Sau khi nước rút
Mùi bùn non tanh nồng bốc lên ngột ngạt khi ánh nắng đầu thu chiếu rọi xuống doi đất bến Vọng Giang, phơi bày cảnh tượng ngổn ngang sau khi dòng lũ rút xuống.
Con nước dữ dội đêm qua đã lùi xa khỏi mép cỏ, trả lại dòng chảy đỏ ngầu phù sa đang cuồn cuộn trôi về phía hạ lưu. Sức tàn phá của trận hồng thủy kinh hoàng để lại những dấu tích tơi bời dọc hai bên triền sông. Những vạt lau sậy rậm rạp thường ngày vốn vươn cao quá đầu người nay bị dòng chảy tạt rạp sát đất, phủ trọn một lớp váng bùn vàng quánh như mỡ trâu nguội. Rác rưởi trôi giạt từ miệt rừng thượng nguồn về đây mắc kẹt ngổn ngang trên từng ghềnh đá nhấp nhô: những rọ tre trôi sông vỡ toác, rơm rạ mục rữa cuộn tròn cùng những thân cây gỗ mục bị bẻ gãy gập đôi, vỏ tróc từng mảng lớn thâm sì. Thỉnh thoảng, từ trong những hốc đá còn đọng nước, vài con cá mương cá trôi chết phơi bụng trắng hếu bốc lên mùi xơ xác, thu hút từng đàn ruồi nhặng vo ve xé tan sự tĩnh mịch của buổi sớm mai.
Mặt đất bến đò mềm nhũn, biến thành một bãi lầy nhớp nháp màu xám xịt. Mỗi bước chân giẫm xuống nền đất phù sa chưa kịp ráo nước liền phát ra tiếng bì bõm nặng nề, bùn ngập sâu qua mắt cá chân, níu chặt lấy bàn chân như muốn chôn vùi tất cả. Gió sớm từ lòng sông thổi tạt vào mặt, mang theo hơi ẩm lạnh buốt pha lẫn vị ngai ngái của đất bồi, cứa vào da thịt người ta một cảm giác rờn rợn.
Liễu Thanh Hà cẩn thận vén cao gấu váy nâu thô, giắt chặt dải yếm lụa đã sờn mép vào thắt lưng gai. Đôi bàn chân trần của nàng bấm sâu vào lớp bùn dẻo quánh để giữ thăng bằng. Một tay nàng xách chiếc giỏ tre đan mắt cáo đựng vài món đồ đoàn ít ỏi còn sót lại sau đêm trú nạn trên miếu Gò Cao: chiếc niêu đồng nhỏ hun khói đen nhẻm, hai cái bát sành sứt miệng và xấp giẻ lau sạch cuộn tròn. Bàn tay còn lại của nàng nắm chặt lấy bàn tay nhỏ bé của Tiểu Mãn. Đứa nhỏ bước đi bì bõm bên cạnh, chiếc quần đũi rộng thùng thình ướt sũng tới đầu gối, đôi mắt tròn xoe lo âu không ngừng đảo quanh dò xét từng gốc dâu da, bụi dứa dại thân thuộc ven bến nước.
Đi sóng đôi bên cạnh hai người là Liễu Thanh Du. Cậu bé mười ba tuổi bước những bước dài trầm mặc, chiếc áo cộc rách vai dính đầy vệt bùn khô cáu lại từ đêm qua. Dưới nách cậu cắp chặt cuốn sổ giấy bổi ghi chép việc phát chẩn lương thực tại gò cao. Dù khuôn mặt còn vương nét nhợt nhạt vì đói rét và mỏi mệt sau một đêm kinh hoàng, đôi mắt sáng ngời của Thanh Du vẫn không một khoảnh khắc nào rời khỏi bóng dáng túp lều mé đông bến nước.
Khi cả ba người vượt qua rặng sậy gãy đổ chắn ngang lối mòn, túp lều nhỏ của Thanh Hà hiện ra trần trụi dưới ánh ban mai nhạt nhòa.
Cảnh tượng trước mắt khiến bước chân Tiểu Mãn khựng lại. Đứa trẻ nắm chặt lấy ngón tay Thanh Hà, khẽ òa lên một tiếng nghẹn ngào trong cuống họng:
"Chị Hà ơi... lều của mình bị xiêu mất rồi!"
Trận cuồng phong cùng những con sóng dữ đêm rằm đã giáng một đòn nặng nề lên túp lều vốn đơn sơ của ba chị em. Một mảng vách nứa đan mắt cáo kiên cố mé giáp mặt sông đã bị sức nước xô bung toàn bộ khỏi cọc chôn, đổ nghiêng ngả sang một bên, vặn vẹo như cánh buồm rách, để lộ một khoảng trống toang hoác nhìn thấu tận đáy lòng quán. Mái tranh phía tây bị gió xoáy giật tung từng mảng lớn, những gồi rạ mục sũng nước rũ rượi quệt sát mé đất lầy. Những cây cọc tre làm trụ hiên bị dòng xoáy khoét mòn chân móng, đứng xiêu vẹo chực ngã nhào nếu có thêm một cơn gió mạnh thổi qua.
Bước tới ngưỡng cửa tre gãy gập, Thanh Hà dừng lại. Bên trong lòng lều, lớp phù sa sông đỏ quạch dày nửa gang tay lắng đọng lại, dẻo quánh như hồ dán, bao phủ trọn vẹn lên nền đất nện mà mấy hôm trước chị em nàng vừa bỏ bao công sức quét tước, kỳ cọ nhẵn nhụi. Những chiếc ghế con bằng tre ngâm nước phình to, dạt dồn vào một góc kẹt, nửa thân vùi sâu dưới lớp bùn nhão nhoét. Chiếc bàn uống nước bằng gỗ tạp bị lật nghiêng, chân bàn gãy lìa, chỏng chơ giữa vũng nước tù đọng váng vất lá khô thối rữa.
Lồng ngực Thanh Hà thắt lại trong một thoáng. Cổ họng nàng dâng lên vị đắng ngắt. Bao nhiêu công sức thức khuya dậy sớm, bao nhiêu đồng tiền chắt bóp từng bát nước chè, củ khoai để dựng nên chỗ che mưa che nắng, chỉ sau một đêm cuồng nộ của trời đất bỗng chốc trở nên xơ xác, hoang tàn như thế này.
Nhưng nàng không cho phép mình rơi nước mắt. Trong cơn biến loạn, nước mắt là thứ vô dụng nhất. Nàng hít một hơi thật sâu, nén chặt cơn chua xót xuống đáy dạ. Đôi mắt sắc sảo, kiên định của nàng lập tức lướt qua đống đổ nát dưới đất, hướng thẳng lên trần lều.
Nơi góc rui mè buộc lạt giang chắc chắn sát vách trong cùng, căn gác xép nhỏ bằng những thân luồng già chẻ đôi ken khít mà nàng và lão lái đò Từ Bá cùng nhau gia cố cẩn mật trước ngày nước dâng vẫn đứng sừng sững. Khung luồng gác trên hai chạc cây ổi cằn cỗi cắm sâu vào lòng đất bãi bồi không hề lung lay.
Trên chiếc giàn cao ấy, bốn chiếc chum sành da lươn cỡ đại vẫn nằm im lìm, vững chãi. Miệng chum được bọc kín nhiều lớp bằng vải dầu nhúng mỡ trâu dày cộp, mép vải miết chặt vào cổ chum bằng từng đường sáp ong rừng vàng óng nấu chảy đã đông cứng lại thành một khối liền mạch. Cả bốn chiếc chum đều khô ráo, nằm cao hơn ngấn nước ngập cao nhất đêm qua gần hai gang tay.
"Đừng khóc, Tiểu Mãn," Thanh Hà buông giỏ tre xuống ngưỡng cửa, giọng nàng trầm ổn lạ thường, mang theo một sức mạnh khiến hai đứa trẻ lập tức trấn tĩnh lại. "Nhà còn cột, người còn lành lặn, không có gì phải sợ. Mãn đứng dưới giữ chân thang, Thanh Du theo chị."
Thanh Du nhanh nhẹn bước tới bên vách nứa, dùng vạt áo lau vội bàn tay lấm lem rồi cùng Tiểu Mãn ghì chặt chân chiếc thang tre ba bậc. Chiếc thang ướt sũng, trơn tuột vì rêu nước bám vào. Thanh Hà cẩn trọng trèo lên từng nấc một.
Khi ngón tay nàng chạm vào bề mặt mát lạnh của chiếc chum sành đầu tiên, nàng ngửi thấy mùi sáp ong nồng nàn, ngai ngái quen thuộc át đi mùi xú uế tanh tưởi của dòng nước lũ bên dưới. Nàng dùng móng tay cẩn thận cậy một góc nhỏ của lớp sáp ong niêm phong ở mép chiếc chum đựng trà búp hè nõn tôm. Nàng lách nhẹ một lớp lá chuối khô lót đệm bên trong rồi ghé sát mũi hít một hơi thật sâu.
Một luồng hương cốm nồng nàn, thanh khiết, khô ráo và ấm áp lập tức tràn ngập khoang mũi. Mùi hương của những búp trà được hái lúc sương sớm, sao suốt đêm trên chảo gang đỏ lửa tại xưởng của Trần Mộc Lan, kết tinh mồ hôi nước mắt và toàn bộ vốn liếng tích cóp bao tháng ngày qua của nàng, vẫn vẹn nguyên, không hề ngấm lấy một giọt nước hay vẩn đục một chút hơi ẩm nào. Bốn chum trà quý – mạch sống duy nhất của quán nước – đã bình an vô sự.
Nàng kiểm tra tiếp sang góc gác xép. Hũ sành đựng bột nếp hoa vàng và chiếc thố con bọc kín đựng mấy chuỗi tiền kẽm giắt sâu trong kẽ rui cũng khô cong.
"Trà còn nguyên vẹn cả!" Thanh Hà quay đầu cúi xuống nhìn hai đứa trẻ, nở nụ cười rạng rỡ xua tan bầu không khí u ám. "Cả chum bột nếp và thố tiền cũng không sao. Nước chưa chạm tới gác xép!"
Tiểu Mãn reo to một tiếng sung sướng, nhảy chân sáo ngay trên lớp bùn non khiến nước bắn tung tóe lên ống chân lấm lem. Đôi vai gầy guộc của Thanh Du khẽ chùng xuống, cậu bé thở phào một hơi dài như vừa trút bỏ được cả một gánh nặng ngàn cân đè nặng trên ngực suốt từ đêm qua. Cậu vội đưa tay quệt mồ hôi trên trán, để lại một vệt bùn ngang má, nhưng khóe miệng đã nở một nụ cười rạng rỡ.
Chưa kịp tụt xuống thang tre, đôi tai thính nhạy của Thanh Hà đã bắt được những âm thanh rậm rịch từ phía bờ dốc dẫn xuống bến. Tiếng bước chân dẫm bùn bì bõm, tiếng kim loại va chạm lách cách cùng những tiếng gọi í ới xé toang không gian tĩnh mịch của doi đất bồi.
"Cô Hà ơi! Chị em cô đã về đến lều chưa?"
Tiếng hô khàn đục nhưng sang sảng của bác phu than A Sinh vang lên.
Thanh Hà vội bước xuống thang, bước ra mé hiên lều nhìn lên con dốc. Cảnh tượng trước mắt khiến nàng sững sờ. Đi đầu là A Sinh, người đàn ông lực lưỡng vác trên vai chiếc xẻng sắt đã mòn vẹt lưỡi, tay xách chiếc sọt tre to tướng. Phía sau anh là hơn mười người phu bến thân hình vạm vỡ, quần áo cộc thô kệch ướt sũng bùn đất. Người gánh từng bó nẹp nứa tươi xanh ngắt vừa chẻ từ bụi tre làng, kẻ khiêng những vò đất sét gò dẻo quánh, người xách đòn gánh, cào gỗ, xô nước. Trên gương mặt hốc hác, rám nắng của những người phu tráng đinh hãy còn hằn sâu những nét bơ phờ sau một đêm dài thức trắng vật lộn với dòng nước cứu thuyền mảng, nhưng ánh mắt ai nấy nhìn về phía quán trà đều ánh lên sự nhiệt tình, chân chất.
"Bác A Sinh, các anh em..." Thanh Hà ngỡ ngàng bước xuống mé hiên đầy bùn, giọng nói nghẹn lại vì xúc động. "Sao mọi người lại mang đồ nghề sang đây sớm thế này? Nhà cửa của mọi người trên thôn thượng đã thu dọn xong xuôi chưa?"
A Sinh đặt chiếc xẻng sắt xuống bùn nghe một tiếng "phập", đưa cánh tay áo thô ráp quệt ngang mồ hôi trán, cười để lộ hàm răng sún khuyết một chiếc, giọng nói ầm ào như gió sông:
"Nhà của cánh phu phen chúng tôi tít trên gò đất cao, nước lũ chỉ mấp mé hiên nhà rồi rút, quét qua loa một lát là xong chứ có suy suyển gì đâu! Vừa tảng sáng ra, chúng tôi nghe lão Từ Bá chèo thuyền qua bảo bến đông bị dòng lũ tạt dữ nhất, cái quán nước của cô Hà bị xô vách, sụp mái. Anh em chúng tôi bàn nhau, lập tức í ới gọi nhau vác đồ nghề chạy sang ngay đây!"
Anh ngừng lại một nhịp, nhìn vào mắt Thanh Hà, ánh mắt chân thành không một gợn tính toan:
"Đêm qua trên miếu Gò Cao, trời mưa như trút nước, gió giật từng cơn lạnh thấu xương thấu thịt. Nếu không có gánh củi khô nỏ của cô Hà hong khói ấm góc miếu, không có nồi cháo hoa đặc quánh ấm bụng với mấy bát nước trà gừng cay ngọt do chính tay cô nấu chia đều cho từng đứa trẻ, từng người già, thì đám phu phen dầm mưa chúng tôi với mấy đứa nhỏ rét run cầm cập chắc đã quỵ ngã vì cảm lạnh rồi. Chúng tôi là dân lao động chân tay, chẳng có gì đền đáp, chút bùn non với mấy cây cọc tre xiêu vẹo này, cô cứ để cánh đàn ông chúng tôi lo!"
"Phải đấy cô Hà!" Một bác phu kéo thuyền trung niên da đen bóng như mun tiếp lời, tay cầm sẵn hai chiếc cào gỗ cào bùn gõ lách cách vào nhau. "Bến Vọng Giang này sớm hôm nhộn nhịp cũng nhờ cái quán nước mé đông của cô. Bát nước trà xanh hai văn ngọt giọng, tấm bánh nếp dẻo thơm lót dạ mỗi ban mai... Quán mà không dựng lại sớm, cánh bốc than, vác muối chúng tôi làm quần quật cả ngày biết ghé lưng vào đâu mà nghỉ ngơi lấy sức? Bùn đất bến sông có gì ghê gớm, nạo loáng một cái là sạch tinh ngay!"
Trước ân tình mộc mạc mà nồng ấm như than hồng giữa ngày đông giá rét, hai mắt Thanh Hà hoe đỏ. Nàng vội chắp hai tay trước ngực, cúi mình thật sâu tạ lễ:
"Thanh Hà đội ơn các bác, các anh em nhiều lắm. Nhưng công việc nạo vét, sửa sang lại lều quán nặng nhọc, tốn bao nhiêu công sức... Xin các bác để cháu vào lấy tiền, tính toán tiền công nhật gửi lại mọi người sòng phẳng, cháu tuyệt đối không thể để mọi người chịu thiệt thòi..."
"Ấy, cô Hà lại nói thế là khinh anh em phu bến chúng tôi rồi!" A Sinh xua xua đôi bàn tay thô ráp nứt nẻ cáu đầy bụi than và bùn khô, giọng gắt nhẹ nhưng đầy nghĩa khí. "Đêm qua cô chia cháo, múc từng thìa cháo thơm cho mẹ con nhà cái Tý, cô có tính xem một thìa cháo giá mấy văn tiền không? Bát nước trà gừng xua tan gió độc cho người rét mướt, cô có xòe tay đòi một đồng tiền kẽm nào không? Chúng tôi là lũ cùng đinh ăn sóng nói gió, nhưng ăn một miếng của người lúc hoạn nạn thì tạc dạ ghi lòng. Hôm nay chúng tôi sang đây giúp cô dọn bùn, đắp lại lò, tuyệt đối không ai được phép nhận một đồng tiền công! Đứa nào thò tay cầm tiền của cô Hà, từ nay về sau đừng vác mặt ngồi chung bàn trà hai văn với lão Từ Bá nữa!"
Tiếng cười đồng tình của đám tráng đinh phía sau rộ lên râm ran, vang động cả một khúc sông sớm. Không để Thanh Hà kịp nói thêm lời nào từ chối, A Sinh lập tức quay ngoắt lại, xốc xẻng phân chia công việc đâu ra đấy như một vị tướng chỉ huy trận địa:
"Nào, anh em chia nhau ra làm cho nhanh kẻo trưa nắng gắt! Bốn chú khỏe tay cầm xẻng xúc bùn non trong lều, tống thẳng xuống mé sông bồi đắp bờ sạt lở! Hai chú vác dao ra bụi dứa dại chặt cọc tre già, nẹp lại mảng vách nứa mắt cáo cho thật chắc chắn! Bác Cả khéo tay nhất thì vào nhào đất sét gò với tro trấu vụn, đắp lại cái lò đun nước cho cô Hà!"
Cả bến sông đang ảm đạm, tanh tưởi bỗng chốc bừng lên một bầu không khí lao động huyên náo, rộn ràng. Từng nhát xẻng sắt cắm phập vào lớp bùn non dẻo quánh, tiếng xẻng cạo ken két trên mặt đất nện phẳng lì nghe thật giòn giã. Từng sọt bùn nặng trịch được hai tráng đinh thoăn thoắt chuyền tay nhau, gánh đổ dồn ra mép bờ sông đang bị dòng xoáy ngoạm sâu, đắp thành một con trạch cao ráo ngăn sóng vỗ lở mép đất.
Tiểu Mãn lanh lợi chạy lăng xăng nhặt nhạnh từng thanh củi khô trôi dạt dập dềnh ven bãi, đem xếp thành từng đống gọn gàng bên chái lều hong gió. Còn Thanh Du thì thoăn thoắt xách từng gàu nước sông đã lắng phù sa mang vào chái bếp, phụ giúp bác Cả phu già nhào đất.
Chiếc lò đất nện tráng tro rơm cũ kỹ của Thanh Hà vốn bị ngâm trong nước lũ suốt đêm qua, nay đã rã mục một mảng lớn quanh chân lò. Bác Cả – người thợ nề lành nghề nhất xóm phu – cẩn thận dùng mũi xẻng bóc bỏ toàn bộ phần đất sét đã mềm nhũn, chỉ giữ lại phần khung gạch xỉ chịu lửa bên trong. Đôi bàn tay thô ráp của bác thoăn thoắt nhào nặn đất sét đỏ lấy từ gò Thanh Khê pha trộn với tro trấu vụn và rơm nếp băm nhỏ, tạo thành một thứ vữa đất dẻo quánh, không nứt nẻ khi gặp nhiệt. Từng mảng đất sét mới được đắp miết đều đặn quanh thân lò, vòng miệng lò được vuốt tròn trịa, nhẵn thín. Bác Cả còn cẩn thận khoét sâu thêm một rãnh hút gió chữ U dưới đáy lò, mỉm cười giải thích với Thanh Du:
"Khoét thế này thì ngọn lửa sẽ gom nhiệt cực mạnh, củi cháy kiệt không sinh khói độc, nước sôi nhanh gấp đôi mà khói chẳng bao giờ tạt vào mắt người đun chè đâu nhé, chú mày cứ nhìn mà học!"
Tiếng hò dô chuyển đất, tiếng búa gõ cọc tre chan chát, tiếng cười nói rổn rảng át cả tiếng gầm gào của dòng nước lũ đang cuồn cuộn rút xa bờ. Chỉ sau hơn một canh giờ quần quật, lớp phù sa dày cộp trong lòng lều đã bị nạo vét sạch bóng không còn một dấu vết. Mặt đất nện cứng cáp lộ ra, khô ráo dần dưới những luồng gió thu mát rượi thổi lồng lộng qua vách nứa vừa được gia cố bằng những chiếc nẹp tre mới tinh, buộc chặt bằng lạt giang tươi dẻo dai.
Khi mảng vách nứa cuối cùng vừa được nẹp chặt vào cọc gỗ chính, từ phía con đường cái quan nối huyện thành Thanh Lâm xuống bến đò bỗng dồn dập vang lên tiếng vó ngựa gõ lộc cộc trên mặt đá ong.
Tiếng ngựa phì phì dừng lại ngay đầu bờ dốc cao.
Người ngồi trên lưng ngựa khoác bộ áo bào màu xanh sẫm viền vải đen đứng đắn của viên chức nha môn, trên đầu đội mũ cánh chuồn bằng the đen ngay ngắn, thắt lưng da bò đeo lủng lẳng một tráp gỗ trắc đựng nghiên bút cùng túi công văn niêm phong chỉ đỏ. Khuôn mặt người ấy vuông vức chữ điền, đôi mày lưỡi mác hơi nhíu lại, toát lên vẻ nghiêm nghị, khắt khe của một người quen chấp pháp chốn công đường. Đó chính là Thư lại Vũ Chính An, viên chức phụ trách thương vụ và thuế khóa khét tiếng chí công vô tư của huyện nha.
Chạy lúp xúp theo sau đuôi ngựa là Đào Văn Kính – Phường bảo cai quản bến Vọng Giang. Chiếc áo the của viên phường bảo ướt đẫm mồ hôi lưng, tay cầm chiếc quạt nan rách phe phẩy lia lịa, vừa thở không ra hơi vừa lấm lét nhìn trước ngó sau.
"Vũ thư lại giá đáo!" Đào phường bảo lấy lại hơi, lớn tiếng hô một tiếng ra oai, vội vã chạy lên giữ chặt dây cương ngựa khi Vũ Chính An dứt khoát tung người nhảy xuống đất.
Nhìn thấy viên thư lại nổi tiếng nghiêm khắc của huyện nha xuất hiện, cánh phu bến đang làm việc rộn ràng liền tự giác dừng tay lại. Họ nép sát sang hai bên hiên lều, cúi đầu khẽ chào theo đúng phép tắc của kẻ bần hàn trước chốn quan sai. Vũ Chính An bước những bước dài đĩnh đạc, đôi ủng da bóng loáng không ngại ngần giẫm lên lớp đất bùn ẩm ướt, đi thẳng vào giữa sân quán trà của Thanh Hà.
Ánh mắt sắc bén như chim ưng của ông lướt nhanh một lượt từ trên xuống dưới: nhìn mảng vách nứa tươi mới vừa được buộc lạt giang, nhìn chiếc lò đất còn đỏ au màu phù sa mới đắp, rồi dừng lại trên dáng hình thanh mảnh nhưng đoan chính, lưng thẳng tắp của người phụ nữ trẻ tuổi đang đứng đợi bên ngưỡng cửa.
"Liễu thị," giọng Vũ Chính An cất lên, khô khốc và rành rọt từng âm tiết như tiếng thẻ tre gõ trên bàn công đường, "Huyện nha thừa lệnh quan tri huyện, phái ta thân chinh xuống tuần thị dọc bến Vọng Giang để thẩm tra mức độ thiệt hại thực tế sau cơn đại hồng thủy đêm qua. Bến đò này là yết hầu giao thương của toàn hạt, quán trà của ngươi nằm ngay mép nước bãi bồi, chịu xung lực trực tiếp từ dòng lũ. Tình hình thiệt hại ra sao? Có sổ sách ghi chép xác thực, nhân chứng vật chứng cụ thể hay chỉ định dùng miệng lưỡi khai khống để mưu cầu ân huệ?"
Đào Văn Kính đứng nép phía sau lưng viên thư lại, vội vàng nháy mắt lia lịa, ra hiệu cho Thanh Hà, khuôn mặt lộ rõ vẻ lo lắng sốt ruột. Viên phường bảo sợ người đàn bà góa buôn bán nhỏ này sẽ lúng túng nói năng bậy bạ, hoặc mở miệng khóc lóc kể khổ như những kẻ tiểu thương tầm thường khác, khiến vị thư lại sắt đá nổi giận mà quở phạt vạ lây cả phường bến.
Thế nhưng, Thanh Hà không hề có lấy một tia bối rối. Nàng khẽ nghiêng mình, cúi đầu hành lễ theo đúng quy củ chốn nha môn, cử chỉ ung dung, đĩnh đạc lạ thường. Đôi bàn tay thon thả, sạch sẽ của nàng nâng lên một cuốn sổ giấy bổi mộc mạc đóng chỉ gai chắc chắn – cuốn sổ mà nàng đã cẩn thận ghi chép từng nét chữ rõ ràng từ tảng sáng trên miếu Gò Cao.
"Bẩm Vũ thư lại," giọng Thanh Hà trong trẻo, bình thản vang lên giữa hiên lều lộng gió, "Dân nữ Liễu Thanh Hà xin kính cẩn xuất trình sổ kiểm kê thiệt hại thực tế của Quán trà mé đông sau cơn bão lũ đêm rằm."
Vũ Chính An khẽ nhướn đôi mày rậm, đưa tay đón lấy cuốn sổ bổi. Ông lật giở từng trang giấy thô ráp.
Từng dòng chữ viết bằng mực tàu đen nhánh, nét chữ chân phương, thanh tú và ngay ngắn hiện lên rõ ràng mười mươi, không hề có một vết tẩy xóa hay sửa chữa:
*– Nước sông dâng ngập nền lều sâu một tấc ba phân: hỏng 30 viên gạch xỉ lót chân móng lò, rã một góc lò đun nước bằng đất sét nện.* *– Vách nứa mắt cáo mé tây mục gãy do nước tạt xiết: 1 tấm vách (trị giá 12 văn tiền kẽm).* *– Mái rạ dột nát do gió lốc cuốn trôi: 3 gồi tranh lợp (trị giá 9 văn tiền kẽm).* *– Bột nếp và củi khô hao hụt trong đêm lũ: 5 cân bột nếp hoa vàng (trị giá 25 văn) và 3 bó củi gộc nỏ (trị giá 6 văn) đã xuất kho nấu cháo phát chẩn cứu trợ khẩn cấp cho dân bến đò tị nạn tại miếu Gò Cao đêm rằm tháng Bảy.* *– Toàn bộ 4 chum trà khô bọc sáp cất trên gác xép cao: bảo toàn nguyên vẹn 100%, không bị hơi ẩm xâm nhập.* *– Tổng thiệt hại tài sản vật chất tại quán: ước tính 52 văn tiền đồng; tài sản xuất kho cứu tế tự nguyện: 31 văn tiền đồng.*
Bên dưới bảng kê khai chi tiết từng cân bột, viên gạch, sợi lạt ấy là chữ ký cùng dấu triện điểm chỉ bằng mực đỏ xác nhận của lão lái đò Từ Bá – Hội trưởng Hội lái đò bến Vọng Giang, cùng vết hoa tay bằng mực đen của người phu than A Sinh, làm chứng về hiện trạng hoang tàn của túp lều lúc vừa rút nước.
Vũ Chính An chăm chú đọc đi đọc lại từng hàng mục, đôi mắt sắc lẹm không bỏ sót một con số nào. Khóe môi ông khẽ giật giật. Viên thư lại ngẩng đầu lên, đưa mắt rà soát một lượt khắp lòng quán: ba mươi viên gạch xỉ vỡ vụn đang được gom thành đống vuông vức ở góc hiên ngoài; chiếc lò đất mới đắp thơm mùi phù sa tươi; mảng vách nứa mới thay thế khớp đúng vị trí mé tây; và trên căn gác xép bằng thân luồng chẻ đôi, bốn chiếc chum sành bọc kín sáp ong vẫn nằm ngay ngắn, khô ráo.
Mọi con số, mọi chi tiết trên mặt giấy đều trùng khớp từng ly từng tí với thực tế đổ nát mà quán trà vừa trải qua. Không hề có một lời phóng đại, không có sự bi lụy kể công để van nài cứu tế, càng tuyệt nhiên không có thói gian ngoan man khai thường thấy của đám lái buôn nhằm đục khoét kho lương triều đình.
"Minh bạch, lớp lang, có người làm chứng độc lập xác thực tại chỗ." Vũ Chính An gật đầu, trong đáy mắt thâm trầm ánh lên một tia nể trọng hiếm thấy khi nhìn người phụ nữ trẻ tuổi trước mặt. Ông quay ngoắt sang Đào Văn Kính, cất giọng răn đe: "Đào phường bảo! Ngươi ăn lộc nha môn, quản hạt bến sông này đã ngót chục năm, nhưng cách lập sổ sách thiệt hại tai ương của ngươi lộn xộn, cẩu thả thua xa một người đàn bà mở quán nước ven sông! Hãy mở to mắt ra mà nhìn Liễu thị kiểm kê từng viên gạch vỡ, từng bó củi khô mà tự thấy hổ thẹn!"
Đào Văn Kính giật bắn mình, vạt áo the run bần bật, vội vã cúi rạp người chắp tay: "Dạ dạ... tiểu nhân vô năng, xin thành tâm ghi nhớ lời thư lại chỉ giáo!"
Vũ Chính An quay lại đối diện với Thanh Hà. Giọng nói của ông dẫu vẫn giữ vẻ nghiêm cẩn của chốn công đường nhưng âm sắc đã nhuốm đôi phần hòa hoãn, độ lượng:
"Theo điển lệ triều đình và quy chế hộ trợ bão lụt của huyện nha Thanh Lâm: Các cơ sở kinh doanh ven sông bị ngập lụt, nếu tự giác cứu tế người gặp nạn trong cơn hiểm nghèo, không đầu cơ trục lợi tích trữ lương thực, và có sổ sách chứng minh thiệt hại trung thực, sẽ được xét miễn giảm ngạch thuế khóa thương nghiệp. Nay ta thừa lệnh quan trên, chuẩn y bản kiểm kê này."
Dứt lời, Vũ Chính An mở tráp gỗ trắc mang theo bên hông, lấy ra cây bút lông thỏ cùng chiếc nghiên mực nhỏ đặt ngay ngắn lên mặt chiếc bàn tre vừa được kỳ cọ sạch bùn. Ông thoăn thoắt mài mực, nhúng ngọn bút lông chấm đẫm mực son đỏ tươi, rồi hạ bút viết một dòng chữ son đanh thép lên góc tờ trát công văn của nha môn:
*Chuẩn y miễn toàn bộ thuế môn bài và thuế bến bãi trong hai tháng tám và chín cho Quán trà Thanh Hà mé đông bến Vọng Giang. Huyện nha Thanh Lâm sức lệnh cho phường bảo bến đò nghiêm cẩn thi hành, tuyệt đối cấm thu sai một đồng.*
Vũ Chính An lấy ra chiếc triện đồng vuông vức khắc bốn chữ "Thương Vụ Chi Ấn", dập một dấu đỏ rực, sắc nét lên dòng chữ son, đoạn xé một liên giấy giao tận tay Thanh Hà:
"Ngươi hãy cầm lấy tờ trát này. Trong vòng hai tháng tới, không một ai ở cái bến sông này – dù là phường bến, tuần đinh hay bất kỳ kẻ nào – được phép bước chân vào đây đòi ngươi nộp một đồng tiền thuế môn bài hay tiền xâu bến bãi. Hãy dùng số tiền đó mà mua gạch đá, gia cố lại quán xá cho vững chãi, buôn bán giữ trọn sự lương thiện như lúc này."
"Dân nữ Liễu Thanh Hà xin kính cẩn đa tạ Vũ thư lại! Ân đức của huyện nha và sự chí công vô tư, phân minh của người, chị em dân nữ xin khắc cốt ghi tâm."
Thanh Hà đưa hai tay đón lấy tờ công văn bằng giấy bản thơm nồng mùi mực son mới. Bàn tay nàng run run, trong lồng ngực trào dâng một niềm xúc động khôn xiết. Hai tháng miễn thuế môn bài và xâu bến bãi, tính chi ly ra là cả trăm văn tiền kẽm – một món tiền vô cùng lớn đối với một túp lều rách nát vừa qua cơn hoạn nạn. Sự công bằng của phép nước, một khi được thực thi bởi một vị quan lại công minh, chính là tấm lá chắn che mưa che nắng vững chắc nhất cho những phận đời nhỏ bé mưu sinh nơi bến nước.
Vũ Chính An thu lại nghiên bút cất vào tráp gỗ, khẽ gật đầu chào Thanh Hà rồi quay người bước những bước dài dứt khoát ra ngựa. Ông vung roi, giật cương phi nước kiệu dọc theo con đường đê hướng về phía các xã hạ lưu để tiếp tục việc thị sát.
Bóng ngựa của Vũ thư lại vừa khuất hẳn sau rặng dâu da rậm rạp đầu dốc, một chiếc thuyền nan nhỏ từ bờ nam bến Nam Kiều bất ngờ rẽ sóng phù sa, cập nhanh vào bãi cọc gỗ mé lều.
Hai người đàn ông trung niên mặc áo cộc vải thô nhuộm củ nâu, ống quần xắn cao, mặt mày hầm hố sải những bước chân vội vã tiến thẳng lên doi đất bồi.
Thanh Du đang bưng chiếc xô gỗ múc nước rửa lại mặt bàn tre, vừa ngẩng đầu nhìn thấy hai người đó liền khựng lại. Chiếc gáo dừa trên tay cậu bé buông thõng xuống đất, nước bắn tung tóe lên gấu quần. Khuôn mặt cậu thiếu niên mười ba tuổi thoáng chốc cắt không còn một giọt máu, bờ vai gầy khẽ run lên bần bật.
"Thằng Du! Quả nhiên mày lại mò sang đây đàn đúm!"
Người đàn ông đi đầu cất giọng the thé, chát chúa như tiếng kim loại cạo vào đá ráp. Đó chính là Liễu Đức Quý, người em họ thúc bá chuyên trông coi việc đồng áng và lò gạch cho Liễu Đức Thuận bên bến Nam Kiều.
Gã trừng trừng đôi mắt ti hí đỏ ngầu nhìn Thanh Du, lớn tiếng nạt nộ: "Bác họ mày bên lò gạch sai tao chèo thuyền sang đây xách cổ mày về ngay lập tức! Nước lũ vừa rút, ba lò gạch sét bị sạt lở mất một nửa, bùn đất vùi lấp cả vạn viên gạch mộc chưa nung. Mười mấy mẫu ruộng chiêm ngập bùn thối nghẹt hết mương rãnh. Cả họ đang phải còng lưng cuốc đất khơi mương, mày lại dám trốn việc, chạy sang đây ăn bám cái quán rách này à? Đi về mau, trễ việc ngày hôm nay bác mày trừ sạch khẩu phần cơm tối, tống vào chái bếp nhịn đói cho biết thân!"
Vừa dứt lời, Liễu Đức Quý bước sấn tới, giơ bàn tay hộ pháp thô bạo toan chộp lấy cổ tay khẳng khiu của Thanh Du kéo lôi đi.
"Dừng tay lại!"
Một tiếng quát sắc lạnh, đanh thép vang lên.
Thanh Hà bước vội lên phía trước, thân hình mảnh dẻ chắn ngang giữa Liễu Đức Quý và em trai mình. Ánh mắt nàng nhìn xoáy thẳng vào mặt người họ hàng xa, lạnh buốt như băng tuyết đầu mùa đông:
"Bác Quý, Thanh Du là em trai ruột của tôi. Đêm qua chiếc thuyền chở lúa giống của nhà bác Đức Thuận bị gãy lái trôi dạt sang miếu Gò Cao, nó suýt mất mạng giữa dòng nước xoáy, trên người đầy thương tích, toàn thân rét run đói lả. Nó không trốn việc, mà là thoát chết trở về! Bác họ muốn nó về phụ việc dọn lò gạch, cũng phải nói năng có lý lẽ đàng hoàng, đừng có hở ra là giở thói hành hạ, chửi mắng như với phường nô bộc!"
Liễu Đức Quý nhìn thấy Thanh Hà đứng sừng sững không chút nao núng, lại liếc thấy hơn mười người phu bến lực lưỡng do A Sinh dẫn đầu đang tay lăm lăm xẻng sắt, đòn gánh bước lại gần, đứng gườm gườm nhìn mình, gã bất giác chùn bước, rụt tay lại nửa gang. Nhưng nghĩ đến thế lực của Liễu Đức Thuận bên bờ nam, gã lại vớt vát thể diện bằng giọng cay nghiệt, trịch thượng:
"Cô Hà! Cô đừng có cậy đám phu phen bến nước mà to mồm giở thói cậy đông hiếp yếu! Thằng Du ăn cơm nhà họ Liễu ở Nam Kiều suốt hai năm qua. Tờ giấy giao ước gửi gắm ngày trước chính tay cha cô ký với anh Đức Thuận lúc lâm chung vẫn còn sờ sờ ra đó trong từ đường! Nay việc đồng áng, việc lò gạch sau lũ ngập đầu ngập cổ, nếu cô cố tình giữ nó lại không cho về làm việc, anh Đức Thuận sẽ lập tức lên trình lý trưởng và hội đồng tộc biểu bắt tội cô giấu giếm người nhà, phá vỡ gia quy, bất hiếu với hương hỏa tổ tiên đấy!"
Thanh Du nép chặt sau lưng chị gái, hai bàn tay gầy gò túm chặt lấy vạt áo nâu của Thanh Hà đến mức các đầu ngón tay trắng bệch ra. Nỗi kinh hoàng về những ngày tháng bị nhốt trong chái bếp tăm tối, ẩm thấp, những trận đòn roi oan ức bằng roi mây gai góc và những gánh đất sét nặng trĩu oằn gãy đôi vai non nớt lại ùa về như một cơn ác mộng. Cậu bé ngước nhìn người chị ruột với ánh mắt chan chứa sự van lơn, nước mắt lưng tròng:
"Chị ơi... em không muốn về bên đó nữa đâu... Em muốn ở lại đây gánh nước, chẻ củi, nạo bùn phụ chị mở lại quán trà... Cho em ở lại với chị đi mà..."
Lắng nghe tiếng khóc nghẹn ngào của đứa em trai ruột thịt, trái tim Thanh Hà đau nhói như bị ai dùng dao cứa từng nhát. Bàn tay nàng dưới ống tay áo siết chặt lại đến mức móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đau điếng. Nàng muốn giữ em lại xiết bao, muốn ôm lấy tấm thân gầy còm của Thanh Du mà hét lên rằng từ nay không ai được phép đụng đến em nàng nữa.
Nhưng lý trí sắc bén của người từng nếm trải bao đắng cay cuộc đời mách bảo nàng không thể làm như vậy.
Nàng hít một hơi thật sâu, chầm chậm quỳ một chân xuống bùn, đưa hai bàn tay ấm áp nâng lấy đôi má hóp hóp, lấm lem bùn đất của Thanh Du. Ánh mắt nàng nhìn sâu vào mắt em trai, tràn ngập tình yêu thương ruột thịt nhưng vô cùng kiên định, sáng suốt:
"Du ngoan, nhìn thẳng vào mắt chị, nghe chị dặn đây." Giọng nàng dịu dàng nhưng rành rọt từng tiếng, khắc sâu vào tâm can đứa trẻ. "Chị em mình đã kiên nhẫn đợi được hai năm ròng rã, tuyệt đối không thể vì nóng vội một vài ngày mà để người ta nắm đằng chuôi. Nếu hôm nay em ở lại đây khi chưa có giấy tờ giải trừ thỏa thuận rành mạch, bác Đức Thuận sẽ mượn cớ luật tục gia tộc mà lôi quan phủ vào can thiệp. Khi ấy, việc chị đón em về danh chính ngôn thuận sẽ càng thêm muôn phần trắc trở, thậm chí em còn phải gánh tội bất nghĩa với dòng họ. Em hiểu lòng chị không?"
Thanh Du cắn chặt môi dưới đến rớm máu, những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên đôi gò má tái xám vì phong sương, nhưng cậu bé vốn hiểu chuyện khẽ gật đầu: "Em hiểu... Em không muốn làm liên lụy đến quán nước của chị."
Thanh Hà đưa vạt áo lau sạch nước mắt cho em trai, ghé sát tai cậu thì thầm những lời gan ruột: "Em hãy kiên nhẫn quay về Nam Kiều thêm ít bữa. Nhớ kỹ lời chị: ban ngày làm việc cẩn thận để giữ cho thân thể bình an, tuyệt đối không đôi co cãi vã với họ. Những sổ sách gian lận họ kê khống mà em đã thấy đêm qua, em cứ chôn chặt kín trong lòng. Hãy nhìn bến Vọng Giang này xem: vách lều xiêu chị đã dựng lại được, bùn đất dày chị đã dọn sạch, quan nha huyện thành cũng vừa ký trát miễn thuế cho quán. Chờ chị hoàn tất việc sửa sang bến bãi, dựng bờ kè đá vững vàng, gom đủ tiền chuộc và khế tờ minh bạch, chị nhất định sẽ ngẩng cao đầu sang bến Nam Kiều đón em về dưới mái nhà này. Ngày đó sắp đến rồi, không một ai có thể ngăn cản chị em mình được nữa!"
Thanh Du hít một hơi thật sâu, nuốt nghẹn ngào vào trong, ưỡn thẳng ngực ngẩng cao đầu. Cậu bé lấy tay quệt sạch nước mắt trên má, quay sang nhìn Tiểu Mãn đang đứng thút thít bên cạnh, khẽ dặn dò:
"Tiểu Mãn, muỗi ven sông sau lũ độc lắm, nhiều khí chướng. Buổi tối em nhớ hun khói lá ngải cứu quanh chân giường cho chị Hà ngủ nhé."
Tiểu Mãn gật đầu lia lịa, hốc mắt đỏ hoe: "Anh Du yên tâm, em nhớ rồi. Anh sang bên ấy phải giữ gìn sức khỏe, đừng để bị ốm đấy!"
Thanh Du quay người, bước từng bước vững chãi theo Liễu Đức Quý bước xuống thuyền nan. Chiếc thuyền nan từ từ tách bến, rẽ sóng phù sa đỏ ngầu bơi dần sang bờ nam. Dưới ánh nắng ban mai chói chang rọi xuống mặt sông lấp lánh, bóng dáng cậu thiếu niên gầy guộc đứng sừng sững ở mũi thuyền vẫn không ngừng ngoái đầu nhìn lại, đưa cánh tay khẳng khiu vẫy chào chị cho đến khi chỉ còn là một chấm nhỏ nhạt nhòa giữa mênh mông sông nước.
Thanh Hà đứng lặng bên mép sóng, gió sông thổi tung những sợi tóc mai xõa trên trán nàng. Nàng siết chặt hai bàn tay thành nắm đấm, lồng ngực phập phồng theo từng nhịp thở dồn dập. Trong sâu thẳm tâm can nàng, một ngọn lửa ý chí bùng cháy dữ dội hơn bao giờ hết: Nàng phải tái thiết lại cơ nghiệp này, phải củng cố vị thế của mình thật vững vàng, phải kiếm đủ tiền và sức mạnh, nhanh hơn nữa, kiên cường hơn nữa.
"Nước sông dẫu chảy xiết, nhưng lòng người hướng về nhau thì ngàn dặm cũng không ngăn nổi."
Một giọng nói trầm ấm, điềm đạm vang lên ngay sau lưng nàng, phá tan dòng suy nghĩ miên man.
Thanh Hà khẽ giật mình quay lại.
Hàn Thụy đã đứng đó tự bao giờ. Anh mặc một bộ áo dài màu lam thẫm gọn gàng bằng vải thô dày, vạt áo vén cao giắt ngang chiếc thắt lưng da rộng bản. Ống quần xắn cao quá bắp chân hãy còn dính vài vệt phù sa non từ mạn thuyền buôn lớn bước xuống. Trên gương mặt cương nghị, phong trần của người thương nhân Tây Lĩnh lộ rõ vẻ mệt mỏi sau một đêm thức trắng chỉ huy các kho hàng chống lũ, nhưng ánh mắt anh nhìn nàng vẫn chan chứa sự quan tâm sâu sắc, dịu dàng mà kín đáo.
"Hàn nhị gia..." Thanh Hà khẽ chớp mắt, thu lại nét yếu mềm vừa thoáng qua, nhanh chóng lấy lại vẻ đoan trang, chừng mực thường nhật. "Các kho hàng trà và đội thuyền bè của thương đoàn phía bờ tây thế nào rồi? Có bị dòng nước xoáy làm ảnh hưởng tổn thất gì không?"
"Đội thuyền Tây Lĩnh neo ở vụng kín, kho hàng lại đóng cọc đá nâng cao ba thước từ mùa trước nên đều bình an vô sự cả." Hàn Thụy bước lại gần thêm vài bước, ánh mắt sắc sảo của anh đảo quanh túp lều tranh đơn sơ, nhìn mép đất bãi bồi ven sông vừa bị dòng lũ cuốn phăng một mảng lớn tạo thành cái hàm ếch nguy hiểm, chực sụt lún bất cứ lúc nào. Anh khẽ nhíu mày lo lắng:
"Nhưng quán trà của nàng thì không thể tiếp tục chống chọi bằng cọc tre và vách nứa mỏng manh thế này được nữa. Dòng Vọng Giang cuối thu sẽ còn thêm vài đợt lũ muộn dữ dội từ thượng nguồn đổ về. Chân móng đất bãi đã yếu, nếu không có một bờ kè đá hộc kiên cố đỡ bên dưới, túp lều này khó lòng trụ vững qua tiết Sương Giáng."
Nói đoạn, Hàn Thụy thò tay vào trong bọc áo dài, rút ra một chiếc túi gấm màu chàm nặng trĩu. Tiếng kim loại va chạm vào nhau phát ra những âm thanh lách cách trầm đục, đanh gọn vang lên rõ mồn một giữa không gian tĩnh lặng. Anh bước tới bên chiếc bàn tre, đặt chiếc túi gấm ngay trước mặt Thanh Hà:
"Trong này là năm lượng bạc trắng vụn. Nàng hãy dùng số bạc này thuê thợ đá gò Thanh Khê chở đá hộc về xây một bờ kè móng thật vững chắc dọc theo mép nước, rồi mua nứa tép loại già và rạ nếp mới về lợp lại toàn bộ mái lều, chống dột chống bão. Cứ yên tâm mà dùng, bao giờ quán xá khang trang, buôn bán sinh lời rồi hẵng nghĩ đến chuyện hoàn trả lại ta."
Nhìn túi bạc trắng năm lượng nằm sừng sững trên mặt bàn tre – một số tiền quá lớn, đủ để mua đứt cả một gian nhà ngói ba gian kiên cố ở chốn thôn quê – lồng ngực Thanh Hà khẽ phập phồng. Năm lượng bạc vào thời điểm khốn khó ngặt nghèo này tựa như một chiếc phao cứu sinh có thể giải quyết ngay lập tức mọi tai ương, từ việc kè đá, lợp mái cho đến việc sang Nam Kiều chuộc lại Thanh Du.
Thế nhưng, Thanh Hà không hề đưa tay chạm vào túi gấm.
Ký ức về cuộc tranh luận gay gắt trước mùa lũ, bài học sâu sắc về lằn ranh mỏng manh giữa sự tự lập kiêu hãnh và lòng tốt bố thí, cùng nỗi ám ảnh về quá khứ đầy vết thương của chính Hàn Thụy lập tức hiện về rõ rệt trong tâm trí nàng. Nàng ngẩng cao đầu, nhìn thẳng vào đôi mắt thâm trầm của người thương nhân đối diện, ánh mắt trong veo mà kiên định phi thường:
"Hàn nhị gia, tấm lòng tốt và sự lo lắng của ngài dành cho quán trà này, Thanh Hà xin khắc ghi nơi đáy lòng. Móng đá kè bờ và mái tranh mới quả thực là điều túp lều này đang sống còn cần đến để tồn tại qua mùa nước. Năm lượng bạc này, ta xin phép được nhận vay."
Hàn Thụy thở phào một hơi nhẹ nhõm, khóe môi toan nở một nụ cười, nhưng câu nói tiếp theo của Thanh Hà đã khiến nụ cười của anh khựng lại:
"Tuy nhiên, nếu ngài cho ta mượn theo kiểu 'bao giờ có thì trả', không khế không ước, biến sự giúp đỡ thương trường thành ân huệ cá nhân ban phát, thì Liễu Thanh Hà này thà để túp lều này trôi theo con nước lũ chứ tuyệt đối không nhận một phân bạc!"
Hàn Thụy sững sờ nhìn nàng, trong mắt dâng lên muôn vàn cảm xúc phức tạp.
Không để anh kịp lên tiếng, Thanh Hà quay người bước vào góc lều, lấy ra tờ giấy bản mộc mạc cùng chiếc nghiên mực đá mà Tiểu Mãn vừa lau sạch. Nàng trải phẳng tờ giấy lên mặt bàn, cẩn thận mài mực, giọng nói rành rọt, đanh thép từng lời:
"Chúng ta phải lập một bản văn tự vay nợ sòng phẳng, phân minh theo đúng phép tắc thương trường: Thứ nhất, số tiền vay chuẩn xác là năm lượng bạc trắng mười tuổi, quy đổi thành năm quan tiền đồng theo thời giá hiện hành tại huyện nha. Thứ hai, tính lãi suất công khai ba phân mỗi năm – mức lãi suất chuẩn mực mà các tiền trang đàng hoàng tại huyện thành vẫn áp dụng cho thương nhân buôn bán. Thứ ba, thời hạn thanh toán dứt điểm là đúng mười hai tháng, chia đều trả gốc và lãi theo từng quý, bắt đầu từ ngày rằm tháng Mười tới. Và điều khoản cuối cùng quan trọng nhất: Khoản bạc này hoàn toàn là giao dịch vay mượn dân sự giữa cá nhân ngài và chủ quán Liễu Thanh Hà. Hàn nhị gia tuyệt đối không có quyền can dự vào việc định giá trà bánh, lựa chọn nguồn cung ứng thảo mộc, hay can thiệp vào việc điều hành kinh doanh của Quán trà Thanh Hà."
Thanh Hà hạ ngọn bút lông xuống nghiên, ngẩng đầu nhìn thẳng vào Hàn Thụy: "Nếu ngài chấp thuận những điều khoản sòng phẳng này và ký tên điểm chỉ vào văn tự, ta mới có thể an tâm cầm số bạc để xây kè móng đá. Bằng không, xin ngài cất lại túi gấm."
Hàn Thụy đứng lặng hồi lâu, nhìn người phụ nữ trẻ tuổi đứng trước mặt mình. Ánh nắng ban mai rọi qua khe vách nứa, phủ lên gương mặt thanh tú, đoan trang của nàng một quầng sáng ấm áp, rực rỡ và kiêu hãnh khôn cùng. Không một chút tự ti của kiếp góa phụ bần hàn, không một chút tham lam mềm yếu trước đồng tiền bạc trắng, nàng đứng đó với trọn vẹn tư cách của một người làm ăn chân chính, trân trọng danh dự và quyền tự chủ của chính mình hơn cả sinh mạng.
Một nụ cười khẽ nở trên môi Hàn Thụy, ấm áp và chứa chan sự thấu hiểu, nể phục tuyệt đối. Anh cúi đầu, chìa tay nhận lấy ngọn bút lông từ tay nàng: "Được. Cứ theo đúng lời Liễu chưởng quỹ định đoạt!"
Dưới mái lều vừa được nạo vét sạch bùn đất, hai nét bút dứt khoát hạ xuống mặt giấy bản thô ráp. Bản văn tự vay nợ được chép thành hai bản giống hệt nhau, ghi rõ từng lượng bạc, mức lãi ba phân và thời hạn một năm. Hàn Thụy cẩn thận ấn dấu triện khắc tên mình bằng mực đỏ, còn Thanh Hà điểm chỉ ngón tay trỏ dính chu sa đỏ thắm bên cạnh nét chữ ký mềm mại nhưng cứng cỏi của mình.
Mỗi người giữ một bản văn tự. Khi xếp tờ giấy nợ cẩn thận cất vào tay áo dài, Hàn Thụy khẽ nghiêng mình, cất giọng trầm ấm: "Chiều nay ta sẽ phái hai chiếc thuyền lớn chở đá hộc từ mỏ đá Thanh Khê về cập bến đông, tiền công thợ và tiền đá nàng cứ tự mình thanh toán theo sổ sách. Ta tin, dưới bàn tay quán xuyến của Liễu chưởng quỹ, bến Vọng Giang này sẽ sớm có một cơ nghiệp vững như bàn thạch."
Khi hai người vừa cất xong văn tự thì bên ngoài con đường lát đá dẫn sang bờ tây bến đò, một chiếc thuyền nhỏ của Trà lâu Nghênh Xuân vừa cặp vào bãi cọc.
Một gã tiểu nhị mặc áo gấm viền xanh đỏ lộng lẫy – trang phục quen thuộc của gia nhân nhà Tống Kim Phượng – hớt hải gánh một chiếc bao tải lớn bằng vải gai dày, vừa thở phì phò vừa bước nhanh lên doi đất.
"Ai là Liễu chủ quán ở đây?" Gã tiểu nhị đặt huỵch bao tải xuống trước hiên lều, cất giọng hơi kênh kiệu nhưng trong mắt lại pha lẫn sự kiêng dè.
Tiểu Mãn lập tức đứng chắn trước mặt Thanh Hà, đôi mắt lanh lợi trừng lên dò xét: "Chị Hà nhà ta đây! Đồ đạc gì mà nặng thế? Trà lâu Nghênh Xuân các người lại muốn giở trò gì nữa đây?"
Gã tiểu nhị lùi lại nửa bước, phủi bụi trên tay áo rồi chắp tay hướng về phía Thanh Hà, cao giọng nói: "Bẩm Liễu nương tử, bà chủ Tống của chúng tôi sai tiểu nhân mang bao tải này sang biếu quán của nương tử. Đây là vôi củ tôi thành bột trắng thượng hạng từ lò vôi huyện thành, chuyên dùng để rắc khử trùng nền quán, chuồng trại và tẩy uế sau bão lũ."
Thanh Hà ngạc nhiên bước lại gần bao tải gai. Nàng cúi xuống hé mở miệng bao, một mùi hăng nồng quen thuộc của vôi bột mới xông thẳng lên mũi. Vôi trắng tinh, khô ráo, mịn màng không hề lẫn một hạt sạn.
Sau những trận đại hồng thủy, bùn non ứ đọng mang theo vô số mầm bệnh độc hại và xú khí của sông nước; nếu không dùng vôi bột rắc khử trùng khắp nền đất nện và quanh các hốc kẹt thì người ở rất dễ bị dịch tả, sốt rét hoành hành. Đây thực sự là thứ quý giá và thiết thực hơn cả tiền bạc vào lúc này.
Gã tiểu nhị tằng hắng một tiếng, bắt chước điệu bộ hất cằm kiêu hãnh của Tống Kim Phượng, truyền đạt lại nguyên văn lời dặn của nữ chủ nhân bờ tây:
"Bà chủ chúng tôi dặn truyền lời tới Liễu nương tử thế này: 'Đêm qua trên miếu Gò Cao, bát cháo chia đôi, ngọn lửa góp chung là chuyện tương trợ lúc nguy khốn của những người cùng mưu sinh bên dòng sông. Nay nước lũ rút rồi, rắc bao vôi này cho khô ráo bến nước mà giữ lấy mạng. Chờ dọn dẹp quán xá xong xuôi, Nghênh Xuân và quán nhỏ mé đông sẽ mở cửa buôn bán cạnh tranh lại từ đầu, đến lúc đó hãy xem tay nghề pha trà, làm bánh của ai cao hơn! Nghênh Xuân này tuyệt đối không thèm thắng một kẻ bị nước lũ cuốn trôi!'"
Dứt lời, gã tiểu nhị khẽ cúi đầu chào rồi vội vã quay trở lại thuyền nan, chèo nhanh sang bờ tây.
Hàn Thụy đứng bên cạnh bật cười khẽ, giọng trầm trồ: "Tống Kim Phượng này tính tình cay nghiệt, hiếu thắng hơn người, nhưng chung quy vẫn giữ được cái khí khái của một kẻ buôn bán lớn, không dùng hạ sách hại người lúc ngặt nghèo."
Thanh Hà nhìn bao vôi bột trắng muốt đặt trước hiên lều, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười thanh thản. Tống Kim Phượng quả thực là một đối thủ đáng gờm, nhưng cũng là một đối thủ đáng kính trọng. Nàng xắn cao tay áo, quay sang nói với Tiểu Mãn:
"Tiểu Mãn, lấy xẻng gỗ ra đây. Chúng ta rắc vôi bột khắp nền quán và quanh bãi đất bồi ngay bây giờ!"
Từng vốc vôi trắng xóa được hai chị em rải đều trên nền đất nện còn ẩm ướt. Vôi gặp ẩm tỏa ra một làn hơi ấm nhè nhẹ cùng tiếng xèo xèo êm tai, xua tan đi mùi bùn non tanh nồng nặc của con nước lũ. Đất bến đò đang khô dần dưới ánh nắng mùa thu vàng óng ả. Mùi bùn tanh dần dần lùi xa, nhường chỗ cho vị nồng ấm của vôi mới và hương thơm dịu nhẹ, thanh khiết của trà khô thoang thoảng bay ra từ căn gác xép.
Đúng lúc ấy, trên con đường mòn rợp bóng tre dẫn từ Chợ Đông Tân sang bến đò, một bóng người đẫy đà, sải bước thoăn thoắt đang tiến lại gần.
Đỗ Nguyệt Nương tay cắp một chiếc giỏ mây lớn phủ khăn điều đỏ thắm thơm phức mùi bánh nếp mới hấp, chiếc vòng bạc trên cổ tay kêu leng keng theo từng nhịp bước. Vừa nhìn thấy túp lều nứa đã được dựng lại ngay ngắn và nền đất trắng tinh màu vôi khử trùng, đôi mắt sắc sảo của người đàn bà buôn bột chợ Đông Tân sáng rực lên. Chị bước thoăn thoắt qua lớp bùn mép đường, sấn sổ tiến vào hiên quán, vỗ thật mạnh lên bờ vai mảnh dẻ nhưng cứng cáp của Thanh Hà, giọng nói sang sảng vang động cả khúc sông:
"Thanh Hà muội muội! Bột nếp hoa vàng và mật mía hảo hạng chị mang sang đủ cho muội làm bánh cả tuần rồi đây! Mau rửa tay xốc áo lại đi thôi, chiếc thuyền chở khách của lão Từ Bá đã đợi sẵn ngoài bến rồi — ta cùng muội sang bến Nam Kiều đòi lại cậu em trai!"