Quán Trà Bên Bến ĐòCh.10 / 34
Chapter 10

Mùa sen và một mái nhà có luật

Hương sen đầu hạ thoang thoảng theo gió sông tràn vào bến đò, quyện lẫn với mùi than đượm và tiếng xôn xao của khách thương hồ dừng chân.

Mới tờ mờ sáng, sương trên mặt sông Vọng Giang còn chưa tan hết, mặt nước bàng bạc một màu khói lạnh thì chiếc thuyền ba lá của bà cụ chèo hái sen làng bên đã cập vào chân kè đá. Mũi thuyền gỗ chạm nhẹ vào gờ rêu nghe một tiếng “cộp” trầm đục, làm lay động những vệt váng sương còn đọng trên mặt nước phẳng lặng như gương. Cả một khoang thuyền đầy ắp những đài sen tươi xanh mướt mát, những bó ngó sen trắng nõn vừa được nhổ từ tầng bùn sâu nơi đầm trũng mé thượng lưu, trên từng thân ngó mập mạp hãy còn lấm tấm những hạt bùn non mịn màng và đọng nguyên những giọt sương mai long lanh tựa ngọc. Thanh Hà đã đứng đợi sẵn nơi doi đất mé đông từ lúc tiếng gà gáy ran bên kia xóm bãi. Gió sớm phần phật thổi tung tà áo nâu sồng giản dị, nàng cẩn thận nghiêng mình, đón lấy từng bó ngó sen tươi múp míp, rồi đỡ lấy hai rổ hạt sen bánh tẻ vừa hái lúc rạng đông, lần vỏ hãy còn ngậm chặt lớp phấn xanh mát rượi của đất trời đồng bãi.

Đêm qua, sau khi gánh trọn hai mươi cân trà búp hè nõn loại một từ vườn trà của Trần Mộc Lan tít tận vùng Tây Lĩnh về quán, chân tay mỏi nhừ, nàng vẫn thao thức trằn trọc mãi trên chiếc chõng tre kê cao sát vách nứa. Mùa hạ năm nay dường như đến sớm và dữ dội hơn mọi độ. Mới chớm tháng tư mà nắng đã bắt đầu gắt gao từ độ đứng bóng, cái khô khát nung nấu dội xuống bãi bồi, hơi nóng từ những cồn cát phơi trần và mặt nước sông phẳng lì phả ngược lên bờ hầm hập như lò than quạt dở. Khách bộ hành, phu bến gánh gồng, thuyền bè ngược xuôi ghé lại quán nước mé đông ai nấy đều khô khát cháy họng, mồ hôi ướt sũng lưng áo, sắc mặt bơ phờ, mệt mỏi rã rời.

Ấm trà xanh hãm đậm của nàng bấy lâu nay dẫu đã làm tròn phận sự xua tan đi cái mệt mỏi nhọc nhằn, gột sạch vị mồ hôi chua chát nơi đầu lưỡi của đám phu bến vạm vỡ, nhưng với cánh khách buôn đường trường trải qua dặm trường nắng bụi, hay với những người đàn bà dắt díu con nhỏ qua sông lụy đò, thứ nước chát đượm ấy đôi khi lại quá nồng gắt. Họ cần một thức gì đó thanh mát hơn, êm dịu hơn, một ngụm trà làm dịu đi ngọn lửa oi nồng đang bốc hỏa trong lồng ngực, một món lót dạ nhẹ nhàng vừa đủ no lòng mà không ngấy mỡ. Nhìn sang dải đầm sen ngút ngàn nở rộ mé thượng nguồn Vọng Giang, hoa sen hé cánh đón những vạt nắng sớm phớt hồng trên nền lá xanh biếc, Thanh Hà đã nảy ra một ý định ấp ủ từ lâu.

Trong chái bếp đất nhỏ mé sau gian lều quán, nơi vách nứa còn ám đậm mùi tro ấm và làn khói thông thoang thoảng, nàng bắt tay vào chuẩn bị món mới cho ngày mở hàng đầu hạ. Ngó sen tươi vừa bưng từ thuyền lên được nàng ngồi tỉ mẩn tước sạch lớp màng mỏng bao bọc bên ngoài. Từng đoạn ngó mập tròn, trắng muốt, khi bẻ nghe một tiếng “tanh tách” giòn rụm, để lộ những lỗ rỗng thông suốt đều đặn như những mắt ngọc li ti. Nàng thả ngay ngó sen vào chậu nước giếng múc từ gò đá ong Thanh Khê—thứ nước giếng trong vắt, ngọt lành và mát lạnh thấu xương—đã hòa sẵn một vốc muối hạt trắng tinh cùng chút nước cốt quả chua để giữ cho cọng sen vẹn nguyên sắc trắng thanh khiết, tuyệt nhiên không bị ngả sang màu xỉn ố của gió trời. Sau đó, đôi tay thoăn thoắt của nàng đưa lưỡi dao bài sắc lẹm, băm thái từng ngó sen thành những hạt lựu nhỏ nhắn, đều tăm tắp như hạt bắp non.

Kế bên, những bát hạt sen bánh tẻ mẩy tròn được bóc tách nhịp nhàng. Lớp vỏ bọc xanh sẫm bên ngoài vừa bong ra, lộ ra hạt sen tròn trịa màu trắng ngà. Nàng khéo léo lột bỏ lớp vỏ lụa mỏng dính sát múi thịt, rồi dùng đầu que tăm đồng mảnh dẻ nhẹ nhàng đẩy từng mầm tâm sen xanh biếc, thuôn dài ra khỏi khe hạt. Từng hạt sen béo tròn, mây mẩy không một vết xước được rải đều lên chiếc xửng tre đan mắt cáo, đặt gọn gàng trên chõ gang đang phì phì bốc hơi nước sôi. Hơi nóng bao phủ lấy từng hạt sen, làm dậy lên một mùi thơm ngầy ngậy, ngòn ngọt nguyên sơ, mang trọn vẹn cái tinh túy chắt lọc từ bùn sâu phù sa màu mỡ. Khi hạt sen vừa chín tới độ mềm bở mà không nát vụn, nàng nhấc xửng ra, trút vào chảo gang cùng phần ngó sen xắt hạt lựu, rải thêm một vốc đường phèn tán nhuyễn mịn như cát trắng. Đôi đũa tre dài đảo đều trên ngọn than hồng liu riu, chỉ vừa đủ để vị ngọt thanh tao của đường phèn ngấm đượm vào từng thớ thịt bùi ngậy của sen tươi. Ngó sen qua lửa vẫn giữ trọn vẹn cái giòn sần sật nảy trên răng, quyện chặt cùng vị béo bùi tan nơi đầu lưỡi của hạt sen chín tới, tạo nên một thứ nhân bánh thanh tao kỳ diệu mà chưa một quán giải khát nào ven bờ sông Vọng Giang từng nghĩ tới.

Phần vỏ bánh bột lọc đòi hỏi sự khéo léo và một đôi bàn tay chịu được sức nóng của nước sôi già. Nàng dùng thứ bột năng trắng mịn, tinh chế không một gợn cặn mua từ sạp hàng khô quen thuộc của Đỗ Nguyệt Nương ở chợ Đông Tân. Đổ bột vào chiếc thau gỗ mít lòng sâu, Thanh Hà từ từ châm từng gáo nước sôi sùng sục vừa nhấc khỏi bếp lò. Hơi nước mù mịt bốc lên mang theo mùi bột chín thơm dịu. Nàng dùng chiếc đũa cả lớn đảo thật nhanh tay cho bột quyện nước, rồi không quản ngại hơi nóng còn rẫy rẫy bỏng rát, hai bàn tay thoăn thoắt nhào miết, vỗ nén khối bột liên hồi. Động tác của nàng thuần thục và nhịp nhàng như một thói quen đã ăn sâu vào da thịt: nhào từ ngoài vào trong, miết mạnh xuống đáy thau rồi lật ngược lại, cho đến khi khối bột trở nên dẻo quánh, mịn màng như một khối ngọc thạch mềm mại, chạm tay vào không hề dính dớp dẫu chỉ một hạt bụi bột nhỏ.

Ngồi bên chiếc bàn con kê cạnh liếp nứa, Thanh Hà ngắt từng viên bột nhỏ nhắn bằng đốt ngón tay cái, đặt vào lòng bàn tay xoa tròn rồi dùng ngón tay cái ấn dẹt ra thành một miếng bột mỏng tang, rìa mép hơi mỏng hơn phần giữa. Nàng múc một thìa nhân sen hạt lựu đơm đầy vào giữa, khéo léo gập đôi miếng bột lại, dùng hai đầu ngón tay miết chặt từng nếp gấp li ti theo đường viền cong cong. Từng chiếc bánh bột lọc hình bán nguyệt xinh xắn như những vành trăng non đầu tháng nối đuôi nhau ra đời, nằm ngay ngắn trên lớp lá chuối tươi thoa dầu mè lấp loáng.

Bên cạnh, nồi gang lớn trên bếp lò đất nung nước đã sôi bùng bục, bọt nước sủi tăm cuồn cuộn. Nàng thả từng mẻ bánh vào làn nước sôi réo rắt. Thoạt đầu, những vành trăng non chìm nghỉm dưới đáy nồi, nhưng chỉ sau một tuần trà ngắn ngủi, khi hơi nóng ngấm sâu vào từng thớ bột, từng chiếc bánh bắt đầu lục đục tách mình, từ từ nổi bồng bềnh lên mặt nước sủi tăm. Lớp vỏ bánh từ màu trắng đục chuyển dần sang màu trong suốt kỳ ảo. Thanh Hà dùng chiếc muôi tre đục lỗ vớt thoăn thoắt từng mẻ bánh ra, thả ngập ngay vào chậu nước giếng gò Thanh Khê lạnh buốt đã chuẩn bị sẵn bên cạnh. Gặp phải độ lạnh đột ngột, lớp bột lập tức se chặt lại, trở nên dẻo dai phi thường và trong suốt như một lớp băng mỏng, để lộ rõ mồn một nhân sen trắng ngà điểm xuyết những hạt ngó sen li ti bên trong, nhìn qua cứ ngỡ như những viên ngọc bội chạm khắc tỉ mỉ giấu kín dưới làn nước biếc.

Bánh vớt ra để ráo, được xếp khéo léo trên những chiếc đĩa gốm mộc tráng men da lươn trầm mặc. Nàng rưới lên mặt đĩa vài giọt dầu mè thanh nhẹ đã phi thơm cùng chút đầu cọng hành tăm, khiến từng chiếc bánh bóng bẩy, mướt mát, tỏa ra một làn hương quyến rũ đến cồn cào.

Nhưng thứ làm nên linh hồn cho bữa điểm tâm thanh tao này lại chính là ấm trà đi kèm. Thanh Hà không dùng thứ trà xanh đậm lửa hay chè tươi nấu đặc quánh chát ngắt của cánh thợ bến. Nàng tận dụng triệt để số tâm sen tươi xanh biếc vừa tách ra khi nãy. Bắc chiếc chảo đất nung lên bếp than hoa chỉ còn tàn hồng êm ả, nàng cho toàn bộ mẻ tâm sen vào sao nhẹ. Mùi thảo mộc the the, đắng dịu lan tỏa trong chái bếp nhỏ. Đôi tay nàng đảo đều thoăn thoắt để từng ngọn tâm sen khô giòn, thơm nức mà tuyệt đối không bị cháy sém hay ám khói. Số tâm sen sao vàng ấy được nàng ủ chung với một nhúm trà búp hè nõn loại một của vườn Trần Mộc Lan, rồi hãm bằng thứ nước giếng đá ong vừa sôi tới cữ—cái cữ nước vừa sủi mắt cua lớn, đủ độ nóng đánh thức hương trà mà không làm nồng gắt vị thanh.

Khi chiếc ấm tích bằng sành màu nâu đỏ rót nước ra bát sứ hoa lam, một dòng nước màu vàng chanh trong vắt, sóng sánh ánh mai sớm chảy tràn ra miệng bát. Làn khói mỏng bốc lên mang theo hương sen dìu dịu lẫn hương búp trà non mới hái đượm nắng đồi. Nhấp thử một ngụm nhỏ, vị đắng thanh nơi đầu lưỡi lướt qua rất nhanh, chưa kịp làm người ta chau mày thì một vị ngọt hậu sâu thẳm, dịu mát đã lan tỏa khắp cuống họng, thấm sâu vào từng đường gân thớ thịt, dập tắt ngay tức khắc sự bức bối, ngột ngạt đang bốc lên từ lòng sông sớm hạ. Cắn thêm một miếng bánh bột lọc nhân sen, vị dai dẻo sần sật của lớp vỏ bột lọc hòa quyện tuyệt vời với cái giòn ngọt mát lành của ngó sen và chất bùi béo ngầy ngậy của hạt sen chín tới, tất cả tan ra trong miệng, để lại một dư vị ngọt lành, đài các mà dung dị khôn cùng.

Vừa lúc ấy, tiếng mái chèo khua nước rào rạo vang lên ngoài mé sông. Chiếc đò ngang đầu tiên trong ngày của Từ Bá cắm sào cập bến kè đá. Tiếng bước chân rậm rịch, tiếng quang gánh va vào nhau lách cách xé tan màn sương sớm còn vương vấn trên mặt nước. Làn gió sông đưa đẩy mùi thơm thanh khiết của bột chín, dầu mè và hương sen ấm nồng từ hiên quán Thanh Hà tràn thẳng ra bờ sông, lập tức níu chặt bước chân của những vị khách vừa bước lên bờ.

Một vị thương nhân buôn vải trạc ngoài bốn mươi tuổi, thân hình đẫm đà, chiếc áo lụa xám bên trong đã ướt đầm mồ hôi vì phải đi bộ một chặng dài từ huyện thành ra bến, vừa lảo đảo bước vào hiên quán đã buông phịch chiếc tay nải nặng trịch xuống mặt bàn tre, tay cầm chiếc quạt nan quạt lấy quạt để:

"Bà chủ quán! Có thứ gì mát ruột mát gan giải khát ngay cho ta không? Cái nắng đầu mùa này độc địa quá, mới sáng ra mà gió sông đã rát mặt, cổ họng ta khô rát như rang cát rồi đây này!"

"Dạ, mời bác ngồi nghỉ chân cho ráo mồ hôi ạ," Thanh Hà tươi cười đon đả, hai tay bưng chiếc khay gỗ mộc, đặt lên bàn một bát nước trà ướp tâm sen vàng óng hãy còn nghi ngút khói thơm. "Hôm nay quán em vừa vặn mở mẻ bánh bột lọc nhân sen tươi đầu mùa, ăn kèm với bát nước trà tâm sen hạ hỏa, dưỡng tâm. Mời bác xơi thử một bát nước lấy thảo, làm mát lồng ngực trước đã ạ."

Vị khách buôn vải nhìn bát nước trong veo như ánh nắng sớm, ngửi thấy mùi thảo mộc dịu mát xua đi cái oi bức đang bốc hỏa trong đầu, liền vội vã nâng bát sứ bằng cả hai tay, ngửa cổ húp liền một ngụm lớn. Nước trà vừa trôi qua khỏi cổ, đôi mắt mệt mỏi của ông ta lập tức mở to, sáng rực lên. Ông ta thở hắt ra một hơi dài đầy sảng khoái, đặt mạnh bát nước xuống bàn tre:

"Khá lắm! Trà ngon! Thật là thứ nước giải nhiệt hiếm có! Vị đắng nhẹ tênh mà cái ngọt hậu lại sâu thẳm, uống vào một ngụm mà ta nghe như có luồng gió mát thổi từ đỉnh đầu chạy thẳng xuống tận lồng ngực, cái khô khát nãy giờ bay biến đi đâu sạch! Mau, cho ta một đĩa bánh xem nào, thứ bánh gì mà vỏ trong veo như thạch thế kia?"

Đĩa bánh năm chiếc ngọc thạch bóng bẩy được Thanh Hà nhẹ nhàng đặt xuống trước mặt khách, kèm theo chiếc đĩa nhỏ đựng chút tương ớt chưng ngọt dịu và đôi đũa tre già chuốt nhẵn thín. Người khách buôn vải vội vàng gắp lấy một chiếc đưa vào miệng. Răng vừa chạm vào lớp vỏ bánh đã cảm nhận được độ dẻo dai vừa vặn, rồi lớp nhân vỡ òa ra—tiếng ngó sen vỡ giòn tanh tách, hạt sen bở bùi ngập tràn khoang miệng. Người đàn ông nhai chầm chậm, nhắm nghiền hai mắt để tận hưởng trọn vẹn sự thanh khiết của đồng bãi, rồi bất chợt vỗ đùi đánh đét một cái, cất tiếng cười vang cả hiên quán:

"Trời đất quỷ thần ơi! Ta ngược xuôi buôn vải từ dải giang nam ra tận mạn giang bắc, ăn qua không biết bao nhiêu thứ bánh bột lọc nhân tôm thịt béo ngậy mỡ màng, vậy mà chưa từng thấy ai khéo tay, tinh đời đến mức lấy ngó sen và hạt sen làm nhân bánh như cô chủ quán này! Bánh giòn mà không hề xác, bùi béo mà lại thanh đạm vô cùng, ăn vào mát dạ mát lòng chứ không hề có chút ngấy mỡ nào bám lấy cổ họng. Khéo lắm! Khéo tay lắm! Mau gói thêm cho ta hai đĩa nữa, bọc thật cẩn thận vào lớp lá sen tươi kia để ta mang lên thuyền xuôi về bến dưới ăn dọc đường!"

Lời trầm trồ khen ngợi của người khách buôn vải như một mồi lửa ném vào đống rơm khô, lập tức khơi dậy sự tò mò và thèm thuồng của cả đoàn người vừa bước lên bến đò. Mùi thơm thanh nhã của trà và bánh lan tỏa trong không gian buổi sớm oi nồng, tạo thành một sức hút khó cưỡng. Mấy bác phu khuân vác vừa đặt đòn gánh xuống nghỉ chân, mấy bà, mấy cô gánh hàng xén đi chợ phiên, cả những thầy đồ khăn đóng áo dài chuẩn bị qua sông sang làng bên dạy học... tất cả đều tấp nập kéo vào quán nước mé đông.

Bảng giá bằng thẻ tre mới tinh treo lủng lẳng dưới mái hiên lá cọ ghi rõ ràng từng nét chữ chân phương do chính tay nàng nắn nót: "Bánh bột lọc nhân sen: bốn văn một đĩa năm chiếc. Bát trà ướp tâm sen: ba văn." Giá cả thanh nhã, vừa túi tiền của cả người lao động bến bãi lẫn khách bộ hành phong lưu, ai nấy đều sẵn sàng rút túi gọi một phần thưởng thức.

"Chị Thanh Hà ơi, bàn số hai của mấy bác thợ gánh xin thêm một đĩa bánh nữa ạ!"

"Bàn số ba thêm hai bát nước trà tâm sen, bác khách buôn tơ muốn xin thêm chút nước sôi giếng đá ong để châm thêm vào ấm tích!"

Tiếng Tiểu Mãn lanh lảnh cất lên giữa tiếng cười nói râm ran. Con bé chạy thoăn thoắt từ góc bếp ra trước hiên quán, hai bím tóc đuôi sam nhỏ buộc bằng dải vải đỏ lắc lư theo từng nhịp chân lanh lẹ. Đôi mắt hạt nhãn của con bé sáng ngời ngời, hai gò má ửng hồng vì hơi nóng của bếp lò và sự phấn khởi. Miệng con bé luôn nở nụ cười tươi rói, tay bưng khay gỗ thoăn thoắt đưa bánh, rót trà, miệng dạ vâng ngọt xớt, tay kia lại nhanh nhẹn dọn dẹp bát đĩa bẩn, lau sạch mặt bàn tre và thu tiền kẽm của khách không hề nhầm lẫn dẫu chỉ một đồng một cắc.

Gian quán lá nhỏ mé sông Vọng Giang rộn rã hẳn lên, tiếng lách cách của bát sứ va vào đĩa gốm, tiếng húp trà xì xụp sảng khoái quyện cùng tiếng cười nói xôn xao. Chỉ trong một buổi sáng từ lúc mặt trời vừa nhô khỏi rặng tre cho đến khi bóng nắng thu tròn lại dưới chân cột, ba chiếc chõ bánh bột lọc lớn chứa hơn hai trăm chiếc bánh đã được khách thưởng thức sạch nhẵn, đến cả mấy cọng ngó sen xắt hạt lựu rơi rớt dưới đáy chõ cũng chẳng còn. Nồi nước hãm trà tâm sen phải châm thêm nước giếng đến bốn năm lần, khói thơm nghi ngút không lúc nào ngơi nghỉ.

Từng xâu tiền kẽm leng keng nặng trĩu được gom lại ngay ngắn trên chiếc khay gỗ đặt nơi góc bàn pha trà. Thanh Hà bận rộn luôn tay luôn chân từ sáng sớm, hai bên thái dương và trán ướt đẫm những giọt mồ hôi li ti, sợi tóc mai dính chặt vào gò má ửng hồng. Nhưng nụ cười trên môi nàng rạng rỡ, tươi tắn như đóa hoa sen bừng nở giữa nắng hè. Đợi cho đợt khách đông đúc vơi bớt, nàng cẩn thận đếm từng đồng tiền kẽm sáng loáng, trích riêng ra đúng năm mươi văn tiền lời ròng của buổi sáng hôm nay. Đôi tay nàng nâng niu từng đồng kẽm, rồi nhẹ nhàng thả từng đồng vào miệng chiếc hũ sành da lươn dán nhãn giấy hồng điều viết nắn nót ba chữ: "Đón Thanh Du".

"Keng... keng... cắc..."

Tiếng đồng tiền kẽm rơi chạm đáy gốm vang lên giòn giã, trầm ấm trong lòng chiếc hũ sành đã vơi đi khoảng trống, nặng trĩu lên từng ngày. Mỗi một đồng tiền rơi xuống là một nhịp đập rộn ràng trong lồng ngực Thanh Hà. Nàng nén một hơi thở dài thanh thản, ánh mắt nhìn qua lớp liếp nứa hướng về phía trời nam xa xăm, nơi có lò gạch Nam Kiều khói đen mù mịt. Ngày nàng có đủ bạc để chuộc thân cho đứa em trai ruột thịt duy nhất, kéo nó thoát khỏi cảnh tôi đòi, vác gạch nung bỏng rát đôi vai gầy đang đến gần hơn bao giờ hết. Chỉ cần gom góp thêm chút đỉnh nữa thôi, nàng sẽ đường hoàng bước đến cổng lò gạch, đặt tiền lên bàn quản đốc mà đón Thanh Du về lại bên mình.

Đến giờ Ngọ, cái nắng đầu hạ thực sự trút lửa xuống dòng Vọng Giang. Mặt sông mênh mông như một tấm gương đồng khổng lồ bị nung đỏ, chói lòa ánh sáng gay gắt, từng đợt sóng gợn lăn tăn bốc lên làn hơi nước mờ mờ ảo ảo khiến cảnh vật bờ bên kia nhạt nhòa trong ảo ảnh. Giờ này, con đò của Từ Bá đã cắm sào nghỉ ngơi dưới gốc đa cổ thụ đầu doi đất, khách sang sông thưa thớt hẳn. Đám phu khuân vác bến bãi sau một buổi sáng cật lực cũng rủ nhau kéo về các vòm râm mát rượi của rặng râm bụt và kho than ven bến, ngả lưng trên những tấm cói rách để chợp mắt lấy sức cho buổi chiều.

Quán trà nhỏ mé đông bến đò cuối cùng cũng bước vào khoảng lặng hiếm hoi, tĩnh mịch giữa ngày. Tiếng ve sầu trên rặng phi lao bắt đầu râm ran cất lên những nốt nhạc đơn điệu, kéo dài miên man.

Thanh Hà đứng bên bàn trà, nhúng chiếc khăn vải thô vào chậu nước trong, cẩn thận lau từng chiếc bát sứ hoa lam, xếp chồng ngay ngắn vào chiếc rổ mây lớn để ráo nước. Nàng đưa mắt nhìn quanh quán. Tiểu Mãn đang ngồi xổm bên góc chái bếp đất, tay cầm chiếc chổi đót nhỏ lúi húi quét tước đống vỏ trấu, vụn rơm và những mảnh lá sen khô rơi vãi trên nền đất nện.

Nhìn bóng lưng gầy gò, đôi vai nhỏ bé nhô lên dưới lớp áo nâu vá chằng vá đụp của đứa trẻ, lòng Thanh Hà bỗng chùng xuống một nỗi niềm phức tạp. Ánh mắt nàng dịu lại nhưng ngay sau đó lại phủ lên một vẻ trầm tư nghiêm nghị. Nàng nhớ lại buổi hoàng hôn hôm qua, khi nàng gánh trà từ Tây Lĩnh trở về quán lúc nhá nhem tối, nàng đã thoáng thấy bóng dáng Tiểu Mãn lấm lét ngồi thụp sau góc lò tro. Rồi cả sáng sớm nay, khi trời còn tối om chưa rõ mặt người, lúc nàng trở dậy nhóm lửa thì lại bắt gặp con bé đang lúi húi quỳ bên chân vách đất, nghe tiếng bước chân nàng liền hốt hoảng giấu giếm thứ gì đó vào vạt áo rồi lẩn vội ra bến xách nước.

Thanh Hà đặt chiếc bát gốm cuối cùng vào rổ mây thật êm, không gây ra một tiếng động nhỏ. Nàng buông chiếc khăn lau xuống mép bàn, cất giọng nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, thanh âm vang rõ trong không gian tĩnh lặng của trưa hè:

"Tiểu Mãn, vào bếp với chị một lát."

Tiểu Mãn giật mình đánh thót một cái, cây chổi đót trên tay con bé khẽ run lên bần bật, suýt nữa tuột khỏi những ngón tay gầy guộc. Con bé ngơ ngác ngẩng đầu lên, nhìn thấy ánh mắt Thanh Hà đang dừng trên người mình. Ánh mắt ấy không hề có vẻ hung dữ, trợn trừng hay độc ác của những mụ chủ quán trọc phú nơi phố thị mà con bé từng thấy, nhưng nó lại phẳng lặng, sâu thẳm như đáy giếng đá ong gò Thanh Khê, không một gợn sóng cảm xúc. Một nỗi hoang mang, sợ hãi vô cớ bỗng chốc dâng trào trong lồng ngực đứa trẻ vốn từ nhỏ đã phải nếm trải đủ đắng cay đầu đường xó chợ, sống bằng cách nhìn sắc mặt người khác để lần hồi qua ngày.

"Dạ... chị... chị gọi em ạ?" Tiểu Mãn lí nhí đáp lời, vội vàng buông chổi đót, hai tay chà xát vào gấu áo cho sạch bụi bặm rồi rụt rè từng bước theo sau gót Thanh Hà, bước qua tấm rèm liếp nứa đi vào chái bếp nhỏ.

Chái bếp chỉ rộng chừng nửa gian nhà tranh, bốn bề che bằng vách đất trộn rơm chắc chắn. Đó là nơi ngự trị của chiếc bếp lò đất nung hai cửa mà Thanh Hà tự tay đắp từ những ngày đầu dựng quán, chiếc kiềng sắt lớn hãy còn vương khói thông và chiếc chõ gang hấp bánh vẫn còn ấm hơi tro tàn. Dưới chân vách đất mé góc kẹt tối tăm nhất, cạnh mép chân lò còn đượm hơi ấm của lớp tro trấu, có một khoảng đất nhỏ lát mấy viên gạch xỉ màu xám tro không đều nhau.

Thanh Hà không nói một lời nào. Nàng bước chầm chậm đến góc kẹt ấy, tà áo nâu sột soạt lướt trên nền đất. Nàng cúi người xuống, vươn bàn tay thon dài gầy guộc lật nhẹ một viên gạch xỉ bị nứt vỡ làm đôi nằm lẩn khuất dưới lớp bụi tro.

Viên gạch vừa nhấc lên, một chiếc hốc nhỏ khoét vụng về dưới lớp đất nện ẩm ướt lập tức lộ ra dưới ánh sáng lờ mờ rọi qua khe nứa. Nằm gọn lỏn trong hốc đất tối tăm ấy là một bọc vải nhỏ bằng vải báng sờn rách tả tơi, góc mép lem luốc những vệt tro đen và đất cát bám chặt. Thanh Hà vươn tay nhặt bọc vải lên. Nàng đứng thẳng dậy, mang bọc vải đặt nhẹ nhàng lên chiếc bàn gỗ thấp dùng để nhào bột lúc ban mai, rồi chầm chậm mở từng nếp gấp đã sờn rách mép vải.

Bên trong lớp vải báng cũ kỹ, mười sáu đồng tiền kẽm lem luốc, méo mó hiện ra rõ mồn một. Có đồng đã mòn vẹt cả chữ, có đồng dính bùn đen bến đò hãy còn chưa kịp cạo rửa sạch sẽ.

"Cái này... là của em phải không?" Thanh Hà nhìn thẳng vào đôi mắt đang trợn trừng kinh hãi của Tiểu Mãn. Giọng nàng trầm xuống, từng thanh âm rành mạch, rõ ràng rơi vào khoảng không tĩnh mịch của chái bếp đất nung.

Nhìn thấy bí mật giấu kín dưới lớp gạch vỡ bị phơi bày trần trụi dưới ánh sáng ban ngày, toàn thân Tiểu Mãn run bắn lên bần bật như một nhánh lau rách trước cơn cuồng phong. Sắc mặt con bé trong chớp mắt chuyển sang trắng bệch, không còn dẫu chỉ một giọt máu. Những ký ức đen tối, kinh hoàng nhất về những tháng ngày lang bạt kỳ hồ nơi gầm cầu, góc chợ lập tức ùa về bóp nghẹt lồng ngực non nớt. Con bé nhớ những trận đòn roi tơi bời của bọn lưu manh đầu gấu, những cái tát nảy lửa của những chủ hàng quán độc ác mỗi khi phát hiện một đứa trẻ ăn xin lén lút giấu giếm vài đồng tiền lẻ để mua miếng ăn qua bữa.

"Bịch!"

Tiểu Mãn quỳ sụp xuống nền đất nện, hai đầu gối khẳng khiu đập mạnh xuống đất nghe một tiếng khô khốc đến xót xa. Con bé không màng đến đau đớn, hai tay ôm chầm lấy ống chân Thanh Hà, nước mắt nước mũi giàn giụa tuôn rơi, làm nhòe nhoẹt cả khuôn mặt lem luốc bụi than. Tiếng khóc nấc nghẹn ngào, hoảng loạn xé tan bầu không khí ngột ngạt của trưa hè:

"Chị ơi! Em lạy chị... Em van chị nghìn lạy! Em không có ăn cắp tiền của quán! Em thề... em thề có thần sông Vọng Giang trên cao chứng giám, em tuyệt đối không bao giờ dám thò tay vào cái hũ sành hay cái ống nứa đựng tiền kẽm của chị đâu! Chị đừng đánh em... xin chị thương tình đừng tống em ra đường mà tội nghiệp em lắm chị ơi! Ra đường em chỉ có chết đói thôi chị ơi!..."

Tiếng van xin xé ruột xé gan của đứa trẻ mười một tuổi như những nhát dao khía thẳng vào tâm can Thanh Hà. Nàng đứng trơ trơ giữa gian bếp, không quát mắng một lời, cũng không hề giật chân ra khỏi đôi bàn tay đang bấu víu tuyệt vọng của đứa trẻ. Nàng cúi đầu, lặng lẽ nhìn con bé khóc rấm rứt, tấm lưng gầy guộc run rẩy theo từng cơn nấc nghẹn ngào, để cho nỗi kinh hoàng tột độ trong lòng đứa trẻ từ từ lắng xuống theo dòng nước mắt.

Mãi một hồi lâu sau, khi tiếng khóc của Tiểu Mãn chỉ còn là những tiếng nấc ngắt quãng, Thanh Hà mới từ tốn cất giọng, âm thanh vẫn giữ được sự bình tĩnh và nghiêm cẩn như một người chị lớn:

"Đứng lên nói chuyện cho rõ ràng, Tiểu Mãn. Chị đã nói câu nào bảo em là kẻ trộm cắp tiền của quán chưa?"

Tiểu Mãn vẫn run rẩy nép sát gối nàng, không dám ngẩng đầu.

"Chị nói cho em hay," Thanh Hà tiếp tục, giọng nàng rành rẽ từng lời: "Mỗi một ngày quán mở cửa, bán được bao nhiêu bát nước chè tươi, bao nhiêu bát trà ướp tâm sen, bao nhiêu đĩa bánh bột lọc, thu về được bao nhiêu đồng tiền kẽm, chị đều ghi chép từng nét chữ rõ ràng trong cuốn sổ bổi kia, không sót dẫu chỉ một văn lẻ. Tối qua chị kiểm tiền, sáng nay chị kiểm tiền, tiền trong hũ của quán chưa từng thiếu hụt một đồng nào. Chị biết mười sáu đồng tiền kẽm này tuyệt nhiên không phải tiền thu từ ấm trà, đĩa bánh của chị."

Tiểu Mãn nghe thấy vậy, bờ vai khẽ ngừng run rẩy. Con bé ngập ngừng ngước đôi mắt đỏ hoe, ầng ậng nước mắt lên nhìn nàng, đôi môi tái nhợt mấp máy run run:

"Thế... thế sao chị lại... lật gạch lên..."

"Chị hỏi em, số tiền này từ đâu mà có? Và cớ làm sao em lại phải lén la lén lút như một kẻ làm điều xằng bậy, đợi lúc đêm hôm khuya khoắt không ai để ý mới len lén nhét giấu dưới viên gạch xỉ vỡ cạnh chân lò như thế này?"

Tiểu Mãn đưa ống tay áo rách quệt vội dòng nước mắt lem nhem trên gò má hốc hác, hai bàn tay nhỏ bé đan chặt vào nhau, nghẹn ngào thú nhận từng câu từng chữ:

"Dạ... em nói thật... em không dám nói dối chị nửa lời đâu ạ... Đây là... là tiền khách qua đò tiện tay thưởng thêm cho em... Có mấy bác khách buôn giàu có, thấy em bưng nước lanh lẹ, không làm rớt chén, lại luôn miệng dạ vâng nên lúc trả tiền thừa, họ tiện tay quẳng lại trên bàn hai ba đồng kẽm lẻ cho em... Còn... còn mấy đồng dính bùn đen này là do em cúi nhặt ở kẽ cầu ván bến đò lúc sáng sớm tinh mơ... Lúc mấy bác phu gánh hàng nặng bước vội qua cầu ván làm rơi rớt tiền kẽm xuống bùn lầy... Đợi mọi người đi hết, em phải lội xuống mép nước mò mẫm dưới bùn cả buổi mới nhặt được..."

Nghe đến đây, Thanh Hà khẽ thở dài một tiếng. Nàng từ từ ngồi xổm xuống trước mặt con bé, ngang tầm mắt với đứa trẻ gầy gò, nhìn thẳng vào đôi mắt đen láy hãy còn ngập tràn nỗi âu lo hoảng loạn:

"Tiền khách thương tình cho riêng em vì em chịu thương chịu khó, tiền em chịu lạnh lội bùn mót từng đồng dưới kẽ ván bến đò, những đồng tiền ấy là mồ hôi nước mắt của em, là của riêng em chính đáng. Em có quyền giữ lấy nó. Nhưng tại sao em không nói một lời với chị? Tại sao em phải lấm lét giấu giếm như thể mình đang phạm phải trọng tội thế này?"

Câu hỏi chân thành mà nghiêm khắc của Thanh Hà như chạm trúng vào cái dằm nhức nhối nhất, nỗi đau đớn và sợ hãi nguyên thủy đã cắm rễ sâu vào tâm khảm của một đứa trẻ mồ côi không nơi nương tựa, từng bị dòng đời xô đẩy, hắt hủi không biết bao nhiêu lần.

Tiểu Mãn lại nấc lên từng chặp, ngực con bé phập phồng nghẹn ứ, hai bàn tay khẳng khiu vặn xoắn gấu áo rách đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra:

"Em... em sợ... Em sợ lắm chị Hà ơi..."

"Nói cho chị nghe, rốt cuộc em sợ điều gì ở cái quán này?"

"Mấy hôm nay... em thấy quán mình đông khách quá chừng..." Đôi vai gầy guộc của con bé lại bắt đầu rung lên theo từng tiếng nấc. "Khách buôn khắp nơi đổ về, ai cũng khen bánh của chị ngon, trà của chị ngọt mát, tiền kẽm vào quán nhiều như nước chảy... Chiều hôm qua chị lại gánh được bao nhiêu trà quý ở tận Tây Lĩnh về quán... Rồi... rồi em thấy chị dán nhãn giấy hồng điều lên cái hũ sành 'Đón Thanh Du', mỗi ngày chị đều trích tiền bỏ vào đó leng keng... Em biết... em biết chị sắp gom đủ bạc để đi chuộc đón em trai ruột của chị về rồi..."

Giọng Tiểu Mãn nghẹn lại, nước mắt lại trào ra như suối, rơi lã chã xuống mu bàn tay đen đúa, gầy guộc:

"Em trai chị biết chữ nghĩa, lại là ruột thịt máu mủ cùng cha cùng mẹ với chị... Còn em... em chỉ là một đứa con gái ăn xin đầu đường xó chợ, bạ đâu ngủ đấy, không cha không mẹ, không một tấc đất cắm dùi... Ngày xưa, bà bán bánh rán ở chợ Đông Tân cũng từng cho em ăn một bữa no, bảo em ở lại rửa bát quét dọn phụ việc cho bà ấy... Nhưng chỉ được nửa tháng, con trai bà ấy từ dưới quê lên phụ mẹ, bà ấy liền lấy chổi đót quét em ra đường giữa trời mưa rét, bảo nhà không thừa cơm nuôi đứa ranh con ăn bám... Em sợ..."

Em sợ khi em trai chị về rồi, quán đông người rồi, chị sẽ không cần em nữa... Chị sẽ đuổi em đi... Em giấu mười mấy đồng tiền này... là để lỡ ngày mai chị tống em ra đường, em còn có mấy đồng mua củ khoai, cái bánh kê ăn lót dạ... không bị chết đói bên gầm cầu..."

Từng lời, từng chữ của Tiểu Mãn thốt ra như những mũi kim nhọn hoắt đâm thấu vào lồng ngực Thanh Hà. Tiếng khóc của đứa trẻ nghẹn lại nơi cuống họng, đứt quãng, lẫn vào tiếng nấc run bần bật của một tấm thân còm cõi đã phải nếm trải quá nhiều đòn roi và sự ghẻ lạnh của thói đời.

Thanh Hà đứng lặng giữa chái bếp nồng mùi tro trấu và hơi nước sôi sùng sục từ nồi nước lá. Nàng nhìn đứa trẻ đang quỳ rạp dưới chân mình, đầu gối trần tì trên nền đất nện ẩm ráp, hai bàn tay xương xẩu còn dính đầy vệt than đen và đất cát đang bấu chặt lấy mép chiếc quần cộc vá chằng vá đụp. Trong hình bóng khốn khổ, hoảng loạn ấy, nàng bàng hoàng nhìn thấy chính bản thân mình của những tháng ngày tăm tối nhất.

Ký ức cay đắng của đêm đông năm ngoái lại ùa về, buốt nhói như một nhát dao khía vào da thịt. Đêm ấy, cánh cổng gỗ lim nặng trịch gắn đinh đồng của nhà họ Phạm ở thôn Đoài đóng sầm lại trước mắt nàng, tiếng then cài bằng sắt ăn sâu vào then cửa khô khốc, dứt khoát như chặt đứt một kiếp người. Nàng bị tống khứ ra đường giữa cơn mưa phùn gió bấc cắt da cắt thịt, trên vai chỉ vỏn vẹn một bọc vải nhỏ đựng vài bộ quần áo cũ và chút bạc vụn đổi từ chiếc trâm cưới kỷ vật mẹ để lại trước khi qua đời. Đêm mùa đông đen đặc quánh lại, con đường làng lầy lội bùn trơn trượt dưới đôi bàn chân tím tái, bốn bề bốn phía chỉ có tiếng chó sủa ran từng chặp và tiếng gió rít qua những bụi tre gai lạnh lẽo. Nàng đã bước đi mà không biết bước chân kế tiếp sẽ dẫn mình về đâu, không biết sớm mai khi trời hửng sáng liệu mình có còn sống sót để nhìn thấy mặt trời, hay đã chết cóng bên một bụi cây, một xó chợ nào đó.

Cái cảm giác bị chối bỏ, bị vứt ra ngoài lề cuộc đời như một món đồ rách nát hết giá trị lợi dụng, nỗi kinh hoàng tột cùng của sự bơ vơ không nơi nương tựa, không một ai chìa tay che chở... nàng hiểu rõ hơn bất kỳ ai trên cõi đời này. Đứa trẻ này cũng thế. Nỗi sợ hãi của nó không phải là lòng tham lam của một đứa trẻ hư hỏng, mà là bản năng sinh tồn méo mó đến tội nghiệp của một sinh linh từng bị bỏ rơi, từng bị dập vùi đến mức không còn dám tin vào lòng tốt của bất cứ người nào.

Mắt Thanh Hà cay xè, một tầng sương mỏng dâng lên làm mờ đi ánh lửa bập bùng nơi cửa lò. Mọi nét nghiêm nghị, quở trách trên gương mặt nàng tan biến hoàn toàn, nhường chỗ cho một niềm xót thương sâu sắc đến thắt lòng.

Nàng ngồi thụp xuống nền đất, không màng đến bụi tro bám vào tà áo vải mộc. Đôi bàn tay ấm áp của nàng vươn ra, nhẹ nhàng nhưng kiên quyết ôm lấy bả vai gầy trơ xương của Tiểu Mãn, kéo con bé vùi vào lồng ngực mình. Tấm thân nhỏ thó của đứa trẻ run lên từng chặp kịch liệt, các thớ thịt co rút lại vì sợ hãi, nhưng nàng chỉ siết nhẹ vòng tay, vỗ nhịp đều đặn trên tấm lưng áo ướt đẫm mồ hôi và nước mắt.

"Ngốc ạ... Con bé ngốc nghếch này..." Thanh Hà nghẹn ngào thốt lên, giọng nàng run run bên tai con bé, từng tiếng trầm ấm như hơi thở của rơm rạ mùa gặt. "Sao em lại nghĩ chị là hạng người như thế? Sao em lại nghĩ chị có thể nhẫn tâm đuổi em ra đường sau ngần ấy ngày chúng ta cùng chia nhau từng củ khoai, từng ngụm nước trà?"

Được bao bọc trong vòng tay ấm áp thoang thoảng hương sen dịu mát và mùi khói củi quen thuộc, bao nhiêu sự gồng mình, bao nhiêu tầng lớp cảnh giác xù xì mà Tiểu Mãn dựng lên suốt những năm tháng bạt mạng đầu đường xó chợ bỗng chốc vỡ òa tan biến. Bàn tay khẳng khiu của con bé run rẩy bám chặt lấy vạt áo trước ngực Thanh Hà, mặt vùi sâu vào hõm vai nàng, cất tiếng khóc lớn xé ruột xé gan. Những giọt nước mắt ấm nóng thấm ướt một mảng áo của nàng, như gột rửa đi nỗi sợ hãi tăm tối đã đè nặng lên trái tim non nớt bấy lâu nay.

Thanh Hà không nói thêm lời nào, chỉ lặng lẽ ôm chặt lấy em, một tay xoa dịu mái tóc xơ xác cháy nắng quăn queo vì sương gió, một tay khẽ khàng vỗ về nhịp thở ngắt quãng của con bé. Nàng để cho Tiểu Mãn khóc cho thỏa, khóc cho vơi đi tất cả những tủi nhục, đắng cay mà một đứa trẻ mười hai tuổi chưa từng được trút bỏ cùng ai.

Cho đến khi tiếng khóc của Tiểu Mãn nhỏ dần, chỉ còn lại những tiếng nấc nghẹn ngào ngắt quãng, Thanh Hà mới buông nhẹ vòng tay ra. Nàng rút chiếc khăn vải thô giắt bên hông, nhúng vào ghè nước mưa mát rượi đặt cạnh vại sành, cẩn thận vắt khô rồi nhẹ nhàng lau từng giọt nước mắt, từng vệt nhọ nồi và bùn đất lem luốc trên đôi má hóp sâu của con bé.

"Nín đi, lau mặt mũi cho sạch sẽ nào. Mắt mũi tèm lem thế này, khách vào nhìn thấy lại tưởng chị đánh đòn em." Thanh Hà mỉm cười dịu dàng, ánh mắt chan chứa tình thương.

Nàng đứng dậy, bước lại chiếc rương gỗ nhỏ đóng bằng gỗ tạp đặt nơi góc chái bếp, dưới kệ để hũ sành trữ đường phèn. Nàng mở nắp rương, lấy ra một chiếc hộp gỗ dài chừng một gang tay, bề ngang độ nửa gang. Chiếc hộp này được bào nhẵn thín từ những mẩu gỗ thừa của xưởng đóng thuyền ven sông hôm nọ, các góc ghép mộng chắc chắn, mộc mạc nhưng vuông vức, phía trước nắp có đóng một chiếc then gài nhỏ bằng đồng thau sáng bóng. Ban đầu, Thanh Hà nhờ bác thợ mộc đóng giùm là để cất kim chỉ, chỉ ngũ sắc và mấy mảnh vải vụn dành may vá chăn áo mùa đông. Nàng cầm chiếc hộp trên tay, bước trở lại bàn trà, đặt nó ngay ngắn trước mặt Tiểu Mãn.

Tiểu Mãn đưa bàn tay lem luốc quệt ngang mũi, ngơ ngác nhìn chiếc hộp gỗ có then đồng, rồi lại ngước đôi mắt ầng ậng nước nhìn Thanh Hà, không hiểu người chủ quán trẻ tuổi định làm gì.

Thanh Hà cúi xuống, nhặt nhạnh từng đồng tiền kẽm han gỉ nằm rải rác trên mặt đất từ bọc vải vụn ban nãy. Nàng lấy ngón tay cái miết thẳng lại những đồng tiền méo mó vì bị giẫm đạp, cẩn thận đặt từng đồng một vào trong lòng chiếc hộp gỗ. Tiếng đồng tiền kim loại va vào đáy gỗ vang lên những tiếng "cắc, cắc" khô khốc, giòn giã và rành rọt trong gian bếp tĩnh lặng. Mười sáu đồng kẽm nằm ngay ngắn bên nhau dưới đáy hộp, phẳng phiu và sáng sủa lạ thường.

"Tiểu Mãn, em ngồi thẳng dậy, nhìn vào mắt chị và nghe cho rõ từng lời chị dặn đây."

Giọng Thanh Hà cất lên, không còn là sự dỗ dành yếu mềm lúc nãy, mà trở nên đĩnh đạc, trang nghiêm và rành mạch.

Tiểu Mãn giật mình, vội vàng quỳ ngay ngắn lại, hai tay đặt trên đầu gối, nín thở ngước nhìn nàng.

"Ở quán trà này của chúng ta, từ bờ sông bước lên đến cửa bếp, việc gì cũng phải có khuôn phép, có lề lối rõ ràng." Ánh mắt Thanh Hà sáng quắc, trong trẻo như nước nguồn Tây Lĩnh. "Chúng ta là những kẻ nghèo hèn, sống bằng bát nước chè tươi, củ khoai luộc bên bến đò, đổi từng giọt mồ hôi mặn chát lấy từng đồng tiền kẽm của khách thương hồ. Nhưng chúng ta sống đàng hoàng, sống ngay ngắn dưới ánh mặt trời, ngẩng cao đầu mà nhìn người đời, tuyệt đối không được sống như loài chuột bọ rúc bờ rúc bụi, lén lút giấu giếm từng miếng ăn góc xó!"

Từng lời răn dạy như dòng suối nguồn mát rượi rót thẳng vào tâm trí non nớt của Tiểu Mãn. Con bé run rẩy gật đầu, bờ môi mím chặt.

"Thứ nhất," Thanh Hà giơ một ngón tay, giọng dứt khoát: "Giao ước ban đầu giữa chị và em là em phụ giúp quét dọn, bưng bê, chị nuôi em ngày hai bữa cơm no, cho em manh chiếu ấm và mái nhà che mưa che nắng. Nhưng đó là khi quán mới mở, mỗi ngày chỉ dăm ba khách qua đò lỡ bước. Nay quán trà đã đông, khách buôn qua lại tấp nập, từ sáng sớm đến chiều tà em phải xách nước, rửa chén, lau bàn không ngơi tay. Công sức em bỏ ra mồ hôi ướt đẫm lưng áo, không thể chỉ đánh đồng với hai bát cơm hẩm! Chị đã tính toán kỹ rồi: từ tháng này, ngoài cơm áo và chỗ ngủ, mỗi tháng chị sẽ trích riêng trả cho em ba mươi văn tiền công phụ việc. Ba mươi văn đó là mồ hôi, là sức lao động chân chính của em, không ai có quyền tước đoạt!"

Tiểu Mãn trợn tròn đôi mắt ngập nước, há hốc miệng như không tin nổi vào tai mình:

"Chị... chị trả tiền công cho em thật sao? Mỗi tháng ba mươi văn... thật sao chị?"

"Chị nói một là một, hai là hai, chưa từng gạt ai bao giờ!" Thanh Hà tiếp tục chỉ tay vào chiếc hộp gỗ trước mặt, giọng càng thêm nghiêm cẩn: "Và điều thứ hai: những đồng tiền lẻ khách thương hồ thừa thãi thưởng riêng cho em vì em lanh lợi, hay những đồng kẽm em nhặt được ở bến nước sau khi đã hỏi han khắp lượt những người chung quanh mà không có ai nhận lại, đó là tài sản riêng của em. Em có toàn quyền giữ lấy, tích cóp lại, muốn để dành mua một manh áo mới, một đôi guốc mộc hay một tấm bánh rán nóng ở chợ là quyền ở nơi em. Chiếc hộp gỗ có then gài này từ nay thuộc về em. Tiền của em thì đàng hoàng cất vào hộp, đặt ngay ngắn trên kệ gỗ đầu chõng tre nơi em nằm, để ai nhìn vào cũng thấy em có của ăn của để bằng chính bàn tay mình! Tuyệt đối không được đào đất, cạy gạch giấu giếm dưới gầm giường như kẻ trộm cắp phạm pháp. Em nhớ rõ chưa?"

Tiểu Mãn nhìn những đồng tiền nằm phẳng phiu trong chiếc hộp gỗ nhẵn thín, cổ họng nghẹn ứ, hai vai lại run lên nhưng lần này là vì một niềm xúc động vô bờ bến.

Sắc mặt Thanh Hà chùng xuống, nàng nhìn sâu vào đáy mắt con bé, chậm rãi nhấn mạnh từng lời sau cùng:

"Quán trà của chị có luật lệ phân minh: Tiền bạc rõ ràng, công sức sòng phẳng. Em có quyền có tài sản riêng, nhưng điều cấm kỵ nhất ở đây là lòng dạ bất minh, là sự giấu giếm, nói dối và nghi kỵ lẫn nhau! Chị đón em về đây không phải để xem em là đứa ở, càng không phải để lừa lọc em. Dù sau này chị có gom đủ tiền đi chuộc thằng Du về, thì thằng Du là em ruột của chị, còn em vẫn là người của quán trà này. Hai đứa sẽ là hai cánh tay đỡ đần cho chị. Trừ phi sau này em khôn lớn, em muốn rời đi học lấy một cái nghề may vá buôn bán khác, hay muốn lấy chồng lập nghiệp riêng, còn chừng nào quán trà bến Vọng Giang này còn đỏ lửa, thì chừng đó vẫn có chỗ cho em đặt lưng, có bát cơm nóng cho em ăn! Em đã khắc cốt ghi tâm lời chị chưa?"

Tiểu Mãn không kìm được nữa, hai tay ôm ghì lấy chiếc hộp gỗ nhỏ vào lòng, ôm chặt như ôm lấy chiếc phao cứu sinh giữa dòng nước lũ cuồn cuộn. Chiếc hộp gỗ mộc mạc áp sát vào lồng ngực gầy gò, lành lạnh nhưng lại khiến trái tim con bé ấm sực lên một luồng nhiệt khí chưa từng có.

Suốt mười hai năm trôi nổi khắp các gầm cầu, góc chợ, nếm đủ đòn roi, lời chửi rủa xua đuổi của người đời, đây là lần đầu tiên có người dạy cho nó biết thế nào là sự tôn trọng, thế nào là sống ngẩng cao đầu bằng mồ hôi của chính mình, và trao cho nó một vị trí vững chãi dưới một mái nhà có quy củ.

"Em hiểu rồi... Em xin khắc ghi từng lời chị dạy!" Tiểu Mãn sụp đầu lạy tạ xuống nền đất, nước mắt rơi lã chã lên mặt gỗ của chiếc hộp nhỏ. "Em hứa với chị, từ nay về sau em có chết đói cũng không bao giờ giấu giếm chị điều gì, không bao giờ nói dối chị một nửa câu! Em sẽ làm việc thật chăm chỉ để phụ giúp chị và quán trà..."

"Hay lắm! Dạy dỗ con trẻ như thế mới thực là người thấu suốt đạo lý làm người!"

Một giọng nói trầm hùng, rổn rảng như tiếng chuông đồng bất thần vang lên từ phía cửa bếp.

Thanh Hà và Tiểu Mãn cùng giật mình quay đầu nhìn lại. Dưới bóng râm của mái hiên nứa, bóng dáng cao lớn, vạm vỡ của lão lái đò Từ Bá đã đứng tựa vào chiếc mái chèo gỗ nghiến đen bóng từ lúc nào. Lão mặc bộ quần áo nâu sồng đã bạc thếch màu vì sương gió sông nước, ống quần xắn cao quá gối để lộ đôi bắp chân gân guốc chắc như rễ si. Khuôn mặt sạm đen vì nắng cháy, hằn sâu những nếp nhăn từng trải của mấy chục năm lênh đênh mặt sóng đang giãn ra trong một nụ cười tán thưởng hết mực.

Lão cất bước đi vào chái bếp, tiện tay tháo chiếc nón mê rách rưới đặt lên góc bàn trà, ánh mắt nhìn Thanh Hà không giấu nổi sự kính nể chân thành:

"Lão vừa cho đò ghé bến nghỉ trưa, định bụng bước vào xin cháu bát nước chè tâm sen giải nhiệt sau mấy chuyến chèo ngược nước, không ngờ lại đứng nghe được từ đầu đến cuối câu chuyện này. Cháu Hà à, một người phụ nữ trẻ tuổi, đơn thân lập nghiệp nơi bến đò hỗn tạp mà có được cái tâm sáng, cái lý lẽ phân minh như cháu, quả thực là của hiếm của cái đất bến Vọng Giang này đấy!"

Gương mặt Thanh Hà khẽ ửng hồng vì ngượng ngùng. Nàng vội đứng dậy, chỉnh trang lại vạt áo rồi đon đả bước lại chõ nước:

"Cháu chào Từ Bá ạ. Bác vào quán từ lúc nào thế? Chuyện vặt trong xó bếp của mấy chị em làm bác chê cười rồi."

"Chê cười cái nỗi gì!" Từ Bá xua mạnh bàn tay hộ pháp, đón lấy bát sành đựng nước chè tâm sen còn nghi ngút khói thơm mà Thanh Hà vừa rót ra. Lão ngửa cổ, ực một hơi dài cạn sạch đến tận đáy bát, rồi khà ra một tiếng sảng khoái, lau khóe râu bạc mép. "Chuyện này mà là chuyện vặt à? Cháu nhầm to rồi! Lão chèo đò ngang dọc cái khúc sông này hơn bốn mươi năm có lẻ, mắt đã chứng kiến không biết bao nhiêu hạng chủ quán, nhà thuyền ven sông đối đãi với những đứa trẻ tha phương cầu thực."

Lão kéo chiếc ghế tre ngồi xuống, chỉ ngón tay thô ráp về phía ngoài bến nước:

"Kẻ ác tâm thì thấy đứa nhỏ giấu giếm vài đồng bạc vụn liền chụp mũ ngay cho nó cái tội trộm cắp, lôi ra đánh đập thừa sống thiếu chết rồi ném nó ra ngoài đường giữa đêm hôm mưa gió, coi như phủi sạch một món nợ cơm áo. Kẻ ranh mãnh, tham lam hơn thì tịch thu sạch từng đồng tiền cắc của đứa trẻ, rồi lấy cớ đó để dằn vặt, đe nẹt, biến nó thành đứa nô tì không công trọn đời trọn kiếp, không bao giờ ngóc đầu lên nổi. Có mấy ai thấu hiểu được cái nỗi sợ chết đói, sợ bị xua đuổi thấu tận tủy xương của những đứa con côi cút không cha không mẹ?"

Lão lái đò quay sang nhìn Tiểu Mãn, ánh mắt lão dịu lại, chan chứa vẻ bao dung của một người ông nhìn đứa cháu nhỏ trong nhà:

"Cháu Hà không những không đánh mắng, mà còn chỉ ra cho con bé thấy ranh giới giữa cái xấu và cái tự trọng, cho nó chiếc hộp gỗ để đàng hoàng cất giữ công sức của mình, lại còn định cả tiền công tháng cho nó. Làm như thế không phải chỉ là nuôi một đứa trẻ, mà là đang cứu vớt cả một kiếp người khỏi rơi vào vũng bùn trộm cắp đấy, cháu có hiểu không?"

Từ Bá hắng giọng một tiếng thật vang, trừng mắt nhìn Tiểu Mãn:

"Con bé Tiểu Mãn kia! Lão nói cho mày nghe, bến đò này nước sâu cuồn cuộn, cá tôm nhiều mà cạm bẫy cũng chẳng thiếu đâu. Lão đã thấy biết bao đứa trẻ ăn xin như mày, vì một vài đồng bạc vụn, vì miếng ăn trước mắt mà trượt dài vào con đường trộm cắp, lừa đảo, để rồi cuối cùng bị trói gô cổ ném xuống bến sông, hoặc vùi thây nơi ngục tối nha môn. Nay mày có phúc phận gặp được một người chủ tử tế, biết thương xót, biết dạy dỗ mày nên người như chị Hà đây, đó là phúc đức mấy đời tổ tiên nhà mày tích tụ lại đấy! Phải biết mở to mắt ra mà sống, khắc sâu cái ơn này vào dạ, giữ cho lòng dạ ngay thẳng như cây nứa cây tre, nghe chưa?"

Tiểu Mãn vẫn ôm khư khư chiếc hộp gỗ trước ngực, nước mắt ròng ròng, con bé gập người cúi đầu lia lịa:

"Dạ, cháu nghe rồi ạ! Lời bác dạy và lời chị Hà dạy cháu đều khắc ghi trong lòng. Cháu xin thề từ nay về sau sẽ làm ăn chăm chỉ, không bao giờ dám làm điều xằng bậy nữa đâu ạ!"

Thấy không khí trong bếp có phần căng thẳng, Thanh Hà khẽ mỉm cười, đưa tay đỡ Tiểu Mãn đứng dậy:

"Được rồi, biết lỗi và sửa lỗi là tốt. Em mang cái chõ hấp bánh và mấy cái xửng tre ban sáng ra mé bến nước, dùng xơ mướp với tro bếp cọ rửa cho thật sạch rồi phơi nắng đi. Nhớ cẩn thận mép nước trơn trượt đấy nhé."

"Dạ, em đi ngay đây chị!" Tiểu Mãn vội vã cất chiếc hộp gỗ có then đồng lên kệ chõng tre của mình, rồi nhanh nhẹn xốc hai chiếc xửng tre lớn chạy thoăn thoắt ra phía bờ sông. Nhìn dáng vẻ nhẹ nhõm, hoạt bát trở lại của con bé, lòng Thanh Hà cũng như trút bỏ được một khối đá nặng trĩu.

Trong chái bếp lúc này chỉ còn lại Thanh Hà và Từ Bá. Gió sông mang theo hơi nước mát rượi thổi qua khe vách nứa, làm lay động mấy dây ớt khô và chùm hành củ treo lủng lẳng trên xà ngang.

Thanh Hà châm thêm một ấm nước sôi vào chiếc bình gốm da lươn, lại lấy ra một đĩa bánh khảo nhỏ rắc vừng rang thơm phức mời Từ Bá. Nàng ngập ngừng một lát, hai bàn tay đan vào nhau trên mặt bàn gỗ, ánh mắt nhìn ra khoảng sân nắng chang chang bên ngoài bến đò, nơi Tiểu Mãn đang cặm cụi cọ rửa xửng tre bên mép nước.

"Từ Bá à..." Nàng khẽ cất lời, giọng trầm lắng và chứa chan bao nỗi ưu tư. "Thực ra trong lòng cháu có một chuyện ấp ủ bấy lâu nay, cứ băn khoăn mãi mà chưa biết hỏi ai. Bác là người từng trải, lại thông thuộc mọi chuyện chốn quan nha sông nước, cháu muốn nhờ bác chỉ vẽ đường đi nước bước giùm cháu một việc hệ trọng..."

Từ Bá đang nhai mẩu bánh khảo giòn xốp, thấy nét mặt nghiêm túc của nàng thì khựng lại, đặt chén trà xuống bàn:

"Chuyện gì mà hệ trọng thế cháu? Cứ nói thẳng ra xem nào. Lão già này sống ở bến đò mấy mươi năm, việc trên sông dưới bến, nếu giúp được cho cháu một tay thì lão quyết không thoái thác."

Thanh Hà hít một hơi thật sâu, ánh mắt nàng hướng về phía bờ sông đầy kiên định:

"Cháu thấy con bé Tiểu Mãn tuy có chút vụng dại, nhưng bản tính lương thiện, lanh lợi và rất biết điều. Sau chuyện xảy ra ngày hôm nay, cháu càng hiểu rõ nỗi sợ hãi bơ vơ trong lòng con bé. Nó là đứa trẻ không cha không mẹ, không một tấc đất cắm dùi, đến cả cái tên 'Tiểu Mãn' cũng chỉ là người ta tiện miệng gọi theo ngày tiết khí lúc nhặt được nó ở vệ đường. Cháu... cháu muốn chính thức nhận nó làm nghĩa nữ."

Từ Bá đang nâng chén trà, nghe đến hai chữ "nghĩa nữ" thì sững người lại. Đôi lông mày bạc trắng rậm rạp của lão khẽ nhướng lên, ánh mắt đầy vẻ kinh ngạc:

"Cháu muốn nhận nó làm con nuôi sao? Cháu Hà này, cháu đã nghĩ chín chắn chưa đấy?"

Lão lái đò đặt mạnh chén trà xuống bàn, giọng nói chùng xuống đầy vẻ lo ngại:

"Cháu năm nay mới đôi mươi, tuổi xuân còn phơi phới, lại là phận góa phụ vừa mới dứt áo bước chân ra khỏi nhà chồng lập nghiệp. Một thân một mình nơi bến đò gió bụi này, gánh nặng lo tiền chuộc thằng Du ở bên hiệu buôn còn chưa trả xong, nay lại muốn gánh thêm một đứa con nuôi có danh có phận trên giấy tờ công văn! Cháu không sợ miệng lưỡi thế gian cay độc đàm tiếu sao? Người đời nông cạn, thấy gái trẻ chưa tái giá mà đã dắt theo đứa con nuôi, họ sẽ thêu dệt nên biết bao nhiêu điều ô uế, bẩn thỉu. Gánh nặng ấy trĩu vai lắm đấy cháu ơi!"

Lắng nghe những lời can ngăn đầy tâm huyết của lão lái đò, Thanh Hà không hề nao núng. Nàng ngẩng cao đầu, nở một nụ cười bình thản mà cương nghị lạ thường:

"Cháu cảm ơn Từ Bá đã lo nghĩ cho tương lai của cháu. Nhưng thưa bác, cái ngày cháu bị người ta đuổi ra khỏi cổng họ Phạm giữa đêm mưa phùn gió rét, những lời cay độc, nhơ nhuốc nhất của miệng đời cháu đều đã nếm trải qua cả rồi. Nếu cứ sống mà sợ hãi miệng lưỡi thế gian, thì cháu đã chẳng dám ra đây dựng lều mở quán, chẳng dám bươn chải giữa chốn thương hồ này."

Nàng nhìn thẳng vào mắt Từ Bá, từng lời nói ra đều nặng trĩu ân tình:

"Cháu muốn nhận Tiểu Mãn làm nghĩa nữ, không phải vì một phút bốc đồng hay thương hại nhất thời. Cháu muốn cho con bé một danh phận đàng hoàng, danh chính ngôn thuận trước pháp luật và làng xóm. Để từ nay về sau, không một ai trên bến Vọng Giang này, không một người khách qua đò nào có quyền gọi nó là đứa con hoang, đứa ăn mày hay một kẻ tôi tớ không tên không họ! Nó sẽ có một gia đình, có một người mẹ che chở cho nó. Nhưng cháu phận nữ nhi, lại ít khi ra vào chốn nha môn, cháu không rõ thủ tục ở huyện nha Thanh Lâm này ra sao. Cháu nghe nói việc nhận nghĩa tử, nghĩa nữ phải làm văn khế, phải qua tay lý trưởng, lại cần người làm chứng bảo lãnh..."

Nghe Thanh Hà giãi bày từng khúc nhôi ruột gan, Từ Bá nhìn nàng chằm chằm một hồi lâu. Sự kinh ngạc ban đầu trong mắt lão dần dần chuyển thành niềm xúc động và nể phục sâu sắc. Một người con gái trẻ tuổi, thân tàn ma dại bước ra từ bất hạnh, vậy mà tấm lòng lại rộng lớn, kiên định và bao dung đến nhường này!

"Bốp!"

Từ Bá vỗ mạnh bàn tay hộ pháp xuống đùi mình, phát ra một tiếng vang giòn tan. Lão ngửa mặt cười vang, chòm râu bạc rung lên bần bật:

"Khá lắm! Khí phách lắm! Lão già này sống gần trọn một đời người, chèo đò qua lại chứng kiến hàng vạn lượt người, mà chưa từng thấy người đàn bà nào có được cái bản lĩnh và tấm lòng như cháu! Cháu nói rất đúng, muốn cho con bé một chỗ dựa vững chắc thì phải làm cho đàng hoàng, danh chính ngôn thuận, có giấy trắng mực đen của quan nha đóng dấu đàng hoàng!"

Lão chồm người tới trước, hạ giọng chỉ vẽ cặn kẽ:

"Cháu nghe lão nói đây. Thủ tục nhận con nuôi ở huyện Thanh Lâm này không phải chỉ viết vài chữ lên giấy là xong đâu. Thư lại coi việc hộ tịch ở huyện nha hiện nay là Vũ Chính An. Lão biết tỏng tính khí ông thư lại này, là một tay đồ gàn cực kỳ nguyên tắc, khó tính và cẩn trọng đến mức máy móc. Muốn thông qua hồ sơ nhận nghĩa nữ, cháu phải có ba thứ: Thứ nhất là tờ đơn tường trình cặn kẽ lai lịch, có cam kết nuôi nấng chu đáo; thứ hai là triện đồng xác nhận của lý trưởng sở tại bến sông này; và điều thứ ba, cũng là điều quan trọng nhất: phải có ít nhất một nhân chứng có uy tín ở địa phương đứng ra bảo chứng rằng con bé Tiểu Mãn thực sự là đứa trẻ lang thang cơ nhỡ, tuyệt đối không vướng vào việc bắt cóc trẻ con hay tranh chấp huyết thống với bất kỳ dòng tộc nào!"

Lão lái đò ngừng lại một nhịp, vuốt chòm râu bạc, ánh mắt sáng quắc nhìn Thanh Hà:

"Việc lý trưởng và Vũ thư lại thì cháu khỏi phải lo lắng! Lão già họ Từ này cắm sào chèo đò trên khúc sông Vọng Giang này đã hơn bốn mươi năm, từ đời quan tri huyện trước đến nay. Lão từng cứu mạng thân phụ của Vũ thư lại trong một vụ đắm đò năm lũ lớn, chữ tín và cái mặt mo của lão ở huyện nha Thanh Lâm này vẫn còn chút trọng lượng đấy! Cháu cứ yên tâm lo việc quán xá, gom góp cho đủ tiền chuộc thằng Du về đoàn tụ. Đến ngày nào cháu thu xếp ổn thỏa việc nhà, chuẩn bị sẵn sàng làm thủ tục đăng ký hộ tịch cho con bé tại nha môn, Từ Bá này sẽ đích thân ký tên, điểm chỉ vào tờ văn khế, đứng ra làm người bảo chứng cho hai mẹ con cháu!"

Nghe lời hứa chắc như đinh đóng cột của lão lái đò già – người có uy tín bậc nhất cả một dải bến sông này, gánh nặng ngàn cân trong lòng Thanh Hà như được trút bỏ hoàn toàn. Mắt nàng long lanh ngấn lệ, vội vàng đứng dậy, cung kính cúi đầu chắp tay tạ ơn:

"Cháu cảm tạ Từ Bá! Có được lời hứa vàng ngọc này của bác, cháu như được tiếp thêm muôn phần sức mạnh. Ân tình này của bác, cháu và Tiểu Mãn sẽ trọn đời ghi nhớ!"

Từ Bá xua tay cười lớn, cầm lấy chiếc mái chèo gỗ nghiến đứng bật dậy:

"Ơn nghĩa cái gì chứ! Giúp được người tử tế làm việc nghĩa, cái tâm lão già này cũng thấy thanh thản, đêm về ngủ ngon giấc hơn. Thôi, con nước đứng rồi, khách buôn chuẩn bị sang đò chuyến chiều đông lắm, lão phải ra bến cởi dây neo đây. Cháu cứ vững tâm mà làm ăn, trời phật chẳng bao giờ phụ lòng người ngay thẳng, nhân hậu đâu cháu ạ!"

Dáng người cao lớn, vững chãi của lão lái đò già sải những bước dài dứt khoát ra phía bờ sông, khuất dần sau rặng dâm bụt trổ hoa đỏ rực ven lối đi.

Thanh Hà đứng lặng bên khung cửa sổ kết bằng nứa tép, phóng tầm mắt nhìn ra dòng nước Vọng Giang đang lững lờ trôi. Mặt trời đã ngả bóng về tây, rải lên mặt nước muôn ngàn vảy vàng lấp lánh. Mùa hè oi ả đã sang, nhưng gió sông thổi vào mang theo vị ngọt ngào của phù sa và mầm sống mới. Nàng quay đầu nhìn lại chiếc hộp gỗ có then gài bằng đồng thau đặt ngay ngắn trên kệ tre của Tiểu Mãn, trong lòng dâng lên một cảm giác ấm áp và bình yên kỳ lạ. Một mái nhà có tôn ti trật tự, có pháp luật che chở, có lòng bao dung và sự tôn trọng lẫn nhau... đó chính là bến đỗ bình yên mà nàng đang từng bước, từng bước gom góp mồ hôi và nước mắt để tự tay gây dựng nên giữa cõi đời dâu bể này.

Thế nhưng, sự bình yên nơi bến sông hoang vắng chưa kịp kéo dài được bao lâu thì những con sóng ngầm dữ dội của thương trường đã bắt đầu cuộn lên từ phía bờ bên kia.

Hoàng hôn dần buông xuống mặt sông. Khói lam chiều từ những xóm chài ven đê bảng lảng bay lên, hòa cùng sương nước mỏng manh nhuộm đỏ ối ánh tà dương đang lặn dần sau rặng núi xa. Bến đò phía đông bắt đầu vắng khách, tiếng ve sầu trên rặng liễu râm ran gọi đêm về.

Đột nhiên, từ phía bến đò bờ tây – nơi phố xá sầm uất của huyện thành tiếp giáp mé sông, những thanh âm ồn ã, chát chúa phá tan bầu không khí tĩnh mịch của buổi chiều tà. Tiếng trống khẩu gõ "cắc... tùng... cắc..." liên hồi dồn dập, tiếng phách tre gõ nhịp giòn giã vang rền, xen lẫn tiếng đàn nhị réo rắt, nỉ non đến ma mị bỗng chốc vang vọng qua mặt sông rộng mênh mông.

Ngay sau đó, một dải đèn lồng đỏ rực rỡ từ Trà lâu Nghênh Xuân đồng loạt thắp sáng trưng. Hàng chục chiếc đèn lồng bát giác dán giấy điều viền kim nhũ treo san sát từ tầng gác cao xuống tận mép nước, tỏa ra một vầng hào quang đỏ rực như lửa cháy, biến cả tòa lầu hai tầng bề thế thành một tòa cung điện nguy nga, tráng lệ soi bóng lung linh xuống dòng sông lấp lánh.

Một chiếc đò lớn chở đầy khách buôn từ huyện thành vừa cập vào bờ đông quán của Thanh Hà. Những người khách này vốn là mối quen, ăn vận lụa là sang trọng, định bụng ghé quán nàng uống bát chè giải nhiệt rồi mới lên xe ngựa về thôn. Nhưng khi đôi hài của họ vừa chạm lên bờ đất, nghe tiếng đàn hát xập xình cùng cảnh tượng lộng lẫy bên kia sông, bước chân của họ bỗng khựng lại.

Một đám khách buôn giàu có bước lên đò rồi quay ngoắt lại chỉ tay sang bờ bên kia: "Trà lâu Nghênh Xuân giảm nửa giá, lại có đào hát nổi danh huyện thành!"

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories