Ấm trà đầu tiên
Sương mù sớm bảng lảng phủ kín mặt sông Vọng Giang, dày đặc và buốt giá như một tấm vải gai ướt sũng trùm lên vạn vật. Thanh Hà giật mình tỉnh giấc bởi một chuỗi âm thanh hỗn tạp xé toang bầu không khí tĩnh mịch: tiếng quạ khoang kêu quang quác từ ngọn cây gạo cổ thụ bên bến lở, hòa lẫn với tiếng sóng vỗ ì oạp, nặng nề vào mạn những con thuyền đò chở gốm, chở củi đang gối mũi vào bờ đất.
Nàng khẽ cựa mình trên tấm phản gỗ tạp vừa chắp vá vội vã vào chiều hôm trước. Từng thớ cơ trên bả vai, dọc theo đốt sống lưng ê ẩm, nhức nhối như thể vừa có ai đặt lên đó một phiến đá tảng qua suốt đêm dài. Nửa đêm qua là một đêm không ngủ. Nàng nhớ như in cái cảm giác lạnh toát nơi sống lưng khi phải nín thở hàng nửa canh giờ, hai bàn tay siết chặt đến trắng bệch quanh cán con dao gọt củi cùn rỉ, trừng trừng nhìn vào bóng đen lừng lững in hằn trên vách liếp nứa rách nát. Mãi cho đến khi nghe thấy tiếng thở phì phò mệt mỏi cùng tiếng chân móng cào sột soạt xuống nền đất bới tìm mấy mẩu bánh cá thối rữa do khách đò vứt lại, nàng mới bàng hoàng nhận ra đó chỉ là một con chó hoang gầy giơ xương sườn lảng vảng kiếm ăn rồi cắp đuôi lủi mất vào màn đêm.
Cái phập phồng, thảng thốt ấy cứ bám riết lấy tâm trí, ghim chặt nàng vào sự tỉnh táo đầy âu lo cho tới tận khi tiếng gà gáy ran từ thôn xóm bên kia sông báo hiệu canh tư vừa điểm. Nàng chỉ kịp chợp mắt trong chốc lát, một giấc ngủ chập chờn không mộng mị. Nhưng cái rét ngọt ngào mà buốt buốt của tiết cuối xuân, quyện chặt cùng hơi nước sông ẩm mốc xộc thẳng qua khe liếp, đã lập tức đánh thức nàng. Chốn bến bãi giang hồ này vốn dĩ là nơi thức sớm hơn trời đất; những kẻ đến đây để tranh cướp từng miếng cơm manh áo như nàng tuyệt đối không được phép dung túng cho sự trễ nải của xác thân.
Thanh Hà ngồi dậy, chậm rãi vặn mình để xua đi sự tê dại đang bám riết lấy từng khớp xương. Nàng đưa tay vuốt lại những sợi tóc mai lòa xòa trước trán, cẩn thận quấn gọn toàn bộ mái tóc dày đen nhánh vào trong tấm khăn vải chàm đã bạc màu ở mép.
Nàng bước chân trần xuống nền đất nện còn ẩm ướt hơi sương. Ở góc lều, chiếc bếp lò bằng đất sét phù sa mà nàng tự tay nhào nặn, đắp trét suốt buổi chiều hôm qua đã bắt đầu se khô. Dưới bàn tay miệt mài miết từng tảng đất dẻo quánh, bề mặt lò nay chuyển sang màu xám ngà mịn màng, gõ nhẹ vào nghe chắc nịch. Dưới đáy cửa lò khoét hình vòm cung, lớp tro rơm ấm áp nàng vùi cẩn thận từ tối qua vẫn còn le lói vài đốm than hồng âm ỉ, tỏa ra một mùi khói nồng nồng thân thuộc của thôn quê.
Việc đầu tiên nàng làm mỗi sớm là kiểm tra lu nước. Thanh Hà bước lại mé chái lều, nơi đặt chiếc lu sành tráng men da lươn thô ráp nàng mượn được của lão lái đò. Chiều muộn hôm qua, nàng đã dùng đôi thùng gỗ múc đầy nước sông Vọng Giang đổ vào đây, sau đó thả vào một cục phèn chua to bằng đầu ngón tay cái rồi dùng cành tre khuấy đều theo vòng tròn cho đến khi bọt trắng sủi tăm mới đậy nắp vỉ buồm lại.
Dưới ánh sáng lờ mờ của buổi rạng đông đang rỉ ra từ chân trời phía đông, Thanh Hà mở nắp lu. Mặt nước đã tĩnh lặng hoàn toàn, phẳng lặng như một tấm gương mờ. Phèn chua đã làm trọn phận sự của nó: lớp phù sa màu đỏ quạch lơ lửng đã bị kéo chìm nghỉm xuống đáy, đọng lại thành một tầng bùn non nhuyễn mịn dày chừng hai đốt ngón tay, để lộ ra khoảng nước bên trên trông có vẻ trong trẻo, nhìn thấu được đến nửa thân lu.
Lòng tràn trề hy vọng, Thanh Hà dùng chiếc gáo dừa khô múc từng gáo nước trong ở bề mặt trên cùng, gạn thật khẽ khàng qua một lớp vải mỏng để không làm xao động tầng cặn phía dưới, rồi đổ vào chiếc ấm đất nung lớn. Nàng đặt ấm lên chiếc kiềng sắt ba chân han rỉ, gạt lớp tro tàn, bốc một nắm bổi thông khô rải vào rồi dùng ống nứa thổi phù phù. Đốm than đỏ bừng lên, bén vào lá thông kêu tanh tách, ngọn lửa vàng cam lập tức bùng dậy, liếm láp quanh đáy ấm đất xám xịt.
Mùi nhựa thông cháy thơm ngát, ấm sực tỏa ra xua tan bớt cái giá buốt và ẩm thấp của gian lều tranh bốn bề lộng gió. Chẳng mấy chốc, vòi ấm đất bắt đầu run rẩy, phì ra từng luồng khói trắng mỏng manh, rồi nước bên trong réo lên sùng sục thành từng tràng dài.
Thanh Hà mở chiếc bọc vải điều nhỏ nàng luôn giấu kín dưới đáy tay nải. Bên trong là gói trà xanh sao khô bọc kỹ qua ba lớp lá chuối khô—đây là mớ trà búp do chính tay mẹ nàng hái trên những sườn đồi thoai thoải ở quê nhà vào vụ xuân năm ngoái. Từng búp non được hái khi còn ngậm sương, đem về sao suốt đêm trên chảo gang đỏ lửa, bàn tay mẹ khéo léo vò sao cho từng cánh trà cuộn tròn lại, nhỏ nhắn và sắc nhọn như chiếc lưỡi chim sẻ, phủ một lớp phấn trắng mờ như tuyết. Đó là chút vốn liếng quý giá nhất mà nàng mang theo khi bước chân ra khỏi cánh cổng ngột ngạt của quá khứ.
Nàng cẩn trọng nhón một nhúm trà nhỏ thả vào lòng chiếc bát sành thô mộc tráng men ngọc vụn. Chiếc ấm đất sôi già được nhấc khỏi bếp, dòng nước sôi bốc khói nghi ngút từ vòi ấm trút thẳng xuống lòng bát, cuốn những cánh trà xoay tròn theo dòng xoáy cuộn.
Thế nhưng, ngay khoảnh khắc làn nước sôi chạm vào đáy bát sành, khóe mày của Thanh Hà lập tức cau chặt lại.
Nước trà không hề ngả sang màu vàng mật ong hay ánh xanh lục phỉ thúy thanh khiết như nàng vẫn từng thấy mẹ pha nơi chái bếp quê nhà. Dưới tác động dữ dội của nhiệt độ cao, những hạt phù sa siêu nhỏ cùng lượng khoáng chất và phèn chua còn lơ lửng trong nước sông lập tức bị kích thích, kết tủa và biến tính. Chỉ trong chớp mắt, cả bát nước biến thành một thứ dung dịch đỏ quạch nhờ nhờ, đùng đục như nước bùn loãng sau cơn mưa rào mùa hạ. Những búp trà quý giá cuộn tròn không bung nở mềm mại mà rũ rượi, bết dính vào nhau dưới đáy bát thành một khối thâm sì.
Thanh Hà cúi đầu, ghé sát mũi vào miệng bát. Không có lấy một thoáng hương cốm non thoang thoảng hay mùi ngai ngái ngọt ngào của búp trà đồi sấy lửa; bốc lên từ lòng bát chỉ là một mùi nồng nặc tanh tưởi của bùn lầy sông nước, mùi tanh nồng của rong rêu rữa nát và vị chua lờ lợ của phèn lắng.
Nàng dùng thìa gốm múc một ngụm nhỏ, cẩn thận đặt lên đầu lưỡi nếm thử. Vừa chạm vào niêm mạc miệng, chất nước đã để lại một cảm giác chát xước, khô khốc như cào xé từng tấc lưỡi, gắt cỏng và đắng nghét chẹn cứng nơi cuống họng. Vị ngọt hậu vốn có của búp trà xuân hoàn toàn bị nuốt chửng, không để lại chút dư ba thanh sạch nào.
“Thế này... làm sao mà đem dâng cho người ta uống được?”
Thanh Hà khẽ thốt lên một tiếng thở dài ngao ngán. Nàng không chút tiếc nuối, nghiêng tay hắt cả bát trà hỏng xuống rãnh thoát nước ẩm ướt bên hông lều. Bãi nước đục ngầu sủi bọt xám trên nền đất cát, trơ lại mấy xác trà cháy xém thảm hại.
Trà dù có là kỳ hoa dị thảo, hái từ đỉnh núi cao nghìn trượng, được sao chế công phu đến đâu, nhưng nếu gặp phải thứ nước phàm trần ô tạp thì cũng chỉ hóa thành một bát nước rác rưởi không hơn không kém. Trong tâm trí nàng, lời người mẹ quá cố từng dạy bên bếp lửa năm nào lại dội về, rành rọt và tha thiết từng thanh âm: *“Thủy vi trà chi mẫu, hỏa vi trà chi phụ. Nước chính là mẹ của trà, lửa là cha của trà. Gặp được lửa tốt mà thiếu nước lành thì cốt cách của trà cũng tan biến theo mây khói.”*
Nước sông Vọng Giang dẫu có đánh trăm cân phèn, lắng ngàn ngày tháng cũng chỉ là thứ nước chết mang đầy tạp chất của trần tục trôi nổi, chỉ thích hợp để giặt giũ khoang thuyền hay rửa ráy chân tay; đem thứ nước ấy nấu trà đãi khách sang sông chính là tự tay bôi tro trát trấu vào mặt mình, tự chặt đứt đường sống nơi bến chợ.
Thanh Hà ngước mắt, nhìn qua khung cửa liếp rách nát về phía tây bắc. Giữa màn sương mai trắng đục đang chầm chậm tản ra theo từng cơn gió sông, gò Thanh Khê sừng sững nhô cao sau những rặng tre già xanh thẫm.
Lời dặn dò hào sảng, bộc trực của lão lái đò Từ Bá chiều hôm trước bỗng vang vọng lại trong ký ức nàng, rõ ràng như lão đang đứng ngay bên cạnh: *“Bến này phu phen, cửu vạn quen thói uống nước sông đánh phèn cho đỡ cháy họng qua ngày thì được, chứ mày mở quán trà mà nấu thứ nước ấy thì không quá ba hôm là cuốn chiếu dẹp tiệm! Muốn đun được ấm trà ngon cho người ta nhớ đến, phải chịu khó đổ mồ hôi mà gánh nước giếng đá Thanh Khê tít trên gò. Nước ấy ngọt từ trong lòng mạch đá ong chảy ra, trong vắt như mắt mèo, nuốt đến đâu ngọt lịm mát rượi đến đấy!”*
Thanh Hà không cho phép mình đắn đo thêm một khoảnh khắc nào nữa. Con đường sống của nàng tại chốn Vọng Giang này không có chỗ cho sự lười nhác hay chần chừ. Nàng quay ngoắt vào góc lều, xỏ chân vào đôi dép cỏ bện bằng rơm khô đã sờn mòn quai. Nàng với tay nhấc lấy đôi thùng gỗ thông nhẹ nhưng đóng rất khít khao, cùng chiếc đòn gánh bằng cật tre già dẻo dai—những món đồ nàng đã cắn răng bỏ ra những đồng bạc vụn cuối cùng để mua lại từ một lái buôn trôi dạt ghé bến chiều qua.
Trời đất vẫn còn chìm trong giấc ngủ ngái ngủ của buổi tranh tối tranh sáng. Từng vạt sương sớm từ lòng sông cuồn cuộn bốc lên, bay là là mặt đất như những dải lụa xám quấn lấy thân cây, bờ bụi. Cả bến đò mênh mông vẫn chưa vang lên tiếng còi hiệu mở luồng, chỉ le lói vài đốm lửa vàng vọt của những chiếc đèn bão treo lủng lẳng nơi mũi các thuyền buôn lớn đang neo đậu ngoài luồng nước sâu.
Gió bấc cuối mùa thốc thẳng từ mặt nước lên bờ, mang theo cái lạnh thấu xương thấu tủy, luồn qua lớp áo vá bằng vải thô nâu sồng khiến da thịt nàng co rúm lại, bờ vai gầy khẽ run rẩy. Nhưng Thanh Hà đã cắn chặt răng, bước chân thoăn thoắt bấm chặt xuống nền cát sỏi, kiên định nhằm hướng con đường mòn dẫn lên đồi cao mà rảo bước.
Đoạn đường từ doi đất mé đông bến đò ngược lên đỉnh gò Thanh Khê dài gần nửa canh giờ đi bộ. Đó là một lối mòn hiểm trở đầy rẫy những gồ ghề, đất đỏ trơn trượt sau những ngày mưa xuân dầm dề, rải rác những hòn sỏi tròn vo dễ làm trẹo chân và những chùm rễ cây cổ thụ trồi lên mặt đất như những đàn rắn trườn bò. Hai bên vệ đường, cỏ may và cỏ tranh mọc lút đầu gối, đẫm sương đêm lạnh ngắt, mỗi lần vạt áo nàng quét qua lại để lại những vệt ướt sũng dính chặt vào da thịt.
Đôi chân trần của nàng bấu chặt vào đất, từng bước, từng bước một vượt qua con dốc thoai thoải. Nàng điều hòa nhịp thở theo từng nhịp bước chân, đôi mắt chăm chú nhìn xuống mặt đất mờ ảo dưới ánh sáng nhàn nhạt của ngôi sao mai đơn độc còn sót lại nơi góc trời đằng đông.
Khi vầng thái dương đỏ ối bắt đầu nhô lên khỏi rặng đồi xa xôi, rải những tia nắng ấm áp màu hổ phách xuyên qua màn sương mỏng manh như rây bột, Thanh Hà đã đặt chân lên tới đỉnh gò.
Trước mắt nàng, giếng đá Thanh Khê hiện ra trong sự uy nghiêm tĩnh mịch của thời gian. Đó là một miệng giếng cổ kính có từ hàng trăm năm trước, thành giếng được ghép bằng những khối đá ong màu nâu xám xù xì, bám đầy rêu xanh phong trần, nằm nép mình che chở dưới bóng tán xòe rộng như chiếc lọng khổng lồ của một cây đa cổ thụ. Xung quanh miệng giếng, những phiến đá xanh nhẵn thín được người xưa lát phẳng phiu, sạch bóng không một gợn rác rưởi.
Thanh Hà bước lại gần, đặt đôi thùng gỗ xuống phiến đá rồi nghiêng mình nhìn xuống lòng giếng. Miệng giếng sâu hun hút, nhưng kỳ diệu thay, mặt nước bên dưới lại phẳng lặng và trong veo đến mức khó tin. Dưới ánh mai sớm rọi thẳng vào lòng giếng, nàng có thể nhìn thấy rõ mồn một từng hạt cát thạch anh trắng muốt lấp lánh dưới đáy sâu, cùng những mạch nước ngầm mát lạnh đang khẽ khàng sủi tăm lăn tăn từ những khe đá ong nứt nẻ, tựa như hơi thở nhịp nhàng của lòng đất mẹ.
Nàng buông chiếc gàu gỗ buộc dây thừng dài xuống. Tiếng *ùm* thanh thoát, trong trẻo vang vọng lên từ đáy sâu, phá vỡ sự tĩnh lặng của buổi ban mai. Thanh Hà dùng sức kéo sợi dây thừng căng bấc. Từng sải tay kéo lên là từng đợt cơ bắp căng cứng. Khi chiếc gàu gỗ nặng trịch vượt qua miệng giếng, những giọt nước tràn trề qua mép gàu rơi rớt xuống thành đá, phát ra những tiếng *tí tách, tí tách* lảnh lót như chuỗi ngọc rơi trên mâm bạc.
Thanh Hà không kìm được, cúi người vục hai bàn tay vào gàu nước đầy ắp. Dòng nước lạnh buốt chạm vào da thịt làm nàng rùng mình một cái, nhưng ngay sau đó là cảm giác tỉnh táo và khoan khoái tột độ lan khắp toàn thân. Nàng khẽ khum tay, đưa một ngụm nước lên môi nhấp thử.
Một luồng ngọt mát thuần khiết tức thì lan tỏa nơi đầu lưỡi, thấm đẫm qua vòm họng rồi chảy tràn xuống lồng ngực, mang theo sự thanh lương xua tan mọi mỏi mệt trong chớp mắt. Nước mềm mại lạ kỳ, không có chút mùi tanh bùn, không một gợn lợ của vôi hay phèn, tinh khiết tựa hồ như giọt sương mai đọng lại trên đài sen sớm.
“Đúng là mạch ngọc của trời đất rồi!” Đôi mắt Thanh Hà bừng sáng lên một niềm hân hoan rạng rỡ.
Nàng cẩn thận rót nước từ gàu vào hai thùng gỗ thông cho đến khi nước dâng lên mấp mé miệng thùng. Nàng đặt chiếc đòn gánh tre lên vai, hạ thấp trọng tâm rồi từ từ đứng thẳng dậy.
Chiếc đòn gánh cật tre già cong vút xuống thành một hình cánh cung hoàn mỹ, phát ra tiếng kêu *ken két* răng rắc. Sức nặng của hai thùng nước đầy—gần sáu mươi cân nước—bất thần đè nghiến lên bờ vai mảnh khảnh, khiến nàng khẽ lảo đảo, bước chân đầu tiên chệnh choạng như muốn ngã quỵ. Đôi dép cỏ cọ xát vào da chân rát buốt, xương bả vai đau nhói như bị kẹp vào thanh gỗ.
Nhưng Thanh Hà nghiến chặt răng, hít một hơi thật sâu gom hết sức lực vào bụng dưới. Nàng nắn lại thế đứng, giữ cho hai thùng nước cân bằng tuyệt đối không để sóng sánh ra ngoài một giọt, rồi từng bước vững chãi bước xuống con dốc đất.
Mỗi một bước đi gánh nặng là một lần mồ hôi túa ra như tắm, rịn ướt đẫm tấm áo nâu sồng nơi lưng áo, chảy dài bên thái dương hòa lẫn với sương mai lạnh ngắt. Đôi chân trần bấm sâu vào đất đỏ trơn tuột, hơi thở nàng dồn dập, phì phò thành từng luồng khói trắng trong không khí sớm. Nhưng trong lồng ngực nàng, trái tim lại đập những nhịp đập phơi phới, nhẹ nhõm vô cùng. Để có được một bát trà thơm ngon đàng hoàng, có thể ngẩng cao đầu đứng vững giữa chốn xô bồ cạm bẫy của bến Vọng Giang này, chút cực nhọc da thịt này nào có thấm tháp gì.
Khi bóng nắng bắt đầu trải dài trên những triền đồi, Thanh Hà đã về đến túp lều rách nát mé đông bến đò. Nàng cẩn thận hạ gánh nước xuống, hai bả vai sưng đỏ hằn sâu một vết lằn tím tái. Không nghỉ tay lấy một khắc, nàng lấy một tấm vải màn trắng tinh đã giặt sạch phơi khô từ trước, căng ngang miệng chiếc lu đất nung nhỏ chuyên dùng chứa nước pha trà, rồi chậm rãi đổ từng gáo nước giếng Thanh Khê qua đó để lọc bỏ từng hạt bụi đường vô tình bay vào.
Nàng quỳ xuống bên chiếc bếp đất sét, gạt bỏ lớp tro nguội, châm vào lòng lò những thanh củi thông chẻ nhỏ như ngón tay. Ngọn lửa đỏ rực liếm láp đáy ấm đất nung, reo vang những tiếng tí tách vui tai.
Lần này, Thanh Hà ngồi lặng bên bếp, tập trung toàn bộ tâm trí vào việc canh lửa. Ánh mắt nàng không rời khỏi mặt nước trong ấm.
Nước sôi nấu trà là cả một nghệ thuật tinh vi mà nàng đã học được từ những năm tháng ấu thơ phụng dưỡng mẹ già. Thoạt đầu, đáy ấm chỉ phát ra tiếng reo lí nhí như tiếng dế mèn than thở, mặt nước lăn tăn những bọt nước nhỏ li ti như mắt cua—đây là độ sôi đầu, nước chưa đủ chín, khí lạnh chưa tan hết. Nàng giữ lửa đều, củi thông cháy đượm làm nhiệt độ tăng dần. Chẳng mấy chốc, những bọt nước lớn hơn bắt đầu trồi lên cuồn cuộn như mắt cá, nước sôi sủi tăm liên hồi và phát ra tiếng rền trầm hùng như tiếng gió lướt qua ngàn thông—đây chính là độ sôi thứ hai, độ sôi hoàn hảo nhất của nước ngầm.
Khi làn hơi nước bắt đầu phun ra mạnh mẽ từ vòi ấm đất, Thanh Hà nhanh tay nhấc ấm nước ra khỏi kiềng sắt, nhưng tuyệt đối không vội vàng trút vào trà ngay. Nàng dùng nước sôi tráng qua lòng ấm đất nhỏ và bốn chiếc bát sành thô, làm cho toàn bộ đồ gốm nóng ran lên, đánh thức hơi ấm mộc mạc của đất nung. Nàng đặt ấm nước sôi xuống phiến đá lạnh bên cạnh, kiên nhẫn chờ đợi cho hơi nước dịu đi vài phần.
Búp trà xanh xuân non nớt tựa như làn da trẻ thơ, nếu dùng nước sôi sùng sục trút thẳng vào sẽ lập tức làm cháy lá, khiến nước ngả sang màu vàng úa, vị đắng chát xộc lên mũi lấn át hết sự tinh tế. Phải đợi cho nước hạ nhiệt xuống một chút, đủ ấm nồng mà không gắt gỏng, thì mới có thể đánh thức trọn vẹn hương vị tinh khôi ẩn giấu trong từng búp non.
Ước chừng thời gian vừa đủ, Thanh Hà mở bọc vải điều, nhón từng nhúm trà xanh rải đều vào chiếc ấm con đã được sưởi ấm. Hơi nóng từ thành ấm đất lập tức kích thích lớp phấn tuyết trên cánh trà, một mùi hương mộc mạc thơm lừng bốc lên ngào ngạt. Nàng nâng ấm nước giếng Thanh Khê, nghiêng vòi thật khéo léo, rót một dòng nước trong vắt lượn vòng men theo thành ấm, để dòng nước ôm ấp lấy từng búp trà đang từ từ xoay tròn, rồi nhẹ nhàng đậy nắp lại trong khoảng nửa tuần hương để ủ hương.
Khoảnh khắc Thanh Hà khẽ hé mở chiếc nắp ấm đất, một luồng hương thơm kỳ diệu lập tức bùng nổ, bung tỏa khắp gian lều chật hẹp.
Đó là một thứ hương thơm thanh khiết, ngào ngạt tựa như mùi sương sớm đọng trên cánh hoa dại, hòa quyện với mùi cốm non mới gặt và hương thông ấm áp. Vị ngọt ngào của dòng nước mạch ngọc giếng Thanh Khê đã đánh thức trọn vẹn linh hồn của búp trà đồi xuân, tạo nên một mùi hương thanh sạch vô ngần, tựa hồ như một cơn gió mát lành thổi quét qua, xua tan hoàn toàn cái mùi ẩm mốc của mái rạ mục và mùi tanh tưởi của bùn sông Vọng Giang đang bủa vây quanh túp lều.
Thanh Hà nâng ấm trà nhỏ, rót một dòng nước vàng óng ánh ngọc bích ra chiếc bát sành thô. Dòng nước chảy xuống kêu róc rách trong trẻo. Nước trà trong vắt, không một gợn cặn, lấp lánh sắc xanh non pha ánh vàng hổ phách tuyệt đẹp. Nàng nâng bát trà bằng hai tay, khẽ nhấp một ngụm nhỏ nơi đầu môi.
Cảm giác đầu tiên là một vị chát thanh tao, nhẹ tênh như một cái chạm khẽ của cánh bướm lướt qua đầu lưỡi, nhưng ngay khoảnh khắc dòng nước trôi xuống cuống họng, vị chát ấy lập tức tan biến, nhường chỗ cho một luồng ngọt hậu đậm đà, êm dịu bừng nở. Vị ngọt ấy đọng lại sâu hoắm nơi chân răng, thấm vào từng thớ thịt cuống họng, khiến toàn bộ thần trí đang mệt mỏi của nàng bỗng chốc bừng tỉnh, sảng khoái và khoan khoái lạ thường.
Nàng khẽ mỉm cười, đôi mắt rưng rưng một niềm xúc động khó tả. Bát trà này, nàng đã không phụ công ơn dạy bảo tỉ mỉ của mẹ, cũng không uổng phí mồ hôi công sức nàng đổ ra trên dốc gò Thanh Khê từ lúc mờ sáng.
Thanh Hà đứng dậy, phủi sạch bụi tro bám trên vạt áo rồi bước ra hiên lều. Trên chiếc bàn tre mộc mạc nàng đã dùng xơ mướp kỳ cọ sạch bong sáng bóng, bốn chiếc bát sành màu men da lươn thô sơ được úp ngay ngắn trên một chiếc khay đan bằng tre cật. Nàng lấy một tấm thẻ tre bản rộng bằng ba ngón tay, dùng dao vót nhẵn nhụi mép cạnh, rồi lấy thỏi mực mài sẵn hòa cùng chút nhựa cây quánh đặc, nắn nót viết lên bề mặt tre từng nét chữ chân phương, rõ ràng và dứt khoát:
*“Hai văn một bát nước trà xanh.”*
Nàng dùng một đoạn dây gai se chặt, treo tấm thẻ tre ấy lủng lẳng dưới mép mái tranh phía trước hiên lều, ngay tầm mắt của bất kỳ ai vừa bước chân lên từ mép sông hay rảo bước qua con đường mòn bến đò. Hai đồng tiền kẽm—một cái giá quá đỗi bình dân, sòng phẳng, vừa vặn với túi tiền eo hẹp của những người phu khuân vác, những kẻ chèo đò hay những người bộ hành lỡ bước đang run rẩy vì đói khát và gió lạnh.
Đúng lúc ấy, dưới mép bến lầy vang lên tiếng dây thừng chão cọ sột soạt vào cọc cừ gỗ lim, cùng tiếng mái chèo gỗ nghiến khua nước bì bõm dứt khoát. Một bóng dáng vạm vỡ, mái tóc hoa râm búi củ hành quen thuộc xuất hiện, sải từng bước chân dài vững chãi đi ngược con dốc đất bồi trơn trượt.
“Chà chà! Mùi hương ở đâu mà thơm ngát lừng lẫy cả một khúc sông thế này?”
Tiếng cười hào sảng, vang dội như chuông đồng của lão lái đò Từ Bá rền vang từ ngoài rặng dâm bụt. Lão quấn chiếc khăn vải thô màu chàm ngang trán, hai ống tay áo nâu sồng xắn cao để lộ đôi bắp tay cuồn cuộn gân guốc như rễ si già, chiếc dầm chèo gỗ nghiến đen bóng kẹp dưới nách. Vừa bước chân tới hiên quán, lão đã ngửa cổ hít hà một hơi thật sâu, đôi mắt tinh anh sắc sảo quét qua gian lều tranh nay đã được dọn dẹp phong quang, ngăn nắp, rồi dừng lại trên tấm thẻ tre đung đưa trong gió mai. Khóe miệng rậm râu của lão khẽ nhếch lên thành một nụ cười đầy vẻ tán thưởng.
“Bác Từ!” Thanh Hà cúi đầu chào, nét mặt rạng rỡ, giọng nói đầy vẻ kính cẩn mà tự nhiên. “Cháu đợi bác mãi. Lò đất vừa đỏ lửa, ấm nước giếng đá Thanh Khê đầu tiên vừa hãm xong xuôi, mời bác vào ngồi mở hàng cho cháu một bát nước đầu ngày lấy may!”
“Nhanh nhẹn và tháo vát lắm, con bé này!” Từ Bá sảng khoái bước vào quán, đặt chiếc dầm chèo nặng trịch dựa vào vách đất rồi ngồi phịch xuống chiếc ghế tre dài bên bàn. “Lão già này đã hứa mở hàng cho ai thì dù trời có đổ mưa tên bão đạn cũng không bao giờ sai hẹn! Mau đưa đây, để cái lưỡi mòn vì nước sông này của ta nếm thử xem tay nghề của cháu gái thôn Đoài rốt cuộc ra sao!”
Thanh Hà cẩn trọng nâng chiếc bát sành thô, từ chiếc ấm đất con rót ra một dòng nước trà xanh biếc sóng sánh ánh vàng hổ phách, bốc khói nghi ngút, rồi dùng cả hai tay cung kính dâng đặt trước mặt lão lái đò. Hơi khói mỏng manh mang theo mùi hương cốm non quyện với hương hoa cỏ mùa xuân lập tức bao bọc lấy lão, làm đôi lông mày bạc thếch của Từ Bá giãn ra đầy thích thú.
Lão nâng bát nước bằng đôi bàn tay thô ráp, nứt nẻ chằng chịt những vết sẹo sông nước. Lão không vội uống ngay mà đưa ngang mũi hít sâu một hơi dài, nhắm mắt lại để tận hưởng cái phong vị tinh khiết mộc mạc ấy, đoạn nhấp một ngụm vừa phải vào khoang miệng. Lão đảo nhẹ lưỡi, ngậm lại vài nhịp để chất nước thấm vào từng gai vị giác rồi mới từ từ nuốt xuống.
Một thoáng im ắng trôi qua giữa gian lều. Thanh Hà đứng nép bên cạnh bếp lò, hai bàn tay vô thức siết nhẹ vạt tạp dề thô, trái tim khẽ thắt lại trong nỗi hồi hộp không nguôi.
“Khá lắm! Tuyệt đỉnh lắm con bé ạ!”
Bất thần, Từ Bá vỗ mạnh đùi một cái *đét*, bật ra một tràng cười khoái trá rung rinh cả vách liếp. “Nước giếng đá Thanh Khê quả nhiên rơi vào tay người biết thưởng trà! Vị trà đậm đà mà không hề chát ngắt, trôi qua cổ họng thấy ngọt lịm một dải, lại để lại cái dư vị the mát sảng khoái nơi chân răng. Này cô bé, cái vị ngọt hậu sâu xa này, lũ quán xá lọc cọc dùng nước sông đánh phèn bên bãi nam kia có xách dép chạy theo cả đời cũng không sao với tới được!”
Nghe những lời nhận xét chân tình, thấu đáo và đầy tính sành sỏi của người lão luyện sông nước, tảng đá đè nặng trong lồng ngực Thanh Hà rốt cuộc cũng hoàn toàn rơi rụng. Nàng nở một nụ cười tươi tắn:
“Tất cả đều nhờ vào lời chỉ bảo chí tình của bác chiều qua đấy thôi ạ. Không có bác mách nước, cháu làm sao biết đường lên gò gánh nước từ lúc trời chưa tỏ mặt người. Có được nguồn nước ngọc ấy, mớ búp trà quê cháu mới không bị biến thành thứ bỏ đi.”
Từ Bá ực thêm một hớp trà lớn, thở phào ra một luồng hơi ấm áp, cả khuôn mặt phong trần dãi dầu mưa nắng giãn ra trong sự thỏa mãn của một người vừa được giải tỏa cơn khát sau một đêm dài vật lộn với những con sóng dữ trên sông lạnh. Nhưng rồi lão khẽ hạ bát nước xuống mặt bàn, ngước nhìn nàng, nụ cười trên môi thu lại, thay vào đó là ánh mắt trầm ngâm, từng trải đầy vẻ căn dặn:
“Nước giếng Thanh Khê thì ngon vô địch cái xứ này rồi, cái đó ai cũng biết. Nhưng con bé ơi, cháu phải ghi lòng tạc dạ điều này: từ cái doi đất này bò lên được đỉnh gò đường sá xa xôi, sỏi đá gồ ghề lại lắm dốc trơn. Đôi vai đàn bà con gái mảnh mai thế kia, gánh hai thùng nước nặng trịch ngày ba bốn lượt không phải trò đùa đâu, dăm bữa nửa tháng là còng lưng, rạc cẳng đấy! Lại thêm nữa, đợi đến cữ giữa hạ tháng Năm, tháng Sáu, trời hạn như đổ lửa, giếng làng Thanh Khê cạn mạch nước, người trong làng trên gò họ sẽ bắt đầu xiết chặt giờ giấc lấy nước. Họ chỉ cho dân ngụ cư, người ngoài gánh nước vào cữ canh ba hoặc chập tối mà thôi. Đến lúc ấy, muốn có nước ngọt mà đun trà, phải biết đường liệu liệu mà dậy sớm thức khuya, chớ có dại dột mà tranh giành, cãi cọ với dân bản thổ làm gì cho rước họa vào thân, nghe chưa?”
Thanh Hà chăm chú lắng nghe, ghi tạc từng lời từng chữ của Từ Bá vào sâu trong tâm can. Nàng cúi đầu: “Dạ, cháu hiểu rồi ạ. Lên đất người kiếm manh áo miếng cơm, cháu sẽ liệu bề nhường nhịn, giữ đúng lề thói giờ giấc thôn làng quy định, tuyệt đối không dám làm điều gì càn rỡ.”
“Ừ, biết điều và biết nhẫn nhịn thế là tốt. Người sống ở bến bãi này, chữ ‘nhẫn’ đáng giá bằng vàng đấy.”
Từ Bá gật gù hài lòng, thò bàn tay chai sạn vào sâu trong dải thắt lưng vải gai, lôi ra hai đồng tiền kẽm đã mòn vẹt mép, đặt *cộp* một tiếng dứt khoát xuống mặt bàn tre mộc. “Tiền nước mở hàng đây. Lão chúc cho cái quán trà mé đông này của cháu buôn may bán đắt, khách khứa ra vào tấp nập như dòng nước sông Vọng Giang cuộn chảy ngày đêm!”
“Cháu đội ơn bác nhiều lắm!” Thanh Hà cung kính dùng cả hai bàn tay đỡ lấy hai đồng tiền kẽm. Hai đồng tiền kim loại nhỏ bé, lạnh ngắt nhưng còn vương lại hơi ấm từ lòng bàn tay của người lao động chất phác. Cầm chúng trong tay, lòng nàng dâng lên một niềm xúc động nghẹn ngào. Đây là những đồng tiền đầu tiên do chính mồ hôi, sức lực và sự kiên trì của nàng kiếm được nơi đất khách quê người; không phải là sự ban ơn khinh bỉ của nhà họ Phạm, mà là nền móng đầu tiên của một cuộc đời tự do mà nàng đang tự tay tạo dựng.
Tiếng nói cười oang oang đầy hào sảng của lão lái đò Từ Bá cùng mùi hương trà thơm lừng ngào ngạt lan tỏa từ mái lều tranh lập tức thu hút sự chú ý của dòng người đang bắt đầu đổ dồn về bến bãi.
Lúc này, màn sương mù trên sông đã tản đi quá nửa dưới ánh nắng rực rỡ của buổi ban mai. Bến đò Vọng Giang bừng tỉnh, bước vào nhịp sống thường nhật huyên náo và bụi bặm. Từng tốp phu khuân vác mình trần trùng trục, khoác trên vai những chiếc bao tải gai rách nát, tay cầm đòn xóc, lũ lượt túa ra từ những kho hàng thấp lè tè ven bờ, chuẩn bị bốc dỡ những kiện vải thô, đồ sành sứ và chum vại từ những chiếc thuyền buôn vừa cập bến.
Đi ngang qua túp lều tranh mé đông, ngửi thấy mùi hương trà thơm nức xộc vào cánh mũi, lại nhìn thấy tấm thẻ tre ghi giá rõ ràng, nổi bật “Hai văn một bát”, mấy người phu phen không khỏi tò mò dừng bước, ngó nghiêng nhìn vào.
“Kìa, bác Từ Bá! Mới sáng tinh mơ ra mà bác đã ngồi chễm chệ uống thứ trà quý tộc ở đâu mà thơm điếc cả mũi thế kia?” Một người đàn ông trung niên vạm vỡ, vai vác chiếc đòn xóc bằng gỗ nghiến bóng nhẫy mồ hôi, vừa đưa mu bàn tay quệt trán vừa lớn tiếng hỏi với vào trong quán.
“Đến đây mà uống, đồ mắt toét!” Từ Bá quay ngoắt đầu ra cửa quát to, tay vẫy rối rít như gọi đàn em. “Lại Tam chưa thò cái mặt quỷ tới thì bến này lấy đâu ra nước ngon thế này ngoài chỗ này! Nước giếng đá Thanh Khê thượng hạng pha với búp trà đồi xuân thứ thiệt, có hai đồng một bát to tướng kia kìa! Mau vào đây mà làm một hớp cho ấm cái tỳ vị, lấy sức mà vác mấy bao tải gạo nặng như đá tảng ngoài bãi!”
Nghe thấy cái giá rẻ đến bất ngờ—chỉ có hai văn—lại được đun bằng thứ nước giếng đá Thanh Khê vốn chỉ dành cho nhà hào phú thưởng lãm, ba người phu khuân vác nhìn nhau chớp mắt, rồi chẳng ai bảo ai, cùng rảo bước tiến vào trong quán lều. Người đàn ông trung niên cầm đầu chép miệng, đưa mắt đánh giá gian lều rồi nhìn về phía Thanh Hà:
“Chủ quán trẻ tuổi mà trắng trẻo thế này à? Cho bọn này ba bát trà nóng hổi xem nào! Sáng sớm sương muối xuống lạnh thấu ruột thấu gan, ra sông bốc hàng từ canh năm rã rời cả người rồi!”
“Dạ, các huynh đợi muội một lát, có ngay đây ạ!” Thanh Hà đon đả cất tiếng đáp lời. Đôi tay nàng thoăn thoắt tráng bát qua nước sôi, rót ra ba bát nước trà xanh bốc khói nghi ngút, thơm ngào ngạt, rồi cẩn thận bưng ra tận bàn tre với nụ cười niềm nở, khiêm nhường. “Trà mới hãm, nước đang sôi già, các huynh cứ thong thả uống từ từ kẻo bỏng miệng.”
Ba người phu vác đón lấy bát sành. Ban đầu họ vẫn còn có phần ngập ngừng, e dè trước một người phụ nữ trẻ tuổi ăn vận kín đáo, đoan trang; nhưng rồi cái mùi thơm thanh sạch quyến rũ không thể cưỡng lại đã xua tan mọi ngại ngùng. Họ nâng bát lên, kê miệng vào mép sành rồi ừng ực uống một hơi dài.
Chỉ một thoáng sau, ba tiếng thở phào khoan khoái đồng loạt vang lên giữa gian lều.
“Khá thật! Nước ngọt mà êm giọng quá chừng!” Một gã phu trẻ tuổi thốt lên, mắt sáng rực. “Uống vào một ngụm mà tỉnh cả người, ấm từ ngực ấm xuống tận bụng dưới, chẳng bù cho cái thứ nước sông luộc chát xít, khé nghẹt cả cổ họng của mụ Béo đầu chợ đò bên kia!”
Nhìn ba người phu vác thưởng thức bát nước trà một cách ngon lành và hào sảng, ánh mắt Thanh Hà bất giác liếc nhìn về góc hiên quán.
Ở nơi đó, ba thân tre đực già, thẳng tắp và chắc nịch mà nàng xin được từ người thợ mộc sửa thuyền chiều qua vẫn còn nằm chỏng chơ bên vệ cỏ; góc mái cỏ tranh phía đông của lều vẫn còn một mảng rách lớn to bằng cái nia chưa kịp dặm vá, gió sông từng cơn thổi vào lồng lộng làm mép rạ bay phần phật, nếu chẳng may gặp phải một cơn mưa rào bất chợt đổ xuống thì chắc chắn cả gian lều sẽ ngập trong bùn nước. Thân gái dặm trường, một mình tay yếu chân mềm như nàng, muốn dựng đứng những thân tre nặng trịch, vần gỗ mục sửa lại rui mè trên mái quả thực là một việc quá sức, trầy da tróc vảy chưa chắc đã xong.
Một ý nghĩ nhanh chóng lóe lên trong đầu nàng, mạch lạc và dứt khoát. Nàng là kẻ lưu lạc, nhưng nàng không muốn cúi đầu xin xỏ lòng thương hại của bất kỳ ai, càng không muốn biến mình thành kẻ nợ ân tình khó trả chốn bến bãi này. Một sự trao đổi sòng phẳng, công khai dựa trên nhu cầu của đôi bên mới là đạo sống bền lâu nhất.
Thanh Hà nhanh nhẹn bước lại bàn, nâng ấm nước giếng Thanh Khê đầy ắp, châm thêm một lượt nước trà xanh nóng hổi vào bát cho ba người phu khuân vác, rồi mỉm cười cất giọng mềm mỏng, nhã nhặn:
“Các huynh vất vả từ lúc sương sớm, bát nước này muội xin mời, các huynh cứ thong thả mà uống cho ấm người lấy lại sức. Muội phận gái neo đơn dạt về đây kiếm miếng cơm, có một lời thỉnh cầu mọn mằn, chẳng hay các huynh có thể bớt chút thời gian nán lại giúp muội một tay được chăng?”
Ba người phu vác ngẩng đầu lên, ngạc nhiên nhìn nàng. Người phu trung niên xua tay cười xòa: “Cô chủ quán có việc gì nặng nhọc cần đến sức vóc cứ việc nói một câu! Cánh phu phen chúng tôi tuy ăn to nói lớn, thô kệch cục mịch thật đấy, nhưng cái bến này không ai hẹp hòi chuyện giúp đỡ người hiền lành đâu!”
Thanh Hà chỉ tay lên khoảng mái tranh rách toạc phía trên đầu và mấy thân tre nằm bên vệ đất:
“Túp lều này bỏ hoang phế đã lâu năm, mái rạ phía đông bị gió xé rách tả tơi, góc cột kia mối mọt ăn rỗng ruột cũng cần chôn thêm mấy cây tre cho vững chãi để chống chọi với mưa to gió lớn. Muội sức dài vai ngắn, không khiêng nổi mấy thân tre nặng kia. Nếu các huynh không chê, muội xin đãi các huynh mỗi người một ấm trà thơm ngon, lại xin biếu thêm mỗi huynh một bầu nậm đầy nước giếng Thanh Khê mang theo ra bãi hàng uống dần cho đỡ khát. Chỉ mong các huynh ra tay bớt chút thời gian giúp muội vác tre chôn cột, buộc lại mảng mái cỏ chống dột cho xong trước khi con đò sớm cập bến.”
Mấy người phu vác nghe xong lời giãi bày chân thành và rành rọt ấy thì đưa mắt nhìn nhau, rồi đồng loạt bật ra những tiếng cười sảng khoái. Người đàn ông lớn tuổi nhất đặt mạnh bát sành xuống bàn, xua tay cười ha hả:
“Tưởng chuyện đao to búa lớn gì! Mấy khúc tre đực với vài túm cỏ rạ này đối với cánh cửu vạn chúng tôi chỉ là chuyện trở bàn tay, làm loáng một cái là xong ngay! Cô chủ quán biết điều, ăn nói rọt rẹt lại có ấm trà ngon ngọt mát ruột thế này, bọn này nhận lời ngay tắp lự!”
“Đúng đấy! Nào anh em, buông bát xuống rồi ra tay một lát cho cô bé!”
Chẳng cần đợi thúc giục, ba người phu vác lập tức xốc lại vạt áo, thoăn thoắt bước ra ngoài sân. Họ đều là những con người quanh năm quen quăng quật với sắt thép, gỗ lạt và bao tải nặng, động tác làm việc vô cùng thuần thục, nhịp nhàng và dứt khoát. Người đàn ông vạm vỡ nhất vác bổng thân tre đực già nặng trịch trên vai, dùng chiếc xẻng cùn xới tung nền đất cát, chôn sâu đầu tre ngập hơn hai thước đất rồi lấy đá hộc nện chặt xung quanh, tạo thành hai chiếc cột phụ gia cố vững chắc cho vách lều xiêu vẹo.
Hai người trẻ hơn thoăn thoắt trèo lên chiếc thang tre cũ, đỡ lấy những bó cỏ tranh khô ráo mà Thanh Hà gom nhặt từ chiều qua chuyển lên. Bàn tay thô ráp của họ thoăn thoắt luồn những sợi dây mây dẻo dai qua từng lớp rui mè, đan cài từng lớp rạ dày dặn, đều tăm tắp, phủ kín hoàn toàn mảng rách trên mái lều.
Từ Bá đứng tựa lưng vào vách nứa nhìn cảnh tượng ấy, bàn tay khẽ vuốt chòm râu bạc lơ thơ, trong đôi mắt già nua ngập tràn một vẻ tán thưởng sâu sắc.
Con bé này quả thật không phải hạng tầm thường. Nàng thông minh, sắc sảo, cơ trí nhưng lại vô cùng hiểu lòng người. Ở cái bến đò Vọng Giang đầy rẫy lang sói và phường bất lương này, nếu chỉ biết run rẩy cúi đầu sợ hãi thì sớm muộn cũng bị người ta chà đạp cho đến chết; nhưng nếu cậy tiền cậy của, kiêu ngạo vênh váo thì lại càng chuốc lấy tai họa diệt thân. Biết dùng sự chân thành đổi lấy sức lao động, biết lấy sự tôn trọng và một bát nước trà thảo thơm để kết giao bằng hữu, ắt sẽ tạo dựng được những mối duyên lành bền chặt, biến những người phu phen cục mịch thành lá chắn chở che cho chính mình.
Chỉ trong chưa đầy một tuần hương, công việc đã hoàn tất một cách mỹ mãn. Mảng mái cỏ tranh dột nát đã được dặm vá phẳng phiu, kín kẽ không lọt một sợi nắng; chiếc hiên tre được dựng thêm hai chiếc cọc chống to bản, hiên ngang vươn ra đón gió sông mà không hề lay chuyển dù chỉ một phân.
“Xong xuôi cả rồi đấy cô chủ nhỏ!”
Người phu trung niên nhảy từ trên giàn thang xuống đất, vỗ vỗ hai bàn tay dính đầy bụi rơm rạ vào ống quần, cười khà khà đầy vẻ đắc ý. “Mái rạ này buộc chằng đan cài thế kia thì gió bão cấp năm, cấp sáu cũng đừng hòng thổi lật được một sợi cỏ! Mưa to đến mấy nước cũng chỉ việc trượt theo mép rạ mà chảy tuột xuống rãnh, yên tâm mà ngồi đun trà nhé!”
Thanh Hà vui mừng khôn xiết, trong lòng dâng lên một nỗi cảm kích vô bờ. Nàng vội vã chạy vào chái bếp, bưng ra ba chiếc bầu nậm bằng tre cật đã được súc rửa sạch sẽ, bên trong chứa đầy ắp nước trà xanh ướp lạnh bằng mạch giếng đá Thanh Khê, hai tay cung kính trao tận tay từng người:
“Muội đội ơn các huynh nhiều lắm! Ơn này muội xin ghi lòng. Chút nước trà mọn này các huynh mang theo ra bến bãi mà uống lúc mệt nhọc cho đỡ khát.”
“Tốt lắm! Mai có bốc hàng sớm, bọn này lại ghé qua làm bát trà giếng ngọc của cô!”
Ba người phu khuân vác vui vẻ đón lấy chiếc bầu tre, gật đầu chào lão Từ Bá rồi rảo bước nhanh nhẹn hòa vào dòng người đang nườm nượp đổ xô ra các cầu tàu bốc dỡ hàng hóa.
Đứng nhìn theo bóng lưng vạm vỡ của họ khuất dần sau những kiện hàng chất cao như núi, Thanh Hà hít một hơi thật sâu. Lần đầu tiên kể từ ngày dứt áo trốn chạy khỏi phủ đệ họ Phạm, nàng cảm nhận được một mối dây liên kết thực sự giữa bản thân mình và nhịp đập phập phồng, sống động của trần thế. Nàng không còn là một bóng ma cô độc trôi dạt vô định giữa đất trời; nàng đã có một túp lều vững chãi che mưa che nắng, một chiếc bếp lò đỏ lửa thơm mùi búp trà non, và những vị khách đầu tiên tôn trọng nàng bằng chính sự lao động lương thiện.
Thanh Hà quay trở vào quán, bước lại chiếc bàn tre mộc. Nàng cẩn thận mở chiếc tay nải, lấy ra cuốn sổ tay đóng bằng giấy dó thô ráp cùng thỏi mực mài sẵn. Dưới ánh nắng ban mai rọi nghiêng qua khung cửa, nàng nâng ngọn bút lông thỏ, nắn nót viết từng dòng chữ chân phương lên trang giấy mới tinh:
*“Ngày hăm chín tháng Ba. Thu hai văn tiền mở hàng của bác Từ Bá. Đổi ba bát nước trà lấy công dặm mái tranh và dựng cọc tre hiên lều. Bến Vọng Giang gió lặng, lòng người ấm áp. Mọi sự bình an.”*
Gió sông ban mai thổi vào lồng lộng, mát rượi, mang theo hơi thở mằn mặn của phù sa màu mỡ và mùi ngai ngái của cỏ cây đôi bờ. Nắng sớm chan hòa rải một lớp bụi vàng óng ả lên tấm thẻ tre treo trước mái hiên lều, làm rực sáng từng nét chữ đen nhánh: “Hai văn một bát nước trà xanh”.
Tuy nhiên, giữa bầu không khí ấm áp và thanh bình vừa mới chớm nở ấy, ở góc khúc rẽ dẫn ra bãi bốc dỡ hàng hóa mé nam, có hai bóng người gầy guộc, đen đúa đang đứng nép mình sau một cây cọc tiêu bằng gỗ mục.
Chúng mặc những chiếc áo chẽn cộc tay rách rưới để lộ những hình xăm bọ cạp xanh lè trên bắp tay, đầu quấn những dải khăn rìa mép cáu bẩn. Đôi mắt ti hí, đỏ sọc của chúng dán chặt vào tấm thẻ tre ghi giá hai văn của quán trà Thanh Hà với vẻ xoi mói, căm tức tột cùng.
“Mẹ kiếp nó... con ranh góa phụ từ cái xó xỉnh nào dạt tới bến này...”
Một tên chép miệng khạc một bãi nước bọt đỏ lòm vì nhai thuốc lào xuống nền đất bãi, giọng thì thào rít qua kẽ răng đầy vẻ hiểm độc. “Treo biển bán trà công khai hai văn một bát, kéo cả đám cửu vạn của kho Ba vào tụ tập... mà dám không thèm nộp lấy nửa đồng tiền lệ ngầm cho anh Tam? Coi bộ con ranh này chưa biết cái đất bến Vọng Giang này ai là người định đoạt giá từng bát nước, ai là người nắm quyền trải từng manh chiếu rồi!”
Tên đi cùng nhe hàm răng đen sì ám khói thuốc, khẽ gằn lên từng tiếng lạnh tanh: “Cứ để mặc xác nó đấy. Chờ anh Tam ra điểm mặt, rồi xem con bé nứt mắt này trụ nổi mấy ngày trên cái doi đất mé đông này!”
Trong quán lều, Thanh Hà đang cúi đầu, cẩn thận xếp lại mấy chiếc bát sành men da lươn lên khay tre thì bất chợt, từ bên ngoài vang lên tiếng bước chân nặng nề, thô bạo giẫm mạnh trên nền đất sỏi khô rốc.
Một cái bóng to bè, lừng lững như một con gấu đen đổ ập xuống thềm hiên lều, che khuất hoàn toàn ánh nắng mai rực rỡ. Một mùi rượu cặn chua loét nồng nặc quyện với mùi mồ hôi ôi thiu lập tức xộc thẳng vào trong quán, làm không khí bỗng chốc ngột ngạt đến nghẹt thở.
*Rầm!*
Một bàn tay đen đúa, đầy lông lá đập mạnh chuôi chiếc đoản côn bằng đồng thau xuống mặt bàn tre mộc mạc, làm mấy chiếc bát sành nảy lên bần bật, kéo theo một tiếng cười khàn đục rợn người vang lên xé toang sự yên ả của buổi sớm mai.