Quán Trà Bên Bến ĐòCh.12 / 34
Chapter 12

Sổ phí của bến

Tập giấy bổi nhàu nhĩ phủ đầy dấu điểm chỉ bằng mực đen lẫn bùn khô nằm chỏng chơ trên bàn tre giữa tiếng thở dốc căm phẫn của Đỗ Nguyệt Nương.

Ngọn đèn dầu lạc đặt nơi góc bàn khẽ chao đảo theo từng nhịp lồng ngực phập phồng dồn dập của người phụ nữ buôn bột. Trời đã sụp tối hẳn tự lúc nào. Gió từ mặt sông Vọng Giang thốc qua rặng sậy xào xạc, tràn qua mấy tấm liếp rách vào quán trà mé đông, mang theo hơi nước phù sa nằng nặng ngai ngái, quyện chặt lấy mùi khói bếp un lá ổi từ mấy xóm chài nghèo dưới mé hạ lưu. Ánh sáng vàng vọt tù mù của ngọn bấc hạt đỗ hắt lên vách nứa những bóng người chập chờn, dập dềnh như mặt nước mùa con nước nhảy.

Tiểu Mãn vừa vặn bưng lên một chiếc bát sành sứt sẹo đựng nước sôi để nguội có thả dăm ba lát gừng tươi đập dập. Con bé khẽ khàng đặt bát nước xuống mép bàn tre kêu một tiếng cộc nhỏ, rồi vội vã lui lại nép hẳn sau lưng Thanh Hà, hai tay túm chặt lấy vạt áo vải thô nhuộm củ nâu, đưa đôi mắt tròn xoe đầy vẻ cảnh giác xen lẫn sợ sệt nhìn chằm chằm vào xấp giấy nhăn nhúm đang nằm cong vênh trên mặt giát tre.

Nguyệt Nương chẳng buồn để ý đến hơi nóng bốc lên từ bát nước, chị vồ lấy mép bát, ngửa cổ uống ực một hơi dài đến mức cuống họng phát ra tiếng òng ọc khô khốc. Mu bàn tay thô ráp, chai sần vì quanh năm khuấy bột quạt than vội vã quẹt ngang khóe môi hãy còn vương vệt bột trắng mốc meo, lồng ngực chị rung lên từng chập, giọng căm hờn nghẹn ứ lại nơi cổ họng tưởng chừng như muốn vỡ tung:

“Thanh Hà, em xem... em tận mắt xem xem bọn chúng có còn coi phép tắc của trời đất, luật lệ của nha môn ra cái thể thống gì nữa không! Chiều hôm nay, ngay cái lúc đò phiên chợ Đông Tân vừa từ bờ nam rẽ sóng cập mạn cầu ván, chợ đang độ đông nghẹt kẻ mua người bán, thì thằng Lại Tam cùng bốn năm đứa lâu la mặt mày bặm trợn đã xông ra. Đứa thì tay lăm lăm gậy tầm vông bọc đồng, đứa thì xách quang sọt sắt, giẫm huỳnh huỵch chốt cứng ngay cái lối độc đạo từ mé ván gỗ bước lên bờ dốc. Mấy chị em buôn bột, gánh rau, gánh tương khô từ mạn hạ lưu chúng tao vừa bước chân lên mé ván cập kênh, hai vai còn oằn rạp vì sức nặng của đôi quang gánh, mồ hôi mồ kê nhễ nhại chưa kịp quệt thì đã bị bọn chúng xông vào chặn đứng lại. Thằng quỷ con đàn em nó chẳng nói chẳng rằng, giật phắt đòn gánh giúi thẳng xuống đất!”

Thanh Hà không ngắt lời bạn. Nàng vươn những ngón tay thon thả nhưng đã bắt đầu xuất hiện những vết chai mỏng nơi đầu ngón vì cầm dao chẻ củi và bưng bê ấm chén suốt bao tháng ngày qua. Nàng cẩn thận kéo tập giấy bổi thô ráp về phía mình, dùng lòng bàn tay chậm rãi miết phẳng từng mép giấy quăn queo, xơ xác.

Đó là những mẩu giấy cắt vội từ loại giấy bổi xám xịt, mỏng tang và đầy xơ rơm, trên mặt giấy loang lổ những nét mực nguệch ngoạc viết bằng than củi mài dối với nước lã, ghi mấy chữ cẩu thả như gà bới chân vịt. Dưới cùng mỗi mẩu giấy rách là những dấu điểm chỉ lem nhem, méo mó; có dấu chỉ tay vừa ấn bằng mực đen thì đã bị bùn non sông Vọng Giang quyện vào nham nhở, lại có dấu còn dính nguyên cả một vệt tương nâu khô khốc bốc lên mùi men chua gắt.

Đôi mày lá liễu của Thanh Hà khẽ chau lại, nàng ngước đôi mắt trong vắt nhưng sâu thẳm nhìn người phụ nữ đối diện:

“Hắn đòi tiền gì? Trước nay thuyền bè hay đò ngang cập bến, tiểu thương gánh hàng lặt vặt qua cầu đò chỉ phải nộp ba văn tiền xâu bến theo đúng lệ làng lệ huyện đã niêm yết công khai ở cổng điếm sở. Tiền ấy nộp xong thì tuần đinh của phường bến giao cho một thẻ tre khắc vạch làm tin kia mà?”

“Ba văn cái nỗi gì nữa!” Nguyệt Nương tức giận đập mạnh bàn tay thô ráp xuống mặt bàn tre.

Tiếng đập giòn đanh vang lên giữa gian quán tĩnh mịch làm ngọn bấc dầu lạc giật thót, tạt nghiêng sang một bên, khói đen bốc lên một làn mỏng khét lẹt.

“Nó bảo bắt đầu từ đầu tháng này, nước sông bên mạn thượng nguồn Tây Lĩnh bắt đầu đổ về đỏ ngầu phù sa, bến bãi lầy lội, rác rưởi trôi dạt vào chân cầu ván nhiều quá, nên huyện ngầm giao cho nhóm phu bến của nó quét dọn, nạo vét bùn lầy, gọi cái tên mỹ miều là ‘phí vệ sinh bến’! Mỗi một gánh hàng bước chân qua cầu ván, không cần biết bên trong chứa thứ gì, nặng nhẹ ra sao, cứ hễ một đầu gánh qua dốc là phải nộp thêm mười lăm văn tiền kẽm! Mười lăm văn một gánh, Thanh Hà ơi! Em tính thử xem, một gánh rau muống, rau dền của thím Ba gánh từ mạn Cầu Bến sang, bán từ sớm tinh mơ đến xế bóng chiều hôm, trừ mười văn tiền đò ngang, trừ tiền vốn mua rau của chủ vườn, còng cả lưng may ra chỉ kiếm chác được hăm mốt, hăm hai văn tiền lãi còm để mua nửa đấu gạo lép cho năm đứa con đói lả đang ngồi chực ở xó nhà. Giờ nó đè cổ đòi mười lăm văn nộp cho chúng nó, thì mẹ con thím ấy nuốt đất mà sống qua cái mùa hạ này hay sao?”

Thanh Hà khẽ siết chặt ngón tay, mắt nàng lướt chậm rãi qua sáu mẩu giấy rách nát đặt ngay ngắn trên mặt tre:

“Có ai chịu nộp không chị? Hay là cự lại?”

“Không nộp thì nó hất đổ cả gánh hàng xuống bùn chứ cự làm sao nổi!” Giọng Nguyệt Nương nghẹn ngào, pha lẫn nỗi uất ức tột cùng của kẻ cùng đường đuối lý nơi bến bãi. “Dì Tư bán tương nếp xóm bên tiếc mớ tương nếp ủ men lá ròng rã suốt ba tháng trời mới được một chuyến mang sang chợ huyện, thấy thằng Lại Tam xông vào vung chân chực đá hắt vò tương, dì ấy vội quỳ sụp xuống, ôm rịt lấy quang gánh khóc lóc van xin thảm thiết. Thế mà thằng lâu la tay cầm gậy bọc đồng chẳng thèm chớp mắt, nó giơ chân đạp thẳng một phát vào sườn dì Tư, xô cả người lẫn vò ngã nhào xuống mép nước. Vò tương vỡ toang một góc, tương nếp chảy lênh láng hòa vào bùn lầy, bùn non bắn bê bết từ đầu tóc xuống tận gấu váy dì ấy. Sáu chị em chúng tao, từ hàng rau của thím Ba, hàng bột của tao với con Lụa, đến hàng tương của dì Tư, đứa nào đứa nấy sợ rúm cả người, run lẩy bẩy như cầy sấy giữa thanh thiên bạch nhật.”

Nguyệt Nương hít một hơi thật sâu, hai bờ vai run lên bần bật theo từng câu chữ tuôn trào:

“Tao thấy dì Tư bị đánh, máu trong người sôi lên sùng sục. Tao bước ra bảo nó: ‘Mày muốn thu tiền thì đưa thẻ bài có dấu triện đỏ của huyện nha hoặc trích lục sổ bộ của điếm sở bến đò ra đây, có lệ làng lệ nước phân minh thì tao nộp, bằng không đừng hòng cướp cạn!’. Mày biết thằng Lại Tam nó làm gì không? Nó trợn ngược đôi mắt đỏ ngầu toàn tròng trắng, phì ra một búng nước bọt tanh tưởi ngay trước mũi hài của tao, rồi nó dí sát cái mặt rỗ hoa, sặc sụa mùi rượu nếp hâm vào tận trán tao mà gằn từng tiếng: ‘Thẻ nằm trong nắm đấm bọc gân của tao, còn triện son thì nằm trong cái túi áo rách này của bố mày! Đứa nào ở cái bến Đông Tân này không nộp đủ mười lăm văn tiền kẽm thì cứ việc vứt mẹ hết gánh hàng xuống lòng sông Vọng Giang mà bơi ngửa về mạn nam! Để xem chúng mày tiếc mười lăm văn hay tiếc cả đôi quang sọt!’. Lúc ấy trời đã xế bóng, chị em tao sợ nát hết hàng họ, sợ trễ buổi chợ hôm thì rau thối, bột chua, tương vữa, đành phải ngậm đắng nuốt cay, bấm bụng thò tay vào cạp váy móc từng đồng tiền kẽm rỉ xanh giấu kỹ trong ruột tượng ra mà nộp cho nó. Tao uất quá, đứng chắn trước mặt nó bắt nó phải xé giấy biên nhận thì mới chịu buông tay đưa tiền. Nó liền cười sằng sặc, lấy mẩu than củi vót nhọn quẹt bừa mấy chữ nghuệch ngoạc lên mảnh giấy bổi gói hàng rách rồi bắt từng đứa dí ngón tay dính bùn dính tương vào làm chứng!”

Thanh Hà im lặng lắng nghe từ đầu đến cuối, từng thớ thịt trên gương mặt thanh tú khẽ căng cứng lại. Nàng hướng ánh nhìn ra ngoài màn đêm đang bao phủ lấy khúc sông rộng.

Nàng từng đối mặt với Lại Tam ngay tại mái lều tranh dột nát này vào những ngày đầu tiên nàng một mình bơ vơ mang theo chút bạc vụn đặt chân tới đất ngụ cư. Nàng hiểu quá rõ cái bản tính hung tợn, xảo quyệt của hắn. Hắn chẳng khác nào loài đỉa đói bám riết lấy chân bèo ven sông, chỗ nào mềm yếu, nhẫn nhục là hắn cắm vòi hút cho bằng kiệt máu tươi.

Hắn không bao giờ dám công khai động vào các phường lái buôn lớn chở gỗ lạt, tơ lụa của mạn Tây Lĩnh, hay những thuyền buôn gạo sầm uất xuôi ngược từ kinh kỳ về, bởi lẽ những thương gia giàu có ấy luôn có cả đám gia nhân, võ biền và phu phen mang gậy gộc hộ tống, lại có mối liên hệ mật thiết với các quan chức trên huyện thành. Lại Tam chỉ rình rập, nhắm vào những người phụ nữ chân yếu tay mềm, những góa phụ gầy mòn, những người mẹ lam lũ chắt chiu từng đồng tiền lẻ để đè nén, bóp nặn và trấn lột.

Mười lăm văn một gánh hàng rong. Không một tấm biên lai hợp thức có khuôn dấu, không một chiếc thẻ đồng có triện của huyện nha Thanh Lâm. Đây không còn là thói nhũng nhiễu vặt vãnh thường thấy nơi đầu bến cuối bãi nữa, mà đích thực là hành vi cưỡng đoạt công khai giữa chốn đông người.

“Tiểu Mãn,” Thanh Hà khẽ cất tiếng gọi. Giọng nàng không hề cao, nghe êm đềm như dòng nước sông trôi nhưng lại ẩn chứa một sức nặng dứt khoát lạ thường. “Em vào buồng trong, lấy nghiên mực đá đen, thỏi mực tàu có vẽ hình cành trúc và cuốn sổ giấy bổi bìa bọc vải xanh trên kệ gỗ ra đây cho chị.”

Tiểu Mãn nghe lời, vội vã dạ một tiếng thật giòn rồi thoăn thoắt chạy lướt vào trong góc chái bếp. Chỉ một lát sau, con bé đã cẩn thận ôm ra một chiếc tráp gỗ nhỏ xỉn màu vì năm tháng. Con bé đặt nhẹ nghiên đá lên mặt bàn tre, nghiêng chiếc gáo dừa rót vài giọt nước mưa trong vắt từ chiếc chén con vào lòng nghiên, đoạn cầm thỏi mực tàu mài tròn đều tay.

Tiếng đá cọ vào đá sàn sạt vang lên đều đặn. Chẳng mấy chốc, một mùi mực tàu thơm ngai ngái, thanh tao quen thuộc lan tỏa khắp gian lều, xua tan bớt cái bầu không khí u uất, tanh nồng mùi bùn đất và tương chua đang đè nặng trong lòng ba con người.

Thanh Hà vươn tay lật giở cuốn sổ giấy bổi dày cộp bìa bọc vải xanh thô. Đây là cuốn sổ nàng tự tay đóng lấy từ những ngày đầu mở quán trà, dùng để ghi chép tỉ mỉ từng món nợ tiền củi, tiền lá trà, tiền mua than quả bàng, và cũng là nơi nàng lặng lẽ lưu lại từng ngày, từng giờ những lần Lại Tam cùng đám đàn em kéo người tới quán sách nhiễu hay đập phá.

Nàng cẩn thận cầm ngọn bút lông thỏ, chấm nhẹ vào lòng nghiên mực đen nhánh, ngước mắt nhìn thẳng vào gương mặt hãy còn đỏ gay vì uất ức của Nguyệt Nương:

“Chị Nguyệt Nương, phàm ở đời muốn đòi lại lẽ phải, trước hết lòng mình phải sáng như gương, giấy tờ phải tỏ tường như ban ngày. Nỗi căm phẫn nếu chỉ thốt ra bằng miệng lưỡi thì gió sông Vọng Giang thổi qua một đêm là bạt đi mất hút, không ai nghe, không ai thấu. Ta phải chép lại rành mạch từng lời khai, ghi rõ họ tên từng người, ngày giờ đò cập bến và số tiền cụ thể bị tước đoạt. Không có chứng cứ nằm trên giấy trắng mực đen thì chốn nha môn cũng chỉ coi đó là chuyện cãi cọ xô xát vụn vặt của đàn bà nơi góc chợ mà thôi.”

Nguyệt Nương nhìn ngắm dáng vẻ nghiêm cẩn, đĩnh đạc và đôi mắt sáng ngời của Thanh Hà, cơn giận bừng bừng đang bốc lên ngùn ngụt trong lồng ngực bỗng chốc lắng dịu xuống, hóa thành một niềm tin cậy và nể phục sâu sắc. Chị kéo chiếc ghế tre ngồi sát lại mép bàn, nuốt nước bọt, bắt đầu lục lọi trong trí nhớ từng chi tiết nhỏ nhất của buổi chiều kinh hoàng:

“Được, để tao nhớ lại cho thật rành rọt... Người thứ nhất là thím Ba, tên thật là Trịnh Thị Liễu, người xóm Cầu Bến. Chiều nay thím ấy gánh sang bờ đông bốn mươi mớ rau muống và mười mớ rau dền tía. Thuyền cập bến đúng lúc đầu giờ Thân, vừa đặt chân lên dốc thì bị thằng Lại Tam chặn đòn gánh, ép nộp đủ mười lăm văn tiền kẽm. Người thứ hai là dì Tư, tức Nguyễn Thị Hạnh, người làng Vạn Lộc mé thượng lưu buôn tương nếp... Người thứ ba là cô Lụa bán bột lọc...”

Ngọn bút lông trong tay Thanh Hà lướt đi thoăn thoắt trên mặt giấy bổi ngả vàng. Từng nét chữ Nôm chân phương, sắc sảo và ngay ngắn lần lượt hiện lên rõ ràng dưới ánh đèn dầu. Nàng không bỏ sót bất kỳ một chi tiết nào: từ canh giờ đò ghé bờ ván, danh tính từng người phụ nữ, thứ nông sản hàng hóa mang theo trong quang gánh, số tiền bị cưỡng đoạt bằng vũ lực, cho đến những lời đe dọa thô bỉ của nhóm Lại Tam và hình thức các mẩu giấy nhận tiền bôi bác không hề có khuôn dấu của quan nha.

Sau khi đã cẩn thận ghi chép đủ lời trần thuật của cả sáu nữ tiểu thương, Thanh Hà lấy hồ nếp quết nhẹ vào mặt sau của từng mẩu giấy bổi dính bùn khô, dán ngay ngắn, thẳng thớm vào góc dưới của từng trang sổ tương ứng. Đoạn, nàng xoay nghiên mực đá sang phía trước mặt Nguyệt Nương, đưa ngọn bút lông cho chị:

“Chị là người đứng mũi chịu sào của Hội nữ thương Đông Tân, lại có mặt tận mắt chứng kiến toàn bộ sự việc từ đầu đến cuối. Chị viết tên mình vào đây, rồi điểm chỉ ngón tay cái xuống làm chứng cứ xác thực.”

Nguyệt Nương không chút ngần ngại, bàn tay thô ráp run rẩy cầm lấy ngọn bút, cẩn thận nắn nót viết từng nét chữ tên mình bên dưới dòng trần thuật, đoạn ấn mạnh đầu ngón tay cái đã chấm đẫm mực tàu đen nhánh xuống mặt giấy bản, tạo nên một dấu vân tay tròn trịa, dứt khoát như một lời thề son sắt.

Thanh Hà chờ cho lớp mực tàu se lại, nàng khẽ thổi nhẹ lên mặt giấy rồi gấp cuốn sổ lại thật cẩn thận. Nàng đứng dậy, với tay lấy chiếc áo tơi lá cọ treo trên vách nứa mặc vào người, rồi tháo cây đèn lồng bọc giấy dầu treo ở xà ngang xuống, châm ngọn lửa bấc:

“Đi thôi chị. Việc này tuyệt đối không thể để qua đêm. Càng để lâu sang ngày mai, Lại Tam càng ngỡ đám đàn bà chúng ta cam chịu nín nhịn, hắn sẽ lấn tới, ngày mai hắn sẽ đòi tăng lên hai mươi văn, rồi ba mươi văn. Ta tới điếm sở gặp phường bảo Đào Văn Kính ngay đêm nay.”

Tiểu Mãn thấy nàng khoác áo tơi, cầm đèn lồng chuẩn bị bước ra màn đêm mịt mùng thì hốt hoảng chạy lại, níu chặt lấy một góc vạt áo tơi lá của Thanh Hà, giọng run run:

“Chị Hà ơi... trời tối mịt mùng thế này, ngoài bến đò sông Vọng Giang vắng tanh vắng ngắt... Nhỡ trên đường gặp phải bọn người say rượu của bác Lại Tam thì biết làm sao...”

Thanh Hà dừng bước, nàng đưa bàn tay dịu dàng xoa nhẹ lên mái tóc xơ xác vì nắng gió của con bé, khẽ mỉm cười trấn an:

“Em ở lại quán cài then cửa liếp cho thật kỹ, trông chừng nồi nước sôi trên bếp than giùm chị. Chị với chị Nguyệt Nương đi tìm người giữ trật tự bến đò để đòi lại lẽ phải, tay cầm giấy tờ phân minh, lòng dạ ngay thẳng thì không có việc gì phải khiếp sợ loài lang sói.”

***

Điếm sở của phường bến Vọng Giang nằm cách quán trà chừng hai trăm bước chân về phía thượng lưu, nép mình dưới bóng một gốc đa cổ thụ um tùm rủ rễ chằng chịt như những cánh tay ma quái buông xuống triền sông. Đó là một gian nhà gỗ ba gian lợp ngói âm dương đã rêu phong cũ kỹ, mé tường bao trát đất trộn rơm nhiều chỗ đã nứt toác để lộ cả rui mè. Nơi đây vừa là chốn làm việc, tra xét thuyền bè, vừa là chỗ ngả lưng của phường bảo Đào Văn Kính cùng đám tuần đinh tuần bến mỗi khi đêm xuống.

Bên trong điếm sở, một ngọn đèn dầu lạc cỡ lớn treo lơ lửng trên xà nhà bằng sợi dây xích rỉ sét, tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù và oi nồng. Đào Văn Kính đang ngồi xếp bằng chễm chệ trên chiếc sập gụ khảm ốc đã bong tróc nhiều mảng. Lão trạc ngoài năm mươi tuổi, thân hình đẫy đà, bụng phệ nhô ra khỏi tấm áo cánh lụa màu mỡ gà cáu bẩn nơi cổ áo. Tay lão cầm chiếc điếu bát bằng gốm da chuối, rít một hơi thuốc lào kêu lên sòng sọc giòn tan, làn khói thuốc trắng đục, nồng nặc phả ra từ lỗ mũi và khóe miệng móm mém, cuộn tròn mờ mịt cả gian phòng ẩm mốc sực mùi bùn sông và gỗ ải.

Trên chiếc bàn gỗ dài kê sát mép sập bày la liệt những thẻ tre mục nát khắc số hiệu ghe thuyền, vài chồng sổ bộ phủ bụi mờ và mấy xâu tiền kẽm han rỉ xâu bằng sợi lạt giang nằm ngổn ngang cạnh đĩa tàn thuốc lá.

Nghe thấy tiếng bước chân dồn dập giẫm lạo xạo trên sỏi đá ngoài sân ngõ, Đào Văn Kính ngửa cổ nhả nốt ngụm khói cuối cùng, đôi mắt ti hí kèm nhèm lười biếng đảo qua khung cửa liếp mở he hé. Nhận ra bóng dáng hai người đàn bà một cao một thấp bước qua bóng tối tiến vào, lão khẽ nhíu đôi lông mày thưa thớt, đặt chiếc điếu bát cộc một tiếng xuống khay đồng mép sập:

“Kìa... cô chủ quán trà bến đông với Nguyệt Nương buôn bột bên chợ Đông Tân đấy à? Đêm hôm khuya khoắt, gió sông thổi buốt óc thế này, hai nàng không lo thu dọn quán xá, cài then đi ngủ cho sớm, lại lặn lội đội sương sang tận điếm sở bến đò làm cái giống gì? Có chuyện củi lửa bén vách hay thuyền chài neo đậu va quẹt rách lưới chăng?”

Thanh Hà bước qua bậu cửa gỗ cao ngang bắp chân. Nàng tháo chiếc nón lá, khẽ cúi đầu thi lễ đúng theo phép tắc cung kính của một người buôn bán nhỏ nơi đất ngụ cư đối với chức dịch cai quản địa phương:

“Thưa Đào phường bảo, chúng tôi đêm muộn mạo muội sang làm phiền ngài là bởi có việc hệ trọng nguy cấp, can dự trực tiếp đến sự yên ổn của toàn thể dân buôn bán trên bến sông Vọng Giang này. Chiều ngày hôm nay tại cầu ván chợ Đông Tân, nhóm người của Lại Tam đã ngang nhiên vác gậy gộc chặn đứng lối lên đò, dùng vũ lực cưỡng đoạt tiền của sáu nữ tiểu thương gánh hàng qua bến.”

Nguyệt Nương đứng bên cạnh không thể giữ nổi sự điềm tĩnh và lễ phép như Thanh Hà. Chị bước phăng phăng tới trước sập gụ, đặt mạnh cuốn sổ giấy bổi cùng những mẩu giấy biên nhận nham nhở dính bùn lên mặt bàn gỗ:

“Đào phường bảo, ngài là người ăn lộc của làng, giữ chức dịch của huyện, nắm giữ cán cân công bằng cho dân buôn bán xuôi ngược hai bờ sông. Xin ngài mở mắt nhìn cho rõ, thằng Lại Tam tự xưng thu cái gọi là ‘phí vệ sinh bến’, bắt mỗi gánh hàng của chị em chúng tôi phải nộp thêm mười lăm văn tiền kẽm! Sáu người chúng tôi bị nó cướp mất đứt chín mươi văn tiền mồ hôi nước mắt trắng trợn giữa ban ngày ban mặt! Tiền lệ bến bãi xưa nay của huyện nha quy định rành rành chỉ có ba văn một gánh, có bao giờ sinh ra cái thứ lệ phí bẩn thỉu vô lý này không? Xin ngài lập tức lập biên bản, sai tuần đinh mang gậy xích ra bắt ngay gã Lại Tam về điếm sở để trị tội!”

Đào Văn Kính giật nảy mình trước thái độ sục sôi và giọng nói sang sảng như chuông đồng của Nguyệt Nương. Lão đưa bàn tay mập mạp vuốt chòm râu dê lơ phơ dưới cằm, mắt liếc nhìn cuốn sổ giấy bổi. Chậm rãi với tay lấy cặp kính tròn có gọng bằng đồng máng vào hai vành tai, lão kéo ngọn đèn dầu lại gần, lật giở từng trang sổ.

Ngón tay trỏ ngắn củn, móng tay cáu bẩn của viên phường bảo rà chậm rãi trên từng nét chữ Nôm chân phương của Thanh Hà, rồi dừng lại rất lâu nơi những mẩu giấy bổi dính bùn khô cùng dấu điểm chỉ bằng mực đen lem nhem bên dưới.

Sắc mặt của Đào Văn Kính biến đổi liên tục theo từng trang giấy. Từ sự ngạc nhiên ban đầu khi thấy bản ghi chép quá đỗi chi tiết, chuyển sang lúng túng, rồi cuối cùng là một sự ngần ngại, e dè lộ rõ nơi khóe mắt gian giảo. Lão tháo cặp kính gọng đồng ra đặt lên bàn, thở dài một hơi thườn thượt ra vẻ đầy ưu tư, đẩy nhẹ cuốn sổ về phía mép bàn rồi với lấy chén nước trà nguội ngắt nhấp một ngụm nhỏ để kéo dài thời gian suy tính.

“Chuyện này... thực tình ta cũng có nghe phong thanh lũ tuần đinh đi tuần ban chiều về bẩm báo lại.” Đào Văn Kính hạ giọng, đổi sang giọng điệu thân tình, nhỏ nhẹ như người bề trên hiểu sự đời. “Các nàng buôn thúng bán mẹt, một nắng hai sương chắt bóp từng đồng tiền kẽm, nỗi vất vả ấy ta ở cái bến này bao năm làm sao không thấu hiểu cho được. Mười lăm văn một gánh... ừ thì, quả đúng là thằng Tam nó có hơi nặng tay, hơi gắt gao quá thật...”

“Hơi nặng tay ư?” Nguyệt Nương không nén nổi, lớn tiếng cắt ngang lời lão. “Đấy là cướp đoạt giữa ban ngày! Là bóp cổ dân nghèo!”

“Ấy, Nguyệt Nương! Nàng chớ có bốc hỏa, ăn nói hàm hồ như thế nơi công đường!” Đào Văn Kính xua xua đôi bàn tay béo múp, nét mặt lộ rõ vẻ bực bội xen lẫn chột dạ. “Ăn có nơi, nói có chốn, chốn điếm sở có bài vị Thành hoàng và chức sắc huyện nha chứng giám, không thể tùy tiện buông lời kích động! Các nàng đàn bà con gái, chỉ biết nhìn thấy cái lợi nhỏ trước mắt của mấy gánh rau muống, mấy đấu bột lọc, chứ có ngồi vào cái ghế phường bảo này của ta đâu mà thấu hiểu được nỗi khó xử của người gánh vác việc chung! Mùa hạ năm nay tuy trời hanh hao, nắng gắt, nhưng các nàng có nhìn thấy mây đen vần vũ trên đỉnh núi mạn Tây Lĩnh mấy hôm nay không? Nước nguồn trên ấy sắp sửa đổ về rồi, chỉ mươi ngày nữa thôi là con nước đỏ ngầu cuồn cuộn tràn xuống bến Vọng Giang này. Lúc bấy giờ, rác rưởi, củi mục, xác súc vật trôi dạt tấp vào chân cầu ván, ngập ngụa mép bến nhiều vô kể. Lực lượng tuần đinh của phường bến thì mỏng manh, có mấy mống người, tiền công xá huyện nha cấp phát mỗi tháng chẳng bõ dính răng. Thằng Lại Tam... dẫu tính khí nó có ngang tàng, ăn nói thô lỗ cục cằn thật, nhưng dưới tay nó có cả trăm thằng phu bốc vác, phu dỡ hàng khỏe như trâu mộng.”

Đào Văn Kính ngả người ra sau sập gụ, hướng đôi mắt ti hí nhìn chăm chú vào gương mặt tĩnh lặng của Thanh Hà, lựa lời khuyên nhủ bằng giọng ngọt nhạt:

“Thanh Hà này, nàng vốn là người thông minh, hiểu biết chữ nghĩa, lại từng trải qua cảnh ngộ éo le chìm nổi, ắt hẳn nàng phải thấu suốt cái đạo lý ‘dĩ hòa vi quý’ ở đời. Mùa buôn bán đầu hạ đang độ tấp nập nhất trong năm, ghe thuyền hai bờ sông Vọng Giang thông suốt, hàng họ không bị tắc nghẽn ứ đọng chính là nhờ vào cánh phu bến bốc dỡ của Lại Tam làm việc cật lực ngày đêm. Nếu bây giờ ta vì sáu gánh hàng rong của các nàng mà làm căng chuyện lên, sai tuần đinh ra trói bắt hay đè cổ phạt vạ Lại Tam, hắn nổi khùng lên, hô hào cả trăm thằng phu bến đồng loạt đình công, buông đòn gánh, không thèm khuân vác bốc dỡ than củi, gạo ngô cho các thuyền buôn mạn ngược mạn xuôi nữa, thì cái bến Vọng Giang này lập tức rơi vào cảnh đại loạn! Thuyền bè ứ đọng dài cả dặm sông, hàng hóa ôi thiu thối rữa, thương lái ngoại tỉnh kêu ca phàn nàn, huyện nha Thanh Lâm quở phạt giáng chức xuống thì ai đứng ra gánh vác cái tội ấy cho ta? Chi bằng... mỗi bên nhịn đi một câu, lùi lại một bước. Để sáng sớm ngày mai, ta đích thân gọi Lại Tam ra điếm sở này, dùng lời lẽ mềm mỏng khuyên răn nó, bảo nó giảm cái khoản thu ấy xuống còn năm văn, sáu văn tượng trưng thôi, coi như tiền bồi dưỡng cho mấy đứa em út quét dọn bùn rác bến bãi. Thế có phải là êm thấm, vẹn cả đôi đường không nào?”

Nghe những lời phân bua rành rẽ, trơn tuột như bôi mỡ nhưng thực chất toàn là những lời thoái thác hèn nhát và bao che của Đào Văn Kính, lòng Thanh Hà chùng xuống một nỗi thất vọng sâu cay.

Nàng không hề tỏ ra nao núng hay bối rối. Thanh Hà bước lên một bước, đứng thẳng người đối diện với sập gụ, đưa đôi mắt trong veo nhìn thẳng vào đôi mắt ti hí đang lấm lét của viên phường bảo. Nàng cất giọng nói, từng âm sắc mềm mại nhưng lại đanh thép, rõ ràng như từng nhát búa gõ lên mặt đe:

“Thưa Đào phường bảo, ngài mở miệng ra là nói câu ‘dĩ hòa vi quý’, nhưng đạo lý xưa nay dạy rằng: hòa khí chỉ có thể nảy sinh trên nền tảng của sự công bằng và phép nước nghiêm minh, chứ không bao giờ có thể xây đắp bằng sự nhẫn nhục trước bạo tàn. Chiểu theo quy chế thuế khóa hiện hành của huyện nha Thanh Lâm, mọi khoản lệ phí thu trên bến đò, sông ngòi hợp pháp đều phải có bảng gỗ niêm yết công khai từng điều khoản, người thu tiền buộc phải giao thẻ bài bằng đồng hoặc biên lai có đóng triện son của quan huyện làm căn cứ. Lại Tam rốt cuộc giữ chức sắc gì trong bộ máy nha môn mà dám tự tiện đặt ra lệ phí mới, tự ý dùng đòn gánh, gậy bọc đồng ép buộc dân buôn bán nhỏ phải nộp tiền mãi lộ? Hôm nay ngài vì sợ đám phu phen mà nhượng bộ hắn từ mười lăm văn xuống năm sáu văn, thì ngày mai ngày kia hắn sẽ lại nghĩ ra đủ thứ lệ phí kỳ quặc khác: phí buộc dây thuyền vào cọc bến, phí đi qua bóng râm gốc đa, phí đặt chân lên dải cát ven sông! Nếu một viên chức dịch như ngài sẵn sàng dung túng cho cái ác, cái sai lộng hành chỉ vì manh chiếu an nhàn dưới mông mình, thì xin hỏi ngài, cái bến đò Vọng Giang này rốt cuộc vẫn là bến sông dưới sự cai trị của luật pháp triều đình, hay đã biến thành giang sơn lãnh địa riêng của một phường lục lâm thảo khấu?”

Đào Văn Kính bị một người đàn bà góa trẻ tuổi, lại là dân ngụ cư mới tới chưa ấm chỗ, bóc trần tim đen bằng những lý lẽ đanh thép trước mặt tuần đinh thì mặt mũi đỏ gay lên như gấc chín. Nỗi xấu hổ xen lẫn sự tức giận bốc lên ngùn ngụt, lão đập mạnh chiếc chén sành xuống khay đồng đánh ‘choảng’ một tiếng, nước chè chát bắn tung tóe lên mặt bàn:

“Liễu thị! Nàng đừng có cậy mình biết dăm ba mặt chữ mà dám đứng giữa chốn công đường này đem luật lệ huyện nha ra dọa dẫm ta! Ta đây làm phường bảo ở cái bến đò Vọng Giang này đã ngót nghét mười mấy năm trời, giữ cho khúc sông này sóng êm gió lặng qua bao nhiêu mùa lũ quét, việc quan việc làng xử trí ra sao chưa đến lượt một ả đàn bà ngụ cư bán nước chè chén như nàng phải xỏ mũi dạy bảo! Ta nể tình xóm giềng mới nhọc lòng mở lời hay lẽ phải khuyên can các nàng biết nhẫn nhịn vì đại cuộc. Nếu các nàng không biết điều, cứ khăng khăng thích làm to chuyện, thích khuấy nước chọc bùn thì mặc xác các nàng, tự đi mà tìm Lại Tam mà đòi lại tiền! Nhưng ta nói trước cho nàng biết, nếu vì việc này mà bến đò xảy ra xô xát đổ máu, phu bến đình công làm thuyền bè ách tắc kinh động tới quan trên, thì người đầu tiên ta làm tờ bẩm báo lên huyện trị tội chính là cái quán trà của nàng—nơi tụ tập đàn bà con gái lắm điều, xúi giục dân chúng gây rối trị an bến bãi!”

Nguyệt Nương giận đến mức toàn thân run rẩy, hai hàm răng nghiến chặt trèo trẹo, chị định nhảy chồm lên sập gụ mắng thẳng vào mặt lão phường bảo hèn hạ, nhưng Thanh Hà đã nhanh tay níu chặt lấy cổ tay bạn.

Ánh mắt Thanh Hà lúc này lạnh băng như mặt nước hồ mùa đông. Nàng không còn chút dao động hay mảy may hy vọng gì nơi người đại diện cho trật tự địa phương này nữa. Nàng đã nhìn thấu tất cả: Đào Văn Kính không đơn thuần chỉ khiếp sợ đám phu bến của Lại Tam quấy phá trước mùa nước lớn, mà sâu xa hơn, bản thân lão ta từ lâu đã dung dưỡng cho sự lộng hành ấy, thậm chí rất có thể chính lão cũng đang được chia phần từ những đồng tiền kẽm vấy bùn đất tước đoạt của dân nghèo.

Thanh Hà điềm đạm thu lại cuốn sổ giấy bổi cùng những mẩu giấy biên nhận dán trên đó, cẩn thận gấp lại rồi nhét sâu vào trong vạt áo trước ngực. Nàng lùi lại một bước, khẽ nghiêng mình thi lễ lạnh lùng:

“Đã làm phiền Đào phường bảo nghỉ ngơi đêm muộn. Từng lời, từng ý ngài vừa phân xử tối nay, hai chị em chúng tôi đều đã ghi tạc vào lòng.”

Nói đoạn, nàng nắm chặt lấy bàn tay lạnh ngắt của Nguyệt Nương, dứt khoát xoay người rảo bước ra khỏi điếm sở, bỏ lại sau lưng tiếng ho hắng phì phò đầy bực bội của Đào Văn Kính cùng mùi thuốc lào ngột ngạt quyện trong ánh đèn dầu leo lét.

***

Bước chân ra đến bờ sông, gió đêm thốc thẳng vào mặt mang theo những hạt nước phù sa li ti lạnh ngắt. Nguyệt Nương không nén nổi uất ức, chị giậm chân thình thịch xuống nền sỏi cát ven bờ, nước mắt trào ra giàn giụa:

“Thanh Hà ơi! Em thấy chưa, lão Kính rõ ràng là cùng một ruột với thằng Lại Tam! Lũ quan chức đớn hèn, cá mè một lứa cả lũ, chỉ giỏi đè đầu cưỡi cổ đám đàn bà góa bụa, dân đen thấp cổ bé họng! Bây giờ chẳng lẽ chị em chúng ta đành cắn răng nuốt nhục, chịu mất trắng chín mươi văn tiền kẽm, rồi sáng ngày mai lại ngoan ngoãn chìa cổ ra cho thằng Tam nó kề dao chém tiếp hay sao?”

Thanh Hà đứng sững lại bên mép nước, chiếc áo tơi lá bay phần phật trong gió đêm. Nàng phóng tầm mắt nhìn qua khúc sông Vọng Giang cuồn cuộn sóng đen thẫm. Phía bên kia bờ tây, ánh đèn lồng màu đỏ quạch từ Trà lâu Nghênh Xuân vẫn hắt xuống mặt sông những vệt sáng chập chờn, ma quái.

Nàng hít sâu một hơi dài, lồng ngực căng tràn bầu không khí trong lành của sông nước, ánh mắt nàng lóe lên một tia sáng kiên định phi thường:

“Không thể nhịn, chị Nguyệt Nương. Người ta nhẫn nhịn là để chờ thời cơ, chứ nhẫn nhịn trước sự ức hiếp vô đạo thì chẳng khác nào tự tay dâng mạng mình cho lang sói xâu xé. Phường bảo Đào Văn Kính chỉ là một chức dịch hèn mọn nơi góc bến, lão sợ mất chức, sợ xáo trộn nên mới tìm cách lấp liếm bao che. Nhưng trên phường bến còn có Huyện nha, trên Đào Văn Kính còn có Quan phụ mẫu triều đình và các vị thư lại coi sóc luật pháp!”

“Lên Huyện nha ư?” Nguyệt Nương tròn xoe đôi mắt, giọng chị run lên đầy vẻ e sợ cố hữu của người dân quê mùa. “Xưa nay người buôn bán nhỏ như chúng mình sợ nhất là dính dáng tới cửa công quyền. Người đời thường bảo nhau ‘Cửa nha môn mở rộng về hướng nam, có lý không tiền chớ bước vào’, huống chi chúng mình thân cô thế cô...”

“Câu nói ấy chỉ đúng với những kẻ đi kiện tụng gian dối, hoặc hạng người không có bằng chứng xác thực trong tay mà thôi.” Thanh Hà đưa tay vỗ nhẹ lên ngực áo, nơi cuốn sổ giấy bổi dày cộp đang nằm áp sát vào lồng ngực ấm nóng của nàng. “Thư lại phụ trách Thương vụ và lệ phí thuế khóa của Huyện nha Thanh Lâm hiện nay là ngài Vũ Chính An. Em từng nghe bác chèo đò Từ Bá kể rất nhiều lần: ngài Vũ Chính An vốn xuất thân từ một gia đình nghèo khó bán hàng rong nơi chân núi, thi đỗ khoa cử rồi vào làm việc trong nha môn. Tính ngài ấy xưa nay nổi tiếng thanh liêm, nghiêm cẩn đến khắc nghiệt, coi trọng giấy tờ bằng chứng hơn vàng bạc và căm ghét nhất là thói tham nhũng, nhũng nhiễu bến bãi. Lần trước thằng Lại Tam tới quán trà gây sự, nó cũng đã từng phải chùn bước khi em nhắc tới danh tiếng của Vũ thư lại. Đêm nay, chị về quán cùng em, thắp đèn viết lại một lá đơn khiếu nại cho thật chu toàn. Sáng sớm mai, ngay chuyến đò đầu tiên sang sông, em và chị sẽ vượt đường lên huyện thành Thanh Lâm gõ cửa Thương vụ phòng tìm gặp Vũ thư lại!”

Từng lời phân tích rành rọt, khúc chiết cùng ngọn lửa kiên định rực cháy trong đôi mắt của Thanh Hà như một dòng suối ấm xua tan đi toàn bộ nỗi sợ hãi, hoang mang trong lòng Nguyệt Nương. Chị buôn bột siết chặt lấy bàn tay thon nhỏ nhưng cứng cỏi của người bạn đường, gật đầu thật mạnh:

“Được! Tao nghe em! Dù có phải đi bộ rã cẳng, tróc da chân lên tận huyện thành, tao cũng phải đi một phen để đòi lại công bằng cho sáu chị em!”

Đêm hôm ấy, quán trà nhỏ mé đông bến Vọng Giang sáng đèn đến tận lúc gà gáy canh tư. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn bấc hạt đỗ, Thanh Hà nắn nót từng nét chữ thảo một lá đơn khiếu nại dài ba trang giấy bản, kể lại chi tiết từng diễn biến, dẫn giải rõ ràng các điều lệ thuế bến bãi của triều đình và tố cáo thẳng thắn hành vi cưỡng đoạt của nhóm Lại Tam cũng như sự thoái thác vô trách nhiệm của phường bảo Đào Văn Kính.

Khi sương mù còn giăng mờ mịt trên mặt sông Vọng Giang, nuốt trọn cả những rặng lau sậy đôi bờ, tiếng chuông điểm canh năm từ ngôi miếu cổ bên bến vừa dứt hồi ngân nga, chuyến đò sớm của lão lái đò Từ Bá đã rẽ làn nước lạnh ngắt đưa hai người phụ nữ sang bờ tây.

Ngồi trên mũi thuyền nan bồng bềnh, nghe Nguyệt Nương kể lại đầu đuôi câu chuyện đêm qua và thấy lá đơn cùng cuốn sổ chứng cứ của Thanh Hà, lão Từ Bá buông một tiếng thở dài trầm đục. Lão gạt mái chèo sang một bên, kiên quyết đẩy trả lại hai đồng tiền kẽm tiền đò mà Thanh Hà chìa ra, giọng lão khàn khàn:

“Hai đứa cất tiền đi. Lão chèo đò ở khúc sông này mấy chục năm, nhìn thấu cái trò mèo mỡ của thằng Tam với lão Kính từ lâu rồi, chỉ tiếc phận già này lực bất tòng tâm. Vũ thư lại trên huyện nha quả thực là người công minh chính trực, nhưng chữ nghĩa và phép tắc của ngài ấy khắt khe, sắc nhọn như gươm giáo vậy. Lên tới cửa nha môn, Thanh Hà cháu có lý lẽ thì cứ đứng thẳng lưng mà thưa gửi, chớ có bi lụy khóc lóc như đàn bà thường tình; các quan coi trọng chứng cớ nằm trên giấy hơn là nước mắt rớt trên sân gạch.”

Rời bến đò bờ tây khi trời vừa hửng sáng, Thanh Hà và Nguyệt Nương lập tức cất bước rảo nhanh dọc theo con đường thiên lý rợp bóng phi lao dẫn về hướng bắc. Đường trường bụi bặm dài hơn ba mươi dặm đất. Nắng đầu hạ bắt đầu bốc lên hầm hập, thiêu đốt da thịt như trút lửa xuống con đường đất nện khô khốc. Gió lào thổi từng cơn rát bỏng làm cát bụi bay mù mịt bám vào khóe mắt, bờ môi.

Gấu váy vải thô của hai người ướt đẫm mồ hôi quyện chặt lấy bụi đường đỏ quạch, đôi bàn chân trần giẫm lên sỏi đá bỏng rát đau nhói, nhưng suốt hai canh giờ dặm trường dằng dặc, cả Thanh Hà lẫn Nguyệt Nương không ai thốt ra nửa lời than vãn. Trong lòng họ chỉ có một ý nghĩ duy nhất: phải đến được nha môn trước giờ Ngọ.

Huyện thành Thanh Lâm sừng sững hiện ra ở cuối con đường thiên lý giữa một khu phố buôn bán sầm uất, kẻ qua người lại tấp nập. Khu nha môn huyện tọa lạc uy nghiêm ở chính giữa phố lớn, nổi bật với bức tường vôi trắng tinh bao quanh và chiếc cổng gỗ lim đồ sộ quét sơn đỏ thẫm.

Trước cổng nha môn, hai người lính lệ vận áo nẹp đỏ viền xanh, tay lăm lăm trường côn đứng gác với vẻ mặt đăm chiêu, lạnh lùng. Tiếng trống tang tang gõ từng nhịp dõng dạc điểm giờ làm việc buổi sáng vọng ra từ bên trong sân gạch rộng thênh thang, rợp bóng những cây bàng cổ thụ.

Nhờ sự dẫn đường của một người lính lệ già sau khi Thanh Hà nhã nhặn bước tới thi lễ, trình bày mục đích và kín đáo xuất trình tờ biên nhận nộp thuế môn bài hàng tháng của quán trà để chứng minh thân phận dân buôn lương thiện, hai người được phép bước qua bậc thềm đá xanh. Họ đi vòng qua một dãy hành lang dài lát gạch mát rượi, tiến vào Thương vụ phòng nằm nép mình ở dãy nhà phía đông của khu công sở.

Trái ngược hoàn toàn với sự nhếch nhác, ẩm thấp và nồng nặc mùi thuốc lào ở điếm sở bến đò của Đào Văn Kính, Thương vụ phòng là một gian phòng rộng rãi, ngăn nắp và tĩnh mịch đến lạ lùng.

Dọc theo bốn bức tường quét vôi xám là những chiếc giá gỗ thông cao ngất ngưởng chạm trần, xếp đầy những chồng hồ sơ, sổ bộ bằng giấy bản buộc dây cước chỉn chu, bên ngoài dán nhãn thẻ tre ghi rõ từng tổng, từng hạt. Mùi giấy mực tinh tươm quyện với mùi gỗ thông và làn khói trầm hương thoang thoảng tỏa ra từ chiếc lư đồng nhỏ nơi góc phòng tạo nên một bầu không khí trang nghiêm, chuẩn mực và đầy tính răn đe của luật pháp chốn công môn.

Ngồi ngay ngắn sau chiếc bàn làm việc bằng gỗ gụ lớn kê sát cửa sổ chấn song con tiện là một người đàn ông trạc ngoài bốn mươi tuổi. Ông có vóc người gầy guộc, mảnh khảnh nhưng sống lưng thẳng tắp như một cây tùng mọc trên vách đá. Ông vận bộ áo dài bằng vải lam cộc tay giản dị, mái tóc hoa râm búi gọn gàng cài bằng một chiếc trâm gỗ trơn, đôi mắt sáng quắc, tinh anh ẩn sau đôi hàng lông mày rậm hơi xếch ngược lên thái dương. Đó chính là Thư lại phụ trách Thương vụ toàn hạt Thanh Lâm—Vũ Chính An.

Thấy tiếng bước chân rụt rè của hai người phụ nữ lam lũ bước qua ngưỡng cửa, Vũ Chính An không hề ngẩng đầu lên ngay. Ông vẫn cẩn trọng cầm ngọn bút lông thỏ chấm vào chiếc đĩa sứ đựng mực chu sa đỏ thắm, nắn nót phê nốt một dòng chữ đỏ tươi lên tờ công văn đang mở dở trên mặt bàn. Động tác của ông khoan thai, chuẩn xác đến từng ly từng tí.

Mãi sau khi đã đặt ngọn bút lông ngay ngắn lên chiếc giá sứ hình rặng núi, viên thư lại mới chậm rãi ngước đôi mắt sắc sảo nhìn hai người phụ nữ đang đứng nép mình bên mép thềm gạch:

“Ai là người đứng đơn khiếu nại? Có việc chi can dự đến ngạch thuế khóa hay lệ phí bến bãi mà lại tìm đến Thương vụ phòng vào giờ này?”

Thanh Hà hít một hơi thật sâu để lấy lại sự bình tĩnh. Nàng bước lên hai bước, hai tay nâng cao ngang trán, kính cẩn dâng lên mặt bàn chiếc tráp gỗ đựng cuốn sổ giấy bổi cùng tờ đơn khiếu nại ba trang chữ Nôm do nàng thức trắng đêm qua chấp bút:

“Bẩm ngài Vũ thư lại, dân nữ tên là Liễu Thanh Hà, hiện mở một quán trà nhỏ mé đông bến đò Vọng Giang, cùng Đỗ Nguyệt Nương, tiểu thương buôn bột ngụ tại chợ Đông Tân. Chúng dân muôn dặm lặn lội đến gõ cửa nha môn, mạo muội đệ trình tập hồ sơ cùng đơn khiếu nại về hành vi cưỡng đoạt, tự ý thu phí bến bãi trái quy chế triều đình của nhóm người Lại Tam tại bến sông Vọng Giang.”

Vũ Chính An khẽ nhướng đôi mày rậm khi nghe thấy giọng nói trong trẻo, âm vực rõ ràng, không hề có chút run rẩy sợ sệt và đặc biệt là cách dùng từ ngữ chuẩn xác, gãy gọn như người từng dùi mài kinh sử của nàng góa phụ trẻ.

Ông vươn cánh tay gầy guộc đón lấy tập hồ sơ. Khi lật mở tờ đơn khiếu nại và cuốn sổ giấy bổi dày cộp, nhìn thấy từng dòng chữ viết chân phương, nét mực tàu sắc sảo chưa phai mùi keo, ghi chép tường tận từng ngày, từng giờ, từng tên tuổi nạn nhân kèm theo các mẩu giấy thu tiền dính bùn đất được dán tỉ mỉ bên cạnh, ánh mắt nghiêm nghị của viên thư lại thoáng hiện lên một tia ngạc nhiên và thảng thốt hiếm thấy.

Vũ Chính An khẽ hằng giọng, ông đứng dậy bước tới chiếc tủ gỗ sơn then đặt ở góc phòng. Tra chìa khóa đồng vào ổ, ông cẩn thận rút ra một tập sách mỏng bọc gấm vàng—đó chính là bản chính “Bảng lệ quy định thuế khóa và lệ phí bến bãi đò giang toàn hạt Thanh Lâm” có đóng triện đỏ của quan Tri huyện và chữ ký xác nhận của quan Bố chính sứ tỉnh hạt.

Viên thư lại quay trở lại bàn, trải rộng tập sách gấm vàng ra đặt song song với cuốn sổ giấy bổi của Thanh Hà. Ông rút từ ống quyển ra một chiếc thước bằng gỗ mun dài một thước hai tấc, cẩn trọng đặt mép thước rà qua từng con số, từng mẩu giấy rách dính bùn để đối chiếu tỉ mỉ với từng điều khoản ghi trên văn bản luật định.

Cả gian phòng rộng lớn bỗng chốc rơi vào một sự im ắng tuyệt đối, chỉ còn nghe thấy tiếng sột soạt của giấy bản cọ vào nhau, tiếng lách cách khe khẽ của chiếc thước gỗ mun gõ nhẹ xuống mặt bàn theo từng nhịp suy nghĩ của viên thư lại, và tiếng thở dồn nén đầy căng thẳng của Nguyệt Nương. Người phụ nữ buôn bột đứng chôn chân bên cạnh thềm gạch, hai bàn tay bóp chặt lấy nhau đến mức các đốt ngón tay trắng bệch ra, mồ hôi hột rịn ra ướt đẫm trán.

Gần trọn một tuần hương trôi qua trong bầu không khí ngột ngạt ấy. Cuối cùng, Vũ Chính An mới chậm rãi buông chiếc thước gỗ mun xuống mặt bàn, ngả người ra lưng ghế, ngước đôi mắt sắc sảo nhìn thẳng vào gương mặt Thanh Hà:

“Liễu thị, chữ viết của nàng rất khá, nét chữ cứng cỏi đĩnh đạc, trần thuật sự việc và ghi chép ngày giờ rành mạch, chuẩn xác hơn rất nhiều những lá đơn kiện do đám thầy kiện rong ngoài cổng huyện nha viết thuê ăn tiền. Đúng như những gì nàng đã phản ánh trong đơn, theo đúng bản lệ quy định của toàn hạt Thanh Lâm do quan Tri huyện ban hành, thuyền bè hay người đi bộ gánh hàng lặt vặt qua bến chỉ phải nộp tiền xâu đò ba văn một gánh nộp vào quỹ duy tu cầu ván, tuyệt nhiên không có thứ gọi là ‘phí vệ sinh bến’ mười lăm văn do tư nhân tự ý đứng ra thu. Mọi khoản thu ngoài lệ không có thẻ đồng của huyện, không có biên nhận mang dấu triện son của nha môn đều là hành vi trái pháp luật triều đình, xâm hại nghiêm trọng đến trật tự trị an địa phương.”

Nguyệt Nương nghe đến mấy câu ấy thì mừng quýnh lên, đôi mắt sáng rực, chị suýt nữa thì buột miệng reo to:

“Quan lớn anh minh! Thế là nha môn sẽ lập tức sai lính lệ mang gậy sắt xích đồng về bắt trói gông cổ thằng Lại Tam lại ngay phải không ngài?”

Vũ Chính An lập tức đưa mắt nhìn sang Nguyệt Nương. Ánh nhìn lạnh buốt và sắc nhọn như lưỡi dao cạo của viên thư lại khiến Nguyệt Nương giật thót mình, vội vàng rụt cổ lại, lời nói nghẹn ứ nơi cuống họng:

“Bắt người ư? Ngươi tưởng huyện nha là cái xới vật hay là nơi họp chợ để hành xử theo cảm tính bốc đồng của đàn bà các ngươi sao?”

Viên thư lại dùng đầu ngón tay gõ mạnh ba tiếng ‘cốc, cốc, cốc’ lên mặt cuốn sổ giấy bổi:

“Huyện nha là chốn thi hành điển lệ quốc gia, mọi việc định tội phán quyết đều phải căn cứ vào chứng lý vững như bàn thạch! Hồ sơ của các nàng quả thực có lời khai chi tiết, có số tiền, có mẩu giấy biên nhận dính bùn và dấu điểm chỉ làm tin, nhưng xét theo đúng trình tự tố tụng của nha môn, tập chứng cứ này hiện thời vẫn còn hai lỗ hổng chí mạng!”

Thanh Hà vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh phi thường, nàng khẽ cúi đầu, chắp tay thành kính:

“Kính xin Vũ thư lại rủ lòng thương xót dân đen, chỉ giáo cặn kẽ cho chúng dân được tỏ tường chỗ thiếu sót.”

Vũ Chính An nhìn nàng góa phụ trẻ với ánh mắt dò xét sâu hơn, đoạn ông gằn giọng nói rành rọt từng lời:

“Thứ nhất, các nàng làm đơn tố cáo Lại Tam cùng phường bến thu sai lệ, tự ý tăng phí lên mười lăm văn. Nhưng trong toàn bộ tập hồ sơ khiếu nại này, các nàng lại hoàn toàn thiếu mất bản trích lục bảng niêm yết lệ phí chính thức có đóng dấu xác nhận của Phường bến Vọng Giang! Về mặt thủ tục hình án, muốn định tội một kẻ thu tiền vượt mức quy định, trước hết bên nguyên đơn phải đệ trình văn bản pháp lý hợp thức chứng minh mức thu đúng chuẩn tại địa bàn đó là bao nhiêu để làm căn cứ đối chất trước công đường. Ta hỏi nàng: Phường bảo Đào Văn Kính có ký tên điểm chỉ xác nhận vào lá đơn này hay cấp bản trích lục sổ bộ cho các nàng không?”

Thanh Hà khẽ cắn chặt bờ môi dưới, nàng lắc đầu trả lời thành thật:

“Bẩm ngài, đêm qua chúng tôi đã tới điếm sở gặp Đào phường bảo. Nhưng Đào phường bảo e ngại đám phu bến của Lại Tam sẽ đình công làm ách tắc thuyền bè khi mùa nước đỏ thượng nguồn tràn về, nên đã tìm lời thoái thác, khuyên chúng tôi dĩ hòa vi quý và kiên quyết từ chối ký tên xác nhận.”

“Đó chính là chỗ sơ hở chết người!” Vũ Chính An hừ lạnh một tiếng, nét mặt đanh lại. “Đào Văn Kính muốn giữ yên chiếc ghế phường bảo của hắn nên mới giở thói đùn đẩy trách nhiệm. Nhưng nếu không có trích lục bảng niêm yết có ấn chỉ từ điếm sở hoặc chữ ký thị thực của phường bảo xác nhận sự việc, thì khi ra trước công đường, bên bị kiện hoàn toàn có thể trơ tráo cãi rằng: mười lăm văn tiền kia là tiền thù lao bốc vác, khuân dỡ do đôi bên tự nguyện thỏa thuận giữa tiểu thương và phu bến, chứ không phải là lệ phí bến bãi cưỡng ép! Lúc ấy, không có văn bản nhà nước đối chứng, quan phụ mẫu lấy gì để bác bỏ lời biện hộ của chúng?”

Viên thư lại ngừng lại một nhịp, nhấp thêm một ngụm trà nguội, đoạn giơ ngón tay thứ hai lên:

“Thứ hai, sáu người ký tên điểm chỉ trong cuốn sổ giấy bổi này đều là những người gánh hàng bị mất tiền chiều hôm qua. Họ đều là nạn nhân, tức là những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến vụ việc khiếu nại. Về mặt phép tắc xét xử, lời khai của người trong cuộc dẫu có thật thà đến mười phần thì trước mặt quan tòa cũng chỉ được xem là lời khai một chiều, mang nặng tư tâm oán hận. Muốn nha môn chính thức thụ lý hồ sơ mở phiên đối chất công khai, các nàng buộc phải bổ sung thêm lời khai của ít nhất một người làm chứng độc lập!”

“Người làm chứng độc lập?” Nguyệt Nương tròn xoe mắt, ngơ ngác lặp lại cụm từ lạ lẫm.

“Phải!” Vũ Chính An gật đầu dứt khoát. “Đó phải là một người tận mắt chứng kiến Lại Tam dùng gậy bọc đồng chặn đò, ép tiền và xô ngã dân buôn, nhưng bản thân người đó tuyệt đối không buôn bán rau củ hay bột gạo, không mất một đồng tiền kẽm nào trong vụ cưỡng đoạt ấy, và quan trọng nhất: người đó phải có căn cước rõ ràng, có uy tín và tư cách pháp nhân tại bến Vọng Giang để sẵn sàng chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu khai man! Không có bản sao bảng niêm yết lệ phí của phường bến và không có người làm chứng độc lập có uy tín đứng ra bảo lãnh lời khai, lá đơn khiếu nại này dẫu có đặt lên bàn của quan Tri huyện cũng sẽ bị quan phủ gạt phắt đi theo đúng điều lệ tố tụng!”

Căn phòng Thương vụ lại rơi vào một khoảng lặng trĩu nặng ngột ngạt.

Nguyệt Nương nghe xong thì mặt mày tái mét không còn một giọt máu. Bao nhiêu niềm hy vọng vừa nhen nhóm bỗng chốc như bị cả một gáo nước đá dội thẳng vào đầu làm tắt ngấm hoàn toàn. Tìm đâu ra một người làm chứng độc lập ở cái chốn bến đò Vọng Giang xô bồ, phức tạp ấy? Đám phu bốc vác thì sống bám vào nắm đấm của Lại Tam, cánh lái buôn ghe lớn thì chỉ lo giữ mối làm ăn yên ổn sợ rước vạ vào thân, còn dân xóm chài thì xưa nay thấy bóng gậy bọc đồng là đã vội vàng trốn biệt vào khoang thuyền. Ai dám dại dột đứng ra vạch mặt chỉ tên một tên đầu trâu mặt ngựa khét tiếng tàn bạo?

Thế nhưng, Thanh Hà không hề để cho sự tuyệt vọng len lỏi vào tâm trí. Nàng đứng lặng người, ánh mắt chăm chú nhìn sâu vào đôi mắt nghiêm khắc của Vũ Chính An. Nàng nhận ra một điều vô cùng quan trọng: ẩn sau những lời lẽ lạnh lùng, chặt chẽ và có phần tàn nhẫn theo đúng khuôn phép ấy không hề có sự xua đuổi hay thoái thác hèn hạ như Đào Văn Kính, mà đó chính là sự chỉ dẫn tận tình, cặn kẽ của một vị thư lại thực sự am tường luật lệ, muốn vụ án khi đưa ra ánh sáng phải có đủ chứng cứ thép để kẻ gian không còn đường chối cãi.

Thanh Hà khẽ cúi đầu thật sâu, giọng nàng trầm tĩnh, rành mạch và đầy kiên nghị:

“Dân nữ đội ơn Vũ thư lại đã chỉ rõ những chỗ thiếu sót chí mạng trong hồ sơ. Từng lời vàng ngọc của ngài, chúng tôi xin khắc cốt ghi tâm. Chúng tôi sẽ lập tức quay trở về bến Vọng Giang, bằng mọi giá tìm cho được người làm chứng độc lập có đủ uy tín và lấy bản sao bảng niêm yết lệ phí chính thức để bổ sung vào hồ sơ khiếu nại.”

Vũ Chính An nhìn nàng góa phụ trẻ tuổi trước mặt, trong đáy mắt sâu thẳm của viên thư lại già dặn chợt lướt qua một tia tán thưởng và khâm phục kín đáo. Ông khẽ gật đầu, đưa mắt nhìn quanh gian phòng vắng lặng rồi hạ thấp giọng xuống một bậc, tiết lộ một điều cơ mật trong nha môn:

“Các nàng hãy thu xếp cho thật nhanh và thật chặt chẽ. Huyện nha hiện đang chuẩn bị ban hành lệnh chuẩn hóa lại toàn bộ việc thu thuế khóa và lệ phí bến sông trên toàn hạt trước khi con nước đỏ tràn về, nhằm quét sạch tệ nạn nhũng nhiễu, cát cứ lũng đoạn bến đò bấy lâu nay. Quan Tri huyện đặc biệt lưu tâm đến tình hình phức tạp tại bến Vọng Giang. Nếu hồ sơ khiếu nại của các nàng bổ sung đủ chứng cứ thép không thể lay chuyển, nha môn nhất định sẽ thụ lý, mở phiên công đường đối chất công khai để làm gương răn đe cho toàn hạt!”

Nhận lại chiếc tráp gỗ đựng cuốn sổ giấy bổi từ tay Vũ Chính An, Thanh Hà và Nguyệt Nương kính cẩn hành lễ tạ ơn rồi lui gót bước ra ngoài.

Khi bước chân ra khỏi cổng lớn của huyện nha Thanh Lâm, nắng trưa đã rọi thẳng đỉnh đầu, chan chát thiêu đốt trên những mái ngói rêu phong của phố huyện. Bụi đường bốc lên mù mịt, bụng đói cồn cào và hai chân mỏi rã rời sau chặng đường dài dằng dặc, nhưng trong lồng ngực Thanh Hà lại bừng lên một niềm tin sáng rõ hơn bao giờ hết: cánh cửa công lý chốn quan nha không hề đóng kín trước dân nghèo, chỉ cần nàng nắm chắc lý lẽ trong tay và kiên trì gom đủ những mảnh chứng cứ thép.

Thế nhưng, tin tức về việc hai người đàn bà góa buôn bán nhỏ dám cả gan vượt sông Vọng Giang, đội nắng lặn lội lên tận nha môn huyện để đệ đơn kiện tụng phường bến đã không thể nào giấu kín được đôi mắt của lũ tay sai.

Đến chiều muộn, khi vệt nắng cuối ngày nhuộm đỏ quạch cả một khúc sông Vọng Giang và chuyến đò ngang chở Thanh Hà cùng Nguyệt Nương vừa cập lại mé ván bến đò mé đông, một bầu không khí ngột ngạt, kỳ quặc và lạnh lẽo đến rợn người đã bao trùm lấy khắp các nẻo đường dẫn vào chợ Đông Tân.

Những người phu bốc vác ngày thường vẫn ghé quán trà của Thanh Hà uống bát nước chè tươi, nay vừa thoáng thấy bóng nàng bước lên mé ván gỗ đã vội vã cúi gằm mặt xuống, lảng tránh sang một bên như nhìn thấy dịch bệnh. Những người đàn bà ngồi bán cá, bán rau dọc mé sông không còn cất tiếng đon đả chào mời như mọi bận, mà thay vào đó là những ánh mắt lấm lét, dò xét, ghẻ lạnh và đầy vẻ xoi mói rọi thẳng vào lưng hai người.

Vừa bước chân đến đầu con dốc đất dẫn vào cổng chợ Đông Tân, một luồng không khí nhớp nhúa của những lời thì thầm to nhỏ đã đập thẳng vào tai hai nàng. Lời xì xào độc địa bắt đầu râm ran khắp chợ Đông Tân: 'Góa phụ trẻ có trà ngon giá hời là nhờ lén lút sau lưng với thương nhân Tây Lĩnh!'

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories