Quán Trà Bên Bến ĐòCh.17 / 34
Chapter 17

Một chiếc thuyền không rời bến

Ánh chớp rạch ngang bầu trời đêm đen đặc quánh soi rõ khuôn mặt tái mét nhưng hằn sâu vẻ sốt ruột của gã chủ hàng buôn lụa đứng chắn trước bậc tam cấp Miếu Gò Cao.

Gió từ mạn sông Vọng Giang thổi thốc lên đồi cao mang theo hơi nước buốt lạnh và mùi bùn đất tanh nồng của dòng lũ đang cuộn trào điên dại. Dưới chân gò, con sông vốn hiền hòa vào những ngày đầu hạ nay biến thành một con quái thú khổng lồ gầm rú, từng con sóng đục ngầu phù sa quăng quật, chồm lên bãi bồi, xé nát từng rặng sậy và nuốt chửng những mảng đất lở ầm ầm. Tiếng đất lở dưới chân dốc hòa vào tiếng sấm xa xăm, tạo nên một chuỗi âm thanh trầm đục khiến nền đá của ngôi miếu cổ như khẽ run rẩy theo từng nhịp sóng vỗ. Trong ngôi miếu cổ, hai chảo gang lớn của Trà lâu Nghênh Xuân và Quán trà Thanh Hà vẫn đỏ lửa, tỏa ra mùi cháo hoa quyện với hương gừng già ấm nồng, nhưng bầu không khí vừa được vỗ về sau vụ xô xát của phú thương Tiền Mậu lúc chập tối lại một lần nữa bị xé toạc bởi sự xuất hiện của toán người lạ mặt.

Mưa như trút nước xuống những mái ngói rêu phong, từng dòng nước xối xả tuôn qua đầu đao cong vút, đập vào sân đá phát ra những tiếng lộp độp chát chúa. Gã đàn ông mặc áo bào lụa đoạn sẫm màu khoác áo tơi bằng da rái cá đắt tiền bước giậm chân rầm rập lên thềm đá, nước mưa chảy ròng ròng từ vành nón sơn then xuống đôi gò má hóp. Đôi giày vải thêu chỉ bạc của gã đã ngập đầy bùn non, bết dính và nặng trĩu, nhưng bước chân vẫn dồn dập trong nỗi hoảng loạn tột cùng. Phía sau gã, bốn tên gia đinh lực lưỡng đang gò lưng khiêng ba chiếc rương gỗ bọc da trâu, các góc nẹp đồng sáng loáng nhưng mép gỗ đã bắt đầu rịn hơi ẩm. Những bắp tay cuồn cuộn của đám gia đinh gồng lên dưới tấm áo tơi tơi tả, từng giọt mồ hôi hòa lẫn nước mưa chảy ròng ròng xuống cằm, hơi thở phì phò như bễ lò rèn mỗi khi phải nâng chiếc đòn khiêng bằng gỗ nghiến trơn tuột.

Gã chính là Mã Vạn Hưng, chủ hiệu buôn gấm vóc nức tiếng từ huyện thành sang thu gom hàng tơ lụa của các làng dệt ven sông hạ lưu. Nghe tin đập Lạc Thủy vỡ, gã đã gom hết của nả cùng ba rương lụa Tô Châu hảo hạng thuê kiệu tháo chạy, nhưng khi đến được bờ đông thì bến sông đã chìm trong biển nước. Con đường thiên lý men theo triền đê đã bị dòng nước xiết khoét rỗng từ lúc chập tối, bùn lầy ngập ngang bụng ngựa, kiệu khiêng gãy đòn dọc đường buộc gã phải bỏ lại tất cả xe cộ mà đốc thúc gia đinh khiêng rương tháo chạy lên gò cao này tìm đường thoát thân.

Mắt Mã Vạn Hưng đảo quanh sân tiền tế ngập tràn dân tị nạn, quét qua những người phu thuyền đang ngồi bó gối quanh đống lửa sưởi, rồi dừng lại ở góc hành lang nơi có mấy chiếc thuyền tam bản nhỏ của hội đò đang được cột chằng chịt vào những gốc đa cổ thụ trên gò cao. Đám người tị nạn nép sát vào nhau bên dưới những vách ván ghép tạm, đàn bà ôm chặt con thơ đang khóc ngằn ngặt, người già co ro dưới manh chiếu rách đượm mùi ẩm mốc. Họ nhìn gã lái buôn với ánh mắt vừa kinh sợ vừa xa lạ, co cụm lại để chừa ra một khoảng trống nơi thềm đá đầy gió rít.

"Ai là người cầm chèo ở đây?" Mã Vạn Hưng gào lên, giọng the thé át cả tiếng sấm rền vừa dứt. Gã thọc tay vào túi gấm bên hông, lôi phắt ra một thỏi bạc nén năm lượng trắng lóa, giơ cao lên không trung. Ánh chớp loằng ngoằng rạch ngang trời lại lóe lên, hắt vào mặt thỏi bạc ánh kim loại lạnh tanh, chói mắt. "Năm lượng bạc trắng ròng! Một chuyến đò sang bờ tây ngay trong đêm nay! Ba rương lụa tơ tằm thượng hạng của ta nếu ngâm trong sương ẩm đêm nay là mốc hỏng hết! Chỉ cần dong thuyền đưa ta và ba rương hàng sang mé đồi bên kia, thỏi bạc này thuộc về kẻ đó!"

Năm lượng bạc!

Cả gian tiền tế của Miếu Gò Cao thoáng chốc im bặt, chỉ còn nghe thấy tiếng gió rít qua khe cửa gỗ lim và tiếng củi nổ lách tách trong hai bếp lò dã chiến. Đám phu bến, phu than vốn dĩ quanh năm còng lưng kéo thuyền, một ngày đổ mồ hôi sôi nước mắt cũng chỉ kiếm được vài ba chục văn tiền kẽm, nhìn thấy thỏi bạc năm lượng thì không khỏi nuốt nước bọt ừng ực. Đôi mắt họ dán chặt vào khối kim loại sáng quắc đang đung đưa trong bàn tay run rẩy vì sốt ruột của họ Mã. Năm lượng bạc đủ để chuộc một mẫu ruộng tốt, đủ để dựng một căn nhà ba gian lợp ngói vảy cá, hoặc nuôi sống cả một gia đình nheo nhóc suốt hai năm ròng rã. Giữa cảnh màn trời chiếu đất, nhà cửa trôi theo dòng lũ dữ, bao nhiêu người vừa trắng tay sau một đêm nước dâng, số bạc ấy chẳng khác nào một chiếc phao cứu sinh rực rỡ đến lóa mắt.

Những tiếng xì xào bắt đầu nổi lên như đàn ong vỡ tổ. Vài gã phu khuân vác nhấp nhổm muốn đứng dậy, bàn tay vô thức siết chặt chiếc đòn gánh tre còn ướt sũng. Nhưng khi họ liếc nhìn ra ngoài trời đêm, nơi những ngọn sóng bạc đầu đang nhảy múa điên cuồng trên mặt sông Vọng Giang, nỗi sợ hãi lại đè nặng đôi chân họ xuống mặt gạch lạnh buốt.

Trước sức cám dỗ ghê gớm ấy, một tay chèo trẻ tuổi tên A Lực—chàng trai mười tám tuổi thuộc nhóm thợ chèo mới vào nghề của bến đông—bỗng run rẩy đứng bật dậy. Quần áo cậu ta rách tả tơi, bết chặt vào cơ thể gầy guộc vì lạnh, đôi mắt trũng sâu nhìn chòng chọc vào thỏi bạc trong tay họ Mã. Nhà A Lực ở doi đất thấp bãi bồi vừa bị lũ cuốn trôi sạch từ xế chiều, gian nhà tranh vách đất sụp đổ tan tành trôi theo dòng xoáy đục ngầu, người mẹ già đang nằm co quắp vì sốt rét run rẩy trên manh chiếu rách ở góc miếu, trong túi không còn lấy một đồng mua thuốc. Tiếng ho rũ rượi, ngắt quãng của bà cụ như từng mũi kim đâm vào da thịt cậu thiếu niên, thôi thúc cậu bước về phía trước.

"Mã... Mã lão gia..." A Lực bước ra khỏi đám đông, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập vì rét và xúc động. Hai bàn chân trần tím tái của cậu dẫm lên lớp nước mưa loang lổ trên thềm đá. "Năm lượng bạc... ngài nói thật chứ? Thật sự đưa sang bờ bên kia là trả đủ năm lượng?"

"Mã Vạn Hưng ta một lời nói ra nặng tựa nghìn cân!" Gã thương gia thấy có kẻ cắn câu liền cười khẩy, vung vung thỏi bạc trước mặt chàng trai trẻ, giọng đầy vẻ hối thúc xảo quyệt. Ánh mắt gã lóe lên tia hy vọng điên cuồng khi nhìn thấy dáng vẻ bần hàn của tên phu trẻ. "Chỉ cần ngươi dám cởi dây dong đò, chèo thẳng sang bờ tây gác hàng lên bến đá, năm lượng này lập tức trao tay! Bằng không lát nữa nước lũ dâng ngập cả ngọn cây, có muốn kiếm số bạc này cũng chẳng còn cơ hội!"

Mắt A Lực hoa lên. Hơi thở cậu dồn dập, lồng ngực phập phồng sau lớp áo cộc rách nát. Cậu ta nuốt khan một ngụm nước bọt, quay đầu nhìn người mẹ đang ho sù sù trong góc tối, nhìn tấm thân già nua cuộn tròn như con tôm khô dưới manh áo rách bươm, rồi cắn chặt môi đến rớm máu. Vị tanh nồng của máu tươi không làm cậu tỉnh táo lại mà càng khiến cơn bấn loạn dâng trào. Lòng tham và sự bế tắc dồn dập xô đẩy lý trí, cậu ta không màng đến tiếng gầm rú như sấm động ngoài mặt sông, lập tức quay ngoắt người, lao ào ra ngoài màn mưa toan tiến về phía gốc đa cổ thụ mé sau miếu, nơi chiếc thuyền nan của gia đình cậu đang được cột chặt bằng sợi xích sắt lòi tói.

"Đứng lại!"

Một tiếng quát già nua nhưng đanh thép như tiếng lệnh đồng vang lên từ thềm tế, chém đứt cả tiếng gió rít.

Từ trong bóng tối của hiên miếu, một bóng người cao gầy, chống cây gậy tre đực bước ra từng bước nặng nề. Lão lái đò Từ Bá xuất hiện, mái tóc hoa râm ướt sũng bết vào trán, chiếc áo tơi lá tơi tả sũng nước rủ xuống đôi vai gầy guộc nhưng thẳng tắp. Từng nếp nhăn sâu hoắm trên khuôn mặt sạm đen vì sương gió của lão như khắc tạc từ gỗ lũa, đôi mắt tuy đã đục mờ theo năm tháng nhưng lúc này lại sáng quắc một thứ uy lực áp chế lòng người. Mỗi bước chân của lão giẫm lên mặt đá hoa cương đều vững chãi, chỉ có khóe mắt khẽ giật lại vì những cơn đau nhức buốt xương nơi khớp gối đang hành hạ lão sau nhiều canh giờ ngâm mình dưới nước lũ cứu người.

Từ Bá bước thẳng tới chắn ngang lối đi của A Lực, ánh mắt rực lửa quét qua khuôn mặt hoảng hốt của chàng trai trẻ, rồi dừng lại trên thỏi bạc lấp lánh trong tay Mã Vạn Hưng. Lão không thèm liếc nhìn thỏi bạc lấy nửa lần, mà chỉ nhìn chằm chằm vào đôi mắt trắng dã vì hám lợi của gã lái buôn. Không nói một lời thừa thãi, lão vung mạnh cây gậy tre trong tay lên.

"Chát!"

Một tiếng giòn giã vang lên xé toạc không khí ẩm ướt. Cây gậy tre già bọc sắt ở đầu giáng thẳng vào mu bàn tay của Mã Vạn Hưng với một lực chuẩn xác và dứt khoát lạ thường. Gã thương nhân thét lên một tiếng thất thanh, bàn tay tê dại buông lỏng khiến thỏi bạc năm lượng rơi tuột khỏi ngón tay, văng mạnh xuống bậc đá hoa cương rồi lăn lông lốc qua mép thềm, cắm phập xuống lớp bùn nhão nhoét bên ngoài màn mưa.

"Lão già khốn kiếp! Ngươi điên rồi sao?" Mã Vạn Hưng ôm chặt lấy bàn tay sưng vù, vừa đau đớn vừa giận dữ rống lên như lợn bị chọc tiết. Gã giậm chân bành bạch xuống nền đá, mặt đỏ gay như gấc chín. "Bạc của ta! Lũ khốn chúng mày có biết thỏi bạc đó đáng giá bao nhiêu không hả? Một đời làm phu đò của mày cũng chưa thấy nổi nửa thỏi như thế đâu!"

A Lực sững sờ, trố mắt nhìn lão hội trưởng của hội đò, cả người run bắn lên như vừa bị tạt một gáo nước lạnh giữa mùa đông: "Từ Bá... cháu... cháu chỉ muốn kiếm tiền mua thuốc cho mẹ cháu... Mẹ cháu sắp không qua khỏi rồi... Cháu không chèo thì lấy gì cứu mẹ cháu đây?"

"Câm mồm!" Từ Bá quay phắt lại, giọng nói trầm hùng pha lẫn nỗi đau xót và uy nghiêm tột bực. Chiếc gậy tre trong tay lão rung lên bần bật theo từng nhịp thở dồn. "Ngươi muốn lấy mạng mình đổi năm lượng bạc, hay là muốn mẹ ngươi vừa mất nhà cửa lại phải vớt xác con dưới đáy sông Vọng Giang này? Ngươi tưởng năm lượng bạc của họ Mã là dễ nuốt lắm sao? Ngươi nhìn ra ngoài sông xem, con nước này là con nước chở người sang sông, hay là cái miệng quái vật chực nuốt chửng cả thuyền lẫn xác?"

Lão chống gậy tre xuống bậc đá nện một tiếng cắc khô khốc, quay sang trừng mắt nhìn Mã Vạn Hưng và toàn thể đám lái đò đang đứng quanh:

"Ta là Từ Bá, Hội trưởng Hội lái đò Vọng Giang do quan huyện Thanh Lâm trao thẻ bài điều phối! Quy tắc bến sông trăm năm nay đã định: một khi nước lũ thượng nguồn tràn về, cọc đá chạm vạch báo nguy thì toàn bộ thuyền bè lớn nhỏ phải cấm chỉ xuất bến, kéo lên gò cao neo xích! Ai dám tự tiện tháo lòi tói dong đò giữa tâm lũ, kẻ đó bị khai trừ khỏi hội đò, tịch thu thuyền mảng, sau này vĩnh viễn không được cắm sào trên dòng nước này nữa! Lời ta nói ra có hà thần chứng giám, có toàn thể anh em hội đò hai bờ nghe rõ, kẻ nào dám cãi lệnh?"

Uy tín tích lũy suốt bốn mươi năm cầm chèo trên khúc sông Vọng Giang của Từ Bá nặng tựa thái sơn. Từng con nước lớn, từng vụng xoáy ngầm, từng ghềnh đá hiểm trở trên khúc sông này đều in dấu chân và bàn tay chai sạn của lão. Từng lời lão thốt ra như ghim vào tâm can đám phu thuyền. Mấy tay chèo vừa manh nha ý định liều mạng kiếm chác lập tức rụt cổ lại, lùi lũi dạt về phía sau, né tránh ánh nhìn nghiêm khắc của lão hội trưởng. A Lực mặt cắt không còn hạt máu, quỳ sụp xuống bậc thềm đá, ôm mặt òa khóc nức nở trong nỗi tuyệt vọng và bàng hoàng. Đôi vai gầy guộc của cậu rung lên bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn ngào.

Thế nhưng, Mã Vạn Hưng đâu phải kẻ dễ dàng chịu khuất phục trước một lão lái đò rách rưới. Ba rương lụa Tô Châu là toàn bộ vốn liếng xoay vòng cho vụ dệt mùa thu của hiệu buôn nhà gã, nếu để nước lũ và hơi ẩm bốc lên ngấm vào sợi tơ, ba rương gấm ấy sẽ mục nát, thâm đen, biến thành đống giẻ rách không hơn không kém. Bao nhiêu bạc vay mượn từ các phường buôn trên tỉnh, bao nhiêu giao kèo đã ký kết với thương nhân kinh kỳ đều đổ dồn vào ba rương hàng này. Sự xót của biến thành cơn cuồng nộ mù quáng, thiêu đốt mọi sự cẩn trọng vốn có của một gã lái buôn ranh mãnh.

"Một lão già lái đò cùng đinh mà dám đem quy tắc hù dọa Mã Vạn Hưng ta sao?" Gã thương gia nghiến răng trèo trẹo, đôi mắt đỏ ngầu vằn lên những tia máu. Gã nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống thềm đá, quay sang đám gia đinh to béo phía sau, vung tay quát lớn: "Tụi bây đâu! Đánh gãy chân lão già cản đường này cho ta! Đứa nào cướp được thuyền, chở rương của ta sang bờ tây, ta thưởng riêng mỗi đứa hai lượng bạc! Xông lên!"

Bốn tên gia đinh mặt mày bặm trợn, nghe đến món tiền thưởng hậu hĩnh liền nổi máu tham lam, tay lăm lăm đòn khiêng bằng gỗ nghiến và dao bài lập tức hùng hổ xông lên bậc tam cấp. Tiếng giày giẫm huỳnh huỵch trên đá, hơi thở hôi hám phả ra nồng nặc. Tên đi đầu giơ chiếc đòn khiêng to bản nhắm thẳng vào bờ vai gầy guộc của Từ Bá giáng xuống, quyết xô ngã lão lái đò già để mở đường cướp thuyền. Gió rít qua khe đòn khiêng rợn người, khí thế hung hãn như muốn nghiền nát thân hình cằn cỗi của lão lái đò.

Từ Bá khẽ nhíu mày, đầu gối đau nhức dữ dội khiến lão không thể nhanh nhẹn lách người né tránh như thời trai trẻ. Cơn đau buốt từ khớp xương truyền thẳng lên thái dương làm lão khựng lại trong tíc tắc. Lão chỉ kịp gồng mình, hai tay siết chặt cây gậy tre, nghiến răng giơ lên đón đỡ ngọn đòn hiểm ác.

Nhưng chiếc đòn khiêng hung hãn chưa kịp chạm vào vai lão thì một bóng người thanh mảnh trong tà áo chàm sẫm màu đã lao vụt ra từ cửa miếu, nhanh như một cơn gió, đứng sừng sững chắn ngang ngay trước mặt Từ Bá.

"Dừng tay lại!"

Tiếng quát lảnh lót, dứt khoát và sắc lạnh như băng tuyết vang lên khiến tên gia đinh bất giác khựng lại giữa chừng. Chiếc đòn khiêng dừng lại cách trán người phụ nữ chưa đầy một gang tay, luồng gió mạnh thổi tung những lọn tóc mai ướt đẫm bám trên vầng trán thanh tú của nàng.

Liễu Thanh Hà đứng thẳng tắp trên bậc tam cấp lộng gió. Mái tóc nàng được vấn cao gọn gàng bằng chiếc trâm gỗ đào mộc mạc, vạt áo chàm còn vương vài vệt than tro của bếp cháo, nhưng đôi mắt nàng sáng quắc, bình tĩnh lạ thường nhìn thẳng vào đám gia đinh đang đằng đằng sát khí. Gương mặt nàng không lộ ra một tia sợ hãi, từng đường nét cương nghị toát lên vẻ uy nghiêm khó tả khiến cả bốn tên lực lưỡng đều phải chùn bước. Trong tay nàng không cầm dao gậy, mà giơ cao một tấm bảng gỗ dài bằng phẳng, bản gỗ vốn dùng làm nắp đậy thùng gạo nay trở thành một minh chứng thép.

Trên mặt tấm bảng gỗ ấy, từng hàng chữ chân phương được viết bằng than củi đen nhánh, kẻ thành từng cột rành mạch, rõ ràng đến từng nét:

*Canh Một: Nước vượt vạch ba hai tấc.* *Canh Hai: Đập Lạc Thủy vỡ, nước chạm đáy cọc đỏ vạch bốn.* *Canh Ba: Nước nuốt trọn cọc đỏ, dâng thêm một thước năm tấc.* *Canh Tư khắc một: Nước đã vượt qua cọc báo nguy hiểm hai gang tay, tốc độ dòng chảy tăng gấp ba lần bình thường!*

Dưới mỗi dòng ghi chép đều có một dấu vạch sâu đo mực nước bằng sơn đỏ tươi, mực nước vừa được cập nhật cách đây chưa đầy nửa tuần hương, vệt nước mưa còn chưa kịp khô, từng giọt nước đen pha than chảy ròng ròng xuống mép gỗ.

Đám gia đinh nhìn thấy ánh mắt đanh thép và tấm bảng gỗ kỳ lạ của người phụ nữ trẻ tuổi thì ngơ ngác nhìn nhau, đòn khiêng lơ lửng trên không trung không dám hạ xuống. Chúng tuy là những kẻ đâm thuê chém mướn nhưng nhìn thấy sự bình tĩnh đến lạnh lùng của Thanh Hà, lại thêm những con số rành rọt trên tấm gỗ, bất giác cảm thấy sau lưng lành lạnh. Mã Vạn Hưng tức tối gạt người bước lên, quát tháo:

"Đàn bà con gái ở đâu ra mà dám xía vào chuyện buôn bán sinh tử của đàn ông? Ngươi cầm cái tấm ván rách này ra dọa ai? Biết điều thì cút sang một bên, đừng để đòn gánh không có mắt va vào vỡ đầu!"

"Ta không dọa ngài, Mã lão gia!" Thanh Hà hạ tấm bảng gỗ xuống ngang ngực, giọng nói dõng dạc, rõ ràng từng thanh âm, lan tỏa khắp khoảng sân miếu, lấn át cả tiếng mưa gió gầm gào. Nàng không lùi bước, trái lại còn ngẩng cao đầu đối diện với gã lái buôn. "Tấm bảng này là nhật trình đo mực nước sông do Tiểu Mãn quán chúng tôi đích thân lội xuống cọc đá cập nhật từng canh giờ từ lúc chập tối đến nay. Từng tấc nước dâng lên đều có mắt của hàng trăm nạn dân và phu bến ở đây trông thấy, tuyệt đối không có nửa chữ dối trá!"

Nàng bước lên nửa bước, chỉ thẳng cánh tay ra màn đêm mịt mùng phía ngoài sông, nơi dòng nước cuồn cuộn đang gào thét như muôn ngàn con ngựa lồng lộn:

"Mã gia mở hiệu buôn tơ lụa lớn ở huyện, ắt phải là người thông minh đĩnh ngộ, cớ sao lại mù quáng đến mức coi thường mạng sống như vậy? Ngài nhìn kỹ khúc ngoặt phía trước mé cồn cát xem! Dòng nước lũ từ Lạc Thủy đổ về đâm thẳng vào vách đá ngầm tạo thành Vực Cá Lăng ngay vụng xoáy. Bình thường nơi đó nước sâu thăm thẳm, cá lăng tụ về làm tổ; nhưng đêm nay, khi nước vượt cọc đỏ báo nguy hơn hai gang tay, vụng cá lăng đã biến thành một cái cối xay đá khổng lồ!"

Thanh Hà hít sâu một hơi, giọng nói đanh lại, từng lời từng chữ như búa gõ vào tâm can người nghe:

"Đáy sông đầy rác rưởi, gỗ mục và đá tảng từ thượng nguồn trôi về mắc kẹt dưới đáy vực tạo ra những xoáy ngầm hút sắt đá. Đến bè gỗ lim nặng hàng chục tấn trôi qua đó còn bị hút chìm nghỉm, huống chi là một chiếc thuyền tam bản nan mỏng manh chở nặng ba rương lụa? Ngài ép A Lực dong đò ra giữa dòng, chỉ cần chạm phải rìa xoáy ở vụng cá lăng, mũi thuyền lập tức bị xé toạc làm đôi! Khi ấy, không chỉ ba rương gấm vóc của ngài vĩnh viễn chìm sâu dưới đáy bùn, mà chính tính mạng của ngài, của đám gia đinh này và của chàng trai trẻ kia cũng sẽ thành mồi cho tôm cá! Cố vượt sông lúc này không phải là tìm đường sống cho hàng hóa, mà là tự mình nhảy vào cửa tử!"

Lời phân tích cặn kẽ, thấu đáo và am tường dòng nước đến chân tơ kẽ tóc của Thanh Hà khiến đám đông rùng mình ớn lạnh. Những người phu bến giàu kinh nghiệm nhất cũng phải gật đầu đồng tình, bởi họ biết rõ sự hung hiểm của Vực Cá Lăng khi mùa lũ về.

Tống Kim Phượng từ trong miếu bước ra, tay cầm chiếc bát sành còn bốc khói chè gừng, lạnh lùng lên tiếng phụ họa:

"Họ Mã kia, Trà lâu Nghênh Xuân của ta ở ngay mé bờ tây đối diện vụng cá lăng, ta mở cửa trông ra khúc sông này hơn chục năm nay, chưa từng thấy ai sống sót chèo thuyền qua vụng đó khi nước đã ngập trắng cọc đỏ vạch bốn! Ban chiều chính thuyền lớn mười hai dầm của ta còn phải thu sào đóng cửa, ngài tiếc mấy rương lụa tơ tằm hay tiếc mạng mình? Liễu chưởng quỹ nói không sai một chữ nào đâu, đừng có cậy tiền rồi chết oan làm ma không đầu dưới đáy sông!"

Mã Vạn Hưng nghe hai người phụ nữ—một chủ quán trà nghèo nhưng thông tường con nước, một nữ chủ trà lâu bề thế danh tiếng—đồng loạt cảnh báo thì gương mặt biến ảo khôn lường, lúc xanh lúc xám. Đôi môi gã giật giật, trán rịn mồ hôi hột dù gió đêm lạnh buốt. Nhưng thói hống hách quen thói trên thương trường, sự kiêu ngạo của kẻ lắm tiền nhiều của khiến gã không cam tâm chịu mất mặt trước đám cùng đinh bến bãi. Ba rương hàng là máu thịt của gã, gã thà liều mạng chứ không chịu buông tay.

"Hừ! Lũ chúng mày chỉ toàn hù dọa để vòi thêm tiền chứ gì?" Mã Vạn Hưng giậm chân, gầm lên như một con thú bị dồn vào chân tường. Gã lại thọc tay vào túi, lần này lôi ra thêm một thỏi bạc nữa, hai thỏi bạc nặng chịch va vào nhau kêu leng keng chói tai. "Mười lượng! Ta trả mười lượng bạc! Đứa nào dám chèo, bước ra đây! Mười lượng bạc mua đứt một chuyến đò! Kẻ nào dám liều, cả đời này không phải kéo thuyền nữa!"

Thế nhưng, đáp lại lời gào thét của gã chỉ là sự im lặng lạnh ngắt của đám đông. Không một ai bước ra. Tiếng bạc va chạm giờ đây nghe chẳng khác nào tiếng chuông gọi hồn dưới đáy sông sâu. Những người phu bến nhìn tấm bảng gỗ ghi mực nước của Thanh Hà, rồi nhìn ra dòng sông đục ngầu cuộn sóng, ai nấy đều run rẩy lùi lại phía sau. Sự thật rành rành trước mắt, những con số đo đạc chuẩn xác và lời cảnh báo chết người đã đánh bại hoàn toàn sức quyến rũ của đồng tiền. Chẳng ai dại dột đem mạng sống của mình đi đổi lấy thứ bạc mà chưa chắc đã có cơ hội chạm tay vào bờ bên kia.

Mã Vạn Hưng thấy vậy thì tức tối đến phát cuồng. Sự tuyệt vọng bóp nghẹt lấy tâm trí gã, biến gã thành một kẻ mất hết lý trí. Gã trừng mắt nhìn chiếc thuyền nan đang buộc dưới gốc đa, quát đám gia nhân: "Lũ hèn nhát! Tụi bây không cần mượn tay lũ đò rách này nữa! Tự ra tháo xích, đưa rương xuống thuyền, ta tự cầm lái sang sông!"

Bốn tên gia đinh gầm lên một tiếng hung bạo, xách dao bài xông thẳng xuống bờ dốc trơn trượt mé sau miếu, nơi những sợi dây neo thuyền đang được chằng néo chằng chịt vào gốc rễ đa cổ thụ. Những lưỡi dao sáng loáng vung lên trong đêm mưa, nhắm thẳng vào những múi dây thừng bện chặt to bằng cổ tay.

"Không được tháo dây!"

Tiếng thét non nớt nhưng vang dội của một đứa trẻ vang lên xé toạc màn mưa.

Từ bên chái bếp, Tiểu Mãn thoăn thoắt lao ra như một con sóc nhỏ. Cô bé đội một chiếc nón mê rách, hai chân thoăn thoắt đạp trên bùn lầy không chút ngần ngại. Bỏ mặc sự hung hãn của đám hộ pháp cao lớn, cô bé lao thẳng tới gốc đa, hai tay ôm chặt lấy thân cây cọc đóng chốt dây xích sắt lòi tói, cất giọng the thé gọi lớn: "Bác A Sinh! Bác Trương Ngũ! Mấy anh phu than ơi! Mau ra giữ thuyền lại! Đừng để bọn họ làm đứt dây neo chung của cả bến! Dây mà đứt là thuyền trôi hết, mai lấy gì cứu người!"

Ngay sau lưng Tiểu Mãn, Liễu Thanh Du cũng nhanh như cắt lao vụt ra ngoài trời mưa. Cậu thiếu niên mười ba tuổi gầy gò nhưng ánh mắt kiên định ngời ngời, một tay giữ chặt cuốn sổ giấy bổi giấu trong ngực áo, hai bàn tay chai sần bám chặt lấy sợi dây chão bện bằng vỏ dừa to bằng bắp tay người lớn, ghì cả thân hình nhỏ bé xuống nền bùn trơn để giữ chặt chiếc thuyền:

"Dừng lại! Thuyền này là thuyền chung cứu hộ của bến đò, không phải thuyền riêng của các người! Cố xuất bến là phạm vào lệ cấm đò giang của quan huyện, ai dám làm càn?"

Tên gia đinh đi đầu hung hãn giơ lưỡi dao bài lên, gầm gừ đe dọa: "Hai đứa ranh con, buông tay ra không tao chém đứt tay bây giờ!"

Hành động dũng cảm không quản hiểm nguy của hai đứa trẻ như một ngọn lửa châm vào đống củi khô giữa lòng đám phu bến. Lòng tự trọng và tình nghĩa bến sông bấy lâu nay bị sự nghèo đói đè nén bỗng chốc bùng cháy dữ dội. A Sinh—người phu than từng được Thanh Hà cho ghi nợ sáu văn tiền chè bánh, người từng nhận từng bát cháo ấm lòng trong buổi chiều chạy lũ—là người đầu tiên gầm lên một tiếng, vung chiếc đòn gánh bằng gỗ nghiến lao ào xuống dốc đá:

"Mẹ kiếp! Một con bé con và một cậu thiếu niên còn biết xót mạng người, biết giữ quy củ bến sông, lũ tráng đinh chúng ta trơ mắt đứng nhìn sao? Anh em đâu! Xúm lại giữ dây neo! Đừng để bọn chúng cướp thuyền!"

"Giữ dây neo! Tuyệt đối không cho xuất bến!"

"Bến sông này không phải chỗ cho chúng mày làm càn!"

Tiếng hô vang dậy cả một góc trời đêm. Hơn hai mươi người phu khuân vác, phu chèo đò và dân tị nạn khỏe mạnh lập tức đồng thanh gầm lên, tay lăm lăm đòn gánh, mái chèo, gậy gộc rầm rập lao xuống sườn dốc. Tiếng bước chân rầm rập xé toạc màn mưa. Họ vây kín lấy gốc đa cổ thụ, ken đặc thành một bức tường người vững chãi như núi đá bao bọc lấy Thanh Du và Tiểu Mãn. Hàng chục cánh tay lực lưỡng, đen đúa sần sùi nắm chặt lấy sợi xích sắt và dây lòi tói, giật mạnh về phía sau, khóa chặt toàn bộ những con thuyền vào thân cây cổ thụ.

Đám gia đinh của Mã Vạn Hưng vừa xông tới bờ dốc thì lập tức bị làn sóng phu bến áp đảo hoàn toàn. Những chiếc đòn gánh sắt nhọn hoắt chĩa thẳng vào ngực chúng, những ánh mắt nung nấu căm hờn và quyết tâm bảo vệ lẽ sống nhìn chòng chọc khiến bốn tên hộ pháp run lẩy bẩy, bất giác lùi lũi giật lùi từng bước chân lên bờ đá. Lưỡi dao bài trên tay chúng bỗng trở nên vô dụng trước sự phẫn nộ của cả một tập thể.

Từ Bá đứng trên bậc tam cấp, hai tay chống gậy tre, chòm râu bạc rung rinh theo từng cơn gió lũ. Lão cất giọng sang sảng, từng lời rền vang như sấm lệnh:

"Bến Vọng Giang có luật của Vọng Giang! Nước vượt cọc đỏ, một tấc ván cũng không được rời bến! Đứa nào dám cưỡng lệnh, chém dây cướp thuyền, hội đò chúng ta lập tức trói gô lại nộp cho nha môn Thanh Lâm trị tội mưu sát!"

"Đúng! Nộp lên nha môn!"

"Dừng đò! Tuyệt đối không xuất bến!"

Tiếng hô đồng thanh của hàng trăm con người vang dội khắp đỉnh đồi Miếu Gò Cao, át đi cả tiếng gió gầm và sóng thét ngoài sông lớn. Đó là tiếng nói của lương tri, của sự đoàn kết và trật tự công bằng mà Thanh Hà cùng Từ Bá đã thắp lên giữa cơn bão lũ ngặt nghèo. Âm thanh ấy dội vào vách núi, vang xa trên mặt nước xiết, khẳng định cái uy của luật sông nước mà không bạc tiền nào mua chuộc nổi.

Mã Vạn Hưng đứng chôn chân trên bậc đá, nhìn bức tường người sừng sững không thể lay chuyển trước mặt, rồi nhìn lại bốn tên gia đinh đang run rẩy cụp mắt lùi bước. Gã hiểu rằng ở chốn này, nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết mỏng manh như sợi tóc, uy quyền của bạc trắng và sự hống hách của kẻ giàu sang đã hoàn toàn mất đi hiệu lực. Dòng nước lũ không phân biệt sang hèn, và những con người cùng khổ này một khi đã đồng lòng thì đá mềm cũng phải mòn.

Gã run rẩy cúi xuống lớp bùn nhão nhoét mé thềm tế, vơ vội thỏi bạc năm lượng lấm lem bùn đất nhét tọt vào trong bọc áo lụa, đôi môi giật giật không thốt nên lời. Nhìn ba chiếc rương gỗ gấm vóc nằm trơ trọi dưới mái hiên ẩm ướt, gã cay đắng nghiến răng, nuốt hận quay lưng lủi thủi bước thụt lùi vào một góc tối dưới chân tượng hộ pháp trong miếu, không dám ngẩng mặt nhìn ai thêm một lần nào nữa. Bốn tên gia đinh lấm lét theo sau, cúi gầm mặt kéo mấy chiếc rương vào góc khuất, lặng lẽ như những cái bóng ma.

A Lực nhìn cảnh tượng ấy, hai dòng nước mắt nóng hổi lăn dài trên đôi má đen sạm. Sự hối hận và bàng hoàng bóp nghẹt tim cậu. Cậu ta bò lết đến chân Thanh Hà và Từ Bá, dập đầu sụp lạy sát đất trên nền đá ướt sũng:

"Chị Hà... Từ Bá... con đội ơn hai người... Suýt chút nữa vì năm lượng bạc mà con đã hại chết chính mình, bỏ lại mẹ già côi cút một mình trên cõi đời này... Con có tội... Con mù quáng quá..."

Thanh Hà cúi xuống, dịu dàng đỡ chàng trai trẻ đứng dậy. Đôi bàn tay nàng tuy lạnh vì nước mưa nhưng cái nắm tay lại ấm áp lạ kỳ. Nàng tháo chiếc khăn vải khô trên vai mình trao cho cậu, giọng nói ấm áp vỗ về:

"A Lực, cầm lấy lau khô người đi rồi vào trong chái bếp múc một bát cháo nóng cho mẹ em uống. Bát cháo chị vừa nêm thêm củ cải muối và gừng già, uống vào sẽ toát mồ hôi hạ sốt đấy. Tiền bạc mất đi thì còn có thể dùng hai bàn tay lam lũ kiếm lại được; nhưng mạng người trôi sông thì vĩnh viễn chẳng có bạc vàng nào chuộc nổi đâu em."

Chàng trai nghẹn ngào gật đầu lia lịa, ôm lấy chiếc khăn rồi vội vã chạy vào trong miếu, nơi người mẹ già vẫn đang ngóng đợi.

Cơn mưa gió dường như càng lúc càng trở nên cuồng bạo hơn khi đêm dần trôi về sáng. Bầu trời không còn ranh giới giữa mây và nước, một màu đen kịt bao trùm vạn vật.

Khoảng nửa canh giờ sau khi chuyến đò liều mạng bị chặn đứng, bầu trời bỗng rách toạc bởi một chuỗi sấm sét liên hoàn xé rách màn đêm đen đặc. Ánh chớp chói lòa rọi sáng cả một vùng sông nước mênh mông, để lộ ra cảnh tượng thiên nhiên đang giận dữ gầm gào. Gió rít lên từng hồi ghê rợn, mặt sông Vọng Giang bỗng cuộn lên những lớp sóng bạc đầu cao ngút ngàn, đục ngầu phù sa đỏ quạch. Dòng chảy mạnh đến mức cuốn phăng cả những bụi tre ngà nguyên gốc từ bờ bên kia trôi dạt sang, dập dềnh như những chiếc bè ma.

Đúng lúc đó, từ phía thượng nguồn mạn núi Tây Lĩnh đổ về, một bóng đen khổng lồ bất ngờ xuất hiện giữa dòng nước xiết.

"Nhìn kìa! Có thuyền trôi dạt!"

Một người phu bến hét toáng lên, tay chỉ thẳng ra giữa dòng sông. Giọng hét thất thanh làm rung chuyển cả gian tiền tế.

Tất cả mọi người trong Miếu Gò Cao—từ đám phu thuyền, dân tị nạn cho đến Tống Kim Phượng và cả Mã Vạn Hưng—đều kinh hãi ùa ra mép sân tế nhìn xuống.

Dưới ánh chớp sáng lòa, hiện ra giữa dòng nước dữ là một chiếc thuyền buôn hai tầng mũi nhọn bề thế, dài hơn bốn trượng, cột buồm đã bị gió bão quật gãy đôi nằm rạp trên mui. Đó rõ ràng là một chiếc thuyền chở hàng rỗng bị đứt neo từ các bến bãi phía thượng nguồn, đang lao vun vút xuôi theo dòng lũ với tốc độ kinh hồn bạt vía, hoàn toàn mất kiểm soát. Con thuyền khổng lồ chao đảo dữ dội, mũi thuyền chồm lên hụp xuống giữa những con sóng hung hãn.

Chiếc thuyền gỗ đồ sộ ấy lao thẳng về phía khúc ngoặt mé bến đò Vọng Giang. Vừa chạm đến rìa của vụng cá lăng, một vòng xoáy nước ngầm khổng lồ đen ngòm bỗng trồi lên như miệng giếng sâu thăm thẳm. Dòng nước xoáy tròn cuồn cuộn tạo thành một phễu nước khổng lồ hút xiết mọi thứ vào tâm bão.

Không một sức mạnh nào có thể chống cự nổi!

Chiếc thuyền buôn nặng hàng nghìn cân bị lực hút kinh hoàng của xoáy ngầm vặn xoắn lại như một cọng rơm khô. Con thuyền quay mòng mòng ba vòng giữa dòng nước xiết rồi trong tích tắc, dòng nước xoáy quăng quật con thuyền khổng lồ đập thẳng vào ghềnh đá ngầm nhô lên giữa dòng.

"RẮC... UỲNH!"

Một tiếng nổ kinh thiên động địa vang lên xé toạc màn mưa đêm. Âm thanh gỗ gãy vụn hòa lẫn tiếng va đập của đá tảng dội vào không gian nghe rợn tóc gáy. Những tấm ván gỗ lim dày cộp bị dòng nước và ghềnh đá bẻ gãy vụn ra từng mảnh như vỏ trứng gà. Toàn bộ thân thuyền hai tầng đồ sộ bị xé toạc làm đôi, rồi vỡ tung thành hàng trăm mảnh gỗ vụn nổi lềnh bềnh trên mặt sóng cuộn trào, trong nháy mắt bị miệng xoáy đen ngòm của vụng cá lăng nuốt chửng không còn để lại một dấu vết! Chỉ còn lại những bọt nước đỏ ngầu phù sa bắn tung tóe lên cao rồi tan biến vào màn mưa dày đặc.

Cả đỉnh đồi Miếu Gò Cao hoàn toàn chết lặng.

Gió bão vẫn gầm thét, mưa vẫn xối xả rơi xuống mái ngói rêu phong, nhưng hàng trăm con người đang đứng trên bờ dốc đều run lên bần bật vì kinh hãi tột độ. Không một ai thốt nên lời. Sự tĩnh lặng của con người đối lập hoàn toàn với sự cuồng nộ man dại của dòng sông.

A Lực nhìn cảnh tượng con thuyền buôn vỡ vụn ngay tại đúng khúc sông mà nửa canh giờ trước cậu ta suýt chút nữa đã chèo chiếc thuyền nan mỏng manh lao vào, hai chân mềm nhũn ra, ngã ngồi bệt xuống vũng bùn nước, mặt cắt không còn một giọt máu, mồ hôi lạnh toát ra đầm đìa ướt đẫm cả sống lưng. Thân hình cậu run rẩy như chiếc lá rụng giữa cơn bão. Một chiếc thuyền buôn bằng gỗ lim hai tầng to lớn như thế còn bị nghiền nát trong chớp mắt, thì chiếc thuyền nan rách nát của cậu chở ba rương lụa nặng trịch khác nào mồi ngon đưa tận vào miệng cọp? Nếu không có gậy tre của Từ Bá, nếu không có tấm bảng đo nước và lời cảnh báo đanh thép của Thanh Hà, thì giờ phút này, mảnh xác của cậu ta và ba rương lụa tơ tằm đã tan biến thành tro bụi dưới đáy vực sâu thăm thẳm kia rồi. Mẹ cậu ở góc miếu kia sẽ ra sao nếu sáng mai nhận được tin xác con trai trôi dạt tận cửa biển? Cậu ôm chặt lấy ngực áo, thở dốc trong nỗi kinh hoàng khôn xiết.

Ở góc tối hiên miếu, Mã Vạn Hưng đứng chết trân, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra những tiếng kêu lách cách run rẩy. Đôi mắt gã dại đi, nhìn chằm chằm vào khoảng sông trống rỗng nơi con thuyền khổng lồ vừa biến mất. Thỏi bạc năm lượng trong bọc áo bỗng trở nên nặng trĩu và lạnh buốt như một khối băng đá ngàn năm, ghim chặt vào da thịt gã nỗi sợ hãi thấu tận tâm can. Gã sụp xuống bậc thềm, run rẩy chắp hai tay vái lấy vái để về phía dòng sông gầm thét, mồm lẩm bắp những lời cầu khẩn không rõ nghĩa, không còn dám nhắc đến nửa chữ gấm vóc hay tiền bạc nữa. Sự ngạo mạn, thói trọc phú của gã đã bị con nước lũ nghiền nát hoàn toàn cùng chiếc thuyền buôn xấu số kia.

Sự kiên định giữ vững quy củ của Từ Bá và sự sáng suốt, quyết đoán dựa trên chứng cứ thực tế của Thanh Hà đã cứu vớt không chỉ sinh mạng của một người chèo đò trẻ tuổi, mà còn cứu cả lương tri và sự bình an của toàn thể bến sông giữa đêm cuồng nộ của đất trời.

Trở lại bên trong gian tế, bếp lửa vẫn nổ tí tách ấm áp. Ánh lửa bập bùng xua tan bớt cái giá lạnh và sự kinh hoàng vừa trải qua. Mùi cháo chín nhừ thoang thoảng mùi hành hoa và tiêu bắc mang lại cảm giác bình yên kỳ lạ giữa chốn tạm bợ.

Từ Bá chậm rãi ngồi thụp xuống một góc chõng tre gần lò đun. Cơn giông bão qua đi để lại một sự mỏi mệt rã rời trên gương mặt nhăn nheo của lão lái đò già. Lão khẽ đưa tay nắn bóp đầu gối chân phải, khuôn mặt nhăn lại vì một cơn đau nhức buốt xương dữ dội bỗng chốc ập đến sau khi phải dầm mưa lạnh suốt mấy canh giờ liền để cản thuyền giữ bến. Khớp xương sưng đỏ, cứng đờ khiến lão thở hắt ra từng cơn nặng nhọc, bàn tay gân guốc run run xoa nhẹ lên lớp vải quần ướt sũng.

Thanh Hà tinh ý nhận ra ngay dáng vẻ đau đớn của lão. Nàng không nói một lời, lặng lẽ bước lại gần bếp lò, múc một bát nước chè xanh gừng tươi nóng hổi, nhỏ thêm vào đó mấy giọt mật mía ngọt dịu rồi bưng lại trao tận tay Từ Bá.

"Từ Bá, bác uống bát trà nóng này cho ấm tỳ vị." Thanh Hà ngồi xuống bên cạnh lão, nhẹ nhàng đưa tay xoa bóp lớp cơ bắp căng cứng quanh khớp gối cho người lái đò già. Bàn tay nàng khéo léo ấn vào các huyệt vị giúp lưu thông khí huyết, từng động tác đều đặn, cẩn trọng. "Đêm nay mưa gió độc hại ngấm vào xương khớp, sáng mai khi nước rút bớt, cháu sẽ sang gò hái ít lá lốt dại và ngải cứu sao với muối hạt để chườm nóng cho bác. Bến sông này còn cần đến sự từng trải và cái tâm sáng của bác nhiều lắm."

Từ Bá đón lấy bát trà thơm ngát, hớp một ngụm nước ấm nồng lan tỏa khắp lồng ngực. Hơi cay của gừng và vị ngọt thanh của mật mía làm dịu đi cơn buốt giá trong từng thớ thịt. Lão nhìn người góa phụ trẻ tuổi với đôi bàn tay thoăn thoắt, đôi mắt trong veo nhưng ẩn chứa nghị lực kiên cường phi thường, khẽ vuốt chòm râu ướt mà mỉm cười hiền từ:

"Cô Hà à... Bến sông này có quy củ trăm năm, nhưng giữ được cái quy củ ấy giữa lúc lòng người đảo điên vì đồng tiền bát gạo, đêm nay là nhờ có cái tâm và cái trí của cô đấy. Lão già này mắt đã mờ, chân đã mỏi, nhưng nhìn thấy cô, thấy thằng Du với con Mãn biết xót thương mạng người, biết trọng lẽ phải hơn tiền bạc, lão thấy yên lòng lắm... Đất này còn có những người như cô, bến Vọng Giang này sẽ không bao giờ chìm."

Thanh Du và Tiểu Mãn lúc này cũng bước lại gần bếp lửa, hai đứa trẻ quây quần bên cạnh Thanh Hà. Quần áo chúng lấm lem bùn đất, đôi má đỏ ửng vì rét nhưng ánh mắt rạng rỡ lạ thường. Tiểu Mãn cẩn thận dùng giẻ khô lau sạch lớp than củi trên tấm bảng đo nước, đôi mắt lấp lánh niềm tự hào vì những con số mình cặm cụi ghi chép đã góp phần cứu mạng người; còn Thanh Du thì ngồi ngay ngắn lật giở từng trang sổ phát chẩn bằng giấy bổi, cẩn thận chấm mực ghi lại số lượng bột gạo và củi đóm còn lại để chuẩn bị cho bữa ăn sáng của dân làng khi bình minh tới. Nét chữ của cậu ngay ngắn, rõ ràng, phản chiếu sự chững chạc vượt xa lứa tuổi.

Tống Kim Phượng ngồi ở chiếc bàn gỗ bên kia, lặng lẽ nhìn sang ba mẹ con Thanh Hà. Nữ chủ nhân của Trà lâu Nghênh Xuân khẽ thở dài một tiếng, nhấp một ngụm trà nguội, trong ánh mắt kiêu hãnh thường ngày nay đã lấp lánh một tia nể phục chân thành dành cho người phụ nữ nghèo bên quán trà nhỏ. Giữa hoạn nạn, vàng thau mới lộ rõ; và cái tình của con người mới là thứ quý giá nhất trên đời.

Khói trà ấm nồng quyện lấy làn hơi sương mỏng manh tỏa ra khắp gian miếu cổ, xua đi cái buốt giá của đêm dài đại hạn. Những người tị nạn dần chìm vào giấc ngủ muộn màng trong tiếng thở đều đặn, trẻ thơ đã ngừng quấy khóc, nép mình trong vòng tay mẹ. Bên ngoài hiên, tiếng gió rít bắt đầu dịu dần, những đợt sóng cuồng nộ ngoài sông Vọng Giang dường như cũng bớt phần gầm gào hung dữ. Tiếng mưa rơi trên mái ngói thưa dần, chỉ còn những giọt nước rỏ tí tách từ mái hiên xuống thềm đá phẳng.

Khi vệt sáng đầu tiên của rạng đông xé toạc màn sương mù mịt phía chân trời đông, mưa lũ cuối cùng cũng ngớt hẳn.

Nước bắt đầu rút để lại lớp phù sa dày đặc trên mái lều xiêu vẹo, và một bóng người cưỡi ngựa xuất hiện từ hướng huyện thành.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories