Quán Trà Bên Bến ĐòCh.1 / 34
Chapter 1

Một mái lều cuối xuân

Liễu Thanh Hà đứng ở mé đông bến đò Vọng Giang trong chiều cuối xuân ẩm ướt, bàn tay giấu sâu trong vạt áo kép siết chặt chiếc túi tiền nhỏ bằng vải thô nhuộm củ nâu—chút bạc vụn còn sót lại sau khi nàng lén đem bán chiếc trâm cài bằng bạc nạm ngọc giả trong hòm của hồi môn trước ngày bước chân dứt khoát ra khỏi cánh cổng son nhà họ Phạm.

Gió từ mặt sông lớn thổi thốc vào bờ, mang theo hơi lạnh ngai ngái của phù sa non, mùi tanh nồng của cá mè, cá mương vừa kéo lưới, hòa lẫn mùi thối rữa ngầm của rơm mục và bèo bèo dạt ven mép nước. Tiết trời tháng ba vùng hạ lưu sông Vọng Giang vừa dứt những đợt mưa phùn lê thê dầm dề kéo dài suốt cả tháng giêng, tháng hai, trời không hửng nắng mà chỉ đọng lại một màu xám đùng đục như lòng vỏ trai. Không khí đặc quánh hơi ẩm bốc lên từ lòng sông đang mùa đỏ quạch phù sa, từng con sóng đục ngầu cuồn cuộn vỗ bờ, va vào chân những cọc gỗ mục cắm rải rác dọc triền đê.

Thanh Hà đưa tay chỉnh lại vành chiếc nón mê đã tơi mép, dịch chiếc tay nải bằng vải thô xám khoác ngang vai cho đỡ cấn vào bờ xương quai xanh gầy guộc. Đôi mắt nàng trầm lặng nhìn xoáy vào túp lều tranh xiêu vẹo nằm chơ vơ ngay mép doi đất bồi nhô ra mạn đông bến nước—nơi giao nhau giữa khúc sông chính và con lạch nhỏ chảy vòng quanh gò Thanh Khê.

Túp lều ấy nguyên trước đây là chỗ trú chân, chòi canh của một gã coi đò cũ đã bỏ mạng trong một đêm lạnh giá mùa đông năm ngoái. Trải qua mấy tháng sương muối cắt da cùng những cơn mưa rào đầu mùa quăng quật, bốn bề vách đất trát rơm đã lở từng mảng lớn, trơ ra những phên nứa dập và cốt tre đan chằng chịt mạng nhện, mối mọt ăn rỗng ruột. Mái cỏ tranh mục nát rũ rượi, từng lọn cỏ mủn đen rủ xuống như mái tóc người chết đuối chưa kịp chôn cất. Chung quanh mé hiên, cỏ may, nghể dại và gai tầm xuân mọc ken dày lút ngang thắt lưng, rác rưởi trôi giạt sau những cơn triều cường cùng hàng vạn vỏ nghêu, vỏ ốc hến vỡ vụn vương vãi khắp gờ đất phù sa lầy lội.

Nhưng đối với một người con gái vừa tròn hai mươi tuổi, mang danh phận góa phụ bị xua đuổi khỏi gia tộc quyền thế ở thôn Đoài, nơi này lại là dải đất duy nhất nàng có thể tìm thấy để cắm rễ sinh tồn. Không cha mẹ chở che, không họ hàng nương tựa, không trượng phu bên cạnh, nàng chỉ có đôi bàn tay này để tự khoét cho mình một lối đi giữa miệng đời trăm mối hiểm nguy.

“Cô nương thật sự muốn thuê cái xó lều nát này sao?”

Một giọng nói ồm ồm, khàn đục như tiếng cọ xát của đá mài vang lên từ phía sau bờ đê cắt đứt dòng suy tưởng của nàng.

Một người đàn ông trạc ngũ tuần bước xuống mé dốc. Người này vận chiếc áo chẽn ngắn bằng vải chàm đã bạc thếch ở hai bên vai, chiếc quần nâu xắn móng lợn để lộ đôi bắp chân gân guốc màu đồng hun đầy sẹo lồi do hà cắn và gai cào. Bên hông ông giắt một cuốn sổ tre dài buộc bằng dây gai cùng một quản bút lông cũ kỹ cùn ngọn. Đó là Đào Văn Kính, phường bảo của bến Vọng Giang, người thay mặt nha môn huyện trông coi việc bến bãi, thuyền bè qua lại và thu tiền thuế môn bài của đám dân vạn chài, tiểu thương quanh khúc sông này.

Thanh Hà quay người lại, khẽ nghiêng mình thi lễ theo đúng khuôn phép, nét mặt nàng điềm đạm, đôi mắt phẳng lặng không gợn một tia dao động:

“Thưa Đào phường bảo, tiểu nữ đã đứng xem xét từ sớm, cũng đã suy tính cặn kẽ. Bến đò Vọng Giang thuyền buôn thuyền lái xuôi ngược ngày đêm tấp nập, khách bộ hành chờ chuyến đò ngang buổi sớm buổi trưa đều phải dầm mưa dãi nắng, cánh phu phen khuân vác hàng hóa trên bến từ tờ mờ sáng tới tối mịt cũng thiếu một ngụm nước thanh nhiệt để ấm lòng. Túp lều này dẫu dột nát, nhưng doi đất mé đông lại có lối mòn thông thẳng ra cầu tàu gỗ, tiểu nữ muốn dọn dẹp sạch sẽ, dựng lại vách hiên làm một quán nước mọn, kiếm chén cơm qua ngày.”

Đào Văn Kính dừng bước cách nàng ba thước, đưa bàn tay sần sùi vuốt chòm râu lưa thưa như rễ tre dưới cằm, đôi mắt ti hí đảo một vòng săm soi nàng từ đầu đến chân. Người con gái này vóc dáng mảnh mai, tà áo thô nâu sồng dẫu sạch sẽ nhưng đã sờn chỉ ở mép cổ tay, đầu tóc búi gọn sau gáy bằng một dải vải xanh giản dị. Thế nhưng, làn da trắng ngần ẩn dưới vành nón mê, chiếc mũi thon thẳng và sống lưng ngay ngắn kia rõ ràng không phải cốt cách của hạng con gái thuyền chài quanh năm ngâm mình dưới đáy nước, lại càng không giống đám đào nương lả lơi tìm chốn buôn son bán phấn.

Ông thở dài một hơi, lắc đầu quầy quậy:

“Bến sông này thoạt nhìn tấp nập, nhưng chẳng phải là chốn êm đềm như lũy tre thôn xóm đâu cô nương. Kẻ buôn người bán, thuyền xuôi đò ngược, phu phen khuân vác mồ hôi dầu lẫn lộn đủ mọi hạng người từ tứ xứ dạt về. Nữ nhân đơn thân độc mã, không có trượng phu hay huynh đệ đứng mũi chịu sào, muốn cắm dùi ở dải đất phù sa này khó khăn trăm bề. Vả lại, theo quy củ nghiêm ngặt của nha môn huyện Thanh Lâm, phàm là kẻ muốn lập quán cố định, dựng vách che mái trên đất công ven bến đều phải trình đủ giấy tờ tùy thân, có hộ tịch phân minh và có người sở tại đứng ra làm chứng ký vào văn khế.”

“Tiểu nữ đã hiểu rõ quy củ của quan huyện, không dám làm điều trái phép.”

Thanh Hà từ tốn thò tay vào lớp áo kép trong ngực, cẩn thận rút ra một tờ giấy bản gấp tư đã ngả màu vàng sáp ong nhưng các mép gấp đều được vuốt phẳng phiu, cùng một mảnh vải điều bọc kín mẩu bạc vụn. Nàng nâng tờ giấy bằng cả hai tay, kính cẩn chìa ra trước mặt phường bảo.

Đào Văn Kính đón lấy tờ giấy, mở ra dưới ánh sáng xám đục của buổi chiều tà. Đó là tờ hộ thiếp chính thức do lý trưởng xã Nam Kiều cấp cách đây mười ngày, bên trên nét mực son còn đỏ tươi: ghi rõ họ tên Liễu Thanh Hà, hai mươi tuổi, nguyên quán thôn Hạ, góa chồng, tự nguyện đoạn tuyệt quyền lợi thừa kế, rời khỏi gia tộc họ Phạm để tìm kế sinh nhai tự lập, đôi bên không còn vướng mắc nợ nần, thù oán hay tranh chấp điền sản. Dấu triện đồng của lý trưởng đóng ngay ngắn ở góc dưới, các nét khắc vuông vức phân minh, không chút tì vết giả mạo.

Đào phường bảo lẩm nhẩm đọc từng hàng chữ, vẻ mặt dò xét ban nãy dần dịu bớt, trong đáy mắt thoáng qua một tia vị nể kín đáo:

“Giấy tờ tùy thân phân minh, có dấu triện của xã lý, không phải kẻ bỏ trốn việc quan hay phường trôi sông lạc chợ. Như vậy thì đúng luật. Túp lều hoang này thuộc diện đất công do phường bến quản lý, tiền thuê mỗi tháng là năm mươi văn tiền đồng. Theo lệ bến, kẻ thuê mới phải nộp trước ba tháng tiền cọc, cộng thêm năm mươi văn bạc phí dọn dẹp rác rưởi ban đầu sung vào quỹ tuần đinh. Tổng cộng là hai trăm văn tiền tròn.”

Thanh Hà mở tấm vải điều trong lòng bàn tay. Một thỏi bạc vụn màu trắng ngà hiện ra, mép bạc có vết ghè răng cưa sắc cạnh—món tiền nàng đã thức trắng đêm để dùng đục và búa nhỏ ghè ra từ chiếc trâm bạc kỷ vật cuối cùng. Nàng đưa thỏi bạc cho Đào phường bảo:

“Chỗ bạc này nặng hai phân rưỡi, tính theo thời giá đổi tiền đồng ở chợ phiên hôm qua thì được hai trăm bốn mươi văn. Bốn mươi văn tiền đồng dôi ra, tiểu nữ xin biếu phường bảo coi như chút tiền trà nước, phiền ngài chuẩn bị giấy mực làm cho tiểu nữ một bản khế ước thuê đất nửa năm theo đúng lệ của bến.”

Đào Văn Kính cầm thỏi bạc, dùng móng tay cái bấm thử vào cạnh bạc nghe một tiếng tách đanh gọn, nét mặt giãn ra thành nụ cười hòa nhã hiếm thấy trên gương mặt khắc khổ của một kẻ chuyên thu tô dịch bến bãi. Ông giắt quản bút lông vào vành tai, quay ngoắt người về phía bãi cát bồi mé bờ sông, cất giọng sang sảng gọi lớn:

“Trần Nhị! Trương Lão Ngũ! Hai đứa chúng mày buông cái giỏ cá mè ấy ra, bước nhanh qua đây làm chứng cho ta lập một tờ văn khế!”

Cách đó chừng mười trượng, hai người đàn ông mình trần trùng trục, da dẻ sạm đen màu nắng gió sông nước đang cặm cụi gỡ mắt lưới mắc đầy vảy cá nghe tiếng gọi liền vội vã buông tay. Họ chùi vội bàn tay đầy nhớt cá vào ống quần cộc, rảo bước thoăn thoắt leo lên bờ đê. Trần Nhị trạc ngoài ba mươi, mắt một mí lanh lợi, dáng người nhanh thoăn thoắt như con rái cá; còn Trương Lão Ngũ lớn tuổi hơn, chừng gần năm mươi, hai bả vai u lên từng cục thịt dày cộm vì mấy chục năm oằn mình cõng hàng hóa từ thuyền lên bờ.

“Có chuyện gì thế Đào gia?” Trần Nhị vừa thở vừa xoa xoa hai bàn tay nồng nặc mùi bùn đất và cá tanh, đôi mắt tròn xoe ngạc nhiên nhìn chằm chằm vào Thanh Hà.

“Cô nương họ Liễu đây muốn thuê lại túp lều hoang mé đông để mở quán nước,” Đào Văn Kính trải tờ giấy bản trắng lên một phiến đá xanh tương đối phẳng phiu nằm cạnh cột mốc giới của bến, tháo nghiên mực nhỏ đeo bên hông ra, chấm đẫm đầu bút lông, vừa viết vừa cất giọng dõng dạc: “Theo đúng quy định của nha môn huyện Thanh Lâm, khế ước thuê mướn quán xá cố định ven bến phải có chữ ký của phường bảo cùng hai người làm chứng đã cư ngụ tại bến từ ba năm trở lên. Hai người các ngươi buôn cá ở bến này đã lâu năm, đến đây điểm chỉ làm chứng, để sau này trên dưới phân minh, không ai được phép vô cớ tới đây sinh sự xua đuổi hay tranh chấp đất lều với nàng.”

Ngọn bút lông lướt thoăn thoắt trên mặt giấy bản ráp nghe sột soạt. Từng dòng chữ đen nhánh, góc cạnh hiện ra rành mạch: ghi rõ bốn phía giáp giới, mé đông giáp doi cát bồi ven sông, mé tây cách cầu tàu mười trượng, thời hạn thuê tròn sáu tháng, mỗi tháng năm mươi văn tiền đồng, hết hạn nếu nàng vẫn giữ gìn trật tự và đóng đủ lệ bến thì được quyền ưu tiên gia hạn khế ước mới.

Viết xong xuôi, Đào Văn Kính cất giọng đọc to từng câu từng chữ cho ba người cùng nghe, đoạn rút con dấu khắc bằng gỗ thị trong túi chàm, chấm vào nghiên mực đỏ rồi ấn mạnh xuống góc dưới tờ giấy. Ông mở nắp hộp chu sa đỏ thắm, chìa ra trước mặt nàng:

“Liễu cô nương, mời cô nương điểm chỉ.”

Thanh Hà hít một hơi thật sâu, lồng ngực nàng khẽ phập phồng. Đầu ngón tay trỏ của nàng chạm vào khối chu sa mịn màng, ẩm ướt và lành lạnh như giọt máu tươi. Nàng đưa ngón tay, ấn thật mạnh xuống góc dưới tờ giấy bản, ngay phía dưới ba chữ “Liễu Thanh Hà” viết chân phương. Từng đường vân tay xoắn ốc hiện lên rõ mồn một trên nền giấy trắng ngà thô ráp.

Khoảnh khắc đầu ngón tay nhấc lên khỏi mặt giấy, Thanh Hà nghe như có một tảng đá ngàn cân đè nặng trên lồng ngực suốt bao tháng ngày qua vừa rớt xuống đáy vực sâu. Túp lều này, dẫu rách nát tồi tàn đến đâu, từ nay về sau đã là chốn đi về hợp pháp của riêng nàng. Từng thước đất, từng cọng tranh ở đây đều do chính bạc mồ hôi của nàng đổi lấy, không một ai trong gia tộc họ Phạm, không một người mẹ chồng cay nghiệt hay những lời đàm tiếu nơi quê cũ có quyền bước tới xua đuổi nàng như một chiếc bóng ma thừa thãi nữa.

Trần Nhị và Trương Lão Ngũ cũng lần lượt bước lên, chìa ngón tay cái thô ráp dính đầy vảy cá ấn mạnh vào tờ văn khế. Trần Nhị nhếch mép cười, để lộ chiếc răng khểnh nom chất phác:

“Chúc mừng Liễu cô nương nhé. Cái bến này xưa nay chỉ toàn mấy quán rượu nhạt cay xè với mấy gánh nước chè chát ngắt nguội ngắt của mấy bà già trên chợ gánh xuống. Nếu cô nương nấu được ấm chè xanh ngọt giọng, nướng được củ khoai củ sắn cho ấm dạ, thì đám phu phen tụi tôi mỗi sớm bốc hàng xong nhất định sẽ ghé vào mở hàng cho cô nương đắt khách.”

“Tiểu nữ xin đa tạ nhị vị đại ca,” Thanh Hà cúi đầu thi lễ thật sâu, giọng nói dịu dàng nhưng đượm vẻ nghiêm cẩn đoan trang khiến hai gã đàn ông sông nước bất giác lùi lại một bước vì kính nể, “Sau này quán nhỏ mở cửa, mong các vị thương tình chiếu cố cho chén cơm manh áo.”

Đào Văn Kính nâng tờ văn khế lên, thổi phù phù cho nét mực mau khô, đoạn dùng một con dao nhỏ rạch đôi tờ giấy theo nếp gấp giữa, trao một nửa cho Thanh Hà, nửa còn lại cuộn tròn nhét vào bao da bên hông:

“Khế ước mỗi bên giữ một bản làm bằng cứ. Bắt đầu từ giờ khắc này, lều này là của cô nương. Nhưng ta nói trước, bến Vọng Giang mùa này hay có gió chướng thất thường, cô nương nên liệu sức mà gia cố lại mái che vách đất cho sớm, kẻo một cơn mưa giông đêm nay ập xuống thì chẳng còn chỗ chui ra chui vào đâu.”

Dặn dò xong, phường bảo khoát tay ra hiệu cho hai gã buôn cá quay lại bến dọn dẹp, còn bản thân ông thì thong thả chắp tay sau lưng, rảo bước về phía dãy điếm canh nằm sừng sững ở trung tâm bến đò.

Bóng người vừa khuất sau rặng dừa nước, bãi đất hoang mé đông lại chìm vào sự vắng lặng hoang vu. Gió sông thổi thốc vào tà áo thô của Thanh Hà, mang theo cái lạnh buốt thấu qua lớp vải mỏng. Nàng cẩn thận gấp mảnh văn khế làm tư, bọc vào tấm vải điều rồi nhét sâu vào đáy tay nải—ngay bên cạnh cuốn sổ tay chép công thức làm bánh cổ truyền sờn gáy của mẹ để lại.

Nàng đứng đơn độc giữa doi đất bồi, ngước mắt nhìn bao quát túp lều một lượt. Mùi rơm rạ mục nát, mùi đất ẩm mốc bốc lên nồng nặc. Nàng không cho phép mình chần chừ dù chỉ một khắc. Nàng tháo chiếc nón mê máng tạm lên cọc tre bên hiên, xắn cao hai ống tay áo qua khuỷu, búi lại mớ tóc mai lòa xòa trước trán bằng dải vải xanh, rồi rút con dao bài nhỏ mang theo trong tay nải, bắt tay ngay vào việc.

Việc đầu tiên là phải khai quang toàn bộ bãi lau sậy và gai dại mọc bao quanh lều. Thanh Hà khom lưng, nắm chặt từng bụi cỏ may, dùng dao bài phạt sát gốc. Cỏ may ven sông rễ ăn sâu vào tầng đất phù sa pha cát, cọng nào cọng nấy dai và cứng như sợi thép gai, mỗi nhát cắt đều khiến cổ tay nàng mỏi nhừ. Những mép lá sắc lẹm cứa qua kẽ ngón tay, rạch thành những vệt đỏ rướm máu rát buốt, nhưng nàng không hề dừng tay. Nàng phạt đến đâu, dùng chân giẫm bẹp đến đó, rồi gom cỏ rác thành từng đống lớn, dùng cành cây khô gạt dần tất cả xuống mép nước để dòng nước xiết cuốn trôi ra giữa lòng sông.

Khi khoảng đất quanh hiên đã tạm phong quang, Thanh Hà cúi người bước vào bên trong lều. Khung cảnh bên trong còn tồi tàn, ngổn ngang hơn những gì nàng nhìn thấy từ bên ngoài. Mấy tháng trời không bóng hơi người, chuột đồng và còng gió đã đào hang chi chít dưới chân vách đất, đùn lên những đụn cát ẩm ướt. Rác rưởi, lá bàng khô rụng từ mùa trước mục rữa thành một lớp bùn đen kịt dưới sàn, bốc lên mùi hôi tanh khó thở.

Ở góc trong cùng mé vách phía bắc, chiếc bếp lò đất nung cũ kỹ nằm chơ vơ. Thân bếp bằng đất sét đã bị nứt toác làm ba bốn mảnh lớn, tro lạnh từ mùa đông năm ngoái vẫn còn vón cục xám ngoét bên trong lòng lò, mạng nhện giăng kín miệng bếp.

Thanh Hà không nản lòng. Nàng tìm thấy một chiếc sọt tre rách nằm lăn lóc ở góc hiên, dùng một mảnh ván thuyền vát nhọn làm xẻng, cặm cụi xúc từng sọt bùn rác và tro lạnh đem đổ ra phía bờ đê. Mồ hôi bắt đầu túa ra râm ran trên trán, rịn qua chân tóc rồi chảy dài xuống má, thấm ướt đẫm vạt áo sau lưng nàng. Gió sông se lạnh thổi qua biến những giọt mồ hôi thành những mũi kim châm buốt lạnh dọc sống lưng, nhưng nàng chỉ dừng lại trong chốc lát, quệt ngang vạt áo lau mồ hôi rồi lại tiếp tục cúi xuống cào xới.

Mất gần một canh giờ, mặt sàn đất nện bên trong túp lều mới lộ ra tương đối bằng phẳng. Thanh Hà cầm chiếc chậu đồng nhỏ—vật dụng duy nhất còn sót lại từ gánh đồ cưới thuở mẹ nàng về nhà chồng—bước thoăn thoắt xuống mép nước bến sông.

Ven bờ Vọng Giang, sau mỗi đợt triều xuống thường lắng đọng lại những dải đất sét phù sa vàng óng, dẻo quánh và mịn màng như sáp ong. Thanh Hà cởi đôi hài vải đã rách mũi, lội chân trần xuống làn nước sông lạnh ngắt. Đáy bùn mịn màng luồn qua kẽ ngón chân nàng, buốt thấu tận tim gan. Nàng khom người, hai bàn tay vục sâu vào lòng bùn, bốc từng tảng đất sét vàng ươm, dẻo quánh đặt đầy vào chậu đồng, rồi gồng mình bưng ngược lên bờ. Nàng đi lại ba bốn lượt như thế, cho đến khi trước cửa lều đã có một đống đất sét cao ngang đầu gối.

Tiếp đó, nàng đi dọc theo mép bến gỗ, nhặt nhạnh những túm rơm lúa vàng khô ráo rơi vãi từ những chiếc thuyền chở thóc vừa dỡ hàng ban chiều. Dùng dao bài băm nhỏ rơm thành từng đoạn ngắn cỡ một đốt ngón tay, nàng rải đều rơm lên đống đất sét, múc thêm vài gáo nước sông tưới đều lên trên, rồi xắn quần qua gối, nhảy vào dẫm thật kỹ.

Đôi bàn chân trắng trẻo của một người con gái từng sống nơi khuê các, nay lún ngập trong đống bùn đất dẻo quánh, lạnh buốt. Đất sét quyện chặt lấy bắp chân, nặng trĩu theo từng nhịp bước. Nhưng đôi mắt Thanh Hà lại bừng lên một thứ ánh sáng kiên cường kỳ lạ. Ký ức về những buổi chiều mùa đông năm mười hai tuổi bất chợt dội về rõ mồn một trong tâm trí nàng. Khi ấy, người mẹ hiền từ của nàng hãy còn khỏe mạnh, hai mẹ con từng ngồi dưới mái hiên gian bếp nhỏ ở thôn Hạ, mẹ cũng từng xắn váy nhào nặn từng tảng đất sét trộn rơm như thế này để đắp chiếc lò nướng bánh hoa hòe.

Bàn tay mẹ khi ấy ấm áp vô cùng, mẹ vừa miết phẳng mép đất vừa thủ thỉ bảo nàng: *“Thanh Hà à, con người ta sống ở đời cũng tựa như đất với rơm vậy thôi. Đất có rơm thì đất mới dẻo dai, không bị nứt toác khi ngọn lửa bốc cao; rơm nhờ có đất bao bọc mà không bị thiêu rụi thành tro tàn trong chốc lát. Làm người hay làm lò, nếu thiếu đi cái chất bền bỉ ấy thì một cơn gió chướng thổi qua cũng đủ tan tành.”*

Khi khối đất sét và rơm vụn đã quyện chặt vào nhau thành một khối dẻo quánh, mịn màng và không còn dính vào da thịt, Thanh Hà quỳ hai gối xuống nền đất ẩm bên cạnh chiếc bếp lò cũ.

Nàng dùng một gáo nước sông rửa sạch bụi bặm và lớp rêu phong bám trên khung gạch nung, rồi dùng hai bàn tay khéo léo bốc từng nắm đất sét mới, ấn thật sâu vào các khe nứt toác. Từng ngón tay mảnh mai nhưng dứt khoát miết chặt lớp hồ đất vào tận xương gạch bên trong, xoa phẳng bề mặt ngoài, rồi đắp dầy thêm thành lò và phần miệng bếp. Nàng tính toán cẩn thận từng tấc đất, nắn cho miệng lò hơi khum lại để vừa vặn đặt một chiếc chõ đất nung hay một chiếc ấm đồng lớn đun nước mà không bị thoát nhiệt ra ngoài.

Cửa lò đón gió phía dưới cũng được nàng dùng mảnh tre gọt tròn, uốn lại thật cong và thông thoáng để sau này khi nhóm lửa, ngọn gió sông có thể lùa vào nuôi dưỡng ngọn lửa cháy đượm mà không hao tốn củi rác. Dưới bàn tay cần mẫn của nàng, chiếc lò đất tàn tạ bỗng chốc lấy lại vóc dáng tròn trịa, vững chãi, lớp bùn mới vàng óng phủ kín mọi vết rạn nứt của thời gian tàn phá.

Xong xuôi chiếc bếp thì bóng hoàng hôn đã đổ sụp xuống mặt sông. Vầng thái dương đỏ quạch như một lòng đỏ trứng muối chìm dần sau rặng tre mờ mịt bên kia bờ Vọng Giang, hắt lên mặt nước hàng ngàn vệt sóng lấp lánh như dát vàng dát ngọc.

Thế nhưng, một nỗi lo âu lớn hơn lập tức hiện rõ trước mắt nàng: túp lều nằm quá sát mép nước của doi đất bồi. Khi con nước triều buổi tối bắt đầu nhích từng tấc lên bờ cát, hơi ẩm lạnh lẽo từ lòng đất phù sa bốc lên hôi hổi. Mặt nền đất nện mà nàng vừa quét dọn phẳng phiu ban chiều nay đã bắt đầu rịn ra những giọt nước đùng đục, lầy lội dưới gót chân. Nếu cứ thế trải manh chiếu rách nằm ngủ qua đêm, chỉ cần một đợt gió sương độc hại ngấm vào da thịt, tính mạng nàng khó lòng bảo toàn; chưa kể ngày mai khi mua được vò nước ngọt và hũ trà khô, hơi ẩm của đất phù sa chắc chắn sẽ xông lên làm mốc hỏng toàn bộ vốn liếng.

Thanh Hà đứng ngoài hiên, phóng tầm mắt nhìn quanh bờ bãi ven sông. Dọc theo con lạch nhỏ mé sau bến đò, sau những trận lũ nguồn và gió chướng mùa xuân vừa qua, rất nhiều gỗ rác từ mạn ngược trôi dạt về mắc kẹt lại trong các bụi cây dại. Đó là những thân gỗ thông cong queo, những mảng ván thuyền cũ đã gãy nát, cùng những cọc rào tre bị nước lũ cuốn trôi nằm ngổn ngang giữa bùn lầy.

Nàng không chần chừ một khắc nào. Nàng men theo bờ đất trơn trượt, lội xuống con lạch gom nhặt từng thanh gỗ còn dùng được. Có những tấm ván thuyền bằng gỗ kiền kiền đã đen bóng vì ngâm nước lâu năm, thớ gỗ chắc nịch không hề mục ruỗng; lại có cả những khúc gỗ tròn dài bằng nửa thân người lớn trôi dạt vào bãi sậy. Thanh Hà cắn chặt môi, dùng hết sức bình sinh của một thân gái dặm trường, kéo lê từng súc gỗ nặng trịch qua bãi cát bồi lầy lội về tập kết trước cửa lều. Bàn tay mềm mại của nàng bắt đầu rách da, lòng bàn tay phồng rộp thành những bọng nước đỏ ửng vì cọ xát với những dằm gỗ sắc nhọn, nhưng nàng cắn răng chịu đựng, không để bật ra một tiếng thở than.

Để di chuyển những súc gỗ tròn nặng cả tạ vào bên trong lều, nàng chạy vội sang mượn của bác thợ mộc đang sửa thuyền ở mạn tây một chiếc đòn bẩy bằng gỗ nghiến dài chừng năm thước cùng mấy viên đá tảng kê chân.

Trở lại lều, Thanh Hà chèn viên đá tảng thật chắc xuống mé vách đất, luồn đầu nhọn của đòn bẩy vào dưới bụng súc gỗ tròn. Nàng dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể mảnh mai của mình, đu người lên đầu cán đòn bẩy. Khúc gỗ nặng nề chuyển mình, nhích từng tấc một theo tiếng *khục… khục* khô khốc của thớ gỗ nghiến tì vào mặt đá tảng.

Nàng cẩn trọng chôn bốn súc gỗ tròn lớn xuống bốn góc đất khô ráo nhất trong lòng lều, dùng đất sét và đá vụn dầm thật chặt xung quanh để làm chân trụ. Tiếp đó, nàng lần lượt vần các tấm ván thuyền dày đặt ngang lên trên mặt trụ gỗ, dùng những mẩu nêm gỗ nhỏ do chính tay nàng gọt đẽo chêm thật khít vào các khe hở để mặt sàn không bị cập kênh.

Sau gần nửa canh giờ vật lộn trong bóng tối nhập nhoạng, một khoảng sàn gỗ mộc sơ sài nhưng vững chãi, cao cách mặt đất lầy lội chừng một gang tay rưỡi đã hoàn thành ngay ở góc khô ráo nhất của căn lều. Khoảng sàn tuy chắp vá từ đủ thứ ván thuyền trôi sông nhặt nhạnh, chỗ lồi chỗ lõm chưa được bào phẳng phiu, nhưng khô ráo, sạch sẽ và hoàn toàn tách biệt khỏi hơi ẩm ngùn ngụt bốc lên từ lòng bùn lầy.

Nàng dùng một chiếc giẻ rách lau khô mặt ván, đặt chiếc tay nải xám cùng tấm chăn mỏng mang theo lên góc trong cùng sát vách, chừa lại một khoảng sàn vững chãi nhất để sáng mai đặt chiếc chum sành hứng nước mưa và gánh nước ngọt gò Thanh Khê.

“Con nhà ai mà tháo vát gớm nhỉ? Nữ nhi một thân một mình mà dám dùng đòn bẩy dời gỗ lập sàn, lão già này cắm sào ở bến Vọng Giang mấy chục năm nay mới thấy lần đầu đấy.”

Một giọng nói trầm vang, khàn khục vì nhiều năm hít gió sông sương muối bất chợt vang lên từ phía ngách cửa liếp tre.

Thanh Hà giật mình thót thốt, vội vàng quay phắt lại. Đứng ngoài mé hiên lều là một ông lão râu tóc hoa râm, vóc người cao lớn, quắc thước, ngực áo phanh rộng để lộ làn da màu đồng hun cuồn cuộn những thớ gân như rễ si già. Lão chống một cây sào tre dài bóng loáng bọc sắt nhọn ở đầu, bên hông thắt chiếc bao gai nhỏ đựng đá lửa và tẩu thuốc bằng rễ tre. Đằng sau lão, dưới bến nước mờ ảo, một chiếc thuyền đò mũi cong bằng gỗ lim đang neo chắc nịch vào cọc đá ven bờ, mũi thuyền dập dềnh theo từng con sóng vỗ vào bờ cát.

Thanh Hà nhận ra ngay phong thái này. Đây chính là lão lái đò Từ Bá—người nắm giữ con đò dọc uy tín nhất của Hội lái đò Vọng Giang mà cánh buôn bán lúc chiều tụ tập ở bến thường nhắc tới với vẻ kiêng nể. Nàng vội vàng đứng nghiêm chỉnh, buông hai tay áo xuống che đi những vết trầy xước rướm máu, cúi đầu chào theo đúng lễ nghi:

“Tiểu nữ bái kiến Từ Bá. Quán nhỏ vừa dọn dẹp còn bề bộn rác rưởi đất cát, chưa có chén trà thơm đón tiếp, mong lão trượng lượng thứ cho sự thất lễ này.”

Từ Bá thong thả bước vào trong lều, chiếc tẩu thuốc dài kẹp giữa hai ngón tay gõ nhẹ vào vách nứa nghe *cộc cộc*. Đôi mắt sắc lẹm như mắt chim ưng của lão quét một lượt từ chiếc bếp lò vừa đắp rơm phẳng phiu đến khoảng sàn gỗ ghép ngay ngắn, rồi dừng lại thật lâu trên đôi bàn tay đang rướm máu vì dằm gỗ của nàng. Nét mặt nghiêm nghị, lạnh lùng của lão lái đò già khẽ dịu lại, trong đáy mắt đùng đục thoáng qua một tia thấu hiểu kín đáo.

“Vừa rời nhà chồng hả?” Từ Bá hỏi thẳng thừng, giọng cộc lốc không một lời rào đón khách sáo.

Thanh Hà thoáng sững sờ, sống lưng nàng bất giác cứng lại, nhưng rồi nàng ngẩng cao đầu, ánh mắt trong veo nhìn thẳng vào mắt lão, không hề né tránh:

“Thưa vâng. Chồng tiểu nữ mắc bạo bệnh qua đời từ mùa đông năm ngoái. Nhà họ Phạm gia phong nghiêm cẩn nhưng lòng dạ hẹp hòi, tiểu nữ không muốn sống cảnh ăn nhờ ở đậu, chịu đựng những lời sỉ nhục bất công, nên đã xin xã lý cấp giấy lộ dẫn, tự tìm đường mưu sinh bằng chính đôi bàn tay mình.”

Từ Bá cười khà một tiếng, tiếng cười khô khốc như tiếng sỏi đá va vào mạn thuyền gỗ:

“Khá lắm! Có gan vứt bỏ cái danh phận dâu con nhà giàu để ra bến đò bốc bùn dựng lều kiếm sống, chí khí ấy của cô nương không thua kém gì đấng mày râu. Nhưng mà cô nương này, bến Vọng Giang không phải là cái ao làng êm ả để cô nương muốn bơi thế nào thì bơi đâu. Ra đây mà xem!”

Lão lái đò xoay phắt người, sải những bước chân dài vững chãi bước ra mép nước nhô cao ngoài đầu doi đất. Thanh Hà vội vàng bước theo sau lão.

Gió sông lúc này thổi lồng lộng, vạt áo nàng bay phần phật trong màn sương đêm đang sẫm lại thành màu chàm đen kịt. Từ Bá đưa đầu sào tre bọc sắt chỉ thẳng xuống mép nước cuồn cuộn phù sa, nơi có một cây cọc gỗ lim to bằng bắp đùi người lớn cắm sâu vào lòng đá ngầm ven bờ từ thuở nào. Trên thân cọc gỗ, người ta dùng dao khắc sâu thành từng vạch ngang rõ rệt, mỗi vạch đều được quét một lớp sơn màu đỏ sẫm đã tróc lở đôi chỗ vì rêu phong.

“Thấy cái cọc gỗ kia chưa?” Giọng Từ Bá chùng xuống, mang theo vẻ nghiêm cẩn của một kẻ cả một đời người giao phó tính mạng cho sự giận dữ của dòng nước. “Đó là cọc đo con nước của bến Vọng Giang này. Bến sông mùa cuối xuân nhìn bề ngoài êm ả như dải lụa, nước trôi lững lờ, nhưng chớ có để vẻ hiền lành giả tạo của nó đánh lừa.”

Lão chỉ đầu sào nhọn vào vạch sơn đỏ thấp nhất nằm sát chân cọc:

“Hiện tại nước mới ở mức vạch một, dòng chảy êm ả, thuyền bè qua lại chỉ cần một tay chèo khéo là có thể cập bến an toàn. Túp lều của cô nương cách mép nước này mười trượng, sàn lại kê cao một gang rưỡi, tạm thời không lo ngập ướt. Nhưng chỉ cần đến cữ cuối hạ sang thu, nước từ dãy núi Tây Lĩnh đổ về cuồn cuộn, chỉ sau một đêm mưa nguồn là nước sông có thể nhảy tót lên vạch ba, ngập trắng toàn bộ bãi bồi ven sông này.”

Thanh Hà chăm chú nhìn từng vạch khắc đỏ au trên thớ gỗ lim già cỗi, khắc sâu từng lời răn dạy của lão vào tận tâm can:

“Thưa Từ Bá, nước dâng lên đến vạch mấy thì nguy hiểm đến tính mạng?”

“Hễ nước sông liếm đến vạch đỏ thứ tư,” Từ Bá gằn từng tiếng, giọng nói lạnh tanh như nhát dao chém xuống nước, “toàn bộ doi đất mé đông này sẽ biến thành lòng sông sâu thẳm. Lúc đó, bất kể quán xá có tiếc của đến đâu cũng phải bỏ lều, chuyển toàn bộ đồ đạc chạy thốc lên Miếu Gò Cao phía trên thân đê mà trú ẩn. Kẻ nào cố tình nấn ná tiếc cái bếp, cái chum, con nước Vọng Giang sẽ nuốt chửng cả người lẫn của vào bụng cá mà không thèm nhả bọt. Nhớ kỹ lấy điều đó, buôn bán ven sông thì tai phải nghe tiếng gió hú, mắt phải nhìn cọc nước từng canh giờ!”

“Tiểu nữ xin ghi lòng tạc dạ lời vàng ngọc của Từ Bá.” Thanh Hà khẽ khàng đáp, trong lòng dâng lên sự biết ơn sâu sắc đối với người lái đò già từng trải.

Từ Bá gật đầu, móc chiếc bao gai lấy đá lửa đánh *lách tách*, châm một mồi lửa vào nõ tẩu thuốc rễ tre. Lão rít một hơi thuốc dài, làn khói trắng mỏng manh vừa bay ra khỏi khóe môi đã lập tức bị cơn gió sông xé tan thành từng vệt mảnh vụn:

“Đấy mới chỉ là thủy thần thôi. Ở cái bến này, nạn nước lũ một năm chỉ đến vài ba bận, nhưng cái nạn người thì ngày nào cũng rình rập quanh quẩn như ruồi bâu mật.”

Lão đưa mắt liếc xéo về phía dãy quán rượu xập xệ phía tây bến đò, nơi có những ngọn đèn lồng đỏ leo lét đung đưa trong gió và tiếng chửi thề tục tĩu, tiếng xúc xắc va vào đĩa sành lách cách vọng lại theo từng đợt sóng:

“Bến đò này là nơi kiếm cơm của hàng trăm miệng ăn đói khát. Cánh phu phen khuân vác đầu trần chân đất bốc dỡ nặng nhọc suốt cả ngày, tính tình cộc cằn thô lỗ, hễ va chạm một chút là sẵn sàng vung đòn gánh xô xát đổ máu. Lại còn có đám lâu la của thằng Lại Tam—lũ cò bến chuyên đứng ở đầu cầu tàu bắt chẹt khách lạ, thu tiền bến bãi ngoài lệ của dân buôn. Bọn chúng thấy cô nương thân gái dặm trường, mở quán buôn bán đơn độc một mình, chắc chắn không để yên cho cô nương yên ổn đâu. Ngày mai mở quán, phải liệu cái miệng cho khéo léo, giữ cái tâm cho thật vững vàng. Chuyện gì nhịn được thì nhịn cho qua chuyện, nhưng chuyện gì trái với lệ nha môn thì phải có lý có tình mà đối đáp, chớ có mềm yếu để chúng nó lấn lướt rồi sinh lờn mặt.”

“Tiểu nữ hiểu rõ điều ấy.” Thanh Hà siết chặt hai bàn tay trước bụng, giọng nói bình thản nhưng đanh thép lạ thường: “Tiểu nữ tới đây kiếm chén cơm bằng chính mồ hôi nước mắt của mình, nộp thuế lệ đầy đủ cho phường bảo, có văn khế giấy tờ của nha môn làm bằng cứ. Cây ngay không sợ chết đứng, tiểu nữ sẽ giữ đúng ranh giới bổn phận, không gây sự với ai nhưng cũng tuyệt đối không để người ta tùy tiện ức hiếp, giẫm đạp lên nhân phẩm của mình.”

Từ Bá quay sang nhìn nàng thật kỹ dưới ánh trăng non mờ ảo, ánh mắt già nua ánh lên vẻ tán thưởng sâu kín. Lão không nói thêm lời nào nữa, chỉ dùng đầu gậy sào gõ nhẹ xuống lớp cát ẩm dưới chân:

“Đêm nay gió chướng thổi mạnh đấy. Cửa lều nhớ cài then gỗ cho thật chắc chắn vào. Sáng mai ta có chuyến đò sớm đưa khách buôn đi chợ phiên Đông Tân lúc trời vừa hửng sáng, nếu cô nương nấu được ấm nước nóng đầu tiên, lão già này sẽ ghé làm khách mở hàng cho.”

“Xin đa tạ Từ Bá đã chỉ điểm. Sáng mai tiểu nữ nhất định dậy sớm, đun sẵn ấm nước giếng ngọt gò Thanh Khê để đón tiếp lão trượng.”

Lão lái đò phất nhẹ tay áo rộng, xoay người rảo bước thoăn thoắt xuống bến thuyền. Chiếc sào tre vút lên một đường cong dẻo dai trong không trung, con đò gỗ lim rẽ sóng lướt êm ru ra giữa dòng nước, hòa lẫn vào bóng tối mênh mông đang bao trùm lấy dòng sông rộng lớn.

Màn đêm buông xuống bến Vọng Giang nhanh như một cái chớp mắt.

Khi bóng tối mịt mùng nuốt trọn những con thuyền buôn neo đậu san sát ngoài bến nước, tiếng ồn ào huyên náo của chợ cá ban chiều và tiếng hò kéo đò của cánh phu phen cũng dần dần thưa thớt rồi tắt lịm hẳn. Bến sông chỉ còn lại tiếng côn trùng rỉ rả trong những bụi lau sậy ven bờ đê và tiếng sóng sông vỗ vào bờ cọc mục ì oạp, rền rĩ suốt đêm ngày như tiếng thở dài của đất trời.

Thanh Hà quay trở vào trong lều, kéo tấm liếp tre cũ cài chặt chiếc then gỗ mà nàng vừa tự tay đẽo gọt lúc chập tối. Bên trong túp lều tối om om như mực, chỉ có những khe hở trên vách đất nứa lọt vào vài vệt sáng bàng bạc, lạnh lẽo từ ánh trăng đầu tháng phản chiếu từ mặt nước sông hắt lên.

Nàng ngồi xuống mép sàn gỗ, lần giở đáy tay nải lấy ra một chiếc đĩa sành nhỏ mẻ vành—chút đồ dùng mang theo từ quê cũ—rồi rót vào lòng đĩa một chút dầu lạc chắt chiu từ chai nhỏ mang theo, đặt vào giữa đĩa một đoạn bấc đèn bằng vải bông xe sợi. Nàng lấy thanh đá lửa, đánh *lách tách* mấy hồi dứt khoát. Một đốm lửa vàng le lói bùng lên, soi tỏ một góc lều chật hẹp, xua đi phần nào cái lạnh buốt của hơi sương đang luồn qua các khe liếp tre.

Ngọn đèn dầu cạn tỏa ra ánh sáng ấm áp, dịu dàng.

Thanh Hà ngồi xếp bằng trên khoảng sàn gỗ mộc còn vương mùi phù sa và thớ gỗ cũ. Trước mặt nàng, chiếc bếp lò đất sét trộn rơm đã bắt đầu ráo mặt. Lớp bùn phù sa vàng óng ban chiều nay khô dần, chuyển sang màu xám nhạt mịn màng, vững chãi như một chiếc kiềng sắt ba chân cắm sâu vào lòng đất mẹ. Chỉ cần để qua một ngày mai cho đất khô kiệt hẳn từ bên trong, chiếc bếp này có thể nhóm lên ngọn lửa ấm áp, đun sôi những ấm nước trà xanh ngọt giọng và hấp chín những xửng bánh thơm nức nở lòng người.

Nàng cẩn thận mở lớp vải thô bọc cuốn sổ công thức làm bánh cũ kỹ của mẹ. Cuốn sổ bằng giấy dó cổ truyền đã ố vàng theo năm tháng, các mép giấy sờn rách, cong queo vì bàn tay người lật giở qua bao mùa mưa nắng. Từng trang chữ Nôm viết tay nắn nót, mềm mại của mẹ hiện ra dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu hạt đỗ: từ cách ủ men bột nếp vào những ngày lập xuân mưa phùn, cách chọn từng hạt đậu xanh lòng vàng ngâm bằng nước mưa hứng giữa trời, cho đến bí quyết sao giữ hương hoa bưởi, hoa sen trong từng lớp bánh dẻo quánh mà không làm mất đi vị ngọt thanh tự nhiên.

Đến trang viết về món “Bánh hoa hòe đầu hạ”, ngón tay trỏ của Thanh Hà khẽ run rẩy dừng lại thật lâu. Nét mực chỗ này hơi nhòe đi vì một giọt nước mắt khô từ nhiều năm về trước. Đó là món bánh nàng từng làm hỏng vào đúng ngày cuối cùng mẹ nàng còn nằm thoi thóp trên giường bệnh—món bánh mà vì mặc cảm vụng về và nỗi đau đớn tột cùng khi mất mẹ, suốt ba năm làm dâu chịu nhục nhằn trong nhà họ Phạm, nàng chưa từng dám chạm tay vào bột nếp hay cánh hoa hòe để làm lại dù chỉ một lần.

Thế nhưng lúc này đây, ngửi thấy mùi rơm ẩm quyện chặt với mùi đất sét nung vừa ráo mặt, trong lòng nàng không còn cảm thấy nỗi đắng cay nghẹn ngào như trước nữa.

Hai mươi tuổi, nàng đã nếm trải đủ mọi nỗi mất mát đớn đau nhất của một kiếp người: mất cha, mất mẹ, mất đi người chồng bệnh tật mà nàng hết lòng chăm sóc, bị gia đình chồng ruồng rẫy, hắt hủi xua đuổi ra khỏi cửa chỉ vì nàng không chịu cúi đầu trước những quy tắc gia lễ tàn nhẫn, bất công. Trong tay nàng giờ đây chỉ còn lại vài đồng bạc vụn, một túp lều vách đất rách nát bên bến sông xa lạ, và một đứa em trai nhỏ dại—Thanh Du—đang phải chịu cảnh ăn nhờ ở đậu, làm công không công nơi quê người đất khách.

Thế nhưng, khi ngước mắt nhìn quanh bốn vách đất tuy chắp vá nhưng do chính hai bàn tay nàng nhào nặn dọn dẹp, Thanh Hà hít một hơi thật sâu. Lồng ngực nàng tràn ngập một cảm giác tự do thanh thản lạ kỳ—lần đầu tiên trong suốt hai mươi năm làm người, nàng được hít thở bầu không khí thuộc về chính sinh mệnh của mình. Nàng không còn phải nơm nớp nhìn sắc mặt cay nghiệt của mẹ chồng, không phải khép nép sợ hãi từng lời ăn tiếng nói nơi góc bếp nhà giàu. Dẫu khoảng trời tự do này vô cùng chông chênh, tựa như con thuyền đò của Từ Bá giữa dòng nước xiết, thì đó vẫn là con đường do chính đôi chân nàng lựa chọn để bước đi.

Nàng khép cuốn sổ lại, áp chặt vào ngực áo, thì thầm trong bóng tối:

“Thanh Du à, đợi chị nhé. Chị nhất định sẽ dựng nên một mái quán vững chãi bên bến sông này, kiếm đủ tiền chuộc em về cùng chung sống.”

Gió đêm ngoài mặt sông đột ngột rít lên một hồi dài qua rặng lau sậy. Ngọn đèn dầu le lói chao đảo dữ dội, hắt bóng dáng nàng lên vách đất thành một vệt dài chập chờn như bóng ma.

*Xào xạc…*

Tiếng bước chân giẫm lên lớp vỏ ốc vỡ và cỏ may khô ngoài hiên lều vang lên khẽ khàng nhưng rành rọt, nặng nề.

Ngay sau đó, một bóng đen cao lớn in hằn lên tấm liếp tre chắn cửa, lướt ngang qua khe sáng le lói rồi dừng lại bất động ngay bên ngoài mé hiên vắng.

Bầu không khí trong lều lập tức đông cứng lại. Trái tim Thanh Hà đập thịch một tiếng mạnh nơi lồng ngực. Không một tiếng động, nàng nhẹ nhàng hạ thấp ngọn đèn dầu, bàn tay lần nhanh xuống mép sàn gỗ, ghì chặt lấy cán con dao gọt củi sắc lẹm trong tay áo.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories