Giá rẻ bên kia sông
Tiếng phèng la và giọng đào hát lảnh lót từ mé bờ bên kia sông Vọng Giang dội sang tận hiên quán, từng hồi từng nhịp đập chan chát vào vách nứa, lấn át cả tiếng sóng vỗ ì oạp muôn thuở dưới chân mạn thuyền.
Mặt trời đứng bóng giữa trưa tháng Năm đổ trút một màu vàng chói chang, đặc quánh như mật ong đun quá lửa xuống khắp mặt sông. Hơi nóng hầm hập từ những doi cát bồi, những bãi phù sa nứt nẻ chân chim bốc lên ngùn ngụt, quyện lấy ngọn gió nồm nam hanh hao làm rát bỏng da thịt. Thế nhưng, giữa cái nắng chang chang tưởng chừng vắt kiệt từng giọt mồ hôi ấy, bờ tây sông Vọng Giang lại náo nhiệt đến mức khác thường, tựa hồ một phiên chợ hội giữa mùa giáp hạt.
Đứng bên này mé đông nhìn sang, Trà lâu Nghênh Xuân của Tống Kim Phượng nguy nga sừng sững như một tòa dinh thự vừa khoác lên mình tấm xiêm y lộng lẫy nhất. Dọc theo hai tầng gác gỗ chạm trổ hoa cúc đại đóa và phù dung uốn lượn, những dải lụa đỏ thắm buông rủ tha thướt xuống tận sát mép nước, phấp phới bay theo từng cơn gió lộng từ lòng sông thốc lên. Hàng chục chiếc đèn lồng bát giác dán giấy hoa thảo đỏ rực kết thành từng chuỗi dài viền quanh mái ngói cong vút, dẫu giữa ban ngày vẫn được thắp nến sáng choang, tạo nên một quầng sáng hư ảo, lấn át cả ánh dương rực rỡ.
Trên chiếc sập gỗ hương lớn kê sát góc lan can tầng hai, một cánh đào hát nổi danh huyện thành đầu đội khăn xếp ngũ sắc, mình vận áo tứ thân bằng the hồng rực rỡ, tay cầm chiếc quạt lụa mỏng dính điểm xuyết cánh phù dung thêu chỉ kim tuyến. Đào nương uốn éo buông từng câu ca điệu hát lả lơi, khi thì trầm bổng như tiếng chim rừng gọi bạn, khi lại lanh lảnh vút cao vượt qua mặt nước mênh mông. Phía sau lưng nàng, dàn nhạc công tay thoăn thoắt gõ phách tre, tiếng trống bản giòn tan dồn dập, tiếng chiêng đồng cùng tiếng phèng la hòa vào nhau ầm ĩ, xé toang bầu không gian thanh vắng của một dải sông dài.
Trước cửa Nghênh Xuân, nơi bậc đá xanh dẫn thẳng xuống mép nước, một tấm biển sơn son thếp vàng thật lớn được dựng sừng sững bên bến đá, bốn góc viền dải lụa ngũ sắc rực rỡ:
*“Mùa hạ tương phùng – Đại giảm một nửa giá trà phổ thông, thưởng thức tài hoa danh đào huyện nha”*.
Từng nét chữ đen nhánh, thếp viền óng ánh như trêu ngươi dưới nắng. Cái giá hạ trọn một nửa, một bát trà xanh thường ngày hai văn nay chỉ còn vỏn vẹn một văn tiền kẽm, lại còn được miễn phí ngồi dưới bóng râm mát rượi của tầng gác gỗ, tha hồ vểnh tai nghe đào hát ca khúc tình tứ và ngắm nhìn thị nữ phe phẩy quạt lông ngỗng thơm nức mùi phấn sáp. Điều đó chẳng khác nào một thỏi nam châm khổng lồ hút cạn toàn bộ sinh khí, thuyền bè và lữ khách của bờ đông con sông.
Đã tròn ba ngày liền, khúc sông Vọng Giang chứng kiến một cảnh tượng chênh lệch đến nao lòng. Những chiếc thuyền đò lớn nhỏ xuôi ngược mạn sông hầu như chẳng buồn ghé lại doi đất mé đông này nữa. Khách đi buôn đường dài, người gánh hàng xén, cho đến những phu xe, bác lái trâu dắt dắt díu díu nhau từ các ngả đường mòn đổ về, hễ nhìn thấy cờ hoa rợp trời và nghe tiếng trống đàn rộn rã bên kia sông là mắt sáng rực lên. Thuyền vừa chạm mạn là họ lục tục chuyển hết hành lý sang đò dọc, dồn hết sang bờ tây, chen chân nhau bước lên những bậc đá sạch bóng không một hạt bụi để vào lầu thưởng trà, tranh nhau một chỗ ngồi xem trò vui náo nhiệt.
Bến đò mé đông trước quán của Thanh Hà bỗng chốc trở nên hoang vắng, tiêu điều chưa từng thấy.
Những chiếc cọc tre cắm mốc buộc thuyền nằm trơ trọi, nứt toác dưới cái nắng hè gay gắt; dải bờ đất bồi thường ngày tấp nập tiếng cười nói, tiếng mặc cả giá đò nay chỉ còn vài cánh chuồn chuồn ớt đỏ chót chập chờn bay lượn trên những ngọn cỏ may khô cháy. Mặt nước sát mép bờ phẳng lặng như tờ, chỉ có vài bọng bọt bèo tây dạt vào rồi lại dập dềnh trôi đi theo dòng nước ròng.
Trong gian lều tranh đơn sơ, chiếc chõ hấp bánh bằng tre hun khói vẫn kiên trì bốc lên một làn hơi nước mỏng manh, nhạt nhòa lượn lờ vài vòng rồi tan biến vào khoảng không yên ắng đến ngột ngạt. Khác hẳn với cảnh người người chen chúc xếp hàng chờ mua bánh nóng, tranh nhau từng chiếc ghế con để đợi đò của những sớm mai trước, sáu chiếc bàn tre mộc lúc này trống trơn. Bụi phù sa mịn như bột theo gió cuốn vào bám một lớp mỏng tang trên mặt tre nâu bóng.
Tiểu Mãn ngồi chồm hổm trên chiếc đòn gỗ mục kê sát bệ cửa sổ đan bằng nứa tép, hai bàn tay nhỏ bé cấu chặt vào vạt áo chàm đã giặt đến sờn mép chỉ. Đôi mắt to tròn, ươn ướt của con bé cứ chốc chốc lại ngước nhìn qua dòng sông lấp lánh muôn ngàn vảy bạc, chăm chú nhìn vào đám đông đang xúm xít quanh sập hát bờ tây, rồi lại buồn bã ngoái nhìn xuống năm chiếc xửng tre xếp ngay ngắn trên kệ gác cao cạnh bếp lò.
Trong xửng, ba mươi chiếc bánh bột lọc nhân sen óng ánh, trong vắt như những viên ngọc thạch cùng hai mươi chiếc bánh hoa hòe vàng mơ óng ả được đậy cẩn thận bằng những phiến lá chuối tươi xanh ngắt. Thế nhưng, hơi nóng bốc lên từ chõ hấp đã yếu dần tự bao giờ, những phiến lá chuối đã rũ xuống, nguội ngắt và ẩm ướt.
“Chị Thanh Hà ơi…” Tiểu Mãn mếu máo, giọng nghẹn ứ lại như sắp khóc ròng, hai vai nhỏ run run. “Từ sáng tinh mơ đến giờ mới chỉ có ông Từ Bá ghé uống vội một bát nước nguội để ấm bụng rồi lại chèo thuyền sang bờ tây đón khách. Người ta đổ xô sang bên ấy hết cả rồi! Chẳng có lấy nửa bóng người ghé bến đông! Bên Trà lâu Nghênh Xuân, một bát trà xanh chỉ còn đúng một văn tiền, lại còn được nghe đào hát lảnh lót suốt cả buổi trưa. Khách buôn áo lụa giàu có, phu gánh hàng xén mồ hôi nhễ nhại, đến cả mấy bác lái trâu dắt bầy gia súc cũng rủ nhau qua đó xem trò vui, vừa uống nước rẻ vừa ngắm đào nương uốn éo. Cứ thế này… chỗ bánh bột lọc ngó sen với bánh hoa hòe hôm nay làm sao mà bán hết được hở chị? Bột nếp bột năng quấy nước giếng mà để qua đêm sông nước ẩm ướt thế này là thiu chua ngay, hỏng hết, mất trắng cả vốn lẫn công sức hai chị em thức từ canh tư đến giờ!”
Thanh Hà vẫn đứng lặng lẽ bên chiếc bàn bếp đóng bằng gỗ thông mộc, hai bàn tay thon thả thoăn thoắt dùng mảnh khăn vải bông trắng sạch lau khô từng chiếc bát sứ hoa lam viền mép xanh. Tiếng sứ chạm vào nhau lách cách nhẹ nhàng, đều đặn như nhịp đập của một chiếc đồng hồ nước, tuyệt nhiên không có nửa phần vội vã.
Nghe tiếng thở dài sườn sượt cùng lời than vãn như muốn đứt ruột của con bé, Thanh Hà chậm rãi đặt chiếc bát men lam đã lau khô bóng loáng xuống kệ tre, quay người lại khẽ mỉm cười điềm đạm. Ánh mắt nàng trong veo, sâu thẳm và phẳng lặng như mặt nước giếng đá ong trên gò Thanh Khê vào một buổi sớm mùa thu, không hề gợn lên một nét hoang mang hay bối rối nào trước cảnh tượng vắng vẻ tiêu điều trước mắt.
“Tiểu Mãn, lại đây chị bảo,” Thanh Hà dịu dàng cất tiếng, vẫy vẫy bàn tay nhỏ nhắn về phía con bé.
Con bé phụng phịu đứng dậy, lê từng bước chân nặng trĩu trên nền đất nện, đôi môi nhỏ chu ra vẻ uất ức đến cùng cực:
“Chị không sốt ruột chút nào sao? Chiếc hũ sành ‘Đón Thanh Du’ của chị mấy ngày nay chẳng thêm được đồng nào vào ruột. Em… em sợ quán mình lại giống mấy gánh hàng rong ngoài chợ Đông Tân dạo trước, bị mấy tay buôn lớn dồn ép hạ giá, chịu không nổi tiền đòn gánh tiền thuế chợ rồi phải dẹp tiệm dạt đi nơi khác mất thôi!”
Thanh Hà đưa tay nhẹ nhàng vuốt lại lọn tóc mai bết dính mồ hôi bên thái dương của Tiểu Mãn, chỉnh lại chiếc yếm chàm đã xộc xệch của con bé. Giọng nói của nàng cất lên trầm ấm, mềm mại như dòng suối nhỏ len lỏi qua khe đá, nhưng từng thanh âm lại vô cùng chắc nịch:
“Em nhìn sang bờ bên kia mà xem cho thật kỹ. Trà lâu Nghênh Xuân bề thế lộng lẫy là thế, hai tầng gác ngói san sát, bàn ghế gỗ lim sơn then bóng loáng, kẻ hầu người hạ đi lại rầm rập cả chục mạng người. Để mời được phường hát có tiếng ở huyện thành về gõ phách, gảy đàn, múa lượn suốt ba ngày ròng rã, Tống chủ quán phải móc hầu bao chi ra bao nhiêu lượng bạc trắng thù lao? Dầu lạc thắp cho hàng chục ngọn đèn lồng bát giác thâu đêm suốt sáng, tiền mua cá tươi thịt béo bồi dưỡng cho đám đào kép giữ giọng, tiền công nhật trả cho đám tiểu nhị chạy bàn mướt mồ hôi… tất cả những thứ đó đều là bạc trắng đổ ra như nước chảy qua cầu.”
Nàng bước thong thả tới bên bếp lò, cầm que sắt cời nhẹ lớp than củi nhãn đang cháy âm ỉ đỏ rực dưới đáy chiếc ấm đồng lớn, để ngọn lửa liếm nhẹ quanh thành ấm, rồi tiếp tục chậm rãi phân tích:
“Hạ nửa giá một bát trà phổ thông xuống một văn tiền thì kiếm được bao nhiêu đồng lời? Một cân than đóm đượm lửa mua bên chợ Đông Tân đã là hai văn tiền kẽm, một gánh nước ngọt tinh khiết gánh từ giếng sâu về cũng phải tốn bao mồ hôi công sức của người gánh thuê. Kẻ làm buôn bán lớn mà đem cái rẻ rúng, cái lỗ vốn ra để mua chuộc lòng hiếu kỳ nhất thời của đám đông thì khác nào tự mình đốt đuốc đi đêm, đuốc càng cháy to thì dầu càng mau cạn kiệt. Khách qua sông phần lớn là người chạy vạy ngược xuôi làm ăn buôn bán, họ ghé chân nghe hát vì tò mò chuyện lạ mắt lạ tai, thấy giá rẻ như cho thì xúm xít lại như đàn kiến thấy giọt mật rơi. Nhưng chèo hát không thể xướng suốt tháng quanh năm, đào kép huyện thành cũng phải khăn gói rời đi khi hết hạn khế ước ba ngày. Một khi cái mới lạ qua đi, gánh nặng chi phí vận hành khổng lồ của một tòa trà lâu hai tầng sẽ như một tảng đá ngàn cân đè nặng lên lưng bà ta. Quán lớn như con thuyền to chở nặng, muốn quay đầu giữa dòng nước xiết đâu phải chuyện dễ dàng như chiếc thuyền nan của chị em mình.”
Tiểu Mãn chớp chớp đôi mắt to tròn, hai hàng mi cong vút khẽ rung rinh. Con bé dường như đã hiểu ra đôi phần lý lẽ sâu xa trong từng lời của Thanh Hà, nhưng ánh mắt nhìn vào mấy xửng bánh nguội ngắt vẫn chưa thể vơi hết nỗi âu lo thường nhật:
“Nhưng mà chị ơi… lý lẽ thì là vậy, song bây giờ bánh của mình làm ra thơm ngon thế này mà ế ẩm nằm trơ ra đó…”
Lời con bé vừa dứt khỏi đầu môi, ngoài bến sông bỗng vang lên tiếng mái chèo khua nước gấp gáp, từng nhịp đập vội vã làm xao động cả mặt nước tù túng ven bờ.
Một chiếc thuyền nan nhỏ tách khỏi đoàn thuyền lớn đang neo đậu ngổn ngang giữa dòng, lướt nhanh qua bãi cát bồi rồi cập thẳng vào chân cầu ván mé đông. Một người đàn ông trung niên trạc bốn mươi tuổi, đầu đội chiếc nón chóp nghiêng nghiêng che khuất gần nửa khuôn mặt, mình mặc chiếc áo vải nâu thô nhưng dưới chân lại xỏ đôi giày vải đế mỏng viền chỉ xanh gọn gàng — thứ trang phục chỉ có gia nhân thân tín hoặc quản sự của các hiệu buôn lớn, các dinh thự bề thế trong huyện mới dùng tới — bước thoăn thoắt lên bờ.
Gã không hề có vẻ ngập ngừng hay nhìn ngó phương hướng như những lữ khách xa lạ lần đầu đặt chân đến bến đò. Đôi giày vải bước thoăn thoắt trên nền đất cát, xộc thẳng vào mái lều tranh của Thanh Hà. Vừa bước chân qua ngạch cửa tre, gã đảo mắt quan sát một lượt khắp gian lều, từ kệ chén bát men lam sạch bong kin kít đến chiếc chõ tre hun khói vẫn đang tỏa một làn hơi mỏng. Khác hẳn với vẻ chậm rãi, mỏi mệt tìm chỗ dừng chân của khách chờ đò thông thường, cử chỉ của gã lộ rõ sự hấp tấp, dò xét và vụ lợi.
“Chủ quán!” Gã cất giọng lanh lảnh, có chút sắc nhọn và kiểu cách trịch thượng của kẻ quen phục dịch chốn phố thị phồn hoa. “Quán cô hôm nay còn bao nhiêu bánh bột lọc nhân sen và bánh hoa hòe?”
Tiểu Mãn nghe hỏi đúng món bánh đang lo ế ẩm thì mừng rỡ nhảy cẫng lên một bước, toan mở miệng đon đả chào mời và báo giá. Nhưng Thanh Hà đã khẽ đưa một bàn tay ra hiệu, nhẹ nhàng chắn con bé lại phía sau lưng mình. Nàng đứng thẳng người, khẽ cúi đầu làm một lễ nghi phép tắc mực thước của người buôn bán nhỏ, nhưng ánh mắt nàng lại kín đáo quét qua từng chi tiết trên người đối diện. Nàng nhìn thấy rất rõ đôi bàn tay gã trắng trẻo, các đầu ngón tay tròn trịa không hề có vết chai sần của người lao động tay chân hay người gánh gồng buôn chuyến.
“Kính thưa khách quan,” Thanh Hà cất tiếng trong trẻo, điềm đạm vô cùng. “Quán tiểu nữ sáng nay làm hai mẻ, hiện còn trọn vẹn ba xửng bánh mới hấp giữ ấm từ sớm. Bánh bột lọc ngó sen hai mươi chiếc, bánh hoa hòe mười lăm chiếc, tất cả đều được ủ trên nồi hơi ấm áp, chưa hề nguội lạnh hay nát vỡ.”
Gã đàn ông nheo nheo đôi mắt chuột, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười kín đáo đầy vẻ toan tính. Gã nhanh như cắt thò tay vào bọc thắt lưng lụa, rút ra một chiếc túi gấm nhỏ thêu chỉ viền đỏ, đếm xoẹt xoẹt một vốc ba mươi đồng tiền kẽm sẫm màu cùng năm đồng tiền đồng sáng loáng mới tinh, đặt cộp một tiếng đanh gọn xuống mặt bàn tre:
“Ta mua trọn cả ba xửng bánh ấy! Không cần chừa lại chiếc nào! Cô mau đem hết ra đây, gói cẩn thận từng loại bằng lá dong khô hoặc lá sen cho ta mang đi ngay, ta đang có việc gấp cần kíp!”
Tiểu Mãn nghe thấy khách mua trọn gói cả ba xửng một lúc thì hai mắt sáng rực lên như bắt được vàng ròng giữa bãi cát, miệng cười toe toét định với tay lấy chồng lá chuối khô đã hong khói cẩn thận cất trên gác bếp xuống để gói bánh.
Thế nhưng, Thanh Hà lại bước lên nửa bước, bàn tay thon dài của nàng nhẹ nhàng đặt chặn lên mép chiếc xửng tre trên cùng, giọng nói vẫn giữ nguyên vẻ mực thước, nhưng từng lời từng chữ lại rành rọt lạ thường:
“Khách quan mua nhiều bánh như vậy một lúc, lại đi thuyền độc mộc nhỏ giữa trưa nắng gắt chang chang thế này, tiểu nữ e rằng trên đường mang đi xa, bánh sẽ bị dập nát do sóng nước dập dềnh, hoặc bị hấp hơi kín gió mà làm mất đi vị dẻo giòn vốn có. Bánh bột lọc ngó sen của quán tiểu nữ làm bằng thứ bột năng tươi hảo hạng quấy bằng nước giếng đá ong gò Thanh Khê, nhân ngó sen bẻ khúc giòn sần sật và hạt sen bở tơi xào đượm với đường phèn thanh nhẹ, nếu không dùng ngay trong ngày mà để lẫn lộn hấp hơi thì rất uổng phí công người làm và tiền của người mua. Nếu ngài có lòng mua về làm quà cho người nhà hay bà con chòm xóm ở xa, xin để tiểu nữ lấy chiếc hộp nan tre lót riêng từng tầng lá tươi, chêm từng chiếc bánh cho ngài mang đi đường được chu toàn.”
Gã đàn ông trung niên hơi biến sắc, nụ cười trên môi gượng lại. Ánh mắt gã lóe lên một tia chột dạ, dường như không ngờ một cô thôn nữ mở quán trà nghèo nàn ven sông lại có đôi mắt tinh tường và sự quan sát cặn kẽ đến mức ấy. Gã vội vã xua tay lia lịa, giọng điệu có phần cáu kỉnh nhằm lấp liếm sự bối rối:
“Không cần bày vẽ lôi thôi phiền phức như thế! Ta mua cho một đoàn khách buôn phương xa chuẩn bị lên thuyền lớn xuôi về hạ lưu buôn chuyến, bọn họ đang đói lả người cần ăn lót dạ gấp dọc đường. Cô cứ việc gói thật chặt tay bằng lá chuối là được rồi, không phải lo chuyện dập nát hay hư hao gì cả!”
Nói đoạn, chẳng đợi Thanh Hà gói ghém tươm tất theo lề thói thường ngày, gã liền nhanh tay giật lấy ba bọc bánh lớn vừa được nàng bọc tạm bằng hai lớp lá chuối tươi, ghì chặt vào trước ngực như sợ có người giật lại. Gã chẳng thèm quay đầu đếm lại số tiền kẽm thừa nằm trên bàn, cũng chẳng màng xin lấy một ngụm nước giếng mát lạnh để giải tỏa cơn khát bỏng cổ họng giữa trưa hè, thoăn thoắt sải những bước chân dài vội vã quay trở lại bến sông.
Gã nhảy tót lên chiếc thuyền nan nhỏ, gõ mạnh cán quạt vào mạn thuyền, giục giã người chèo đò cắm sào đẩy mũi thuyền tách khỏi doi cát bồi, phóng vút ra giữa dòng nước cuộn sóng.
Thanh Hà đứng lặng bên mé hiên lều tranh, ánh mắt trầm tĩnh dõi theo từng đường chèo rẽ sóng của chiếc thuyền con. Nàng nhìn thấy rất rõ ràng, chiếc thuyền ấy sau khi ra đến giữa lòng sông Vọng Giang thì tuyệt nhiên không hề xuôi dòng về phía hạ lưu như lời gã đàn ông vừa nói khoác. Ngược lại, người chèo đò bẻ lái một vòng cung thật gắt, mũi thuyền xé nước nhắm thẳng về phía bến đá hoa cương rực rỡ cờ hoa và dải lụa đỏ của Trà lâu Nghênh Xuân mé bờ tây.
Vừa cập vào bậc đá bên kia sông, gã đàn ông liền ôm chặt bọc bánh trong lòng, cúi rạp người lách nhanh qua đám đông khách uống trà đang ngồi chen chúc ngoài sảnh tiền, luồn lách qua lối cửa hông nhỏ hẹp dành riêng cho đám gia nhân nhà bếp của quán lớn rồi biến mất hút sau tấm rèm vải xanh.
“Ủa? Lạ thật đấy…” Tiểu Mãn đứng tựa bên cột tre, nghểnh cổ nhìn theo chiếc thuyền, ngơ ngác buột miệng hỏi, tay con bé vẫn còn nắm chặt mấy đồng tiền kẽm và đồng tiền đồng sáng loáng còn vương hơi ấm. “Sao gã đó nói mua cho thuyền buôn xuôi về hạ lưu, mà thuyền lại quay ngoắt sang Nghênh Xuân thế kia hở chị? Lại còn ôm bọc bánh chạy biến vào ngõ sau nữa chứ?”
Thanh Hà khẽ thở dài một tiếng thật khẽ, bờ vai mảnh dẻ hơi chùng xuống trong thoáng chốc rồi lại lập tức thẳng lại kiên cường. Ánh mắt nàng thoáng nét trầm ngâm sắc sảo:
“Đó đâu phải là khách buôn chờ đò lỡ bước. Đó chính là người nhà, là tay sai đắc lực của Nghênh Xuân sai phái sang bến đông để dò xét tình hình đấy thôi. Ba hôm nay quán của họ nườm nượp khách vào ra nhờ trò múa hát mua vui của phường đào và chiêu bài giảm giá một nửa, nhưng những tay buôn sành ăn sành uống, những người đi lại quen thuộc trên khúc sông này khi ngồi uống trà một văn tiền vẫn chê bai thứ trà cám nhạt nhẽo, rồi nhắc đến món bánh bột lọc nhân sen thanh mát cùng món bánh hoa hòe giải nhiệt không chút vị đắng của quán ta. Tống chủ quán vốn là kẻ tham lam và hiếu thắng, bà ta nóng lòng muốn thâu tóm toàn bộ bến đò này vào tay mình, không muốn để sót lại cho chúng ta dù chỉ là một đồng tiền lẻ. Bởi vậy, bà ta mới sai người sang đây mua cạn toàn bộ số bánh mang về cho cánh đầu bếp trong lầu mổ xẻ, nếm thử từng chút bột, từng hạt sen, săm soi từng thớ lá chuối nhằm sao chép cho bằng được công thức làm bánh của chị em mình.”
Tiểu Mãn nghe đến đó thì mặt mày thoắt cái tái mét, đôi chân dậm thình thịch xuống nền đất nện, chiếc yếm chàm run bần bật:
“Trời đất quỷ thần ơi! Thế thì họ cướp trắng nghề làm bánh của mình sao? Bọn họ nhiều tiền của, lại thuê toàn đầu bếp trứ danh từ phủ thành về nấu nướng, tay nghề bọn họ cao như thế, nếu sao chép được món bánh bột lọc sen với bánh hoa hòe rồi cũng đem bán hạ giá kèm trà bên kia sông thì quán nhỏ của mình coi như bế tắc hoàn toàn, lấy gì mà kiếm từng đồng đong gạo nuôi nhau nữa!”
“Làm bánh ngọt, ủ chén trà thanh tao không giống như việc người thợ rèn đúc một chiếc đinh sắt hay người thợ gốm nung một viên gạch thô đâu em à,” Thanh Hà xoay người bước lại bàn bếp, thong thả dùng chiếc muôi gỗ múc từng gáo nước giếng mát lạnh từ chiếc vại sành da lươn đổ vào chậu đồng để rửa sạch đôi bàn tay. “Bột nếp bột tẻ, đường cát đường phèn đem tiền ra chợ Đông Tân thì ai có bạc cũng mua được cả bao tải. Hạt sen ngó sen ngoài đầm làng thì mùa hạ này ai cũng có thể sai người hái về cả thuyền đầy. Nhưng cái tâm của người làm đặt trọn vào từng mẻ bột, kỹ thuật chần hoa hòe tươi để khử sạch chất mủ đắng chát trong đúng mười nhịp thở, độ lửa liu riu của từng thanh củi nhãn khô đượm khói để hạt sen bở tơi mà ngó sen vẫn giữ nguyên độ giòn sần sật, để bột lọc trong suốt mà không nát nhũn… những thứ tinh tế ấy đâu phải cứ dùng lưỡi nếm qua một đôi lần là có thể bắt chước y xì đúc được ngay? Càng nôn nóng sao chép, càng tham lam muốn làm nhanh làm nhiều để kiếm lời, thì sản phẩm làm ra lại càng dễ chuốc lấy thất bại ê chề.”
Nàng dừng tay, đưa mắt nhìn quanh gian lều tranh trống hoác, bốn bề vắng hoe không một bóng người dừng chân. Dù rằng trên mặt bàn tre lúc này đang nằm gọn số tiền bán trọn ba xửng bánh — một món tiền không hề nhỏ đối với một quán nước ven sông trong một buổi trưa hè oi ả — nhưng nỗi lo toan sâu kín trong lòng nàng không vì thế mà vơi cạn.
Nhìn sáu chiếc bàn tre trống trơn, nhìn những chiếc ấm đất nung nguội dần hơi ấm, Thanh Hà hiểu rất rõ rằng mình đang thực sự bước vào một cuộc chiến cam go không hề có tiếng gươm đao va chạm. Trà lâu Nghênh Xuân với tiềm lực tài chính hùng hậu như một con đê lớn, đang dùng sức mạnh của bạc trắng và sự ồn ào để đè bẹp một con lạch nhỏ bé bên bờ đông. Nếu lúc này nàng dao động, nếu nàng vì sợ hãi sự vắng vẻ trước mắt mà hạ mình giảm giá theo họ, nàng sẽ tự tay đẩy mình vào ngõ cụt diệt vong; bởi lẽ số vốn liếng mỏng manh nàng tích cóp từng ngày trong chiếc hũ sành kia tuyệt đối không thể nào chịu nổi cuộc đua hao tài tốn của kéo dài ấy.
“Tiểu Mãn, lại đây giúp chị chẻ thêm củi nhãn khô,” Thanh Hà ngẩng cao đầu, ánh mắt ánh lên những tia sáng kiên định lạ thường, giọng nói đanh gọn dứt khoát. “Kể từ hôm nay, chúng ta không làm ồ ạt nhiều bánh như trước nữa. Mỗi một ngày chỉ làm đúng hai mẻ nhỏ, sáng sớm một mẻ, chính trưa một mẻ. Mỗi mẻ chỉ đúng hai mươi chiếc bánh bột lọc sen và mười lăm chiếc bánh hoa hòe, không thừa một chiếc, không thiếu một chiếc. Khách ghé bến lúc nào thì có bánh mới tinh, nóng hổi thơm phức lúc ấy. Ai ăn tại quán thì dọn ra đĩa gốm sạch lót lá tươi, ai muốn mang theo đò vượt sông thì dùng lá chuối tươi lau sạch gói ghém vuông vức.”
“Thế còn trà thì sao hả chị?” Tiểu Mãn tò mò hỏi, hai bàn tay nhỏ bé gom những thanh củi nhãn xếp lại thành bó ngay ngắn. “Bên kia họ bán một văn một bát to tướng, mình có nên giảm xuống một văn như họ để giữ chân mấy bác phu xe, mấy chú phu bến không chị?”
“Tuyệt đối không!” Thanh Hà lắc đầu dứt khoát, ánh mắt kiên nghị không chút mảy may lay chuyển. “Nếu giảm xuống một văn tiền một bát, để không bị lỗ vốn, chúng ta buộc phải mua thứ trà cám, trà vụn đầy bụi bặm trôi nổi giá rẻ ngoài bến chợ Đông Tân, hoặc phải pha loãng nước giếng ra, đun đi đun lại nhiều lần để gỡ gạc chi phí. Làm ăn buôn bán mà giở thói gian dối, tráo trở chất lượng như thế thì người ta uống vào một lần là sẽ cạch mặt, một đi không bao giờ trở lại. Chữ tín và cái danh thơm của quán trà mé đông này gây dựng bấy lâu coi như tự tay ném bỏ xuống đáy sông Vọng Giang.”
Nàng bước vào chái bếp nhỏ phía sau lều, lấy ra một bó thẻ tre nhẵn bóng, vàng óng mà mấy hôm trước ông lái đò Từ Bá đã rảnh tay dùng dao bài vót giúp nàng từ những cật tre đực già đanh, thẳng tắp.
Thanh Hà ngồi xuống bàn, lấy thanh mực tàu đen nhánh mài tỉ mỉ lên chiếc nghiên đá ong nhỏ, nhỏ thêm vài giọt nước mưa trong vắt. Nàng cầm ngọn bút lông thỏ nhọn hoắt, nhúng đẫm mực, nín thở nắn nót viết từng nét chữ chân phương, vuông vắn và rõ ràng như khắc lên từng phiến thẻ tre:
*“Trà búp Tây Lĩnh – Vườn Mộc Lan – Hái lúc sương mai”* *“Nước giếng đá ong gò Thanh Khê – Thanh nhiệt nhuận họng”* *“Trà thanh hai văn – Trà đậm hai văn – Phu bến giải mệt”*
Từng nét chữ hiện lên đen nhánh, mực khô đến đâu liền tỏa ra một mùi hương thông thoang thoảng dịu nhẹ. Viết xong, Thanh Hà sai Tiểu Mãn luồn những sợi dây đay dẻo dai qua lỗ xâu đầu thẻ tre, rồi đích thân nàng đem những chiếc thẻ ấy treo trang trọng ngay dưới mép mái hiên lều quán, ngang đúng tầm mắt của bất kỳ người khách bộ hành nào vừa đặt bước chân đầu tiên từ tấm cầu ván cập bến bước lên bờ cát.
Nàng muốn từng người khách ghé quán, từ một bác phu bốc vác áo quần rách rưới nồng nặc mùi mồ hôi và bùn than, cho đến người thương gia mặc áo lụa là sang trọng, khi dừng chân bước vào đều nhìn thấy rõ ràng từng đồng tiền kẽm họ bỏ ra sẽ đổi lấy được thứ nước uống thanh khiết, sạch sẽ và chân thật đến mức nào.
Đặc biệt, ở chiếc bàn tre mộc kê góc bên trái sát mép nước — nơi có bóng râm mát rượi của rặng râm bụt xum xuê buông xuống che chắn trọn vẹn cái nắng gắt ban trưa — Thanh Hà vẫn kiên định đặt một chiếc ấm sành da lươn cỡ lớn, bên cạnh là một chồng bát đất nung dày dặn, mộc mạc đã được tráng nước sôi úp ngay ngắn. Chiếc bàn trà hai văn tiền kẽm dành riêng cho cánh phu phen bến đò, phu xe kéo, người chèo chống lam lũ nghèo khó ấy vẫn luôn luôn đỏ lửa.
Dù cho bờ bên kia phèng la có gõ rộn rã đinh tai nhức óc, dù cho đào kép có uốn éo hát khản cả giọng để mua vui chuốc cười, thì chiếc ấm đất nung đậm đà nấu bằng búp trà hè đượm lửa củi nhãn, mang vị chát sâu ngọt hậu ấm lòng của nàng vẫn âm thầm tỏa hương thơm ngát bên mé nước hiu quạnh này.
Suốt hai ngày dài dằng dặc tiếp theo đó, sự kiên nhẫn và lòng vững vàng của Thanh Hà bị thử thách đến từng khắc, từng giờ.
Bên bờ tây sông Vọng Giang, Nghênh Xuân vẫn nườm nượp người vào kẻ ra như nước chảy hội hè. Tiếng cười đùa cợt nhả, tiếng vỗ tay rầm rộ tán thưởng đào nương lảnh lót vang vọng cả một khúc sông rộng. Những dải lụa đỏ vẫn bay phần phật, đèn lồng vẫn thắp sáng rực rỡ từ chập tối đến tận nửa đêm.
Thế nhưng, sang đến ngày thứ tư của đợt đại hạ giá, trên những chuyến đò nan của Từ Bá chở khách từ mé tây trở về mé đông, những lời xì xào to nhỏ, những tiếng tặc lưỡi than phiền bắt đầu xuất hiện, ban đầu chỉ là vài ba câu thì thầm kín đáo, sau đó lan ra râm ran khắp bến sông.
Giờ Thân buổi chiều ngày thứ tư ấy, mặt trời đã bắt đầu ngả dần về phía rặng núi xa xa, rải một vệt ráng chiều đỏ ối, rực rỡ như lửa cháy lên khắp mặt nước sông Vọng Giang đang lững lờ trôi xuôi. Chiếc đò nan quen thuộc của Từ Bá chở đầy ắp một nhóm khách buôn từ phố huyện trở về và mấy bác phu bốc vác than đen nhẻm từ bờ tây cập bến.
Bác phu vác than tên A Sinh — người đàn ông lực lưỡng từng đến chẻ củi trừ nợ tiền uống trà cho Thanh Hà độ nọ — vừa thấy mũi thuyền chạm cát liền nhảy phắt lên bờ, chiếc đòn gánh tre kĩu kịt trên đôi vai trần bóng nhẫy mồ hôi. Mặt mũi bác đen nhẻm vì bụi than bám đặc, hai mắt đỏ hoe vì gió bụi, cổ họng khô khát đến mức khi cất tiếng gọi chỉ nghe thấy âm thanh khàn đặc, thều thào:
“Cô… cô Thanh Hà ơi! Cho tôi xin một bát trà đậm! Mau cho tôi xin một bát trà đậm ngay đi với, ruột gan tôi như đang có lửa thiêu đốt cháy rụi cả rồi!”
Thanh Hà nhìn thấy bộ dạng kiệt sức của bác, vội vàng buông chiếc khăn lau trong tay, bước thoăn thoắt tới bếp lò, nghiêng ấm sành múc ra một bát trà đầy ắp. Nước trà sóng sánh màu xanh hổ phách pha ánh vàng của mật ong non, bốc khói nghi ngút mang theo hương thơm ngát của lá chè tươi Tây Lĩnh được hãm đúng độ lửa, đưa tận hai tay cho bác phu than.
A Sinh run rẩy đón lấy chiếc bát đất nung nóng rẫy, chẳng màng đến phép tắc khách sáo thường ngày, bác há miệng ngửa cổ ực một hơi dài thật dài. Nước trà nóng trôi qua cuống họng, vị chát đậm đà, dày dặn của búp trà hè quyện lấy vị ngọt thanh khiết, ngọt lịm từ sâu thẳm của nguồn nước giếng đá ong Thanh Khê xông thẳng lên mũi, thấm sâu vào từng thớ thịt rệu rã, cuốn phăng đi cái đắng ngắt, chát xít và thứ bụi than đen ngòm đang bóp nghẹt lấy cuống họng bác.
“Khà… ôi chao!” Bác phu vác than thở hắt ra một hơi dài khoan khoái đến tận tâm can, đưa mu bàn tay áo thô ráp quẹt phăng giọt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên trán. Bác đặt chiếc bát đất nung cạch một tiếng thật giòn xuống mặt bàn tre, run run thò tay vào túi rút ra hai đồng tiền kẽm sẫm màu đặt cẩn thận vào lòng bàn tay Tiểu Mãn. “Sống lại rồi! Cứ tưởng chết khát giữa trưa hè bên ấy rồi chứ! Đúng là trên đời này chỉ có thứ nước trà đậm đà của cô Thanh Hà mới cứu nổi cái mạng già này của tôi thôi!”
Mấy người bạn phu vác đi cùng thuyền với A Sinh cũng lục tục kéo nhau bước vào lều tranh, chiếc đòn gánh và sọt không đặt ngổn ngang dưới đất cát, ngồi kín hai chiếc bàn tre dài góc hiên. Tiếng gọi nước trà đậm, tiếng gọi bánh nóng râm ran bỗng chốc phá tan sự tĩnh lặng như tờ đã bao trùm lấy quán nhỏ suốt mấy ngày qua.
“Bên Nghênh Xuân thế nào hả bác A Sinh?” Tiểu Mãn tò mò, tay thoăn thoắt vừa bưng khay bát trà nóng vừa nhanh nhảu hỏi chuyện. “Bên ấy bán có một văn một bát trà to tướng cơ mà, lại có đào hát hát suốt buổi, sao các bác không uống cho no căng bụng rồi hãy về đây?”
A Sinh nghe con bé nhắc đến Nghênh Xuân thì bực dọc nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống rãnh đất ven đường, xua tay lia lịa như muốn xua đi một thứ xú quế:
“Rẻ cái nỗi gì! Đúng là cái đồ của rẻ là của ôi, của thối tha lừa người cả thôi cháu ơi! Ngày đầu tiên hạ giá, bọn họ còn mang ra thứ trà cũ uống tàm tạm được nửa phần. Sang đến ngày thứ ba, thứ tư thì ôi thôi trần đời ai oán! Bát trà một văn mang ra đục ngầu ngầu, vàng khè như nước rửa nồi gang lâu năm không cọ. Bọn họ gom toàn bộ lá trà già khú đế, phơi tái dở dang pha lẫn với cọng mục cọng sâu bên chợ đổ đống để hãm lấy nước. Lại còn tệ hại hơn nữa là họ tiếc tiền thuê người gánh nước giếng ngọt, tiện tay múc luôn nước sông Vọng Giang đánh phèn chua qua loa chưa kịp lắng bùn cặn đem đi đun sôi! Bát nước bưng ra uống vào miệng vừa tanh nồng mùi bùn rác, vừa chát xít buốt cả hai hàm răng, tuyệt nhiên không có lấy nửa hạt vị ngọt hậu của trà! Phu bốc vác than như bọn tôi làm việc đổ mồ hôi như tắm giữa trời nắng chang chang, uống thứ nước ấy vào bụng dạ cứ sôi réo ùng ục, chân tay bủn rủn, mệt mỏi rã rời không bước nổi chân. Đã thế, cháu có biết cái thái độ của lũ tiểu nhị bên ấy nó khốn nạn thế nào không?”
Bác phu vác than thứ hai ngồi bên cạnh tức tối đập bàn chen vào, giọng đầy vẻ căm phẫn:
“Bọn nó thấy anh em chúng tôi áo rách vai mang đòn gánh bẩn thỉu là xua đuổi như xua đuổi tà ma! Bọn nó bắt chúng tôi phải chui rúc ra tận xó kẹt sau bờ rào phân ngựa mà ngồi, chờ mòn mỏi cả buổi trưa, gọi gãy cả cổ họng bọn nó mới quẳng ra cho bát nước lạnh ngắt với cái nhìn khinh bỉ như ban phát của bố thí! Ai thèm cái thứ một văn tiền rách nát ấy của chúng nó nữa!”
Đúng lúc ấy, một người thương nhân trung niên trạc bốn mươi tuổi, vận bộ áo dài bằng lụa màu xám tro dệt hoa văn chìm trang nhã, tay cầm chiếc quạt giấy Tuyên Thành gấp gọn gàng, từ tốn bước từng bước chậm rãi từ cầu ván đi lên quán. Đó chính là Triệu chưởng quỹ — một mối buôn tơ tằm lớn và vô cùng sành sỏi, thường xuyên đi lại tuyến đường thủy từ phủ thành về các thôn trang bến sông để thu mua kén tằm.
Ông bước vào gian lều tranh, đưa mắt nhìn quanh không gian sạch sẽ, thoang thoảng mùi khói củi nhãn thanh tao và tiếng nước sôi reo tí tách trên bếp lò, rồi khẽ thở phào nhẹ nhõm một hơi dài như người vừa trút bỏ được gánh nặng nghìn cân sau khi thoát khỏi một đám hội hỗn tạp ầm ĩ.
“Cô chủ quán nhỏ,” Triệu chưởng quỹ mỉm cười đôn hậu, gật đầu chào Thanh Hà rồi ngồi xuống chiếc bàn tre cạnh khung cửa sổ nứa tép nhìn ra bờ sông. “Cho ta một đĩa bánh bột lọc sen mới hấp và một ấm trà thanh ướp tâm sen nhẹ lửa nhé.”
Nói đoạn, ông đưa tay phe phẩy chiếc quạt giấy xua đi chút oi nồng còn vương trên vạt áo, lắc đầu than thở:
“Thật tình, ở bên kia sông suốt ba ngày nay ta nhức hết cả đầu óc, tai lùng bùng như có ong vò vẽ làm tổ. Tiếng phèng la chiêng trống chõ thẳng vào tai, phường đào hát thì son phấn lòe loẹt, uốn éo lả lơi chẳng ra thể thống gì của chốn thưởng trà tao nhã. Đám khách buôn chúng ta ghé bến đò là để tìm một góc tĩnh tâm, lật giở sổ sách tính toán lời lỗ, bàn bạc giá cả với bạn hàng cho chuyến thuyền sắp tới. Ngồi bên ấy, nói một câu hét đến khản cổ mà đối phương ngồi đối diện còn chẳng nghe rõ là nói gì! Đã thế… sáng nay ta trót dại tin lời đường mật, mua thử mấy gói bánh của Nghênh Xuân làm mang lên thuyền ăn lót dạ…”
Nhắc đến món bánh của Trà lâu Nghênh Xuân, Triệu chưởng quỹ bất giác cau mày, vẻ mặt lộ rõ sự ngán ngẩm và kinh sợ, khóe môi giật giật như vừa nếm phải thứ thuốc đắng:
“Bọn họ thấy cô chủ bên này làm bánh bột lọc sen với bánh hoa hòe bán đắt hàng quá, liền sinh lòng ghen ghét, sai đám đầu bếp trong lầu hấp tấp làm theo để bán đại trà kèm theo trà hạ giá nhằm câu khách. Nhưng đám thợ nấu của họ quen thói làm món xào nấu nhiều dầu mỡ ở tửu điếm, tay nghề non nớt lại chẳng hiểu gì về cái chất thanh đạm của bánh ngọt mùa hè. Muốn cho vỏ bánh mềm nhanh, bóng bẩy bắt mắt người mua, bọn họ nhồi đẫy mỡ lợn vào trong bột năng nhào nặn. Trời đất mùa hè oi bức hầm hập thế này, thuyền vừa chèo ra đến giữa khúc sông gặp ngọn gió nồm thổi vào, lớp mỡ lợn gặp hơi ẩm liền bốc mùi hôi ngấy nồng nặc, vỏ bánh thì chảy nước nhớt nhát dính chặt vào lá, nhân hạt sen bên trong xào vội chưa chín tới gặp nắng hè lập tức thiu chua nhão nhoẹt! Mấy tay buôn tơ ngồi chung thuyền với ta ăn chưa trọn nửa chiếc đã phải nhoài người qua mạn thuyền nôn thốc nôn tháo, say sóng một phần mà đau bụng quằn quại đến mười phần! Thật đúng là rước của nợ, rước vạ vào thân!”
Thanh Hà mỉm cười thấu hiểu, nhẹ nhàng đặt chiếc ấm đất pha trà búp Tây Lĩnh tỏa khói nghi ngút lên chiếc đĩa lót bằng gốm, rồi quay vào chái bếp bưng ra một chiếc đĩa mộc đựng năm chiếc bánh bột lọc ngó sen tròn trịa, trong suốt như năm viên ngọc bích lấp lánh dưới ánh chiều tà.
Qua lớp vỏ bột lọc dẻo dai mỏng tang, có thể nhìn thấu rõ mồn một những hạt sen trắng ngà bở tơi cùng những hạt lựu ngó sen xắt vuông vức, sạch sẽ nằm cuộn tròn bên trong. Nàng đặt nhẹ đĩa bánh xuống trước mặt Triệu chưởng quỹ, kèm theo một chiếc đĩa gốm nhỏ đựng đôi thanh tre cật vót mỏng, nhẵn thín dùng làm nĩa gắp.
“Kính mời Triệu chưởng quỹ dùng thử mẻ bánh mới ra lò của quán tiểu nữ,” Thanh Hà từ tốn thưa, giọng nàng trong trẻo và chân thành. “Bánh của quán tiểu nữ mỗi một mẻ chỉ hấp đúng hai mươi chiếc vừa vặn, tuyệt đối không hấp thừa để qua ngày. Nhân sen chỉ được xào đượm với chút đường phèn thanh nhẹ và một giọt dầu mè tinh khiết để dậy mùi thơm mộc mạc của đồng quê, tuyệt đối không bao giờ dùng đến một giọt mỡ động vật. Trời hè nóng ẩm, khí độc sông nước bốc lên nhiều, chỉ có cái tính hàn, vị thanh mát tự nhiên của ngó sen giếng ngọt mới giúp thân thể lữ khách nhẹ nhõm, điều hòa tạng phủ được thôi ạ.”
Triệu chưởng quỹ khẽ mỉm cười gật đầu, cầm chiếc nĩa tre gắp một chiếc bánh bột lọc trong suốt, chấm nhẹ vào chiếc đĩa sành đựng chút nước đường mật mía pha gừng tươi loãng vàng ươm, rồi đưa vào miệng cắn một miếng nhỏ.
Một tiếng giòn tan êm ái phát ra từ miếng ngó sen tươi, tiếp sau đó là vị bùi bở, ngọt dịu ngập tràn của hạt sen đầm chín mọng quyện chặt lấy lớp vỏ bột lọc dai mềm mà tuyệt nhiên không hề dính răng. Nuốt trôi miếng bánh thanh mát, ông nhấp thêm một ngụm trà búp hè Tây Lĩnh thơm nức hương sương sớm đang còn nóng ấm, từ từ nhắm mắt lại để mặc cho vị chát sâu dần chuyển thành vị ngọt đậm đà lan tỏa nơi cuống họng.
Triệu chưởng quỹ mở mắt ra, gật gù tấm tắc khen ngợi không ngớt lời:
“Tuyệt diệu! Thật đúng là cái tinh hoa thuần khiết của đất trời sông nước! Vị ngọt thanh tao, mùi thơm dịu dàng mà mát rượi từ đầu lưỡi thấm sâu xuống tận đáy dạ dày, làm tan biến hết mọi nỗi nhọc nhằn, bức bối của một ngày vất vả trên sông. Cái Trà lâu Nghênh Xuân nguy nga đồ sộ bên kia sông cứ tưởng cậy nhiều tiền của là có thể lấy bạc đè chết được người, nhưng cái tài hoa khéo léo và cái tâm chân thật, thơm thảo của cô chủ nhỏ nơi bến đò mé đông này, dẫu Tống Kim Phượng có bỏ ra ngàn lạng bạc trắng cũng vĩnh viễn không thể nào mua chuộc hay sao chép nổi!”
Tiểu Mãn đứng nép bên cạnh nghe thấy những lời khen ngợi ruột gan ấy thì hai má ửng hồng, miệng cười toe toét để lộ hai chiếc má lúm đồng tiền sâu hoắm. Con bé lanh chanh chạy đi châm thêm nước sôi vào ấm cho khách, chiếc tạp dề vải thô mộc bay phần phật theo từng bước chân thoăn thoắt, vui tươi.
Đến khi bóng hoàng hôn đỏ ối bắt đầu chuyển dần sang sắc tím sẫm, bến đò mé đông đã hoàn toàn lấy lại sự tấp nập, ấm cúng và rộn rã vốn có của nó.
Những người khách buôn cần một không gian thanh tịnh để đàm đạo công việc làm ăn, những người lữ khách phương xa sợ hãi thứ bánh ôi thiu nồng nặc mùi mỡ lợn bên kia sông, và toàn bộ cánh phu bến, phu xe cần một bát nước trà đậm đà, sạch sẽ để xua đi cơn mệt mỏi kiệt cùng sau một ngày vắt kiệt sức lực đều lục tục quay trở lại với mái lều tranh của Thanh Hà. Họ nhận ra một điều vô cùng giản dị mà sâu sắc: một văn tiền bớt đi ở bờ bên kia thực chất chỉ là một sự lừa dối vụng về về phẩm chất, còn hai văn tiền họ bỏ ra ở bờ bên này lại đổi lấy được sự chân thành, sạch sẽ, thơm ngon và một sự an tâm tuyệt đối cho thân thể của chính mình.
Mặt trời lặn hẳn sau dãy núi phía tây, ráng chiều tắt lịm, nhường chỗ cho màn đêm sẫm màu buông trùm xuống khúc sông Vọng Giang mênh mông.
Bên bờ tây, tiếng đàn ca của phường đào hát ở Trà lâu Nghênh Xuân dường như đã lạc lõng, khản đặc vì mệt mỏi sau bốn ngày gào thét liên tục; tiếng trống bản gõ rời rạc, lạc nhịp trôi dạt vô định giữa làn gió chiều ẩm ướt. Những dãy đèn lồng đỏ bát giác dù vẫn thắp sáng choang rực rỡ, nhưng lượng người kéo đến đã thưa thớt, vắng vẻ đi trông thấy rõ rệt; trên tầng hai quán lớn nguy nga chỉ còn trơ trọi vài ba gã bợm rượu say xỉn ngồi gục đầu bên những bình rượu rẻ tiền, tiếng cãi vã lèm bèm thỉnh thoảng lại vọng qua sông.
Trong gian lều tranh mé đông, chiếc chõ hấp bánh của Thanh Hà lúc này đã rỗng không tự bao giờ. Từng chiếc bát sứ men lam đã được rửa sạch, úp ngay ngắn trên giá tre khô ráo.
Tiểu Mãn ngồi bên mép bàn tre, hào hứng đếm lại từng đồng tiền kẽm leng keng bỏ vào chiếc hộp gỗ then đồng nhỏ của mình, rồi lại hớn hở giúp Thanh Hà đếm từng xâu tiền đồng sáng bóng bỏ cẩn thận vào lòng chiếc hũ sành dán nhãn giấy điều mang dòng chữ “Đón Thanh Du”. Năm mươi văn tiền lời trọn vẹn của buổi chiều hôm nay nằm gọn gàng, chắc nịch dưới đáy hũ, ngọt ngào và quý giá như những giọt mật chắt chiu từ lòng kiên định và sự nhẫn nại phi thường.
Thanh Hà đứng tựa lưng vào khung cửa nứa tép, hít thật sâu một luồng gió sông mát rượi mang theo mùi ngai ngái nồng nàn của đất phù sa mới bồi. Nàng nhìn qua dòng sông lấp lánh sóng đêm, khóe môi khẽ nở một nụ cười an lòng, thanh thản. Nàng biết mình đã bước qua và chiến thắng ván cờ đầu tiên trước sự chèn ép tàn nhẫn của quán lớn bên kia sông — không phải bằng mưu hèn kế bẩn, không phải bằng sự cay cú hơn thua hạ giá, mà bằng chính sự tôn trọng nghề nghiệp, sự kiên định với chất lượng và lòng tự trọng thiêng liêng của một người làm ăn chân chính.
Thế nhưng, mặt nước sông Vọng Giang chưa bao giờ phẳng lặng được quá một khắc. Con sóng ngầm này vừa mới rút đi, thì một con sóng dữ dội khác đã lập tức chực chờ ập tới mé bờ.
Từ mép nước bờ đông, tiếng mái chèo xé nước ràn rạt, gấp gáp và hung hãn bỗng vang lên giữa bóng hoàng hôn nhá nhem vừa sập xuống. Một chiếc thuyền nan nhỏ không thèm giảm tốc độ, lao vun vút vào bờ cát bồi, mũi thuyền cắm phập một tiếng khô khốc vào đám rễ dâm bụt rậm rạp ven mé nước.
Đỗ Nguyệt Nương trong bộ áo cánh vải xanh xắn cao quá bắp tay lộ làn da cháy nắng, trán và cổ ướt đẫm mồ hôi, mặt mày hầm hầm giận dữ nhảy phắt từ mũi thuyền lên bờ cát. Chị chẳng buồn buộc dây neo thuyền vào cọc tre, hai bàn tay thô ráp nắm chặt một bọc giấy thô bước thoăn thoắt, giậm từng bước chân nặng nề lên thẳng hiên lều.
“Thanh Hà đâu rồi!” Tiếng Nguyệt Nương the thé, đanh lại vì phẫn nộ vang lên xé toang bầu không khí êm đềm, thanh bình của buổi hoàng hôn vừa chớm.
Thanh Hà giật mình quay lại, vội vàng bước nhanh ra khỏi ngạch cửa đón chào:
“Chị Nguyệt Nương? Có chuyện gì mà chị chèo thuyền sang bến gấp gáp thế này?”
Đỗ Nguyệt Nương hớt hải chèo thuyền sang bến, ném lên bàn một tập giấy biên nhận nhăn nhúm: “Lại Tam vừa tăng giá xâu bến với tất cả bạn hàng nữ!”