Khoản phí không biên nhận
Tiếng gõ chát chúa của khúc đoản côn làm vỡ tan bầu không khí yên bình buổi trưa tại quán trà ven bến.
Âm thanh kim khí va chạm vào thân tre già đanh lại, vang lên khô khốc như tiếng cành khô gãy rắc dưới gót giày nẫm mạnh. Chiếc bàn tre mộc mạc—vốn vừa được ba người phu khuân vác kho than hảo tâm giúp chêm lại cho thật bằng phẳng vào sớm mai—khẽ nảy lên một nhịp rồi run bần bật. Nước trong chiếc ấm sành men da lươn đặt trên chiếc mâm gỗ tạp sánh nhẹ một vòng tròn đồng tâm, hắt lên những tia nắng đứng bóng rọi lọt qua kẽ mái rạ vừa dặm lại hôm qua. Mùi rượu cặn lên men chua loét sực nức, quyện chặt với mùi mồ hôi cáu bẩn bám trên lớp vải bố chưa giặt nhiều ngày cùng mùi khói thuốc lào khét lẹt xộc thẳng vào gian lều, thốc mạnh vào khứu giác, tàn nhẫn xé toạc hương cốm non thoang thoảng của mẻ trà xanh gò Thanh Khê vừa hãm đợt nước đầu.
Liễu Thanh Hà đang đứng nép bên chiếc bếp lò đất nung trét rơm vụn. Bàn tay nàng đang cầm chiếc muôi tre gáo dừa, mũi muôi vừa chấm vào miệng lu nước giếng đá mát rượi định múc thêm một gáo tráng lại mớ bát sành vừa rửa.
Nàng khựng lại. Lưng nàng vẫn giữ thẳng tắp.
Dưới lớp áo vải thô màu nâu sồng đã giặt bạc thếch nơi hai đầu vai, sống lưng mảnh dẻ khẽ căng ra như một cánh cung vừa được gài tên đồng, nhưng đôi vai nàng tuyệt nhiên không hề run rẩy. Nàng hít vào một hơi thật chậm, thật sâu, ép làn hơi mát lành của khí trời vào lồng ngực đang đập nhanh, cảm nhận hơi nóng âm ỉ từ lớp than bùn trong lòng bếp phả đều vào mu bàn tay ram ráp. Từng trải qua những ngày đông thấu xương nơi sân sau nhà họ Phạm, nàng đã quá quen với cảm giác nguy hiểm rình rập sau lưng. Từ tốn, nàng buông cán gáo dừa, xoay người lại đối diện với ba kẻ lạ mặt.
Chiếc bàn tre lớn nhất, chiếm trọn vị trí trung tâm của gian quán—nơi có tầm nhìn thoáng đãng nhất hướng thẳng ra con lạch chảy xiết và bến đò Vọng Giang tấp nập—nay đã bị ba thân ảnh lực lưỡng, bụi bặm che khuất hoàn toàn ánh sáng ban trưa.
Ngồi nghễu nghện ở đầu bàn là một gã đàn ông trạc ngoài ba mươi tuổi. Thân hình gã to bè, vai u thịt bắp như một súc gỗ lũa ngâm dưới đáy sông nhiều năm vừa được trục vớt đem phơi ráo nắng. Gã khoác một chiếc áo chẽn cộc tay bằng vải thô nhuộm màu củ nâu đã sờn rách tả tơi ở mép gấu, để lộ khuôn ngực vạm vỡ màu đồng hun dày đặc lông lá xoăn tít, cùng một vết sẹo chém dài ngoằng, méo mó kéo xiên từ mỏm vai trái xuống tận mạn sườn phải, dấu tích của một trận huyết chiến giành bến bãi nào đó thuở hàn vi. Đôi mắt ti hí của gã đỏ ngầu những tia máu vằn vện do thức đêm và men rượu cặn, tròng mắt đùng đục sắc lạnh như mắt loài cá măng dữ tợn rình mồi nơi luồng nước xoáy. Trong bàn tay hộ pháp, những ngón thô bè nổi đầy nốt chai đang vân vê khúc đoản côn bằng đồng thau dài chừng hai thước. Đầu côn bịt sắt đã mòn vẹt, xước xát loang lổ những vết cấn móp xám xịt của kim khí va chạm.
Đó chính là Lại Tam, kẻ mà ban sáng, trước khi nhổ sào đưa chuyến khách đầu tiên sang bờ bắc, lão lái đò Từ Bá đã ghé tai nàng nghiêm giọng dặn dò phải hết sức giữ miếng dè chừng.
Đứng tì lưng vào hai bên cột hiên tre tươi là hai tên lâu la mặt mày quắt queo, nồng nặc mùi giang hồ hạ lưu. Tên bên tả gầy nhẳng như một que củi khô, hai cánh tay trần khẳng khiu chằng chịt những vết xăm bọ cạp bằng mực tàu đen nhánh nay đã trổ sang màu chàm bẩn thỉu; bàn tay gã dính đầy cáu ghét, lăm lăm một chiếc dùi sắt dùng để xăm bao tải gạo. Tên bên hữu thấp lùn, hai má hóp sâu hoắm vào tận chân răng, xương gò má nhô cao nhọn hoắt, khóe miệng lúc nào cũng nhếch lên một nụ cười nửa miệng nhờn nhợt, trâng tráo. Cứ chốc chốc, kẽ răng ố đen của gã lại rỉ ra một bãi nước cốt thuốc lào đỏ quạch, nhổ toẹt xuống nền đất nện mà Thanh Hà vừa mất trọn cả buổi chiều hôm qua quét tước, cặm cụi rải tro trấu để hút ẩm và ngăn ngừa hơi nước từ mặt sông bốc lên. Cả hai tên đều khoanh tay trước ngực, bàn chân trần đen đúa, ngón chân toè ra như rễ cây gõ nhịp chan chát xuống nền đất, dáng vẻ ngạo mạn coi trời bằng vung.
“Con lều rách mé đông này bỏ hoang ba năm có lẻ, lũ chuột cống bến sông còn chê ẩm thấp không thèm làm tổ, thế mà hôm nay lại dựng được tấm liếp, lợp được mảnh rạ lành lặn ra phết nhỉ?”
Lại Tam cất giọng ồm ồm, khàn đặc và gằn từng tiếng như hai hòn đá cuội cọ xát vào nhau dưới đáy lạch sâu. Gã dùng đầu đoản côn gõ cộp cộp từng nhịp chậm rãi, nặng nề lên mặt giát tre. Từng âm thanh giáng xuống tựa như những nhát búa nện vào bầu không khí oi bức của buổi trưa đứng gió. Ánh mắt xoi mói, nhớp nhúa của gã quét từ chiếc bếp lò đất sét trét rơm vụn còn tươi màu đất mới, lướt qua những chiếc bát sành men da lươn xếp chồng ngay ngắn trên chiếc chạn tre hai tầng, rồi cuối cùng dừng lại trên gương mặt thanh tú, nước da trắng xanh nhưng đôi mắt trong veo, trầm tĩnh lạ thường của Thanh Hà.
“Nghe đâu bến đò sớm nay có kẻ dám ngang nhiên treo tấm biển gỗ bán trà xanh hai văn một bát, kéo cả đám cửu vạn kho than, phu thuyền bến gạo vào tụ tập rôm rả lắm.” Gã ngả người ra sau, chiếc ghế tre con oằn mình kêu răng rắc dưới sức nặng của tấm thân hộ pháp. “Cô em buôn thúng bán mẹt từ xó xỉnh nào dạt về đây, chắc chưa ai dạy cho biết cái lệ bến Vọng Giang này sống bằng gì, buôn bằng gì phải không?”
Thanh Hà không đáp lời ngay. Nàng khẽ buông vạt áo nâu, cúi đầu sửa lại đôi quai guốc gỗ mòn vẹt dưới chân để giấu đi một thoáng suy tính sắc lạnh trong mắt. Khi ngước lên, nàng nhận thấy tên đàn em xăm hình bọ cạp đang liếc mắt nhìn quanh quất, nhòm ngó chiếc hòm gỗ nhỏ kê sâu trong góc chiếc chõng tre—nơi nàng cất vài ba xấp vải thô dự phòng, giấy tờ tùy thân và cuốn sổ tay chép những công thức ướp trà bí truyền mà mẹ nàng để lại trước ngày nhắm mắt.
“Vị khách quan này ghé quán lúc trưa nắng gay gắt, cát bỏng cháy chân, chắc là muốn dùng một bát nước giải khát?” Nàng cất tiếng.
Thanh âm của nàng trong trẻo, mềm mại nhưng rành rọt từng chữ, tròn vành rõ tiếng, tựa như tiếng nước suối trong chảy qua khe đá hoa cương. Hoàn toàn không có lấy một tia run rẩy hay nhút nhát của kẻ cùng đường mạt lộ gặp nạn.
Lại Tam hơi khựng lại. Đôi mắt đỏ ngầu chớp chớp hai cái. Gã vốn đã quen với cảnh những người đàn bà góa buôn thúng bán mẹt, hay những kẻ ngụ cư trốn xâu lậu thuế dạt về bến sông này; hễ thấy bóng dáng gã vác đoản côn bước vào lều là đã hồn xiêu phách lạc, nhẹ thì run như rầy sấy, miệng lắp bắp không nên lời, nặng thì quỳ sụp xuống đất khóc lóc van xin, rồi run rẩy móc từng đồng tiền kẽm giấu tận đáy ruột tượng ra dâng nộp.
Cái vẻ thản nhiên, đĩnh đạc và đôi mắt thẳng thắn của người đàn bà trẻ này khiến gã bất ngờ. Nhưng sự bất ngờ ấy mau chóng biến thành một cơn bực bội âm ỉ, cảm giác uy quyền tuyệt đối của kẻ xưng hùng xưng bá nơi đầu sóng ngọn gió bị coi nhẹ.
“Nước non cái nỗi gì!” Tên đàn em thấp lùn đứng bên mé hiên lập tức quát tháo, bọt mép văng ra khỏi hàm răng sún. “Mở to hai mắt ra mà nhìn xem ai đang ngồi trước mặt mày! Đây là anh Tam, đầu lĩnh coi sóc trật tự bến Vọng Giang này! Bọn tao không rảnh rỗi đến đây để uống thứ nước lã pha mấy cọng lá khô của mày!”
Lại Tam giơ bàn tay thô ráp lên, hất nhẹ một cái ra hiệu cho tên đàn em im miệng. Gã nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống ngay cạnh chân bàn tre, khóe miệng nhếch lên nụ cười gằn, để lộ hàm răng ố vàng khói thuốc:
“Ta nói ngắn gọn, gãy gọn cho cô em dễ hiểu. Bến này là bến mở, thuyền buôn ngược xuôi từ mạn ngược Tuyên Quang về mạn biển Nam Định ngày đêm không dứt. Kẻ ngay thì ít, mà ngữ trộm cắp, giang hồ lục lâm dạt về thì nhiều như bèo tấm mùa lũ lớn. Một thân một mình góa bụa, tha phương cầu thực đến cắm cái lều tranh ở mé nước hẻo lánh này, nếu không có người đứng ra che chắn, liệu nửa đêm có giữ nổi cái chạn bát, hay đến cả cái thân son trẻ này cũng bị lũ say rượu bến than nó kéo xuống đáy lạch làm mồi cho ba ba?”
Gã chống thẳng thanh đoản côn bằng đồng xuống nền đất, nghiêng người về phía trước. Khoảng cách giữa khuôn mặt đầy sẹo của gã và nàng thu hẹp lại, hơi rượu chua nồng nặc phả thẳng vào không khí:
“Mỗi tuần, đúng vào giờ Ngọ ngày phiên chợ chính, nộp đủ năm mươi văn tiền kẽm. Đó gọi là ‘phí giữ yên bến’. Có năm mươi văn ấy của anh Tam này bảo chứng, cô em cứ việc an tâm châm lửa đun trà, bảo đảm từ sáng đến tối không một con ruồi nào dám vo ve quấy nhiễu. Bằng không...”
Gã khẽ liếc mũi đoản côn sang mép cột hiên tre vừa dựng, nụ cười trở nên tàn nhẫn:
“... cái chòi ranh này chỉ cần một que diêm, hoặc một cơn gió sông quẩn thổi tạt qua bếp lửa, là thành tro bụi ngay giữa trưa tròn đấy. Hiểu chưa?”
Năm mươi văn một tuần!
Lồng ngực Thanh Hà khẽ thắt lại. Một con số quá đỗi tàn nhẫn đối với một gánh hàng nước nơi bến nghèo.
Một bát trà xanh đậm đặc nàng bán với giá hai văn, phải chắt chiu từ từng đôi thùng nước nặng trĩu mà nàng gánh từ giếng đá trên gò Thanh Khê về từ lúc trời còn tờ mờ sương, từ từng bó lá trà xanh tươi rói nàng cất công chọn lựa, trừ tiền mua từng bó củi khô đun nước, tiền lá chuối khô lau bát, mỗi bát nước lời chưa đầy nửa văn tiền kẽm. Một tuần năm mươi văn nghĩa là nàng phải bán được hơn một trăm bát nước không công chỉ để nhét vào cái túi tham vô đáy của lũ sâu mọt bến bãi này. Đó không phải là phí giữ yên bờ bến, đó là một sợi dây thừng siết chặt lấy cổ họng nàng, bóp nghẹt mọi hy vọng gom góp tiền bạc để chuộc đứa em trai đang chịu cảnh tôi đòi khốn khổ nơi quê nhà.
Thế nhưng, Thanh Hà không hề biến sắc.
Nàng nhớ như in những đêm mùa đông lạnh buốt thấu xương nơi gian chái sau nhà họ Phạm ở thôn Đoài. Khi ấy, bà mẹ chồng cay nghiệt cùng những kẻ ăn trên ngồi trốc trong họ tộc đã dùng đủ thứ gia quy, lễ giáo cổ hủ và những lời đồn thổi độc địa nhất để dồn ép nàng vào chân tường, ép nàng phải chết mòn trong nhục nhã. Điều duy nhất đã giúp nàng sống sót, giữ vững nhân phẩm để ngẩng cao đầu bước ra khỏi cánh cổng gỗ lim nặng nề ấy, chính là sự tỉnh táo và ranh giới sắc bén của lý lẽ. Người đời chỉ có thể dễ dàng bẻ gãy một cành củi khô giòn rụm hoặc quét phăng một chiếc lá úa rơi rụng; nhưng trước một dòng nước êm đềm đang chảy xiết, dẫu có vung lưỡi đao sắc bén nhất chém xuống thì nước vẫn cứ trôi, chẳng để lại lấy một vết sẹo thương tổn.
Nàng điềm đạm bước lại gần chiếc chõng tre, đưa tay cầm lấy một chiếc bát sành sạch tinh tươm. Bàn tay nàng vững vàng nghiêng bầu gốm mộc, rót ra một bát nước giếng đá Thanh Khê mát lạnh, nước trong vắt như mắt mèo mùa thu. Động tác của nàng thong thả, uyển chuyển và chuẩn xác đến từng cử chỉ nhỏ, tà áo nâu rủ xuống kín đáo che đi hơi thở đang nén lại trong lồng ngực.
Thanh Hà bưng bát nước bằng cả hai tay, bước tới chiếc bàn tre, nhẹ nhàng đặt xuống trước mặt Lại Tam. Mặt nước trong bát chỉ khẽ lay động một vòng sóng gợn lăn tăn rồi lập tức phẳng lặng như gương soi, không sánh ra ngoài dù chỉ là một giọt nhỏ.
“Trưa nắng oi ả, cát bỏng cháy chân, xin mời khách quan uống một bát nước mát của giếng gò Thanh Khê cho hạ hỏa.” Nàng bình thản nhìn thẳng vào đôi mắt vằn vện tơ máu của Lại Tam, thanh âm đều đặn như nhịp mái chèo khua trên sóng phẳng: “Còn về khoản ‘phí giữ yên bến’ năm mươi văn mà ngài vừa dạy bảo... xin cho tiện thiếp được hỏi rõ một điều.”
Lại Tam nheo mắt lại, bàn tay nắm đoản côn đồng thau hơi siết chặt:
“Hỏi cái gì? Có tiền thì nộp, không tiền thì dọn xới, việc gì phải rườm lời?”
“Tiện thiếp mới dạt về bến này hôm qua, phận đàn bà buôn bán nhỏ nhưng trước sau đều làm việc theo đúng phép tắc của triều đình và hương ước bản xứ.” Thanh Hà chỉ tay về phía chiếc khung liếp cạnh cửa lều, nơi nàng dùng bốn chiếc đinh tre ghim cẩn thận tờ khế ước thuê đất có chữ ký của người làm chứng: “Sáng hôm qua, trước mặt hai người buôn cá lâu năm nơi bến này là bác Trần Nhị và bác Trương Lão Ngũ, đích thân Đào phường bảo đã tra xét kỹ lưỡng tờ hộ thiếp do chính tay lý trưởng xã Nam Kiều cấp cho tiện thiếp. Thiếp đã nộp đủ hai trăm văn tiền thuê mảnh đất dựng lều và tiền bảo chứng nửa năm, lại nộp thêm năm mươi văn tiền dọn dẹp bến bãi có ghi rõ ràng vào sổ thu của phường bến. Lúc giao giấy, chính miệng Đào phường bảo đã căn dặn rành rọt: quán trà cố định bên mé bến chỉ phải nộp thuế môn bài hàng tháng theo lệ chung, và phí bến bãi nộp một lần cho người của phường có thẻ bài.”
Nàng dừng lại một nhịp, ánh mắt trong trẻo mà sắc bén như lưỡi dao thép chiếu thẳng vào khuôn mặt thô kệch, đầy vết sẹo của tên đầu gấu:
“Người đi thu phí hợp lệ của bến đò Vọng Giang xưa nay đều phải mang theo thẻ bài bằng đồng có khắc dấu của phường bến đeo bên hông, và khi nhận tiền đồng đều phải trao lại biên nhận có triện đỏ của huyện nha Thanh Lâm cấp xuống. Tiện thiếp phận đàn bà góa tha hương, vốn ít hiểu việc đời, xin hỏi Lại Tam gia đây thu tiền cho phường bến hay cho nha môn? Thẻ bài của ngài để ở đâu, và biên nhận triện đỏ ngài đã mang theo sẵn hay chưa để tiện thiếp chuẩn bị tiền nộp?”
Gian lều bỗng chốc rơi vào một khoảng im lặng đến rợn người.
Gió sông Vọng Giang ngoài bãi bồi thổi qua rặng sậy khô xào xạc, từng đợt sóng vỗ oàm oạp vào chân cầu tàu bằng cọc tre xa xa. Trong quán, chỉ còn lại tiếng nước sôi ùng ục trong chiếc ấm đất nung nơi góc bếp phả ra từng luồng khói trắng mỏng manh. Tên đàn em xăm hình bọ cạp sững sờ há hốc mồm, chiếc dùi sắt xăm gạo cầm trên tay rũ xuống, ngơ ngác đưa mắt nhìn Lại Tam; còn tên đàn em thấp lùn thì nụ cười trâng tráo nhăn nhở bỗng chốc đông cứng lại trên khuôn mặt hóp ráp, tròng mắt đảo liên hồi.
Từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ, đám lục lâm cò bến bọn chúng đi vòi tiền bảo kê, chỉ cần vác cái mặt câng câng đến, đập khúc đoản côn hay thanh mã tấu xuống bàn là đám tiểu thương hay phu phen đã run rẩy như cầy sấy. Kẻ nào khôn ngoan thì van lạy xin bớt một đôi đồng rồi răm rắp dâng nộp, kẻ nào cứng đầu thì ăn vài cái bạt tai là ngoan ngoãn móc túi. Chưa từng có một ai—huống chi lại là một đứa đàn bà nứt mắt, một góa phụ thân cô thế cô vừa chân ướt chân ráo dạt đến mé bến sình lầy này—dám mở miệng hỏi đến thẻ bài của phường bến, lại còn dõng dạc đòi xem biên nhận đóng dấu triện đỏ của quan huyện nha Thanh Lâm!
Mặt Lại Tam thoạt tiên tím tái lại vì nghẹn lời, từng thớ thịt trên gò má giật giật, rồi nhanh chóng chuyển sang màu đỏ gắt như mào gà chọi khi vào trận. Gã cảm thấy từng lời, từng chữ của Thanh Hà như những cái tát kín đáo nhưng bỏng rát giáng thẳng vào bản mặt gã trước sự chứng kiến của hai tên đàn em thân tín.
“Ha... ha ha! Hay! Khá khen cho một con góa phụ mồm mép tép nhảy!”
Lại Tam ngửa cổ cười sằng sặc, nhưng tiếng cười khô khốc, đượm đầy vẻ hung bạo và nhục nhã. Bất thình lình, gã vung mạnh cánh tay hộ pháp, hất văng chiếc bát sành trên bàn. Bát nước giếng đá trong vắt đổ ụp xuống mặt tre, dòng nước tràn qua mép bàn, chảy ròng ròng xuống lớp tro trấu dưới nền đất. Chiếc bát sành rơi xuống đất nhưng may mắn trúng vào bao trấu mềm nên chỉ lăn lông lốc một vòng mà không vỡ.
“Thẻ bài? Triện đỏ huyện nha?” Gã chồm cả nửa thân mình qua mặt bàn, ghé sát bộ mặt đầy vết sẹo vào nàng, phả hơi rượu nồng nặc và mùi thuốc lào ngột ngạt vào không khí: “Mày đem mấy thứ giấy lộn mục rỗng ấy ra dọa ai thế hả con ranh? Mày tưởng mày dấm dúi được với lão Đào Văn Kính mấy đồng tiền còm, cầm được cái mảnh giấy có chữ ký của lão là mày yên ổn cắm dùi kiếm ăn ở cái bến này à? Để tao nói cho mày biết, quan huyện nha Thanh Lâm thì ngồi tít trên phố huyện cách đây mười dặm, Đào phường bảo thì cả ngày say mướt bên mé chiếu bạc chợ Tây, còn ở cái bãi sình lầy Vọng Giang này, lời của Lại Tam tao chính là luật!”
Gã giơ ngón tay trỏ đen đúa, móng tay cáu bẩn chỉ thẳng vào chóp mũi Thanh Hà, gằn từng tiếng rít qua kẽ răng vàng ệch:
“Tao biết thừa gốc tích nhơ nhớp của mày rồi! Con dâu bất tường bị nhà họ Phạm thôn Đoài tống cổ ra đường giữa đêm đông, không chốn dung thân mới phải vác xác trôi dạt ra đây kiếm miếng cơm thừa canh cặn của đám cửu vạn! Mày tưởng mày sạch sẽ, danh giá lắm đấy phỏng? Tao nói cho mày hay, nếu hôm nay mày không móc đủ năm mươi văn tiền ‘phí giữ yên bến’ đặt lên cái bàn này, thì từ ngày mai, tao thách cả họ nhà mày bán nổi một gáo nước chè trên cái bến sông này!”
Tên xăm bọ cạp đứng cạnh lập tức phụ họa, gã rút chiếc dùi sắt gõ mạnh vào cột tre nghe chan chát:
“Đúng thế! Bọn tao chỉ cần đứng đầu dốc rỉ tai mấy câu, bảo quán này dùng nước sông chết trôi để nấu trà, bảo mày có dớp sát phu hại người, xem còn thằng khách buôn nào, thằng phu thuyền nào dám thò chân vào đây nữa không! Khách qua đò nào lén bước chân vào, bọn tao đánh cho què giò vỡ gáo!”
“Không chỉ có thế đâu,” Lại Tam cười khẩy, hạ giọng xuống thì thầm đầy vẻ hiểm độc, “Đêm hôm thanh vắng mé sông này lắm lau sậy khô khan, lỡ có tàn lửa bay lạc làm cháy rụi cái lều tranh, hay cái lu nước ngọt mày cất công gánh từ gò về bỗng dưng nổi váng dầu hôi cá chết... thì lúc ấy đừng có chạy đi tìm Đào Văn Kính mà khóc lóc! Nghe rõ chưa con ranh?”
Nghe Lại Tam nhắc đến việc mình bị nhà họ Phạm thôn Đoài đuổi đi, trong sâu thẳm đáy mắt Thanh Hà khẽ gợn lên một tia buốt nhói. Ký ức về đêm mưa lạnh buốt, tiếng then cài cổng sập lại sau lưng và những lời nguyền rủa cay nghiệt của mụ mẹ chồng như một vết thương cũ vừa bị cào rách miệng. Chuyện nàng rời khỏi thôn Đoài dẫu nàng đã giữ kín như bưng, nhưng chốn thôn quê bến bãi, miệng lười thế gian độc địa hơn nọc rắn, tin đồn từ buổi chợ phiên lan ra bến sông chỉ mất chừng nửa buổi đò. Tên đầu gấu này nghĩ rằng đem nỗi nhục nhã của một góa phụ bị trục xuất ra để chèn ép sẽ bẻ gãy được ý chí của nàng, khiến nàng hổ thẹn, suy sụp mà ngoan ngoãn khuất phục.
Nhưng gã đã lầm to.
Chính khoảnh khắc nàng bước qua ngưỡng cửa gỗ lim kiên cố của nhà họ Phạm, dứt khoát vứt bỏ lại sau lưng danh phận hão huyền cùng những lời gièm pha độc địa để đổi lấy một mảnh trời tự do tự tại, nàng đã thề với vong linh người mẹ quá cố rằng: trên cõi đời này, không bao giờ nàng để bất kỳ ai dùng miệng lưỡi hay sự đe dọa bạo lực bắt nàng phải cúi đầu thêm một lần nào nữa!
Thanh Hà không lùi bước lấy nửa phân. Nàng cũng chẳng buồn nhìn bát nước giếng đang chảy tràn trên mặt bàn. Đôi mắt nàng phẳng lặng như mặt hồ không đáy, nhìn thẳng vào cặp mắt vằn đỏ của Lại Tam—một cái nhìn bình thản, kiên định đến mức khiến chính gã giang hồ bến bãi lọc lõi phải chột dạ, bất giác dời ánh nhìn đi nửa tấc.
“Ra là vậy.” Nàng khẽ gật đầu, giọng nói nàng hạ thấp xuống nhưng đanh gọn lạ thường. “Tam gia nói lời ngài chính là luật lệ của bến này. Tiện thiếp đã hiểu rõ ngọn ngành rồi.”
Nói đoạn, Thanh Hà thong thả quay người, bước về phía chiếc chõng tre kê sát sàn gỗ cao ráo ở góc lều.
Ba tên côn đồ trố mắt nhìn theo từng cử động của nàng. Tên xăm bọ cạp nhếch mép cười đắc thắng, khẽ huých cùi chỏ vào sườn tên lùn; chúng ngỡ rằng con góa phụ cứng đầu này rốt cuộc đã biết sợ chiếc đoản côn bịt sắt, nay đang lục lọi túi tiền giấu kín để mang ra nộp mạng xin tha. Lại Tam cũng hơi ưỡn ngực, bàn tay nới lỏng khúc đoản côn gác ngang đùi, khóe môi nở nụ cười ngạo nghễ của kẻ vừa dùng nanh vuốt khuất phục được con mồi.
Thế nhưng, Thanh Hà không hề chạm tay vào chiếc túi vải đựng tiền kẽm vụn treo bên hông phản.
Nàng cúi người xuống chiếc giỏ mây nhỏ, cẩn thận lấy ra một cuốn sổ tay đóng bằng giấy bổi thô ráp—thứ giấy làm từ vỏ cây dó màu vàng ngà, dai, đượm mực và để trăm năm không mục nát. Cùng với cuốn sổ là một chiếc nghiên đá nhỏ mài tròn nhẵn thín và một thỏi mực tàu đen nhánh có khắc chìm hình hoa mai.
Thanh Hà cầm những thứ ấy bước trở lại chiếc bàn tre. Nàng kéo nhẹ chiếc ghế gỗ thấp, ngồi xuống ngay ngắn đối diện với Lại Tam. Động tác của nàng khoan thai, rành mạch và chững chạc đến mức toát ra một thứ phong thái tôn nghiêm kỳ lạ, hoàn toàn tương phản với vẻ nhớp nhúa, xốc xếch của ba gã đàn ông trước mặt.
Nàng nghiêng chiếc ấm sành, nhỏ vài giọt nước nóng vào lòng nghiên đá sâu hoắm. Bàn tay búp măng trắng trẻo cầm thỏi mực tàu, bắt đầu mài từng vòng tròn đều đặn, nhịp nhàng. Tiếng thỏi mực miết trên mặt đá phát ra âm thanh sột soạt, sột soạt khe khẽ nhưng rành rọt giữa không gian tĩnh lặng, nghe như tiếng kim châm vào bầu không khí đang căng thẳng tột độ. Mùi mực nho ngai ngái, thanh tao và trang nhã dần dần lan tỏa trong gian lều tranh, từng chút một lấn át đi mùi rượu cặn chua loét và mùi thuốc lào ngột ngạt.
“Mày... con ranh này, mày làm cái trò phù phép gì đấy?” Lại Tam nhíu mày, chòm râu quai nón giật giật liên hồi, giọng gã bắt đầu mất đi vẻ tự tin ngang tàng ban nãy.
Thanh Hà không ngẩng đầu lên. Nàng lật mở trang giấy bổi còn trắng tinh, khẽ chấm ngọn bút lông thỏ vào nghiên mực đã sánh đặc một màu đen bóng. Nàng nâng cổ tay, bắt đầu nắn nót viết từng dòng chữ chân phương, vuông vắn và sắc nét:
“Năm thứ mười lăm niên hiệu Cảnh Hòa, tháng Ba, ngày hăm chín, giờ Ngọ. Tại quán trà mé đông bến đò Vọng Giang, huyện Thanh Lâm.”
Nàng vừa viết, miệng vừa đọc rành rọt từng chữ bằng một giọng nói trong vắt, vang vọng khắp gian lều:
“Lại Tam, tự xưng là anh Tam coi sóc trật tự bến, cùng hai người dưới trướng mang theo đoản côn bịt sắt và dùi nhọn xông vào quán đập bàn thị uy. Đòi thu tiền ‘phí giữ yên bến’ mỗi tuần năm mươi văn tiền kẽm. Người thu không xuất trình được thẻ bài của phường bến, không có biên nhận đóng dấu triện đỏ của huyện nha Thanh Lâm. Đe dọa nếu không nộp sẽ rẽ khách, hất nước thiu, đốt lều và gây sự ban đêm.”
Từng nét chữ đen nhánh, rành mạch như khắc vào thớ giấy bổi hiện ra rõ mồn một dưới ngòi bút lông thỏ.
Hai tên đàn em vốn dốt đặc cán mai, nhìn thấy những nét chữ sắc sảo như rồng bay phượng múa thì hoa cả mắt, mặt mày ngơ ngác, nhưng nỗi sợ hãi mơ hồ lập tức ùa về trong tâm trí chúng. Ở chốn bến sông này, người ta có thể chửi bới, có thể dùng đao kiếm đánh nhau sứt đầu mẻ trán rồi hòa giải qua loa; nhưng thứ mà những kẻ hạ lưu sống ngoài vòng pháp luật sợ hãi nhất, chính là chữ trắng mực đen rành rành không thể chối cãi.
“Con ranh góa phụ! Mày muốn tìm đường chết hả?” Tên xăm bọ cạp bỗng nổi khùng, gã chồm người tới định giật lấy cuốn sổ trên bàn, nhưng Lại Tam đã vội vã vung thanh đoản côn ra chặn ngang ngực tên đàn em lại.
Gương mặt Lại Tam lúc này đã chuyển từ đỏ gay sang trắng bệch. Gã là một con cáo già nơi bến bãi, chuyên kiếm ăn bằng nghề cò mồi và bắt chẹt những đồng tiền vụn vặt ở cái vùng xám nhập nhằng giữa luật lệ và thói đời. Gã hiểu rất rõ cái lằn ranh mong manh bảo vệ tính mạng của mình: gã chỉ có thể dọa nạt, bắt chẹt những kẻ nhút nhát, sợ phiền phức mà chịu ngậm bồ hòn làm ngọt; tuyệt đối không bao giờ gã dám để những trò bẩn thỉu này biến thành giấy trắng mực đen, thành đơn từ kiện cáo đưa lên cửa nha môn!
Huyện nha Thanh Lâm vốn dĩ là một nơi coi trọng thương vụ đường thủy và trật tự thuế khóa. Đương kim thư lại Vũ Chính An nổi tiếng khắp trấn là người thiết diện vô tư, nguyên tắc đến mức khắc nghiệt; chỉ cần có bằng chứng sổ sách, ngày giờ rành mạch đưa lên bàn giấy là ông ta sẵn sàng sai lính cơ áp giải ngay kẻ lộng hành về huyện đường tra xét đến cùng. Nếu cái trò tống tiền trái lệ này bị vỡ lở ra huyện, không những cái chén cơm bến bãi của gã bị đập vỡ tan tành, mà ngay cả Đào phường bảo—kẻ bấy lâu nay nhận tiền lót tay để nhắm mắt làm ngơ cho gã kiếm chác—cũng sẽ không ngần ngại vung tay thí tốt, tống cổ gã vào ngục để giữ yên cái ghế của lão!
“Mày... mày viết cái thứ đó ra để làm cái gì?” Lại Tam gằn giọng, bàn tay nắm đoản côn đồng đã rịn ra một lớp mồ hôi nhờn nhẫy.
Thanh Hà dừng bút. Nàng nhẹ nhàng nâng cuốn sổ lên, ghé miệng thổi khẽ một hơi cho lớp mực đen mau khô, rồi ngẩng đầu nhìn thẳng vào đôi mắt đang dao động dữ dội của gã:
“Tiện thiếp ghi chép cẩn thận để làm chứng cứ đối chất. Đào phường bảo là người đứng tên ký khế ước cho thiếp thuê mảnh đất này, ông ấy chịu trách nhiệm trực tiếp về an ninh trật tự của bến đò trước mặt quan nha huyện Thanh Lâm. Chiều nay, sau khi đóng cửa quán trà, tiện thiếp sẽ mang cuốn sổ này, chữ trắng mực đen ngày giờ rõ ràng, lên tận tư gia của Đào phường bảo để hỏi cho ra nhẽ.”
Nàng đặt cuốn sổ trở lại mặt bàn tre, giọng nói nhẹ như gió thoảng nhưng từng lời từng chữ nặng tựa bàn thạch giáng xuống:
“Nếu Đào phường bảo xác nhận bến Vọng Giang này thực sự có cái lệ thu năm mươi văn một tuần, và Lại Tam gia đây đúng là người được nha môn ủy quyền đi thu tiền mà không cần thẻ bài hay biên nhận có triện đỏ, tiện thiếp xin lập tức dâng đủ năm mươi văn tiền kẽm, không thiếu nửa đồng. Bằng như Đào phường bảo nói không có lệ ấy, thiếp sẽ xin ông ấy cùng ký tên điểm chỉ vào trang sổ này, rồi đích thân tiện thiếp sẽ mang cuốn sổ lên thẳng huyện nha Thanh Lâm, gõ cửa công đường của Vũ thư lại, xin quan trên giải thích cho một người dân buôn bán nhỏ như thiếp hiểu tường tận: khoản ‘phí giữ yên bến’ này rốt cuộc là phép nước của triều đình Cảnh Hòa, hay là tội danh ức hiếp dân lành, cướp đoạt tài sản trái lệ?”
“Mày...”
Lại Tam cắn chặt hai hàm răng vào nhau nghe ken két, cơ thịt trên mặt co giật liên hồi như người trúng gió. Gã nhìn trừng trừng vào từng dòng chữ mực tàu đen nhánh trên trang giấy bổi, rồi lại nhìn vào đôi mắt sâu thẳm, tĩnh lặng không một gợn sóng sợ hãi của người đàn bà góa.
Gã biết hôm nay mình đã đụng phải một tảng đá ngầm sắc nhọn dưới đáy nước xoáy. Con góa phụ này không chỉ biết chữ nghĩa thánh hiền, mà còn am hiểu quy củ, biết rõ từng ngóc ngách của luật lệ và điểm yếu chết người của đám sâu bọ bến bãi bọn gã hơn bất kỳ một tên lái buôn lọc lõi nào.
Nàng không hề làm ầm ĩ để gã có cớ đập phá quán xá, cũng không khóc lóc van xin để gã được đà lấn tới. Nàng dùng chính thứ luật lệ mà gã sợ nhất, dùng chính chiếc thòng lọng quan nha để trói chặt tay chân gã lại.
“Mẹ kiếp!”
Không tài nào nuốt trôi được cơn giận dữ ngút trời và nỗi bẽ bàng cay đắng trước mặt hai tên đàn em, Lại Tam vùng dậy như một con thú hoang bị sập bẫy. Gã vung chân đạp mạnh một cái trút giận. Chiếc ghế tre con văng mạnh ra xa, va đập vào vách liếp nứa rồi ngã lăn lóc xuống đất bùn ẩm, gãy mất một chiếc nan giằng ngang phát ra tiếng rắc thảm hại.
“Được! Khá lắm! Rất được!” Gã nghiến răng trèo trẹo, dùng đầu đoản côn đồng thau chỉ thẳng vào mặt Thanh Hà, gầm lên như sấm rền: “Con ranh góa phụ họ Liễu, mày cứ việc ôm lấy cái cuốn sổ rách ấy mà bú chân quan huyện! Để rồi xem cái quán trà hai văn này của mày mở mắt ra mà đón khách được mấy ngày trên cái bến sông này! Chúng mày, đi!”
Dứt lời, Lại Tam hằn học quay ngoắt người, sầm sập sải những bước chân nặng nề bước ra khỏi lều. Hai tên đàn em vội vã lủi thủi chạy theo sau như hai con chó cụp đuôi, nhưng trước khi khuất bóng, chúng không quên ngoái đầu lại, ném về phía Thanh Hà những ánh nhìn hằn học, cay độc đầy hứa hẹn về những đòn thù đen tối.
Bóng ba kẻ hung hãn vừa khuất sau rặng sậy mé nam bến bãi, gian lều tranh bỗng chốc chìm vào một khoảng thinh lặng tuyệt đối.
Lúc này, ngọn bút lông thỏ trên tay Thanh Hà mới khẽ run lên bần bật. Nàng từ từ buông ngọn bút xuống mặt nghiên đá, hai bàn tay mảnh dẻ đan chặt vào nhau đặt trên mặt bàn tre thô ráp. Lồng ngực nàng phập phồng, hơi thở có chút dồn dập và gấp gáp. Dù bề ngoài có tỏ ra cứng cỏi, kiên định và lạnh lùng đến đâu, nàng rốt cuộc cũng chỉ là một người phụ nữ vừa tròn đôi mươi, vừa trải qua bao biến cố tan cửa nát nhà, một thân một mình nơi đất khách quê người phải đối mặt với lũ giang hồ bặm trợn quen thói đâm thuê chém mướn. Nỗi sợ hãi bản năng của một con người bằng xương bằng thịt là có thật, nhưng chính ý chí kiên cường không cam chịu bị chà đạp đã giúp nàng đứng vững như một ngọn phi lao trước gió bão.
Nàng nhắm nghiền đôi mắt lại trong một thoáng, hít sâu hương trà ấm nồng còn vương vấn trong làn khói mỏng, cảm nhận sự vững chãi của nền đất nện dưới gót chân mình. Nàng không làm gì sai cả. Nàng không hề nhượng bộ một bước nào trước sự bất công tàn bạo.
“Cô bé... làm tốt lắm, nhưng cũng liều lĩnh vô cùng thay!”
Một giọng nói trầm đục, vang ấm bất ngờ cất lên từ ngoài hiên tre.
Thanh Hà mở mắt, nhìn ra mé cửa. Lão lái đò Từ Bá đang sải từng bước chân vững chãi bước lên từ bờ dốc bến sông. Trên vai lão vắt chiếc khăn vải bố đã ố màu vàng của nước sông phù sa, ống quần nâu xắn cao quá gối để lộ hai bắp chân gân guốc, đen nhánh dính đầy bùn non chưa kịp ráo. Đôi mắt từng trải của lão nhìn chiếc ghế tre gãy nan nằm lăn lóc nơi góc lều, rồi nhìn cuốn sổ giấy bổi còn ướt mực trên bàn, trong đáy mắt ánh lên một tia thán phục kín đáo nhưng cũng đượm đầy nỗi âu lo trĩu nặng.
Lão bước vào quán, cúi người nhặt chiếc ghế tre bị đạp đổ lên, lấy tay nắn lại chiếc nan giằng bị gãy rồi cẩn thận kê nó lại ngay ngắn cạnh mép bàn tre.
“Bác Từ...” Thanh Hà khẽ cất tiếng, vội vàng đứng dậy định đi lấy bát sành rót nước mời lão.
“Ngồi yên đấy, đừng bận tâm.” Từ Bá xua tay, kéo chiếc ghế tre vừa dựng ngồi xuống đối diện nàng. Lão thở dài một hơi dài thượt, ánh mắt xa xăm nhìn ra khúc sông Vọng Giang đang cuộn sóng lấp lánh dưới ánh nắng trưa gay gắt: “Lúc nãy lão vừa neo xong đò sau chuyến khách chợ trưa, bước chân lên dốc thì thấy bóng ba thằng súc sinh ấy xộc vào lều của cô bé. Lão toan vác mái chèo bước vào can thiệp ngay, nhưng đứng ngoài vách liếp nghe thấy từng lời cô bé đối đáp đĩnh đạc với thằng Tam... lão thấy mình không cần phải vội vã vào làm hỏng việc. Cô bé có lá gan lớn, lại có cái đầu tỉnh táo hơn khối thằng đàn ông lực điền ở cái bến này.”
“Cháu đội ơn bác Từ đã đoái thương.” Thanh Hà khẽ mỉm cười cay đắng, khóe môi khẽ run: “Cháu chỉ nghĩ giản đơn... nếu hôm nay cháu nhượng bộ, nộp cho hắn năm mươi văn, thì tuần sau hắn sẽ đòi lên một trăm văn, rồi sau nữa hắn sẽ coi cái quán nhỏ này là nơi hắn muốn vòi vĩnh lúc nào cũng được. Cháu chẳng có tiền để nộp, mà dẫu có cắn răng nộp đi chăng nữa, cũng chẳng bao giờ đổi lại được sự yên ổn thực sự nơi chốn này.”
“Lời ấy của cô bé chí phải lắm!” Từ Bá gật gù, ngón tay gõ nhịp nhẹ lên mặt bàn tre. “Thằng Lại Tam ấy, lão biết mặt nó từ thuở nó còn là một đứa trẻ cởi truồng đi mót cá chết ở bãi bồi ven sông. Mẹ nó ngày xưa là một người đàn bà hiền lành khốn khổ, mùa nước lũ lớn năm Canh Thìn suýt nữa trôi sông chết đuối nếu lão không kịp vung đò vớt lên. Nó mang ơn lão chuyện ấy từ thuở nhỏ, nên ở cái bến Vọng Giang này nó còn nể mặt lão già này ba phần, không dám làm càn làm bậy ngay trước mắt lão. Nhưng bản tính thằng này khôn lỏi, lười lao động nặng nhọc, lại quen thói tụ tập đám du thủ du thực đi bắt nạt người ngụ cư yếu thế để kiếm tiền ăn nhậu tối ngày. Cô bé dùng phép nước của triều đình, dùng sổ sách giấy mực và cái tên của Đào phường bảo chặn họng nó là một nước cờ cực kỳ cao tay, đánh trúng ngay vào cái thóp sợ quan nha của nó.”
Nói đến đây, nét mặt già nua của Từ Bá bỗng chùng xuống, đôi mày rậm bạc phếch nhíu chặt lại, tạo thành những nếp nhăn sâu hoắm trên vầng trán phong sương:
“Thế nhưng, Thanh Hà này, lão già này phải dặn dò cô bé điều này cho thật kỹ. Đám cò bến như lũ rệp rúc trong kẽ chiếu rách, giết không hết mà xua đuổi thì dai như đỉa đói. Thằng Tam hôm nay bị cô bé làm bẽ mặt cay đắng trước đàn em, lại vướng vào cuốn sổ ghi chép ngày giờ kia, nó tuyệt đối không dám công khai vác hung khí đến đập phá quán hay đánh người đâu. Huyện nha Thanh Lâm dạo này đang siết chặt lệ phí bến bãi, Đào phường bảo cũng đang muốn giữ yên bến để ăn nói với các quan trên phố huyện, thằng Tam không ngu dại gì thò cổ ra cho người ta chém đầu.”
“Ý bác là... chúng sẽ dùng những thủ đoạn ngầm bẩn thỉu?” Thanh Hà khẽ hỏi, lòng nàng chùng xuống theo từng lời lão lái đò.
“Đúng thế, không sai một ly.” Từ Bá nghiêm giọng, ánh mắt nhìn thẳng vào nàng đầy vẻ ân cần của một bậc cha chú trong nhà: “Chúng sẽ dùng những ngón đòn bẩn thỉu, hèn hạ sau lưng. Chúng sẽ chia nhau đứng ở các đầu cầu tàu, ngã ba dốc bến nơi khách lên xuống, rỉ tai khách thương và phu thuyền rằng nước quán này múc từ sông bẩn, rằng cô bé góa bụa mang lại điềm gở xú quẩy cho người đi sông nước. Chúng sẽ ép các chủ thuyền quen, các chủ kho than kho gạo cấm tiệt đám phu phen không được ghé chân vào quán cô bé, rẽ hết khách sang mấy quán nước mé chợ Tây hoặc quán lớn bên kia sông. Khách buôn lạ đường nghe dọa dẫm sẽ đâm sợ mà tránh xa như tránh tà. Nước trà của cô bé dẫu có ngon đến mấy, bếp lò có đỏ lửa suốt ngày đêm mà không có một bóng người bước chân vào quán uống nước, thì tự khắc cô bé sẽ kiệt sức vì tiền thuê lều, tiền củi lửa mà phải tự động cuốn gói bỏ đi. Đó mới chính là ngón đòn hiểm độc, thâm sâu nhất của loài sâu bọ bến bãi.”
Những lời phân tích cặn kẽ của Từ Bá như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào sự nhẹ nhõm vừa chớm nở trong lòng Thanh Hà, nhưng đồng thời nó cũng thắp lên trong nàng một sự tỉnh táo sâu sắc hơn về thế thái nhân tình nơi bến bãi sông nước.
Đúng vậy, buôn bán nơi đầu sóng ngọn gió này đâu chỉ đơn thuần là việc pha được một ấm trà ngon, làm được một mẻ bánh khéo. Đó là một cuộc chiến dai dẳng và khốc liệt để giành giật lấy sự sống, giành lấy sự tin cậy của người đời, để cắm rễ thật sâu vào mảnh phù sa này bằng chính sự kiên cường, lòng chính trực và bản lĩnh kiên gan.
“Cháu hiểu cặn kẽ rồi, bác Từ.” Thanh Hà khẽ gật đầu, ánh mắt nàng ánh lên vẻ kiên định vững vàng như đá tảng ngâm dưới đáy sông. “Nước trà của cháu nấu bằng nước giếng đá Thanh Khê ngọt mát, búp trà sạch phơi sương, giá cả hai văn công khai niêm yết rõ ràng không lừa dối ai. Người lao động, phu thuyền hay khách buôn, họ kiếm từng đồng tiền bằng mồ hôi nước mắt cực nhọc, họ sẽ tự khắc phân biệt được đâu là bát nước thanh mát, đâu là sự tử tế thật lòng. Lại Tam có thể cản được người lạ đôi ba ngày, nhưng hắn không tài nào bịt mắt, bịt tai được tất cả mọi người mãi mãi.”
Từ Bá nhìn sâu vào gương mặt thanh tú mà kiên nghị của cô gái trẻ, trong lòng lão dâng lên một nỗi cảm phục sâu xa. Lão cười khà khà, vỗ mạnh bàn tay gân guốc xuống mặt bàn tre một cái nghe giòn giã:
“Khá lắm! Rất khá! Có chí khí và bản lĩnh như thế thì sóng to gió lớn bến Vọng Giang này mới không vùi dập nổi cô bé! Thôi, đun lại ấm nước đi. Lão uống xong bát trà xanh này còn phải vác chèo đi chuyến đò chiều đưa mấy lái buôn gốm Phù Lãng sang sông cho kịp phiên chợ. Cứ vững lòng mà làm ăn, có lão già này ở cái bến này, lão sẽ nói một lời công đạo cho cô bé với đám anh em trong hội lái đò!”
“Dạ, cháu đội ơn bác nhiều lắm!”
Thanh Hà mỉm cười, cảm thấy một luồng hơi ấm xua tan đi sự lạnh lẽo trong lòng. Nàng vội vã chạy lại bên bếp lò, châm thêm mấy thanh củi khô đượm lửa, cẩn thận tráng lại chiếc bát men da lươn bằng nước sôi sùng sục rồi rót một bát trà xanh bốc khói nghi ngút, thơm ngát hương cốm non dâng lên hai tay lão lái đò tốt bụng.
Sau khi Từ Bá uống cạn bát trà ấm, đặt hai đồng tiền kẽm tròn trịa lên mặt bàn tre rồi sải bước quay trở lại bến đò tiếp tục công việc chèo chống, quán trà nhỏ lại trở về với sự tĩnh lặng của buổi trưa muộn.
Nắng chiều bắt đầu ngả dần về hướng tây, rải một lớp bụi vàng óng ả lên mặt nước sông Vọng Giang đang lững lờ trôi xuôi. Gió sông thổi lồng lộng qua gian lều tranh, cuốn theo vị ngai ngái nồng nàn của bùn phù sa và mùi hoa bèo tím trôi dạt dập dềnh ven bờ bãi.
Thanh Hà thu dọn chiếc bát của Từ Bá, dùng mảnh vải sạch lau khô những vệt nước vung vãi trên mặt bàn tre. Nàng cầm lấy cuốn sổ giấy bổi thô ráp, lật lại trang giấy vừa ghi ban nãy. Từng nét mực đen nhánh đã khô cong, sắc sảo và rõ ràng: tên Lại Tam, con số năm mươi văn tiền đòi trái lệ, cùng ngày giờ chuẩn xác không sai một khắc.
Nàng bước lại góc phản gỗ, cẩn thận mở chiếc rương gỗ nhỏ—nơi nàng cất giữ tờ khế ước thuê đất và cuốn sổ tay chép những công thức ướp trà gia truyền của mẹ—rồi đặt cuốn sổ giấy bổi xuống tận đáy hòm, đậy nắp lại và gài chặt chiếc then gỗ mun. Đây sẽ là thứ vũ khí hộ thân vô giá của nàng, một chứng cứ bằng giấy trắng mực đen mà một ngày nào đó sẽ buộc những kẻ lộng hành nơi bến bãi phải trả giá trước công lý và luật pháp.
Cảm thấy lòng mình đã bình tâm trở lại sau cơn sóng gió đầu tiên, Thanh Hà quay ra phía chái bếp nhỏ mé sau lều để kiểm tra lu nước giếng đá Thanh Khê. Nàng định bụng sẽ cọ rửa lại chiếc chõng tre cho sạch bụi cát và xếp lại ít củi khô dự trữ cho buổi sáng mai.
Thế nhưng, vừa bước chân tới gần góc đặt chiếc lu sành phủ lớp vỉ buồm ẩm ướt, bước chân nàng bỗng khựng lại.
Dưới nền đất nện ẩm ướt cạnh chân lu sành, có thứ gì đó là lạ. Nàng cúi thấp người nhìn xuống: trên lớp đất xám là những mảnh vụn bánh khô vương vãi lả tả—những mảnh bánh vụn của chiếc bánh kê mà sáng nay nàng bẻ dở một nửa để ăn lót dạ rồi để tạm trong chiếc rổ tre treo trên chiếc cột góc lều.
Chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra thì bất chợt, từ khoảng tối sâu hun hút dưới gầm chiếc bàn tre kê sát vách đất, một tiếng sột soạt khe khẽ vang lên.
Mảnh vụn bánh khô vương vãi cạnh lu nước và tiếng sột soạt dưới gầm bàn khiến Thanh Hà giật mình thót tim.