cánh tay gân guốc đập "rầm" một cái vào cây cột cái bằng tre ngâm, gào tướng lên để át đi sự xấu hổ:

"Được lắm! Lũ chúng mày đủ lông đủ cánh rồi thì hùa nhau sang đây làm nhục tao! Nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà! Dù mày có gánh đất, cày bừa hay bốc than thì mày vẫn mang cái họ Liễu này! Không có cái họ Liễu này đứng ra cưu mang, thì chị em chúng mày đã chết đói chết rét ngoài đê ngoài cồn từ cái ngày bị đuổi khỏi cửa nhà họ Phạm rồi! Nay đủ ăn đủ mặc rồi dám đem mấy mảnh giấy rách ra đối chất với bậc cha chú à? Tao bảo mười lượng là mười lượng! Không có đủ mười lượng bạc trắng đặt lên bàn này, đứa nào dám bước chân ra khỏi cái cổng tre kia, tao đánh gãy chân!"

Tiếng quát tháo man dại của Đức Thuận vang dội khắp gian nhà, làm không khí bỗng chốc căng như một sợi dây đàn sắp đứt. Hai gã thợ đốt lò lực lưỡng bên ngoài rục rịch bước vào thềm đất, vẻ mặt bặm trợn nhưng ánh mắt vẫn lấm lét nhìn nhau, có phần ái ngại cho đứa trẻ nhưng lại sợ phật ý chủ lò.

Thanh Du bất giác lùi lại một bước, đôi môi mím chặt, hai bàn tay nắm chặt thành nắm đấm gầy guộc.

Ngay khoảnh khắc căng thẳng tột cùng ấy, Liễu Thanh Hà nhẹ nhàng nhưng kiên quyết bước lên phía trước. Nàng không hề biến sắc, khuôn mặt thanh tú phẳng lặng như mặt nước giếng khơi, không một tia hoảng hốt, cũng chẳng có nửa phần giận dữ. Nàng đưa cánh tay áo thô nhẹ nhàng chắn ngang trước ngực Thanh Du, kéo đứa em trai nhỏ vào phía sau lưng mình, dùng thân mình che chắn trọn vẹn trước cơn thịnh nộ hung hãn của người bác họ.

Từ trong ống tay áo rộng, Thanh Hà chậm rãi lấy ra chiếc bọc vải nhuộm chàm xanh thẫm. Nàng mở từng nếp gấp vải thô dày dặn một cách cẩn trọng, từ tốn.

Ba thỏi bạc mười tuổi sáng loáng, vuông vức, đúc hình thỏi ngựa đều tăm tắp, lấp lánh ánh kim loại tinh khiết dưới làn ánh sáng mờ nhạt lọt qua khe liếp tre. Nàng đặt ba thỏi bạc ngay ngắn, vững chãi lên trên tập giấy bản chép tay của Thanh Du.

"Bác họ bớt giận." Giọng Thanh Hà cất lên dịu dàng, êm ả nhưng từng âm tiết lại vô cùng đĩnh đạc, vang vọng khắp gian nhà. "Thanh Du nó tuổi còn nhỏ, tính tình bộc trực ngay thẳng, thấy sổ sách chi tiêu trong nhà chưa khớp thì đưa chứng từ ra thưa chuyện cùng bác. Âu đó cũng là cái tính phân minh, rõ ràng mà cha mẹ cháu ngày xưa đã dạy dỗ, cốt để bác không phải mang tiếng ăn chặn với họ hàng làng xóm."

Nàng ngước đôi mắt trong veo nhìn thẳng vào đôi mắt ti hí của Liễu Đức Thuận. Nàng giữ trọn lễ tiết cung kính của phận con cháu, nhưng trong tư thế đứng thẳng thớm ấy tuyệt nhiên không có lấy một mảy may khiếp nhược:

"Chị em cháu chưa từng một ngày quên ơn bác mở cửa đón Thanh Du vào nhà trong những ngày gian nan nhất, khi cháu một thân một mình bơ vơ không tấc đất cắm dùi. Dẫu hai năm qua thằng bé có làm lụng quần quật ngoài đồng ngoài bãi để bù vào tiền cơm áo, thì cái ơn che chở dưới mái nhà họ Liễu, bát nước ấm lúc nó lên cơn sốt rét, tấm lòng của bác họ cháu vẫn xin ghi tạc vào xương tủy. Mười lượng bạc là số tiền quá lớn, hoàn toàn phi lý so với thực tế chi tiêu hai năm qua như chị Nguyệt Nương và Thanh Du đã chứng minh bằng sổ sách sòng phẳng. Nhưng để trọn nghĩa vẹn tình, bù đắp công dưỡng dục của bác và giữ gìn danh dự cho dòng họ trước mặt bà con Nam Kiều, hôm nay cháu xin gửi lại bác đúng ba lượng bạc trắng này."

Nói đoạn, Thanh Hà khẽ xoay người về phía cổng tre, cất tiếng chào người đàn ông trung niên mặc áo dài the màu tím than vừa bước nhanh vào sân:

"Kính mời bác Trưởng thôn Nam Kiều bước vào chứng giám cho chị em cháu."

Người bước vào chính là Lý trưởng thôn Nam Kiều — một bậc túc lão có uy tín, giữ việc sổ sách công quyền trong vùng. Ông vốn được Đỗ Nguyệt Nương kín đáo nhắn tin nhờ người sang mời từ tờ mờ sáng để làm trọng tài phân xử.

Lý trưởng bước vào giữa nhà, liếc nhìn cuốn sổ giấy bổi của Đức Thuận, rồi cúi xuống nhìn kỹ ba mảnh giấy bản viết chữ Nôm ngay ngắn cùng ba thỏi bạc trắng mười tuổi lấp lánh trên mặt bàn tre. Ông khẽ vuốt chòm râu dài, gật đầu tấm tắc:

"Ba lượng bạc trắng mười tuổi này là món tiền rất lớn ở đất bến Nam Kiều này đấy! Ba lượng bạc này thừa sức mua đứt hai con trâu mộng lực lưỡng, hoặc tậu được mấy sào ruộng chiêm loại tốt nơi bãi bồi ngoài kia. Cháu Thanh Hà xử sự như thế này là thấu tình đạt lý, trước sau vẹn toàn. Vừa có sự minh bạch, sòng phẳng của người làm ăn buôn bán, lại giữ trọn vẹn chữ hiếu nghĩa, đạo lý của bậc con cháu đối với gia tộc họ Liễu. Chú Thuận à, chú cầm ba lượng bạc này là đẹp mặt cả đôi bên lắm rồi! Đừng có làm ầm ĩ lên nữa mà mang tiếng với dân làng xóm bến là người bác tham lam, hà khắc, bạc đãi đứa cháu mồ côi."

Liễu Đức Thuận đứng chết lặng. Ánh mắt lão dán chặt vào ba thỏi bạc trắng tinh khiết đặt ngay ngắn giữa bàn tre. Đôi bàn tay thô ráp, chai sần đầy sẹo bỏng lò gạch của lão khẽ run rẩy. Nhìn thấy Lý trưởng thôn đã lên tiếng phân xử rõ ràng trước mặt bao nhiêu người làm chứng, lại nhìn vào ánh mắt kiên định, không hề nao núng nhưng chan chứa sự tôn trọng của Thanh Hà, cơn thịnh nộ nghẹn ứ nơi cổ họng lão bỗng chốc xẹp xuống, tan biến như bong bóng xà phòng vỡ tan.

Đức Thuận từ từ ngồi thụp xuống chiếc ghế đẩu, hai bờ vai thô kệch bỗng chùng hẳn xuống, lưng còng rạp đi như một kẻ vừa trút bỏ được lớp vỏ bọc gồng gánh, dữ dằn bấy lâu nay. Lão nhìn trân trân vào những vết nứt nẻ trên mặt bàn tre ọp ẹp, hồi lâu sau mới thở hắt ra một hơi dài nặng nhọc, mùi khói thuốc lào ngai ngái phả ra cay xè. Giọng lão khàn đặc, nghèn nghẹn:

"Chúng mày... chúng mày tưởng tao là cái giống súc vật, cầm thú chỉ biết bóc lột đứa con nít hay sao?"

Cả gian nhà bỗng chốc im ắng đến lạ thường. Tiếng gió bấc thổi qua kẽ liếp rít lên từng hồi buốt giá. Đỗ Nguyệt Nương khẽ chau mày nghi hoặc, còn Thanh Hà vẫn lặng lẽ, kiên nhẫn lắng nghe từng lời của người bác họ.

"Mùa đông năm ngoái..." Đức Thuận cúi gằm mặt xuống, hai bàn tay siết chặt lấy đầu gối quần nâu bạc phếch. "Cái thằng chủ lò gạch lớn dưới bến hạ lưu sang đây xem đất. Nó nhìn thấy thằng Du nhanh nhẹn, sáng dạ, biết chữ nghĩa lại chịu thương chịu khó, nó đặt lên đúng cái mặt bàn này năm lượng bạc trắng! Nó đòi mua đứt thằng Du về làm thợ đốt lò kín cho nó suốt năm năm trời! Chúng mày có biết cái lò gạch kín ở hạ lưu nó là cái thứ gì không? Nó là cái hỏa ngục trần gian! Nhiệt độ cao đến mức cháy cả tóc, bụi than mù mịt tối tăm mặt mũi. Đứa con nít nào chui vào đấy quạt than, dọn xỉ thì chỉ được tròn một năm là ho ra máu tươi, phổi nám đen lại rồi kiệt sức mà chết rũ xác bên bờ sông! Tao dẫu nghèo kiết xác, tính từng hạt thóc tép mương, ky cóp từng đồng kẽm vụn... nhưng tao bảo thẳng vào cái mặt nó: 'Cháu tao là người nhà họ Liễu, dẫu có bần hàn cũng không phải giống trâu ngựa mà bán vào chỗ chết!' Tao vác đòn gánh đuổi cổ nó ra khỏi cái cổng tre này!"

Đức Thuận ngước đôi mắt đỏ ngầu, vằn lên những tia máu nhìn Thanh Du:

"Tao bắt mày ra đồng dắt trâu, bắt mày đẩy xe cút kít ngoài trời nắng... Tao thà để mày mệt xác ngoài nắng ngoài gió, da đen nhẻm, chân tay chai sạn, chứ tao không bao giờ để mày bước chân vào cái lò độc ấy! Tao dữ dằn, tao nạt nộ, tao bắt mày làm việc quần quật là để người trong họ không ai dị nghị tao nuôi đứa cháu ăn bám... Tao giữ mày lại bên cái lò gạch này, cũng là để mày có một chỗ nương thân, chờ ngày chị mày làm ăn khấm khá mà sang đón... Chúng mày nghĩ tao thèm khát mười lượng bạc để làm giàu đấy phỏng?"

Thanh Du sững sờ ngẩng lên nhìn người bác họ. Cậu bé mở to đôi mắt, bờ môi run rẩy bần bật. Chuyện này suốt một năm qua, cậu chưa từng nghe ai nhắc tới nửa lời. Cậu chỉ mơ hồ nhớ lại một buổi chiều mùa đông rét buốt năm ngoái, có một gã đàn ông lạ mặt mặc áo gấm đen đến nhà, nhìn trừng trừng vào ngực và bắp tay cậu với ánh mắt soi mói đáng sợ, sau đó gã và bác họ to tiếng trong nhà giữa, rồi bác họ cầm chiếc đòn gánh đuổi gã chạy thục mạng ra tận bờ đê. Khi ấy, cậu cứ ngỡ bác họ cãi cọ việc mua bán gạch ngói, nào ngờ...

Thanh Hà khẽ thở dài một tiếng thật sâu trong lồng ngực. Nàng nhìn đôi bàn tay thô ráp vặn vẹo đầy những vết sẹo bỏng do gạch nóng của người bác họ, lòng nàng chùng xuống với bao niềm thương cảm và xót xa.

Ra là thế. Bản tính của Liễu Đức Thuận là bản tính của một người nông dân nghèo khổ điển hình: vụn vặt, ăn sâu thói ky cóp, tằn tiện đến mức bủn xỉn, thực dụng đến mức khắc nghiệt. Lúc nào lão cũng nơm nớp lo sợ phần thiệt thòi về mình, quen thói lớn tiếng kể công, dọa nạt để chiếm thế thượng phong; nhưng sâu thẳm bên trong cái vỏ bọc thô thiển, cộc cằn ấy, lão vẫn còn giữ lại được chút lương tri và cái nghĩa cốt nhục của dòng tộc họ Liễu, không nỡ đẩy đứa cháu ruột vào chỗ chết vì mấy đồng bạc bẩn thỉu.

Thanh Hà bước chậm rãi lại gần chiếc bàn tre. Nàng nhẹ nhàng kéo tờ giấy bản trắng cùng chiếc nghiên mực đá ong của Thanh Du lại gần phía mình. Nàng cầm cây bút lông nhỏ, chấm nhẹ vào nghiên mực tàu sóng sánh, ngẩng đầu cất giọng chân thành, ấm áp:

"Cháu hiểu tấm lòng của bác đối với Thanh Du trong việc ấy. Dẫu cách thể hiện của bác có phần khắc nghiệt, nhưng tấm lòng che chở của bác là thật. Bởi thế, từ trước tới nay, cháu chưa bao giờ coi bác là người ngoài."

Ngòi bút lông mềm mại trong tay Thanh Hà lướt nhanh trên mặt giấy bản trắng tinh, để lại những hàng chữ Nôm thanh thoát, uyển chuyển nhưng vô cùng rành mạch:

"Ngoài việc hoàn trả ba lượng bạc trắng danh nghĩa bồi hoàn công dưỡng dục ngày hôm nay, cháu xin phép được ghi thêm một điều ước vào văn tự đoạn tuyệt nuôi dưỡng: Quán trà Thanh Hà bên bến đông Vọng Giang từ nay về sau vẫn giữ trọn đạo họ hàng thân tộc với gia đình bác họ. Mùa đông sắp tới, quán trà của cháu cần một lượng củi gộc khô hong khói, rơm rạ ủ ấm, trấu sạch và bột sắn dây, củ mài... toàn bộ những nông sản, thổ sản ấy của bến Nam Kiều, quán trà của cháu cam kết sẽ ưu tiên thu mua toàn bộ từ nhà bác họ và bà con trong xóm này theo đúng giá thị trường cao nhất của chợ Đông Tân, thanh toán bằng tiền tươi sòng phẳng, tuyệt đối không khất nợ một đồng một cắc."

Liễu Đức Thuận giật mình ngước mắt lên nhìn nàng. Đôi mắt ti hí đùng đục của lão ánh lên sự ngỡ ngàng tột độ xen lẫn vẻ bối rối, ngượng ngùng. Lão không thể ngờ rằng, sau bao nhiêu lời lẽ tính toán gay gắt, người cháu gái từng bị đuổi khỏi nhà họ Phạm năm nào nay lại mở cho lão một con đường vừa giữ trọn thể diện trước dân làng, vừa mang lại một nguồn thu nhập lâu dài, ổn định cho cả gia đình lão vượt qua mùa đông đói kém sắp tới.

"Thật... thật thế sao cháu?" Đức Thuận lắp bắp, giọng nói run rẩy, xưng hô cũng bất giác đổi từ "mày - tao" sang "cháu" một cách tự nhiên.

"Lời cháu nói có bác Trưởng thôn và chị Nguyệt Nương ở đây chứng giám, từng nét mực ghi trên giấy trắng mực đen, tuyệt đối không nuốt lời," Thanh Hà mỉm cười, ánh mắt nàng ấm áp như nắng mùa thu.

Đỗ Nguyệt Nương cũng mỉm cười, gật đầu tán thành: "Chị bảo đảm cho muội ấy! Chỗ củi than, rơm rạ sạch sẽ của bác nếu đưa sang bến đông giao cho quán trà, Hội nữ thương chợ Đông Tân chúng tôi cũng sẽ phụ trách tiêu thụ giúp một phần nếu quán dùng không hết. Làm ăn ngay thẳng, mở lòng với nhau thì đôi bên cùng có lợi, hà tất phải bóp nghẹt cháu chắt trong nhà làm gì cho mang tiếng bất nhân bất nghĩa với đời!"

Bầu không khí ngột ngạt, căng thẳng đè nặng trong căn nhà tre bấy lâu nay hoàn toàn tan biến, nhường chỗ cho sự nhẹ nhõm, thanh thản lạ kỳ.

Lý trưởng thôn Nam Kiều cười xòa, vuốt chòm râu bạc bước lại gần bàn, tự tay trải rộng hai tờ khế ước đã được Thanh Hà thảo xong xuôi. Nội dung tờ khế ước ghi rõ ràng: Liễu Đức Thuận nhận đủ ba lượng bạc trắng bồi hoàn công nuôi dưỡng; từ nay giao trả toàn bộ quyền giám hộ, nuôi nấng Liễu Thanh Du cho người chị ruột là Liễu Thanh Hà; hai bên dứt điểm mọi ân oán, nợ nần cũ, giữ gìn hòa khí thân tộc và lập giao ước hỗ trợ thu mua nông sản công bằng lâu dài.

Lý trưởng mở chiếc hộp gỗ tròn đựng chu sa đỏ au, chấm ngón tay cái vào rồi ấn mạnh lên góc văn bản, sau đó dùng con dấu bằng gỗ thị của thôn đóng cộp một dấu triện đỏ tươi lên từng tờ giấy.

Liễu Đức Thuận run rẩy vươn bàn tay thô nhám, gân guốc của mình ra. Lão chấm ngón tay trỏ dính đầy mực chu sa đỏ thắm, rồi ấn thật mạnh xuống bên cạnh chữ ký vụng về của mình. Cuối cùng, Thanh Hà cũng điểm chỉ xác nhận, rồi tự tay trao trọn vẹn ba thỏi bạc trắng mười tuổi nặng trĩu vào bàn tay chai sạn của người bác họ.

Mọi thủ tục đã hoàn tất một cách danh chính ngôn thuận, có sự chứng giám của công quyền làng xã và bà con lối xóm.

Thanh Du khẽ thở phào một hơi dài, quay người bước vào chái bếp tối om phía sau. Cậu bé thu dọn đồ đạc của mình chỉ trong chớp mắt. Toàn bộ gia sản tích cóp suốt hai năm ở nhờ của cậu chỉ gói gọn trong một bọc vải vá quàng: hai bộ quần áo vải thô rách tươm, chiếc nghiên mực bằng đá ong mòn vẹt mép và một bọc sách học trò cũ kỹ chép tay từ hồi còn theo học thầy đồ ở trường làng thôn Đoài.

Khi cậu xốc bọc vải lên vai bước ra cửa hiên, Liễu Đức Thuận đang đứng tựa lưng vào mép cửa tre, ánh mắt đăm chiêu nhìn đứa cháu trai nhỏ thó, gầy gò. Nhìn bọc sách cũ kẹp chặt bên nách cậu bé, khuôn mặt người bác họ thoáng chút ngượng ngùng, bối rối. Lão húng hắng ho khan một tiếng, đưa bàn tay sần sùi lên gãi gãi mái tóc hoa râm lấm lem bụi than, rồi cất giọng khàn đặc, trầm đục:

"Về bên ấy với chị mày... ráng mà học hành cho đỗ đạt, mở mày mở mặt. Đừng để người đời người ta khinh khi, bảo... cái ngữ giống nhà họ Liễu này sinh ra chỉ biết bốc vác mướn với đốt gạch ven sông."

Thanh Du khựng lại một nhịp. Đôi mắt cậu bé đỏ hoe, ngấn nước. Cậu đứng nghiêm trang giữa khoảng sân đất, buông bọc đồ xuống bên chân, rồi chắp tay cúi gập người vái tạ người bác họ ba vái thật sâu, thật cung kính:

"Cháu xin ghi nhớ lời bác dạy."

Ba người bước ra khỏi cổng tre nhà họ Liễu giữa ánh nhìn đầy vẻ cảm phục và thán phục của bà con xóm lò gạch Nam Kiều.

Con đường đất đỏ ven triền đê lúc này đã ráo hoảnh dưới ánh nắng thu vàng rực rỡ như rót mật. Gió sông Vọng Giang thổi lồng lộng xua tan đi những vệt khói xám xịt của lò gạch, mang theo hương thơm ngọt ngào, mát lành của bãi mía non và mùi ngô bãi bồi vừa trổ bắp.

Dưới bến nước lấp lánh ánh mặt trời, chiếc đò ngang quen thuộc của Từ Bá đã cắm sào đợi sẵn bên rặng lau sậy rập rờn trắng xóa. Lão lái đò đứng sừng sững trên mũi thuyền, chiếc áo tơi lá gác ngay ngắn trên mui nan, chòm râu bạc phơ rung rinh theo nụ cười sảng khoái khi nhìn thấy bóng dáng ba người thong thả bước xuống triền đê đất đỏ.

"Xong xuôi cả rồi chứ gì, cô chủ quán trà?" Từ Bá cất giọng sang sảng, tiếng nói dội vang trên mặt nước mênh mông.

"Dạ xong xuôi cả rồi, thưa Từ Bá!" Thanh Hà rạng rỡ đáp lời, bàn tay mảnh dẻ của nàng nắm chặt lấy bàn tay gầy guộc đầy vết chai sạn của Thanh Du. Bàn tay cậu bé ấm áp, run run siết nhẹ lại tay chị gái.

Thanh Du bước chân lên mạn thuyền nan. Tiếng ván gỗ va chạm lách cách vào mạn đò nghe sao mà êm ả, thân thuộc đến thế. Lão Từ Bá vung mái chèo gỗ nghiến, chiếc đò ngang chầm chậm tách khỏi bờ nam Nam Kiều, rẽ làn sóng đỏ đục phù sa của dòng sông Vọng Giang quay trở về bờ đông.

Gió thu thổi tung những lọn tóc mai mềm mại trên vầng trán thanh tú của Thanh Hà. Nhìn bóng bờ nam với những lò gạch xám xịt lùi dần, lùi dần về phía sau màn sương mỏng, trong lòng nàng dâng lên một niềm thanh thản, tự do khôn xiết.

Thế là từ nay, nàng không còn phải thấp thỏm lo âu mỗi đêm nghe tiếng gió rít qua khe cửa, không còn phải giật mình thon thót mỗi khi mùa lũ lớn tràn về sợ em trai bị đày đọa nơi hỏa ngục lò than. Em trai nàng đã trở về bên nàng, danh chính ngôn thuận, ngẩng cao đầu bước đi bằng chính sức lao động kiên cường, bằng sự minh bạch của lý lẽ và những đồng tiền chân chính, sạch sẽ do chính đôi bàn tay nàng chắt chiu làm ra.

Con đò cập bến đông Vọng Giang khi bóng nắng đã ngả sang trưa.

Bến đò lúc này tấp nập, rộn rã tiếng cười nói của cánh phu than, phu gạo vừa bốc dỡ xong một chuyến thuyền buôn lớn từ mạn ngược xuôi về.

Quán trà nhỏ mé đông hiện ra bình yên và tươi tắn dưới bóng râm của giàn hoa mới dựng, mái tranh lợp lại thơm nức mùi rạ nếp mới hong khô. Bờ kè đá hộc vững chãi, phẳng phiu ngăn cách quán với mép nước lấp lánh ánh mặt trời, đứng sừng sững như một lời khẳng định về sự an cư lạc nghiệp của ba mẹ con, chị em nàng trên mảnh đất này.

Thanh Du xốc lại bọc sách cũ trên vai, đưa mắt ngắm nhìn quán trà nhỏ xinh xắn của chị mình. Cậu hít một hơi thật sâu vào lồng ngực mùi hương cốm thơm ngát, ngọt ngào hòa quyện cùng vị nồng ấm của củi gộc đang cháy đượm tỏa ra từ chiếc lò đất đắp rãnh chữ U khéo léo nơi góc quán. Cậu bước nhanh theo gót Thanh Hà tiến vào khoảng hiên rợp mát bóng tre.

Nhưng ngay khi vừa bước chân qua ngưỡng cửa quán, bóng người cậu bỗng khựng lại.

Trước mắt cậu, Tiểu Mãn đang đứng nép mình bên cạnh chiếc cột tre góc quán. Con bé mặc chiếc áo vải nâu sạch sẽ, tươm tất, đôi mắt to tròn lanh lợi nhìn trừng trừng vào vị khách thiếu niên vừa bước vào với vẻ vừa bồn chồn, lo âu, vừa dò xét cảnh giác tột độ. Đôi bàn tay nhỏ thó của con bé đang lúng túng giấu biến chiếc giẻ lau bàn ướt sũng ra sau lưng, lưng tựa chặt vào mép tủ gỗ như sợ ai đó xông vào cướp mất chỗ đứng của mình.

Thanh Du bước chân vào quán, chạm mặt Tiểu Mãn đang lúng túng giấu chiếc giẻ lau sau lưng, hai đứa trẻ trừng mắt nhìn nhau.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories