Quán Trà Bên Bến ĐòCh.13 / 34
Chapter 13

Lời đồn dưới mái chợ

Mấy bà bán rau xúm xít dưới bóng cây đa mé chợ Đông Tân bỗng im bặt, ánh mắt dò xét lén lút dán chặt vào bóng dáng Thanh Hà khi nàng vừa bước xuống mạn thuyền.

Gió từ mặt sông Vọng Giang thổi thốc vào mép áo chàm của nàng, mang theo mùi tanh nồng của bùn non, mùi cá chết sình bên mép cọc tiêu và hơi rong rêu ẩm ướt bốc lên từ những phiến đá dăm lát bến lâu ngày không được cọ rửa. Tiết trời đang cựa mình sang những ngày oi nồng cuối hạ. Nắng trưa không còn chói gắt sắc lẹm như độ tháng Năm, mà trĩu nặng, bức bối, dầm dề như thể cả bầu trời bị bọc kín trong một tấm chăn bông tẩm nước nóng. Chân trời phía thượng nguồn Tây Lĩnh, những rặng mây xám xịt màu chì đã bắt đầu vần vụ kéo thành từng dải nặng trịch, tầng tầng lớp lớp đè nghiêng đỉnh núi xa xăm, báo hiệu mùa nước đỏ cuồn cuộn phù sa chẳng còn bao xa nữa sẽ trút xuống đôi bờ. Nhưng cái ngột ngạt, dồn nén của trời đất lúc này dường như chẳng thấm tháp gì so với bầu không khí đang đặc quánh lại, nhớp nháp và rợn ngợp quanh các sạp hàng ở đầu chợ Đông Tân.

Thanh Hà khẽ nâng quai gánh bằng tre cật đã bóng nước vôi. Đôi vò sành đựng nước giếng Thanh Khê trĩu nặng hai đầu đòn cong vút, kéo trĩu khớp vai mảnh khảnh của nàng qua từng nhịp bước nhẫn nại. Nàng vừa toan hướng mũi chân về phía sạp bán bột của Đỗ Nguyệt Nương để hỏi thăm mẻ sắn dây mới cất, thì những tiếng xì xào vốn bị nén lại trong kẽ răng bỗng chốc rộ lên. Tiếng nói không quá to, nhưng cố tình dằn dỗi, chì chiết, rằn rỗi từng âm sắc vừa đủ để xuyên qua lớp gió sông ẩm ráo mà lọt thẳng vào tai nàng:

“Gớm thật, các bà nhìn cái bộ dạng thanh cao, nết na ấy mà xem! Cứ làm như ngọc ngà đoan chính, ngậm hạt sương mai mà lớn vậy.”

“Đoan chính cái nỗi gì! Góa phụ trẻ tuổi, không tông chi họ hàng nương tựa, một thân một mình dạt về cái bến sông Vọng Giang tạp nham này chưa đầy ba tháng ròng. Thế mà thoắt cái đã dựng được mái quán tre khang trang, lấy đâu ra tiền mà gom mua được cả mấy chục cân trà búp hè nõn tôm tận gốc vườn Tây Lĩnh? Lại còn nghe bảo ngày nào cũng dồn tiền kẽm vào hũ sành để chuẩn bị lên huyện chuộc người. Người trần mắt thịt, sống bằng mồ hôi nước mắt ở cái bến này mấy chục năm còn chưa ngóc đầu lên nổi, ai mà tin được nàng ta trong sạch nếu sau lưng không có kẻ giấu mặt chống lưng đỡ đòn?”

“Mụ Ba nói chỉ có chuẩn từng chân tơ kẽ tóc! Hôm trước tôi ngồi bên mạn thuyền đò bờ tây, nghe đám bạn hàng kháo nhau rùm beng cả lên. Họ bảo rành rành rằng cái ả họ Liễu ấy dùng nhan sắc mặn mòi, liếc mắt đưa tình, buông lời lả lơi quyến rũ vị khách thương gia giàu có bạt mạng bên Thương đoàn Tây Lĩnh. Có thế thì người ta mới dâng tận miệng mối trà thượng hạng nõn tôm với cái giá rẻ mạt như cho không, rẻ hơn cả giá bán sỉ cho mối lái lâu năm! Chứ cái ngữ đàn bà tay trắng bị nhà chồng tống khứ ra đường giữa đêm đông, thân tàn ma dại, lấy đâu ra cái tài ba bản lĩnh kinh người ấy!”

Tiếng cười khúc khích the thé của mấy mụ bán cá mé bờ sông lập tức hùa theo, rộ lên nhớp nhúa, the the và sắc nhọn tựa như lưỡi dao cạo vảy cá mè vừa vớt dưới bùn lên. Từng ánh mắt lấm lét đảo qua đảo lại, những cái bĩu môi dài thượt, những cái liếc xéo đầy ác cảm và ghen tị ném thẳng vào tấm lưng gầy gò đang thẳng tắp của Thanh Hà.

Ở cái đất bến sông xô bồ, cửa ngõ giao thương của thuyền bè tứ xứ này, danh dự của một người góa phụ vốn dĩ mỏng manh và bèo bọt tựa như cánh chuồn chuồn chao liệng giữa cơn dông bão. Miệng đời nghiệt ngã xưa nay vẫn luôn sẵn sàng cúi đầu kiêng nể, thậm chí dung thứ cho sự tàn độc, ngang ngược của lũ côn đồ đâm thuê chém mướn, nhưng lại tuyệt nhiên chẳng bao giờ chịu mở lòng tin rằng một người phụ nữ đơn thân, thất thế có thể đứng vững trên đôi chân trần bằng chính sự nhẫn nại, mồ hôi và khối óc thanh sạch của mình. Đối với họ, sự nghèo khổ là điều đương nhiên, nhưng nếu một người đàn bà góa dám ngoi lên khỏi vũng lầy bần hàn, thì sự vươn lên ấy ắt hẳn phải được đánh đổi bằng thứ nhơ nhuốc, bẩn thỉu nhất. Những lời đàm tiếu ác độc ấy chẳng khác nào lớp váng dầu đen ngòm loang nhanh trên mặt nước sông, chỉ sau một buổi sáng đã từ các sạp rau dưa chợ Đông Tân cuốn phăng sang tận bờ đông bến Vọng Giang, phủ một màn u ám lên từng bậc cầu ván dẫn vào quán nhỏ.

Khi Thanh Hà gánh đôi vò sành về tới hiên quán, cái giá lạnh buốt giá của sự ngờ vực và ghẻ lạnh đã kịp bủa vây kín lấy mái lều tranh đơn sơ.

Mọi bận, cứ vào khoảng giờ đò trưa cập bến, quán nhỏ của nàng luôn là nơi rộn rã tiếng nói cười, ấm áp khói bếp và râm ran những câu chuyện đường trường của khách thập phương. Những người đàn bà đi buôn chuyến mệt mỏi sau chặng đò dài, những gia đình dắt díu con nhỏ chờ chuyến đò ngang sang bờ tây thường thích ghé vào mái quán của nàng hơn là Trà lâu Nghênh Xuân hào nhoáng, bề thế nhưng nồng nặc mùi bạc tiền và sự trịch thượng bên kia bờ. Bởi lẽ ở chốn này, nước giếng khơi Thanh Khê luôn được đun sôi sùng sục trong ấm đất nung, từng bát trà xanh ngát tỏa hương cốm dịu ngọt, và những chiếc bánh bột lọc nhân củ sen do chính tay nàng nặn luôn giữ được vị thanh khiết, sạch sẽ đến từng hạt tấm.

Thế nhưng trưa nay, khung cảnh quen thuộc ấy bỗng chốc biến đổi một cách tàn nhẫn.

Một chiếc thuyền buôn chở phụ nữ và trẻ nhỏ vừa cập cầu ván. Mấy bà buôn chuyến xách làn mây bước lên bờ, thoạt nhìn thấy bóng dáng Thanh Hà đang đứng châm lửa bên bếp lò, bước chân họ liền khựng lại. Ánh mắt họ thoáng qua một tia né tránh, rồi vội vã kéo sụp vành nón mê che nghiêng nửa khuôn mặt, rảo bước đi thẳng qua cửa quán như thể sợ rằng thứ tà khí hay vết nhơ của người góa phụ sẽ ám vào gấu áo mình. Một người mẹ trẻ dắt theo đứa con nhỏ chừng năm tuổi đang khát nước, toan bước vào mái hiên hỏi mua ngụm nước ấm, liền bị người phụ nữ luống tuổi đi cùng kéo giật mạnh tay áo. Người đàn bà lớn tuổi hạ giọng thì thầm to nhỏ vài câu vào tai nàng dâu, mắt liếc trộm về phía chõng tre của Thanh Hà đầy vẻ dè chừng, rồi dứt khoát lôi đứa trẻ lảng tránh sang tận gốc cây bàng già cách đó một quãng xa, thà chịu nắng chang chang còn hơn bước chân vào quán nước có chủ nhân mang tiếng thất tiết.

Quán trà vắng ngắt đến rợn lòng. Bên chiếc bàn tre mộc kê sát mép hiên, chỉ còn trơ trọi lại vài bác phu than nghèo khó như A Sinh và hai người bạn chèo đò đang ngồi uống bát trà đậm giá hai văn tiền kẽm. Nhưng ngay cả những người đàn ông chân lấm tay bùn, vốn chịu ơn nàng bát nước ấm những ngày mưa gió, lúc này cũng tỏ ra ngượng ngập lạ thường. A Sinh cúi gằm mặt nhìn xoáy vào lòng bát sành thô mộc, hai bàn tay thô ráp sần sùi vân vê mép bàn, chốc chốc lại lén đưa mắt nhìn nàng đầy e ngại, thở dài thườn thượt mà không dám cất lời hỏi han như mọi ngày.

Sự ghẻ lạnh âm thầm ấy tàn nhẫn và buốt nhói hơn bất kỳ trận đòn roi hay những lời quát tháo dọa dẫm đòi tiền xâu của lũ lâu la dưới trướng Lại Tam. Đòn roi chỉ làm rách da thịt, còn sự xua đuổi vô hình này lại muốn bóp nghẹt thanh danh, muốn dồn nàng vào bước đường cùng không lối thoát. Nó muốn biến bát trà thơm tho, thanh khiết mà nàng chắt chiu từng giọt sớm hôm thành thứ nước nhơ nhuốc mang danh phụ thuộc, luồn cúi, bán rẻ phẩm giá đàn bà.

Tiểu Mãn đứng nép bên chum sành đựng nước mưa, hai bàn tay khẳng khiu, nổi rõ từng khớp xương gầy gò đang siết chặt chiếc khăn lau bàn bằng vải xô thô ráp. Con bé siết chặt đến mức các đầu ngón tay trắng bệch không còn một giọt máu. Đôi mắt tròn xoe của nó đỏ hoe, ầng ậc nước mắt vì uất nghẹn. Nó cắn môi đến bật máu, cuối cùng không nhịn nổi mà giậm chân thốt lên nghẹn ngào:

“Chị Thanh Hà... họ... sao họ lại có thể ngậm máu phun người bậy bạ đến mức ấy chứ! Chị em mình thức khuya dậy sớm từ canh tư, trầy da tróc vảy, khói bếp cay xè cả hai con mắt mới quấy xong mẻ bột làm bánh, chắt bóp từng đồng tiền kẽm rỉ sét để gom góp mua trà... Thế mà sao họ lại nỡ lòng nào đặt điều dơ bẩn, bôi tro trát trấu vào mặt chị như thế? Chị để mặc em! Để em chạy ngay ra gốc đa đầu chợ, em xé toang mặt mấy con mụ bán cá chuyên ngồi lê đôi mách kia ra xem chúng nó lấy chứng cớ ở đâu mà dám sủa càn!”

Nói đoạn, Tiểu Mãn quăng mạnh chiếc khăn lau xuống mặt chõng tre, toan xăm xăm lao mình ra khỏi hiên lều.

“Tiểu Mãn, đứng lại đó cho chị.”

Giọng Thanh Hà cất lên. Tiếng nói không cao, không gắt, nhưng lại trầm tĩnh và dứt khoát đến lạ lùng, tựa như một thanh gỗ lim chìm nghỉm dưới dòng nước xiết, kéo phăng đi sự hoảng loạn đang chực bùng lên.

Nàng đặt chiếc đòn gánh dựa cẩn thận vào vách nứa, tháo chiếc khăn trùm đầu bằng vải chàm đã bạc màu sương gió. Gương mặt thanh tú, đoan trang của nàng lộ ra dưới ánh sáng ban trưa. Dù nơi khóe mắt nàng có vương chút mệt mỏi sau những đêm thức trắng chong đèn, nhưng ánh mắt đen láy ấy lại sáng rực, phẳng lặng và trong veo như mặt gương hồ thu không một gợn sóng lăn tăn.

Nàng nhìn Tiểu Mãn, ánh mắt chan chứa sự xót xa nhưng ngập tràn vẻ kiên định:

“Chạy ra đầu chợ mà chửi bới đôi co với phường tôm cá, thì có khác nào tự hạ thấp mình ngang hàng với họ? Người đời đứng xem chỉ thấy hai bên cắn xé nhau, rồi họ sẽ bảo mình vì chột dạ, vì đuối lý mà hóa cuồng hóa dại. Miệng lưỡi thế gian độc địa như nọc rắn, không thể dùng bọt mép để rửa sạch, càng không thể cúi đầu van xin sự thương hại hay bố thí lòng tốt của những kẻ vốn dĩ chỉ chực chờ giẫm đạp mình xuống bùn đen.”

Dứt lời, Thanh Hà không màng đến những ánh mắt soi mói ngoài đường, nàng xoay người bước thẳng vào chái lều nhỏ phía sau chõng nước. Nàng quỳ một bên gối xuống sàn tre chống ẩm, mở chiếc rương gỗ nhỏ sẫm màu—vật duy nhất nàng mang theo khi rời khỏi cổng lớn nhà họ Phạm. Nhưng nàng không tìm kiếm những mảnh vụn bạc lẻ còn sót lại, cũng không chạm vào chiếc trâm cài tóc kỷ vật của mẹ. Bằng những ngón tay thon dài vững chãi, nàng cẩn trọng nhấc ra chiếc tráp gỗ mun đựng nghiên mực đá ráp, thỏi mực tàu hiệu Tùng Lộ đã mòn một góc, và xấp giấy bản thô dầy dặn mua từ chợ phiên lần trước.

Tiểu Mãn ngơ ngác đứng tựa vào cột tre nhìn theo. Con bé thấy bàn tay Thanh Hà thoăn thoắt nhỏ từng giọt nước giếng trong vắt vào lòng nghiên đá. Từng vòng mực đen nhánh xoay đều, xoay đều dưới lực miết nhịp nhàng của thỏi mực tàu, tỏa ra một mùi hương trầm mặc, thanh đạm và đượm vẻ nho nhã, hoàn toàn xa lạ với sự xô bồ, tanh tưởi nơi bến sông.

Thanh Hà trải phẳng ba tờ giấy bản lớn có màu vàng ngà lên mặt bàn tre mộc. Nàng hít một hơi thật sâu, lồng ngực phẳng lặng nén chặt mọi cảm xúc hỗn loạn. Nàng không viết một dòng nào trần tình nỗi oan khiên ai oán, không dùng một chữ nào để thanh minh cho phẩm tiết hay viện dẫn những giáo điều lễ nghĩa sáo rỗng của cổ nhân. Nàng biết, đứng trước những kẻ bụng dạ hẹp hòi và độc ác, thứ đạo lý bóng bẩy chỉ là trò cười. Thứ duy nhất có thể đập tan sự dối trá chính là sự thật trần trụi, sòng phẳng và không thể lay chuyển của những con số.

Ngọn bút lông dê trong tay nàng chấm đẫm mực, thoăn thoắt lướt trên mặt giấy ráp bằng những nét chữ chân phương, cứng cỏi, sắc cạnh như dao khắc—thứ chữ nghĩa mà nàng đã nhẫn nại học được từ người cha đồ gàn thuở còn thơ ấu:

*Tờ thứ nhất:* Bản sao y khế ước mua bán trà lập tại trang trại trà Tây Lĩnh ngày mười lăm tháng Tư năm nay. Ghi rõ ràng từng nét mực: Chủ vườn bán trà: Trần Mộc Lan. Người mua: Liễu Thanh Hà, ngụ tại bến đông Vọng Giang. Số lượng giao dịch: đúng hai mươi cân trà búp hè nõn tôm loại một. Giá mua gốc tận vườn: đúng một trăm năm mươi văn tiền đồng cho một cân trà, tổng cộng thành tiền là ba quan tiền đồng chẵn. Phương thức giao dịch: ba quan tiền mặt trao tay dứt điểm, không nợ một đồng, không thế chấp vật phẩm, có chữ ký của người làm chứng và dấu triện đỏ son bằng đá chu sa của chủ vườn Mộc Lan.

*Tờ thứ hai:* Liệt kê chi tiết toàn bộ chi phí lưu thông đường thủy từ đồi trà Tây Lĩnh về đến bờ đông Vọng Giang. Tiền xâu bến bãi nộp cho tuần đinh tại bến Tây Lĩnh: năm văn tiền kẽm. Tiền cước đò chở hàng đường dài theo đường sông chảy xuôi: bốn mươi văn trả sòng phẳng cho chủ thuyền buôn họ Triệu. Tiền công nhật bốc vác từ mép nước bến Vọng Giang lên tận chõng quán: mười lăm văn trả tận tay cho hai phu khuân vác bến tàu. Tổng chi phí đưa một cân trà nguyên liệu về đến tận ấm đun nước của quán: tính tròn một trăm năm mươi ba văn tiền đồng.

*Tờ thứ ba:* Bảng quyết toán định lượng và giá bán lẻ từng bát trà phục vụ tại quán. Một cân trà búp hè nõn tôm qua tay pha chế chuẩn mực chiết xuất được đúng bảy mươi lăm bát trà đậm vị cho cánh phu thuyền, hoặc một trăm bát trà thanh hương cho khách buôn đường dài. Đơn giá ấn định: hai văn tiền kẽm một bát nước. Tiền lãi ròng thu về trên mỗi cân trà sau khi đã trừ chi phí củi lửa, gánh nước giếng khơi: vỏn vẹn mười lăm văn tiền kẽm. Mỗi ngày quán bán ra trung bình ba mươi bát trà, thu về bốn mươi lăm văn tiền lãi, chia làm hai phần: ba mươi văn chi tiêu cơm cháo rau dưa cho hai chị em, mười lăm văn còn lại thả vào hũ sành chôn dưới chân cột lều, tích cóp từng ngày từng tháng để chuộc người em trai Liễu Thanh Du đang chịu cảnh lao dịch.

Dưới góc cuối cùng của cả ba tờ giấy bản, ngòi bút lông của Thanh Hà hạ xuống dứt khoát, nắn nót ký rõ ba chữ “Liễu Thanh Hà”, rồi nàng không ngần ngại ấn thẳng đầu ngón tay cái đã lăn qua hộp chu sa đỏ chót xuống bên cạnh chữ ký, để lại một dấu điểm chỉ rực rỡ, son sắt như một lời thề độc trước trời đất.

Viết xong, nàng khẽ ngẩng đầu nhìn Tiểu Mãn, giọng nói không chút gợn sóng:

“Tiểu Mãn, quấy cho chị một bát hồ bằng bột sắn dây.”

Con bé Tiểu Mãn nhìn những hàng chữ đen nhánh ngay ngắn, nhìn dấu triện son đỏ thắm trên nền giấy bản thô dầy, hai mắt nó mở to tròn xoe, nỗi sợ hãi ban nãy bỗng chốc tan biến đi đâu mất, thay vào đó là một sự nể phục và tự hào vô bờ bến. Con bé dạ ran một tiếng, thoăn thoắt chạy đi nhóm củi, chỉ lát sau đã bưng ra một bát hồ dán sền sệt, trong veo và còn bốc khói ấm.

Tự tay Thanh Hà cầm chiếc chổi lông đóm quét những vệt hồ đều đặn lên mặt sau của ba tờ giấy bản. Nàng bước ra trước hiên, không thèm liếc nhìn những ánh mắt đang dòm ngó từ xa, dứt khoát dán ba tờ giấy trắng tinh mực đen rành rọt ngay lên vách nứa mặt tiền của quán trà—ngay tại vị trí đối diện trực diện với đầu cầu ván bến đò và con đường độc đạo dẫn từ bờ sông vào chợ Đông Tân.

Chưa dừng lại ở đó, nàng lấy chiếc búa nhỏ, đóng một chiếc đinh sắt chắc nịch lên mép vách nứa, treo lủng lẳng tấm thẻ tre khắc chữ ghi rõ đơn giá từng bát trà nấu từ nước giếng Thanh Khê. Và ngay bên dưới tấm thẻ tre ấy, nàng treo chiếc cân tiểu ly bằng đồng sáng loáng—thứ cân chuẩn mực dùng để đong từng hoa trà khô mỗi ngày trước khi thả vào ấm đất.

Hành động dứt khoát, đàng hoàng, không một chút giấu giếm hay e dè của người góa phụ trẻ tuổi lập tức làm chấn động cả khúc sông.

Đám người tò mò từ mé chợ và ven bờ đê bắt đầu xôn xao dạt lại gần. Mấy gã phu bốc vác thô kệch, trần trùng trục lưng đẫm mồ hôi, vốn không biết chữ nghĩa, đứng gãi đầu gãi tai nhìn những hàng chữ đen ngay ngắn mà trố mắt thắc mắc. Nhưng chẳng mấy chốc, trong đám đông hiếu kỳ đã xuất hiện vài bác thương nhân lớn tuổi áo dài khăn đóng, mấy thầy đồ đi chợ phiên mua giấy bút, cùng vài tay thư ký ghi chép sổ sách của các thuyền buôn tơ lụa ghé mắt nhìn vào.

“Kìa... các vị hàng phố mau lại đây xem! Đây rành rành là giấy trắng mực đen, sổ sách phân minh rạch ròi đến từng dấu chấm phẩy!” Một thương nhân luống tuổi, chòm râu hoa râm rung rung, sau khi ghé sát mắt đọc kỹ từng dòng chữ, liền cất giọng sang sảng đọc to toàn bộ nội dung ba tờ giấy bản cho cả đám đông cùng nghe.

Giọng ông lão vang vang lấn át cả tiếng sóng vỗ bờ:

“Bản khế ước gốc có triện son đá chu sa của trang trại Mộc Lan lừng danh khắp vùng trà Tây Lĩnh! Giá xuất vườn một trăm năm mươi văn tiền một cân nõn tôm là mức giá buôn tận gốc dành cho người biết thưởng trà, sành sỏi nghề trà mà mua trực tiếp, tuyệt nhiên không qua tay lũ lái buôn trung gian ăn chênh lệch! Chi phí đò giang sông nước, tiền bốc vác mồ hôi nước mắt của anh em phu bến rành rọt từng đồng tiền kẽm. Bán hai văn một bát nước giải khát, lấy công làm lãi, chắt bóp từng đồng tiền mọn nuôi thân và dành dụm chuộc em trai ruột thịt. Mọi sự rõ ràng, quang minh chính đại đến từng hào, từng khắc, từng cân lượng!”

Đám đông nghe xong bỗng ồ lên một tiếng kinh ngạc.

Những mụ bán cá, bán rau vừa nãy còn chụm đầu xì xào dè bỉu dưới gốc đa bỗng chốc khựng lại như bị ai tát vào mặt. Mặt mụ nào mụ nấy đỏ tía tai, mắt dán chặt vào ba tờ giấy bản dán trên vách nứa, miệng há hốc ra mà không thốt nên được nửa lời. Trong chốn buôn bán gạo chợ nước sông, xưa nay người ta chỉ quen với những trò cãi cọ om sòm, những lời thề thốt sống chết rẻ rúng, chứ chưa từng có ai dám đem toàn bộ giá gốc, đường đi lối lại của nguồn hàng và từng đồng tiền lời phơi bày trần trụi ra giữa bàn dân thiên hạ như người đàn bà này! Không có lời thanh minh nào đanh thép, sắc bén hơn những con số sòng phẳng và khế ước minh bạch. Nàng không cãi một câu, không rơi một giọt nước mắt van xin, mà nàng dùng chính sự thanh sạch đến tột cùng để giáng một đòn chí mạng vào miệng lưỡi của những kẻ đặt điều vu khống.

Đúng lúc đám đông còn đang ngơ ngác, bàng hoàng trước bản quyết toán trên vách nứa, thì từ mé bến sông, một chiếc thuyền buôn mũi nhọn sơn màu nâu sẫm, cắm cờ hiệu ba góc của Thương đoàn Tây Lĩnh rẽ sóng rẽ gió cập sát vào mép cầu ván.

Tiếng dây chão quăng mạnh lên cọc neo vang lên chan chát. Một bóng người cao lớn sải những bước chân dài dứt khoát bước lên bờ.

Đó là Hàn Thụy.

Hôm nay anh không mặc tấm áo lụa xanh khi đi thẩm trà, mà khoác trên mình chiếc áo vạt ngắn bằng vải thô nhuộm màu xám tro của dân sông nước, dáng người cao lớn vững chãi như một cây lim già giữa dông bão. Thế nhưng, gương mặt phong trần thường ngày vốn điềm tĩnh, ung dung nay lại phủ kín một tầng mây đen u ám, sắc lạnh. Vừa đặt chân lên bến Vọng Giang, những lời xì xào nhơ bẩn, những câu chuyện thêu dệt hạ lưu từ miệng lưỡi phường chợ búa đã lập tức lọt vào tai anh. Là một thương nhân từng lăn lộn khắp các bến sông từ nam chí bắc, trải qua đủ mọi mưu mô chước quỷ chốn thương trường, Hàn Thụy hiểu quá rõ thứ vũ khí tàn độc, đê tiện nhất mà người đời thường dùng để hủy hoại một người phụ nữ buôn bán đơn độc chính là sự bôi nhọ phẩm tiết.

Nhìn thấy đám đông đang tụ tập đông nghẹt trước mái quán tranh nhỏ, ngỡ rằng nàng đang bị lũ người rắp tâm ức hiếp, đôi mày kiếm của Hàn Thụy nhíu chặt lại thành một đường thẳng tắp. Đôi mắt hổ của anh lóe lên những tia giận dữ hiếm thấy. Anh sải những bước dài đầy uy lực tiến thẳng về phía lều trà. Khí thế bức người toát ra từ vóc dáng vạm vỡ và ánh mắt sắc lẹm của vị đầu lĩnh thương đoàn khiến đám phu thuyền và tiểu thương đang đứng xúm xít lập tức sợ hãi dạt sang hai bên nhường lối.

“Thanh Hà cô nương!”

Hàn Thụy bước thẳng vào dưới mái hiên quán, giọng nói trầm đục vang lên mang theo sự phẫn uất bị kìm nén bấy lâu:

“Ta vừa từ dưới thuyền bước lên bến đã nghe thấy những lời xằng bậy, bỉ ổi của lũ người vô công rỗi nghề đầu đường xó chợ! Cô nương hà tất phải nén giận, nhẫn nhịn chịu đựng sự sỉ nhục của lũ tiện nhân ấy? Ta sẽ lập tức cùng cô nương lên thẳng huyện nha Thanh Lâm, đến tận công đường tìm gặp Thư lại Vũ Chính An để đối chất làm rõ trắng đen! Thương đoàn Tây Lĩnh chúng ta xưa nay làm ăn quang minh chính đại, buôn bán giữ trọn chữ tín trên khắp các dòng sông. Ta tuyệt đối không để thanh danh và sự tôn nghiêm của cô nương bị vấy bẩn bởi những lời vu khống hèn hạ, dơ dáy này!”

Thanh Hà đang cúi đầu, dùng một chiếc khăn sạch lau lại những hạt bụi vương trên mặt bàn tre. Nghe thấy giọng nói quen thuộc vang lên đầy vẻ che chở và sốt sắng, ngón tay nàng khẽ khựng lại một nhịp. Trong đáy lòng nàng, một tia ấm áp mơ hồ thoáng gợn lên trước sự nhiệt thành của người đàn ông phong trần này. Thế nhưng, nàng nhanh chóng lấy lại sự bình thản vốn có, khẽ ngẩng đầu lên, ánh mắt vẫn giữ trọn khoảng cách mực thước của một chủ quán đối với khách đường xa. Nàng lắc đầu nhẹ nhàng:

“Hàn nhị gia, đa tạ ý tốt trượng nghĩa của ngài. Nhưng người xưa có câu: cây ngay chẳng sợ chết đứng giữa trời giông. Toàn bộ sổ sách, khế ước mua bán, cân lượng từng bát nước ta đã chép rành rọt, dán công khai trên vách nứa kia cho thiên hạ cùng tường tận rồi. Người có mắt, có lương tri nhìn vào ắt sẽ tự hiểu; còn kẻ đã cố tình ngậm máu nhổ nước bọt bôi bẩn người khác, thì dẫu có lôi nhau lên tận công đường huyện nha, có đánh nát roi đồng cũng chẳng thể nào bịt hết được miệng lưỡi thế gian.”

Hàn Thụy nghe nàng nói, ánh mắt bất giác hướng lên vách nứa. Nhìn thấy ba tờ giấy bản lớn chép chi chít những con số chi tiết, những khoản chi phí tỉ mỉ bằng nét chữ chân phương, thanh mảnh nhưng ẩn chứa cốt cách kiên cường phi thường của nàng, trong lồng ngực anh bỗng dâng lên một sự khâm phục vô hạn, nhưng liền sau đó lại nhói lên một nỗi xót xa khôn tả.

Một người phụ nữ trẻ tuổi, thân cô thế cô, rốt cuộc đã phải nếm trải bao nhiêu cay đắng, bao nhiêu lần bị người đời xô đẩy vào ngõ cụt đường cùng mới có thể rèn giũa nên một sự điềm tĩnh lạnh lùng và một lớp vỏ bọc kiên cố đến mức khiến người ta phải đau lòng như thế này?

Nghĩ đến việc nàng phải đơn thương độc mã gồng mình hứng chịu mọi búa rìu dư luận độc địa chỉ vì một chuyến buôn trà với thương đoàn của mình, nỗi áy náy và sự kích động trong lòng Hàn Thụy bỗng bộc phát không thể kìm giữ. Anh không muốn nàng phải chịu thêm bất kỳ tổn thương nào nữa. Anh muốn dùng toàn bộ sức lực, sự bảo đảm của mình để che chắn cho nàng. Hàn Thụy bước tới gần nàng thêm nửa bước, hạ thấp giọng xuống nhưng từng âm sắc lại vang lên đầy vẻ sốt sắng, chân thành, toan dùng sự thật hậu trường để chứng minh sự trong sạch tuyệt đối của mối giao dịch:

“Thanh Hà, cô nương hà tất phải khổ sở, nhọc lòng tự mình gánh vác mọi chuyện đến mức này cơ chứ? Mấy lời đồn đại độc địa bảo cô nương dùng nhan sắc để đổi lấy giá hời hoàn toàn là điều bịa đặt bỉ ổi của lũ tiểu nhân! Ngay cả việc vườn Mộc Lan chịu để lại lô trà búp hè nõn tôm loại một cho quán của cô nương với cái giá một trăm năm mươi văn một cân—mức giá vốn dĩ nhà vườn chỉ dành riêng cho trà búp loại hai thô vụn—thực chất cũng là do chính miệng ta đã ngầm dặn dò, trao đổi riêng với bà chủ Mộc Lan trước khi cô nương bước chân lên đồi thử trà! Toàn bộ khoản bạc chênh lệch ba mươi văn trên mỗi cân trà giữa loại một và loại hai ấy, ta đã tự mình xuất tiền riêng từ sổ phụ của thương đoàn để bù đắp đủ đầy cho nhà vườn rồi! Cô nương hoàn toàn mua bán ngay thẳng, không nợ nần ai một xu một cắc, cớ sao phải bận lòng, phải chịu khổ vì miệng lưỡi phường trộm cướp?!”

Từng lời nói của Hàn Thụy thốt ra bằng tất cả sự chân thành, nhiệt huyết mộc mạc của một người đàn ông dãi dầu mưa nắng muốn chở che, bảo bọc cho người phụ nữ mà lòng mình thầm trân quý. Anh đinh ninh rằng việc mình âm thầm gánh vác khoản tiền chênh lệch ấy sẽ là tấm khiên đồng vững chắc nhất đập tan mọi nghi ngờ, chứng minh rằng nàng không hề lợi dụng bất kỳ ai, và anh cũng tuyệt đối không để nàng phải chịu thiệt thòi trên con đường mưu sinh vất vả.

Thế nhưng, Hàn Thụy không hề hay biết rằng, khi những lời nói ấy vừa dứt, toàn bộ không gian trong quán trà bỗng chốc ngưng đọng lại.

Không khí dường như đông cứng thành một khối băng lạnh lẽo.

Thanh Hà đứng chết lặng tại chỗ.

Chiếc khăn lau bàn bằng vải xô thô ráp trong tay nàng tuột khỏi ngón tay, rơi thịch xuống mặt phản tre. Đôi mắt nàng mở to, sững sờ nhìn trừng trừng vào gương mặt cương nghị, từng trải của người đàn ông đang đứng đối diện, tựa như nàng vừa nhìn thấy một sinh vật hoàn toàn xa lạ, một sự sụp đổ bất ngờ ngoài sức tưởng tượng.

Một cảm giác lạnh buốt tựa như dòng nước lũ từ đỉnh núi tuyết bất ngờ tràn dọc sống lưng nàng, chạy thẳng lên đến tận đỉnh đầu, khiến toàn thân nàng tê dại. Nhưng rồi ngay sau đó, một ngọn lửa phẫn nộ dữ dội, cay đắng và đau đớn tột cùng bùng cháy lên, thiêu đốt đến từng tấc da thịt, từng đường gân thớ thịt trong tâm can nàng. Đôi môi nàng khẽ run rẩy, sắc mặt từ trắng bệch vì kinh ngạc dần dần chuyển sang đỏ bừng vì một nỗi nhục nhã ê chề đang dâng trào cuồn cuộn.

“Ngài... ngài vừa nói cái gì?” Giọng Thanh Hà run rẩy, không phải vì sợ hãi, mà vì từng cơn nghẹn ứ đang bóp nghẹt lấy thanh quản của nàng.

Hàn Thụy thoáng giật mình nhận ra sự biến đổi kỳ lạ, dữ dội trên gương mặt nàng. Đôi mày kiếm của anh thoáng giãn ra rồi lại co rút lại, anh ngập ngừng đưa tay ra phía trước nửa bước:

“Ta... ta chỉ muốn nói rằng cô nương không cần phải bận tâm lo lắng... Khoản tiền chênh lệch đó hoàn toàn là do ta tự nguyện xuất ra, ta không hề có ý...”

“Tự nguyện? Ngầm dặn dò? Bù tiền chênh lệch từ sổ phụ của thương đoàn?”

Thanh Hà cất tiếng cười. Đó là một tiếng cười ngắn, khan khốc, chua chát và buốt nhói đến xé lòng xé ruột. Từng giọt nước mắt uất ức chực trào ra nơi khóe mi, làm nhòe đi ánh nhìn của nàng, nhưng nàng cắn chặt môi dưới đến rướm máu, nuốt ngược từng giọt mặn chát ấy vào tận đáy lòng. Lồng ngực nàng phập phồng dữ dội dưới lớp áo vải chàm thô sơ chắp vá.

Ký ức của buổi chiều hôm ấy trên đỉnh đồi trà Tây Lĩnh lộng gió bỗng chốc dội về, rõ mồn một như một trò hề cay đắng tạt thẳng vào mặt nàng.

Nàng nhớ lại cảm giác hồi hộp, lo âu đến nghẹt thở khi đứng trước ba bát trà thử thách đầy nghiệt ngã của bà chủ Trần Mộc Lan. Nàng nhớ lại bản thân đã phải dồn hết tất cả sự nhạy bén của khứu giác, sự tinh tế của vị giác và những bài học chắt chiu từ căn bếp nghèo của người mẹ quá cố để phân biệt từng búp trà, chỉ ra tật chứng sấy than ám khói và mánh khóe ngâm ủ ẩm ướt của Trà lâu Nghênh Xuân. Khi Trần Mộc Lan gật đầu tán thưởng, khi bà chủ đồi trà nghiêm nghị ấy cất lời khen ngợi và đồng ý bán cho nàng hai mươi cân trà búp hè nõn tôm loại một với giá một trăm năm mươi văn, nàng đã tự hào biết bao nhiêu! Nàng đã ngỡ rằng đất trời này dẫu có nghiệt ngã đến đâu thì vẫn còn chốn dung thân cho những con người chịu thương chịu khó. Nàng đã tin bằng cả tính mạng mình rằng đó là phần thưởng xứng đáng, công bằng cho năng lực thẩm trà, cho những giọt mồ hôi và lòng kiên định không chịu khuất phục của chính bản thân nàng.

Nàng đã trân trọng hai mươi cân trà ấy tựa như chính sinh mệnh của mình. Suốt dọc đường từ bến thuyền về quán, đôi vai nàng trầy da tróc vảy, rướm máu vì sức nặng của hai sọt trà trĩu nặng trên đòn gánh tre, nhưng lòng nàng lại nhẹ bẫng và tràn ngập niềm kiêu hãnh. Bởi nàng tin rằng mình đang tự lập mưu sinh, tự mình dùng đôi bàn tay sạch sẽ này để kiếm từng đồng tiền kẽm lương thiện, để sớm có ngày gom đủ bạc chuộc đứa em trai Thanh Du tội nghiệp trở về.

Hóa ra... tất cả chỉ là một trò cười do người đời sắp đặt!

Hóa ra không phải bà chủ Mộc Lan nể phục tài nghệ thẩm trà của nàng. Không phải chữ tín và sự nỗ lực vượt bậc của nàng đã tự mở ra một con đường sống giữa muôn trùng vây bọc. Mà tất cả chỉ là một màn kịch vụng về, một sự nhân nhượng đầy thương hại được dàn dựng êm thấm dưới sự bố thí vô hình của một vị thương nhân giàu có, nhiều quyền lực!

Sự giúp đỡ ngầm ấy của Hàn Thụy chẳng khác nào một gáo nước bẩn tạt thẳng vào lòng tự trọng thiêng liêng duy nhất mà nàng đã liều mạng gìn giữ, nâng niu kể từ cái đêm đông giá rét bị đuổi ra khỏi cổng nhà họ Phạm. Nó tước đoạt đi hoàn toàn giá trị của những giọt mồ hôi, biến tài năng và sự cố gắng của nàng thành một thứ trò chơi con trẻ nực cười. Đau đớn và cay đắng hơn cả, nếu sự thật này bị phơi bày ra ngoài bến sông, thì những lời đồn thổi nhơ bẩn của mấy mụ bán cá ngoài chợ kia... rốt cuộc có khác gì sự thật?

Nàng có khác gì một kẻ yếu đuối, bất tài, miệng thì nói lời thanh cao tự lập nhưng sau lưng lại ngấm ngầm nhận sự bao bọc, phụ thuộc vào túi tiền của đàn ông để kiếm miếng cơm manh áo qua ngày?!

“Hàn nhị gia...”

Thanh Hà siết chặt hai bàn tay thành nắm đấm, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đau điếng đến bật máu, nàng dùng cơn đau thể xác ấy để giữ cho giọng nói của mình không bị vỡ vụn ra thành từng mảnh:

“Ngài có biết... ngài vừa làm ra cái chuyện gì không?”

Hàn Thụy đứng sững sờ trước ánh mắt rực lửa uất hận và gương mặt tái nhợt vì bi phẫn của nàng. Anh lúng túng, bàn tay buông thõng siết lại:

“Thanh Hà... ta thực lòng chỉ muốn giúp cô nương... Vườn Mộc Lan xưa nay buôn bán sắt đá, họ tuyệt đối không bao giờ chịu bán lẻ trà nõn tôm loại một với mức giá đó cho khách lạ. Ta chỉ muốn cô nương có được nguồn hàng tốt nhất, phẩm chất cao nhất để có thể đứng vững trước sự chèn ép, bóp nghẹt tàn nhẫn của Trà lâu Nghênh Xuân...”

“Giúp ta ư?”

Thanh Hà ngắt lời anh bằng một âm giọng đanh thép, lạnh lùng tựa như băng tuyết phủ kín mặt sông mùa đông. Nàng tiến lên một bước, ánh mắt nhìn thẳng vào đáy mắt anh:

“Ngài nghĩ ngài làm như vậy là đang rủ lòng thương, đang giúp đỡ ta sao? Ngài tự ý dùng bạc của ngài bù vào, ngài dùng uy thế của Thương đoàn Tây Lĩnh ép người ta phải bán rẻ hàng hóa cho ta, rồi ngài giấu nhẹm mọi chuyện đi để ta ngu muội ngỡ rằng mình đã làm được bằng chính đôi bàn tay và khối óc của mình! Ngài biến Liễu Thanh Hà này thành cái thứ gì đây? Một kẻ ăn xin trơ tráo không biết liêm sỉ đang ngửa tay nhận sự bố thí lén lút của ngài sau lưng thiên hạ sao?”

“Ta chưa từng bao giờ coi cô nương là kẻ nhận bố thí!”

Hàn Thụy biến sắc, lồng ngực anh thắt lại, vội vàng cất tiếng thanh minh:

“Ta kính trọng tài năng thẩm trà, kính trọng nghị lực kiên cường của cô nương hơn bất kỳ ai trên bến sông này! Ba mươi văn tiền chênh lệch trên một cân trà đó đối với sổ phụ của thương đoàn chúng ta thực sự chẳng đáng là bao, ta chỉ muốn gánh đỡ một phần gánh nặng trên vai cô nương...”

“Nhưng đối với ta, ba mươi văn tiền ấy là toàn bộ nhân cách, là chữ tín và lòng tự trọng mà ta đang liều mạng gây dựng từng ngày!”

Thanh Hà gằn từng tiếng, từng lời nói như nhát dao cứa mạnh vào bầu không khí ngột ngạt giữa hai người:

“Từ cái đêm mưa tuyết ta bước chân ra khỏi cánh cổng nhà chồng với hai bàn tay trắng, ta đã quỳ gối thề trước vong linh của cha mẹ: Liễu Thanh Hà này dẫu có phải ăn cháo rau qua bữa, dẫu có chết đói rục xương bên mép bến sông này, cũng phải sống ngẩng cao đầu bằng chính sức lao động và sự minh bạch của bản thân! Ta không cần bất kỳ ai thương hại, và ta càng không bao giờ, vĩnh viễn không bao giờ chấp nhận thứ ân huệ lén lút, nhơ nhuốc ấy!”

Nàng nhìn thẳng vào mắt anh, ánh mắt ngập tràn một nỗi thất vọng sâu sắc đến tận cùng:

“Hàn Thụy, ngài nghĩ những lời đồn đại dơ bẩn ngoài chợ kia là sai sao? Ngài làm ra cái chuyện này, chẳng phải chính là đang biến những lời vu khống bỉ ổi ấy thành sự thật hay sao?! Ta vừa dán ba tờ giấy bản này lên vách nứa, ta tự tin từng con số, từng đồng tiền là mồ hôi nước mắt thanh sạch của ta. Giờ ngài bảo ta phải đối mặt với lương tâm mình thế nào đây? Ta phải đối mặt với những người phu thuyền đã tin tưởng ta thế nào? Ta là kẻ lừa dối khách hàng bằng sự gian dối, hay ta là một ả đàn bà trơ trẽn núp bóng đàn ông như lời thiên hạ đang phỉ báng ngoài kia?!”

Hàn Thụy đứng chết lặng như một pho tượng đá giữa hiên quán.

Bàn tay anh buông thõng giữa khoảng không lạnh lẽo. Lần đầu tiên trong suốt bao năm bươn chải khắp các dòng sông lớn nhỏ, một thương nhân lão luyện, từng trải và đầy bản lĩnh như anh lại cảm thấy bàng hoàng, cay đắng và bất lực đến nhường này.

Anh đã quá quen với lối tư duy thực tế và quyền lực của một nhà buôn lớn: quen dùng tiền bạc, dùng tài nguyên và các mối quan hệ rộng khắp để san phẳng chông gai, để sắp xếp mọi trở ngại cho những người mình muốn che chở một cách êm thấm, thuận lợi nhất. Anh xuất phát từ sự xót xa chân thành, từ tấm lòng trắc ẩn muốn giang rộng đôi cánh bảo bọc người phụ nữ mình cảm mến trước bão giông cuộc đời. Nhưng anh đã hoàn toàn mù quáng, hoàn toàn không hiểu được rằng lòng tự trọng của một con người muốn tự mình vươn lên từ bùn lầy là thứ thiêng liêng đến mức nào. Sự sắp đặt độc đoán mang danh “lòng tốt” ấy vô tình đã chà đạp, đã nghiền nát điều mà Thanh Hà trân quý hơn cả tính mạng: phẩm giá độc lập của chính nàng.

Không gian trong quán trà chìm vào một khoảng lặng chết chóc, nặng nề đến nghẹt thở.

Bên ngoài hiên lều, những dải mây xám xịt từ thượng nguồn Tây Lĩnh đã kéo về che kín cả nửa bầu trời. Gió sông bắt đầu rít lên từng cơn lạnh buốt qua các khe nứa, cuốn theo những đám bụi khô và tiếng xì xào vẫn chưa dứt từ mé chợ đò.

Đúng lúc bầu không khí giữa hai người đang căng thẳng đến mức tột cùng, tưởng chừng như chỉ cần một giọt nước cũng đủ làm vỡ tan tất cả, thì một bàn tay nhỏ bé bỗng run rẩy thò ra từ sau tấm liếp tre ngăn cách chái bếp. Bàn tay ấy nắm chặt lấy gấu áo chàm của Thanh Hà, kéo giật mạnh mấy cái.

“Chị... chị Thanh Hà ơi...”

Tiếng thì thào đứt quãng vang lên. Thanh Hà giật mình quay lại.

Tiểu Mãn đang đứng nép nửa người sau tấm liếp tre, cả người con bé run lên bần bật như cầy sấy. Gương mặt nó tái ngắt không còn một giọt máu, mồ hôi nhễ nhại túa ra làm bết chặt những lọn tóc mai rối bời vào trán. Đôi mắt tròn xoe của con bé lấm lét nhìn dáo dác ra con đường ven bến đò, rồi lại ngước nhìn Thanh Hà với vẻ kinh hoàng tột độ, hai hàm răng va vào nhau cầm cập:

“Chị... em... em vừa từ mé sau chợ Đông Tân chạy thục mạng về... Em... em nhìn thấy tận mắt rồi...”

Cơn giận dữ và nỗi đau đớn trong lòng Thanh Hà tạm thời bị nén chặt lại trước vẻ hoảng loạn bất thường của con bé. Nàng vội vàng ngồi thụp xuống, đưa hai bàn tay giữ chặt lấy bờ vai gầy guộc đang run rẩy của Tiểu Mãn:

“Tiểu Mãn, có chuyện gì? Em nhìn thấy cái gì ngoài chợ? Bình tĩnh lại, hít một hơi sâu rồi nói rõ ràng cho chị nghe!”

Tiểu Mãn nuốt nước bọt cái ực, ngực phập phồng thở dốc. Nó kéo Thanh Hà cúi thấp tai xuống sát miệng mình, hạ giọng thì thầm, âm thanh run rẩy chỉ vừa đủ cho ba người trong mái lều tranh nghe thấy:

“Vừa nãy... lúc chị bảo em đi lấy hồ dán... em thấy đám đông tụ tập ở gốc đa đầu chợ hò hét, xì xào ghê quá... Em sợ người ta kéo đến phá quán nên lén vòng ra sau rặng tre mé sau chợ xem tình hình thế nào... Em... em tận mắt nhìn thấy tên Cẩu Nhị!”

Cái tên “Cẩu Nhị” vừa thốt ra, ánh mắt Hàn Thụy lập tức co rút lại.

Tiểu Mãn run rẩy kể tiếp, giọng nghẹn ngào vì sợ hãi lẫn căm phẫn:

“Chính là cái tên Cẩu Nhị, cái tên đàn em thân cận nhất chuyên cầm đoản côn đi nghênh ngang sau lưng Lại Tam ấy! Hắn ta lén lút lôi hai mụ bán cá chuyên ngồi lê đôi mách ra sau dãy chuồng lợn bỏ hoang ở mé góc chợ... Em nép sau bụi chuối, thấy tận mắt hắn móc từ trong túi vải ra hai xâu tiền kẽm dầy cộp, sáng loáng, dúi chặt vào tay hai mụ đó! Hắn nghiến răng dặn rành rọt: ‘Cầm lấy chỗ tiền này! Cứ việc rêu rao, gào toáng lên cho cả cái bến đò này với chợ Đông Tân biết con góa phụ kia ngủ với thương nhân Tây Lĩnh để kiếm trà ngon giá rẻ! Phải bôi tro trát trấu cho quán nó ế sưng mắt ra, cho không còn một mống khách nào dám bước chân vào uống nước nữa!’”

Tiểu Mãn cắn chặt môi, nước mắt ròng ròng chảy dài trên đôi gò má lấm lem tro bếp:

“Chính mắt em thấy mụ bán cá hỉ hả nhét hai xâu tiền vào cạp váy, rồi chạy tót ngay lại gốc đa xúm xít bắt đầu gào toáng lên đặt điều bôi nhọ chị! Chị Thanh Hà ơi... không phải tự nhiên người ta đồn bậy đâu... Là người của Lại Tam! Là bọn chúng cố tình bỏ tiền mua chuộc người ta để hủy hoại chị đấy!”

Từng lời, từng chữ của Tiểu Mãn rơi vào thinh không rành rọt, trần trụi và rõ ràng như một nhát búa đập tan toàn bộ bức màn đen tối đằng sau cơn bão tin đồn ác độc.

Thì ra là thế!

Thanh Hà chậm rãi đứng thẳng người dậy. Nỗi uất nghẹn và đau đớn vì bị tổn thương lòng tự trọng trong đáy mắt nàng bỗng chốc lắng xuống, nhường chỗ cho một tia sáng sắc lạnh, kiên định và thấu suốt như lưỡi dao găm vừa tuốt khỏi vỏ.

Mọi manh mối, mọi sự việc diễn ra trong những ngày qua bỗng chốc kết nối lại thành một đường dây hoàn chỉnh trong tâm trí nàng: lá đơn khiếu nại vạch trần tệ nạn thu phí xâu trái lệ mà nàng và Đỗ Nguyệt Nương vừa nộp lên Huyện nha Thanh Lâm sáng nay; thái độ lúng túng, thoái thác bao che của viên lại mục Đào Văn Kính đêm qua; và giờ là đòn thù hèn hạ, đê tiện này của Lại Tam. Khi không thể dùng bạo lực đập phá quán nước vì có sự bảo vệ của Từ Bá và cánh phu khuân vác bến tàu; khi nhận thấy nguy cơ bị quan nha sờ gáy vì tội lộng quyền thu phí trái phép, tên đầu gấu ranh mãnh ấy đã lập tức chuyển hướng, dùng thứ vũ khí tàn độc và hiểm ác nhất đối với một người phụ nữ: dùng tiền mua chuộc miệng lưỡi thế gian để bôi nhọ phẩm tiết, bóp nghẹt đường sống làm ăn lương thiện của nàng!

Hàn Thụy đứng bên cạnh nghe trọn từng câu từng chữ của Tiểu Mãn.

Gương mặt cương nghị của anh đanh lại, đôi đồng tử co rút dữ dội vì một cơn thịnh nộ bùng lên ngùn ngụt. Sự thật này phơi bày khiến nỗi ân hận và day dứt trong lòng anh càng thêm trĩu nặng, đè nén đến nghẹt thở. Hóa ra kẻ thù thực sự đang rình rập trong bóng tối ngoài kia, vậy mà hành động tự mãn, nông nổi và thiếu suy xét của anh lại vô tình trở thành mũi tên độc đâm thẳng vào tấm bình phong tự trọng mà nàng đang liều mình chống đỡ!

“Lại Tam...” Hàn Thụy nghiến chặt hai hàm răng, bàn tay nắm chặt chuôi chiếc quạt gỗ gõ mạnh xuống mặt bàn tre nghe một tiếng “cắc” khô khốc. “Thì ra là trò bẩn thỉu, đê tiện của lũ cò bến hạ lưu! Thanh Hà, chuyện này tuyệt đối không thể bỏ qua được nữa! Lần này ta nhất định sẽ đích thân tìm đến tận ổ của lũ du côn ấy, ta sẽ...”

“Hàn nhị gia.”

Thanh Hà lạnh lùng cất tiếng cắt ngang lời anh. Giọng nói của nàng không còn sự tức giận bộc phát, nhưng sự xa cách, dửng dưng và lạnh nhạt trong từng âm sắc lại khiến lòng người buốt nhói hơn ngàn vạn lời oán trách, gắt gỏng.

Nàng không nhìn vào gương mặt đầy vẻ ân hận của Hàn Thụy nữa. Nàng quay người, bước từng bước khoan thai và dứt khoát về phía góc chiếc phản tre mộc kê sát vách nứa.

Ở nơi đó, trên chiếc giá gỗ nhỏ sạch sẽ, đang đặt một túi vải gai màu nâu nhạt được bọc cẩn thận qua ba lớp. Đó là nửa cân trà cổ thụ phơi sương quý giá—món quà tri kỷ vô giá mà bà chủ Trần Mộc Lan đã đích thân trao tặng riêng cho nàng trên đồi trà Tây Lĩnh sau buổi thử trà hôm ấy. Nàng đã nâng niu nó như một báu vật chứng minh cho tài năng và nhân phẩm của mình.

Thanh Hà vươn tay nhấc túi trà lên. Những ngón tay thanh mảnh của nàng vuốt phẳng từng nếp gấp của lớp vải thô thô ráp, cẩn thận gài lại chiếc nút thắt bằng dây lanh.

Nàng xoay người bước lại, dừng chân ngay trước mặt Hàn Thụy. Khoảng cách giữa hai người chỉ chừng hai bước chân, nhưng dường như đã ngăn cách bởi một con sông sâu vạn trượng.

Gió sông Vọng Giang ngoài hiên bỗng rít lên từng hồi dữ dội, cuốn theo mùi mưa dông ẩm ướt và hơi nước ngột ngạt từ đại ngàn xa xôi đang ầm ầm đổ về bến nước. Giữa trời đất chuyển mùa nghiêng ngả, giữa cơn dông bão đang chực chờ trút nước xuống đôi bờ, đôi bàn tay gầy gò nhưng vững chãi của nàng nâng túi trà lên.

Thanh Hà đặt túi trà thượng hạng trở lại tay Hàn Thụy, dõng dạc: 'Ta mở quán để tự nuôi thân, không phải để làm một kẻ nhận ơn huệ lén lút!'

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories