Qua Ga, Có Một Bữa CơmCh.4 / 12
Chapter 4

Nồi canh đến sau

Buổi trưa thứ hai ở quán bà Oanh bắt đầu trong một thứ áp lực âm ỉ, trĩu nặng và khác thường, khi chiếc bếp lò đun nồi canh cá cải ngồng vẫn chưa thể đỏ lửa do xe hàng chở rau từ mạn nam ra bị kẹt lại ở trạm trung chuyển bên kia cầu.

Gió phơn từ rặng Giăng Màn xa xôi dội xuống lòng chảo Vinh mang theo thứ hơi nóng khô khốc như vắt kiệt từng giọt ẩm cuối cùng của đất trời. Mái tôn xi măng lợp thấp tè trên gian bếp sau của quán cơm bình dân đã hấp thụ trọn vẹn cái nắng đổ lửa từ chín giờ sáng, biến toàn bộ không gian bên dưới thành một chiếc lò hầm ngột ngạt đến khó thở. Trên bệ bếp xây gạch mộc đã ngả màu xám xịt vì muội than lâu năm, chiếc nồi nhôm dung tích bốn mươi lít vốn dùng để nấu món canh cá nước lợ nấu cải ngồng trưa nào cũng đắt khách vẫn nằm trơ trọi. Nắp vung chiếc nồi úp nghiêng sang một bên, để lộ phần đáy nhôm khô cong, sáng loáng một cách trớ trêu. Phía dưới kiềng sắt, mấy viên than tổ ong mới được gắp vào chỉ vừa bén một góc đỏ yếu ớt, nhả ra làn khói xám nhạt, hăng hắc, lởn vởn quanh những bao tải gạo mộc xếp sát chân tường vôi loang lổ.

Bà Oanh đứng tựa lưng vào mép bàn chia thức ăn bọc tôn kẽm, hai tay khoanh chặt trước ngực, tấm tạp dề màu xanh công nhân đã bạc phếch vì trăm lần giặt giũ thắt chẽn ngang hông. Khuôn mặt vuông vức, sạm đen vì nắng gió và khói bếp của bà đanh lại thành những nếp nhăn sâu hoắm ở khóe miệng. Đôi mắt sắc và hẹp của bà không nhìn vào nồi canh rỗng, mà dán chặt ra con đường đất đỏ gồ ghề bên ngoài khung cửa, nơi con đường nhánh nối từ khu ga hàng hóa chạy thẳng sang bãi dồn toa ngổn ngang tà vẹt. Chiếc đồng hồ sắt sơn tĩnh điện treo trên cây cột gỗ lim giữa quán khẽ nhảy một nhịp khô khốc, kim dài nhích dần sang mười một giờ mười phút. Từ phía mạn sông Lam và cầu Bến Thủy, một hồi còi tàu hú dài, xé toạc bầu không khí quánh đặc hơi nóng, báo hiệu đoàn tàu chở hàng vừa thông tuyến sau nhiều giờ chờ đợi. Nhưng tiếng còi ấy cũng đồng nghĩa với một sự thật không thể đảo ngược: ca bảo trì đường ray buổi sáng của công nhân cung cầu đường sắp sửa kết thúc.

Đúng mười một giờ mười lăm, tiếng bước chân huỳnh huỵch nện trên nền đất rải đá dăm bắt đầu vang lên ngoài bậu cửa. Sáu người thợ thuộc tổ bảo trì đường ray bước vào quán đúng vào giờ nghỉ ca thường lệ, không sai một phút. Những chiếc mũ bảo hộ bằng nhựa cứng màu cam bám đầy lớp bụi đá balát xám xịt được họ tháo vội ra khỏi đầu, kẹp chặt dưới nách. Những chiếc áo bảo hộ màu xanh thẫm đẫm ướt mồ hôi, lưng áo loang lổ từng mảng muối trắng xóa kết tinh lại sau bốn tiếng đồng hồ phơi mình dưới nắng trưa trên những thanh ray bỏng rát. Gương mặt người nào người nấy đều hằn rõ vẻ mệt mỏi cùng cực, khóe mắt trũng sâu và đôi môi nứt nẻ vì thiếu nước.

Người đàn ông đi ở đầu hàng, trạc ngũ tuần, có nước da mai mái đặc trưng của những người dầm sương dãi nắng cả đời bên đường sắt, kéo lê đôi ủng cao su nặng trịch đến sát quầy chia cơm. Ông đặt chiếc mũ bảo hộ cồm cộm lên góc bàn, cất giọng khàn đặc như có sạn ở cổ họng:

“Cho sáu suất như cũ nghe bà Oanh! Hôm nay ngoài bãi dồn nắng rang như đổ lửa, dầm đá dầm sắt từ sớm mệt rệu rã cả xương cốt rồi. Dọn nhiều canh cá cải ngồng chút đặng húp cho trôi miếng cơm, chứ cổ họng nghẹn đắng cả rồi đây.”

Mấy người thợ trẻ đi phía sau cũng lục tục kéo ghế sắt, tiếng chân bàn miết trên nền xi măng ken két khô khốc. Họ đưa tay áo quẹt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên cằm, mắt thèm thuồng nhìn về phía mấy chiếc xoong lớn đang bốc khói.

Bà Oanh không hề tỏ ra bối rối, cũng không lúng túng né tránh ánh nhìn mong đợi của người thợ già. Bà bước lên nửa bước, hai bàn tay buông thõng bên hông, vai giữ thẳng tắp. Khi cất tiếng, giọng bà rành rọt, âm lượng vừa đủ lớn để át đi tiếng chiếc quạt trần ba cánh cũ kỹ đang quay rè rè trên đỉnh đầu:

“Hôm nay không có canh cá cải ngồng mô chú Thiết. Xe rau kẹt lũ ngoài đường tránh Hồng Lĩnh từ sớm tinh mơ, nước ngập ngang bánh xe, trạm trung chuyển tới giờ vẫn chưa giải tỏa xong hàng. Nồi canh chính không kịp đỏ lửa.”

Mấy người thợ phía sau đang kéo ghế bỗng chững lại. Một người thợ trẻ tuổi, trán còn dính một vệt dầu mỡ đen sì, càu nhàu với vẻ bực dọc không giấu giếm:

“Trời đất nắng rang nứt đầu thế này mà không có canh cải ngồng thì nuốt làm sao nổi cơm cục hả bà? Đã hẹn hôm qua là trưa nay nấu bù một nồi cho đẫy đà cơ mà! Cả buổi sáng ngoài bãi nắng chỉ trông mỗi bát nước canh chua chua đắng đắng cho hạ nhiệt.”

“Tui nói không kịp là không kịp, việc trời đất bão lũ làm sao tui tính hết được,” bà Oanh bình thản ngắt lời người thợ trẻ, giọng dứt khoát như một nhát búa gõ lên thanh ray nhưng tuyệt nhiên không có chút gắt gỏng hay xua đuổi. “Giờ tui có hai cách cho mấy chú tính cho mau: Một là tui đổi sang canh bí đỏ nấu tôm khô. Bí đỏ là bí vườn nhà tui trữ từ tuần trước, vỏ dày ruột chắc, tôm khô loại một tui giã nhuyễn nấu ngọt thanh, nồi canh tui đã hầm sôi sùng sục trong bếp trong kia, chan bao nhiêu cũng có. Hai là chú mô nhất quyết muốn ăn cá cải cho mát ruột thì chịu khó lội bộ qua quán bún bên ga hành khách, tui hoàn lại trọn vẹn tiền suất canh năm nghìn trong sổ ăn tháng, chỉ tính tiền cơm với khúc cá kho trưa ni thôi. Mấy chú liệu mười lăm phút nghỉ rồi chọn nhanh đặng tui còn múc cho kịp giờ ca sau.”

Chú Thiết đứng sững lại một thoáng. Người thợ già nhìn xuống chiếc đồng hồ đeo tay mặt kính xước xát, rồi ngoái đầu nhìn lại năm người đồng nghiệp trẻ đang đứng ngồi không yên sau lưng mình. Mười lăm phút nghỉ trưa ngắn ngủi giữa hai ca trực ngoài bãi dồn toa là một thứ thời gian ngặt nghèo; nó không cho phép họ lội bộ thêm ba trăm mét ngược nắng sang phía ga hành khách, chen chúc ở một quán bún lạ rồi lại hộc tốc chạy về cho kịp tiếng còi lệnh dồn toa. Cái nắng ngoài trời đang bốc lên ngùn ngụt trên nền đá balát, đi thêm một bước là rã rời thêm một phần sức lực.

“Thôi, bí đỏ tôm khô cũng được!” Chú Thiết khoát tay dứt khoát, rút chiếc ghế đẩu ngồi phịch xuống mép bàn dài. “Bà cứ múc đầy bát cho tụi tui, chan đẫm nước một chút cho dễ nuốt là xong bữa. Đang đói hoa cả mắt, đi mô cho mệt xác.”

Những người thợ còn lại nhìn nhau rồi cũng lẳng lặng kéo ghế ngồi xuống. Không một ai bỏ đi. Họ là những người ăn cơm tháng ở quán này từ nhiều năm nay, quá hiểu cái nết làm ăn vừa sòng phẳng vừa cứng cỏi của bà Oanh. Không có chuyện hứa suông, cũng không có chuyện lấp liếm bằng một nồi nước luộc nhạt phèo. Sự lựa chọn đưa ra rõ ràng, minh bạch, ai chấp nhận thì ở lại, ai không muốn thì nhận lại tiền mà đi nơi khác.

Thư ngồi ở chiếc bàn nhỏ kê sát vách nứa đan mắt cáo ở góc quán, chăm chú quan sát toàn bộ màn ứng biến vừa diễn ra trong chưa đầy hai phút đồng hồ. Cô nhìn cách bà Oanh đứng thẳng, cách bà nhìn thẳng vào mắt khách hàng, và cách những người thợ càu nhàu rồi nhanh chóng ngồi xuống chấp nhận giải pháp thay thế. Khi người công nhân cuối cùng trong tổ nhận lấy khay cơm từ tay bà Oanh, Thư cũng nhẹ nhàng đứng dậy, bước từng bước chậm rãi đến trước quầy chia thức ăn. Cô khẽ gật đầu chào bà chủ quán:

“Bác cho cháu một suất đổi món giống như của các chú ấy ạ.”

Bà Oanh đưa mắt nhìn Thư một lượt, không nói thêm lời nào, chỉ thoăn thoắt xới một muôi cơm đầy có ngọn vào chiếc đĩa sứ sâu lòng. Suất cơm trưa nay của Thư gồm một đĩa cơm trắng hạt mẩy còn bốc khói, một khúc cá nục kho nghệ vàng óng ngập trong thứ nước kho sền sệt thơm mùi tiêu sọ, và một bát canh bí đỏ nấu tôm khô to bằng miệng bát tô. Những miếng bí đỏ được xắt vuông vức, chín mềm đến độ chỉ cần chạm nhẹ đầu đũa là tan ra nhưng không hề bị nát vụn hay vẩn đục lòng bát, chìm trong làn nước canh trong veo phảng phất sắc xanh của hành hoa thái mịn. Mùi thơm của tôm biển phơi khô giã nhỏ quyện chặt với vị ngọt tự nhiên của bí chín, tỏa ra một làn khói ấm dịu. Khi nếm thử thìa canh đầu tiên, vị ngọt thanh, đậm đà của nước dùng bí đỏ đối chọi hoàn toàn với vị mặn mòi, gắt gao của khúc cá kho nghệ xứ Nghệ, tạo nên một sự cân bằng kỳ lạ, đủ sức làm dịu đi cái rát bỏng của ngọn gió phơn đang gầm rít ngoài hiên.

Suốt mười lăm phút sau đó, gian quán cơm ga lại chìm vào một nhịp điệu sinh hoạt quen thuộc đến mức khắc nghiệt: tiếng đũa tre va lách cách vào khay nhôm, tiếng húp canh soàn soạt vội vã, tiếng nhai cơm trệu trạo của những hàm răng bám đầy bụi đường, và sự im lặng tuyệt đối giữa những con người đang dồn hết tâm trí để nạp lại năng lượng cho cơ thể. Không ai nói với ai câu nào. Trong mười lăm phút ấy, việc ăn không phải là một sự thưởng thức, mà là một cuộc chạy đua sinh tồn trước khi tiếng còi ca hai réo rắt vang lên.

Thư cắm cúi ăn hết phần cơm của mình, nhai từng hạt cơm trắng và nuốt trọn từng muỗng canh bí ngọt lành. Chiếc balô vải bạt chứa chiếc máy thu âm Marantz cổ lỗ sĩ vẫn nằm yên dưới chân ghế nơi cô ngồi, khóa kéo đóng kín, nút nguồn chưa từng được chạm tới dù chỉ một lần. Cô biết lúc này không phải là lúc để giơ máy ra. Bất kỳ một hành động ghi âm hay chụp ảnh nào vào khoảnh khắc những người thợ đang hối hả và nhếch nhác nuốt vội miếng cơm trưa đều sẽ là một sự xúc phạm trắng trợn đối với phẩm giá lao động của họ.

Đúng mười một giờ ba mươi, chú Thiết buông đôi đũa xuống mặt bàn nghe một tiếng cạch dứt khoát. Người thợ già đứng dậy, bước đến góc quầy rút cây bút bi treo trên sợi dây dù, vạch một dấu gạch chéo dứt khoát vào cuốn sổ bìa cứng ghi nợ cơm tháng. Năm người thợ trẻ cũng răm rắp đứng lên theo, họ chụp lại chiếc mũ bảo hộ màu cam lên đầu, kéo sụp quai nón xuống cằm rồi rảo bước ra cửa. Không một lời chào hỏi rườm rà, bóng sáu người thợ nhanh chóng chìm vào cái nắng chói chang đang bốc hơi ngùn ngụt trên bãi đường ray.

Gian quán đột ngột rơi vào một khoảng vắng lặng đến ngột ngạt. Khói bụi ngoài đường tàu theo một luồng gió cuốn thốc ngược vào bên trong, mang theo mùi dầu mỡ máy móc khét lẹt quyện với mùi đá vôi nung nóng. Những chiếc bàn gỗ dài ngổn ngang bát đĩa, vỏ ớt đỏ cay xé và những mẩu xương cá nục sót lại trên mặt khay nhôm xám xịt. Bà Oanh khẽ buông một tiếng thở dài mệt nhọc, đưa mu bàn tay áo công nhân quẹt ngang vệt mồ hôi đang chảy ròng ròng bên thái dương, rồi bắt đầu cúi lom khom gom từng chồng khay bẩn.

Thư đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Cô không vội với tay lấy chiếc balô. Nhìn người đàn bà trạc tuổi mẹ mình đang một mình vật lộn với đống chiến trường sau giờ ăn ca, Thư kéo gọn hai ống tay áo sơ mi lên quá khuỷu tay, bước đến mép chiếc bàn dài nhất, ngỏ lời bằng một giọng điệu hết sức chừng mực:

“Bác Oanh, để cháu phụ bác thu dọn bát sạch ra bàn lau chùi nhé. Khách vừa vãn một cái là ca ba sắp tới rồi, một mình bác dọn dẹp thế này thì không kịp thở đâu ạ.”

Bà Oanh đang gom mấy chiếc bát nhôm bỗng khựng lại, ngẩng phắt đầu lên. Đôi mắt sắc lẹm của người đàn bà từng trải nhìn xoáy vào cô gái trẻ đến từ Hà Nội với vẻ dò xét quen thuộc. Thấy Thư đã tự giác bê sẵn một chồng bát sạch xếp ngay ngắn vào chiếc rổ nhựa màu xanh mà không hề ngó nghiêng tìm kiếm máy móc hay rút cuốn sổ tay tác nghiệp ra ghi chép, những nếp nhăn căng cứng trên trán bà giãn ra đôi chút.

“Khỏi cần đi cô, cô là khách trả tiền ăn cơm đàng hoàng, việc quán tui thì tự tay tui lo liệu,” bà Oanh xua xua bàn tay dính mỡ cá, nhưng giọng nói đã bớt đi vẻ lạnh lùng, phòng thủ của buổi sớm.

“Cháu ăn xong thì cũng chưa đến giờ tàu chạy mà bác,” Thư mỉm cười nhẹ nhõm, hai tay vẫn thoăn thoắt xếp những chiếc đĩa đã tráng sơ vào rổ. “Bác cứ để cháu phụ một tay gom bát đĩa khô, lau cái bàn cho sạch hết bụi đá balát ngoài đường tàu bay vào thôi ạ. Cháu biết phép tắc mà, cháu tuyệt đối không đụng vào đồ sống đồ chín trong bếp của bác đâu.”

Thấy cô gái trẻ hiểu chuyện, ăn nói nhã nhặn và biết giữ đúng ranh giới của một người khách lạ, bà Oanh không gạt đi nữa. Bà thở hắt ra một hơi, chỉ ngón tay thô ráp về phía chiếc xô sắt mạ kẽm đặt ở góc hiên sau:

“Rứa thì cô mang mớ bát đĩa sạch ra cái bàn con kê cạnh lu nước mưa đằng kia lau cho khô giùm tui. Khăn lau sạch tui để sẵn trên nắp lu đó, lau cho ráo nước đặng chiều còn dọn cho cánh thợ ca ba vô ăn dằn bụng.”

Trong suốt gần nửa tiếng đồng hồ sau đó, hai người—một già một trẻ, một chủ quán cả đời gắn bó với đường ray và một cô phóng viên trẻ mang nhiều gánh nặng—lẳng lặng làm việc bên nhau mà không nói thêm một câu thừa thãi nào. Tiếng giẻ lau ẩm miết ken két trên mặt bàn gỗ bóng nhẫy dầu mỡ, tiếng bát sứ va lanh canh vào rổ tre, và tiếng nước dội sàn sàn từ chiếc gáo dừa múc nước mưa hòa vào tiếng ve sầu đang ran rát trên những rặng phi lao cằn cỗi ngoài hàng rào ga. Căn quán dần lấy lại vẻ ngăn nắp, tinh tươm vốn có của nó.

Khi chiếc bàn cuối cùng được lau sạch bóng, bà Oanh bước vào chái bếp trong, bưng ra một chiếc ấm tích bọc trong giỏ tre ủ ấm. Bà rót một bát nước chè xanh om đặc sánh, màu nước xanh vàng sóng sánh khói nghi ngút, đẩy mạnh về phía Thư rồi ngồi phịch xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ đối diện.

“Hôm qua cô ngồi im ăn hết đĩa cơm, không giở trò máy móc chĩa vào mặt mấy chú thợ dồn toa, coi như cô là đứa biết điều,” bà Oanh mở lời trước, giọng trầm đục, mang đậm âm sắc trọ trẹ đặc sệt của vùng đất hạ lưu sông Lam. “Hồi hôm, ông Thành ngoài ga Nam Định có điện vô cho tui, khen cô ngoài nớ làm việc cũng biết trước biết sau, chịu khó ngồi lắng nghe người lao động chứ không phải ngữ nhà báo cưỡi ngựa xem hoa. Cơ mà tui nói thẳng trước, tui không ưng cái thói lên báo lên đài nói hươu nói vượn, than nghèo kể khổ mô nghe.”

Thư đón lấy bát chè xanh bằng cả hai tay, cảm nhận hơi nóng ấm áp truyền qua lớp da mỏng nơi lòng bàn tay đang mỏi nhừ sau một buổi dọn dẹp. Cô nhìn thẳng vào đôi mắt cương nghị của bà Oanh, lựa lời chậm rãi và chân thành:

“Cháu hiểu ạ. Hôm qua sau khi ăn cơm xong, cháu gửi bài phản ánh về tòa soạn, cháu cũng chỉ viết lại đúng những gì mình thấy: chuyện các chú thợ chỉ có đúng mười lăm phút ăn ca giữa hai chuyến tàu, và nồi canh rau bị kẹt lại vì nước lũ dâng cao ngoài đường tránh. Cháu không khai thác đời tư của bất kỳ ai cả. Nhưng trưa nay, khi chứng kiến cách bác xử lý việc thiếu rau cải ngồng, cháu thực sự rất khâm phục. Các quán cơm bình dân quanh ga tàu luôn phải đối mặt với chuyện bão giá, nguồn hàng trễ nải hay thực phẩm biến động theo thời tiết là chuyện cơm bữa, nhưng giữ được khách quen ăn ca tin tưởng tuyệt đối như thế này thì không phải ai cũng làm được. Bác có thể cho cháu xin phép bật máy thu âm một đoạn thật ngắn, chừng hai phút thôi, để bác chia sẻ về chuyện giữ chữ tín trong buôn bán khi nguồn hàng biến động được không ạ? Cháu cam đoan với bác là cháu chỉ hỏi đúng chuyện mua bán, nguyên liệu và cách bác bảo đảm phần ăn cho thợ thôi.”

Bà Oanh nhìn bát nước chè xanh đang bốc khói mỏng, im lặng một hồi lâu. Dưới ánh sáng ban trưa hắt qua khe nứa, những nếp nhăn trên trán bà khẽ co lại như đang cân nhắc từng lời nói của cô gái trẻ. Có lẽ sự kiên nhẫn, thái độ chừng mực và việc Thư không hề vồ vập săn đón thông tin suốt hai ngày qua đã tạo dựng được một khoảng tin cậy tối thiểu giữa hai con người xa lạ. Bà chép miệng một cái, đưa bàn tay sần sùi phủi phủi mấy hạt bụi than vô hình bám trên gấu tạp dề:

“Chỉ nói chuyện bán buôn, chuyện rau củ với chuyện khách ăn ca thôi nghe. Tuyệt đối không có hỏi han chuyện chồng con hay chuyện đời tui cực khổ vất vả ra răng mô. Tui ghét nhất cái thói bới móc đời tư người khác lên cho thiên hạ xì xào.”

“Vâng, cháu hứa, tuyệt đối chỉ nói chuyện chuyên môn và đạo đức làm nghề bán quán thôi ạ,” Thư mừng rỡ đáp, giọng cô run lên vì xúc động.

Không để lỡ mất khoảnh khắc quý giá, Thư vội vàng mở ngăn kéo chiếc balô đặt bên cạnh, cẩn thận nhấc chiếc máy thu âm Marantz cổ lỗ sĩ của ông Lộc ra ngoài. Đôi bàn tay cô khẽ xoay núm điều chỉnh âm lượng đầu vào, rồi cắm chiếc giắc canon ba chân của chiếc micro định hướng ngoài vào cổng tiếp xúc bên hông máy.

Mắt đèn led màu đỏ trên thân máy bật sáng, hắt lên mặt bàn một chấm tròn đỏ sẫm. Chiếc kim hiển thị mức tín hiệu âm thanh trên màn hình cơ học khẽ rung rinh nhè nhẹ theo từng nhịp thở dốc của gian quán trưa.

“Bác Oanh, bác cứ nói thật tự nhiên như đang ngồi kể chuyện cho một người khách quen nghe thôi ạ,” Thư giữ chiếc micro ngang ngực mình, hướng đầu thu bọc mút xốp đen về phía người đàn bà nấu cơm ga.

Bà Oanh hắng giọng một tiếng thật khô. Ánh mắt bà nhìn thẳng ra khoảng không ngập tràn ánh nắng chói chang trước hiên quán, nơi những thanh ray bằng thép của bãi dồn toa đang bốc lên những ảo ảnh rung rinh, méo mó vì nhiệt độ gay gắt. Khi cất tiếng, giọng bà không còn vẻ gắt gỏng, tất bật của một chủ quán đối phó với giờ cao điểm trưa nay, mà chậm rãi, rành rọt từng chữ, nặng trĩu sức nặng của những trải nghiệm được đúc kết từ mấy chục năm đứng bếp dọc theo tuyến đường sắt Bắc Nam:

“Buôn bán cho thợ thuyền quanh ga, người ta sống nhờ vào giờ tàu chạy, mình sống nhờ vào cái miệng ăn của người ta. Mấy đợt bão lụt, đường sá tê liệt, rau củ thịt cá ngoài chợ đầu mối tăng giá từng ngày từng giờ, có khi đắt gấp đôi, gấp ba ngày thường. Nhưng người lao động, tiền lương ca của họ có tăng theo giá chợ ngoài kia được mô? Bữa cơm hai mươi lăm nghìn thì vẫn phải là hai mươi lăm nghìn đặng cho họ đủ sức mà quăng tà vẹt, chèn đá balát.”

Bà Oanh dừng lại một nhịp ngắn, đưa bàn tay thô ráp, nổi đầy những đường gân xanh chằng chịt vuốt phẳng lại nếp gấp của chiếc tạp dề bạc màu, rồi nhấn mạnh từng từ bằng tất cả sự kiên định của mình:

“Muốn giữ được chữ tín với người ăn ca, thì khi hàng khan hiếm, giá cả leo thang, mình phải bớt đi một chút số suất nhận trước chứ tuyệt đối không được bớt phần ăn của người đã nhận lời. Người ta đã bước chân vô quán mình, ngồi xuống chiếc ghế đó, là phải có đủ cơm no, canh nóng, miếng cá phải dày dặn như ngày thường. Mình nhận ít người lại để nấu cho trọn vẹn, chịu thiệt phần lời của mình, chứ bớt xén trên đĩa cơm của người thợ cực nhọc là cái tội thất đức nhất trần đời.”

Đúng vào khoảnh khắc bà Oanh vừa dứt câu nói mang đầy sức nặng đạo đức ấy, chiếc kim đo tín hiệu trên mặt máy Marantz đột ngột rơi thẳng đứng xuống mức số không. Trong chiếc tai nghe chụp kín tai của Thư vang lên một tiếng “xẹt” chói tai, gai người, và ngay sau đó là một khoảng im lặng chết chóc, phẳng lì.

Tim Thư thắt lại một cái, máu dồn hết lên thái dương. Cổng cắm giắc canon lại bị lỏng chân tiếp xúc! Vết rạn cơ học âm ỉ từ vụ va quẹt ở quán Đèn Hiên ngoài Hà Nội và sự cố chập chờn ở ga Nam Định đã khiến những mối hàn cổ lỗ sĩ bên trong thân máy mất hoàn toàn liên kết khi gặp phải nhiệt độ hầm hập của phòng bếp trưa nay.

Thư không dám la lên, cũng không dám làm ngắt quãng dòng suy nghĩ đang tuôn chảy của bà Oanh. Trong một phản xạ sinh tồn của người làm nghề, cô nhanh trí dùng bàn tay trái ghì chặt lấy đầu giắc kim loại, ấn mạnh một lực nghẹt thở vào thân máy rồi khẽ lắc nhẹ một góc năm độ để ép các chân đồng tìm lại điểm tiếp xúc. Những ngón tay của cô căng cứng ra, khớp ngón tay trắng bệch vì phải dồn toàn bộ sức lực của cơ thể để giữ cho sợi dây không xê dịch.

May mắn thay, ánh đèn tín hiệu led màu đỏ nhấp nháy trở lại, kim VU giật mạnh đón lấy những thanh âm tiếp theo trong lời trần tình của người đàn bà xứ Nghệ:

“...Bởi rứa, hôm nay xe rau chưa tới, tui thà lấy bí nhà ra nấu thế, dọn bát canh đàng hoàng ngọt tôm, hoặc trả lại tiền canh cho họ đi quán khác, chớ tui không bao giờ nấu một nồi nước luộc lõng bõng rồi thu trọn tiền của anh em.”

“Cháu cảm ơn bác Oanh nhiều lắm ạ,” Thư thở phào nhẹ nhõm, ngón tay cái run rẩy bấm chốt dừng ghi âm. Bàn tay trái vừa phải ghì chặt giắc cắm của cô lúc này đã tê dại hoàn toàn, trên da thịt in hằn một vết lằn đỏ sâu hoắm do mép kim loại sắc lạnh của đầu canon cứa vào.

Bà Oanh đứng dậy khỏi ghế đẩu, cầm lấy chiếc xô không bước tà tà về phía giếng nước sau vườn:

“Rứa thôi nghe. Ghi xong rồi thì cất máy móc cho cẩn thận vào túi. Chiều ni có chuyến tàu SE vào Huế lúc sáu giờ rưỡi, liệu mà thu xếp ra ga sớm mua vé kẻo lại hết chỗ ngồi cứng rồi phải vạ vật qua đêm.”

Thư cúi đầu chào bà, thanh toán đầy đủ tiền hai bữa cơm trưa và gửi lời cảm ơn chân thành nhất trước khi khoác balô rời quán. Bước đi trên con đường đất đỏ bụi mù chạy dọc theo bãi đường ray, dưới cái nắng chiều vẫn chưa hề giảm nhiệt, trong lòng Thư dấy lên một niềm xúc động khó tả. Cô tin rằng mình vừa thu được một đoạn tư liệu vô cùng đắt giá—một bản tuyên ngôn nghề nghiệp mộc mạc, thô ráp nhưng tràn đầy sự tự trọng của một người đàn bà nấu cơm ga suốt nửa đời người.

***

Đêm muộn tại căn phòng trọ tồi tàn nằm nép mình bên cạnh cổng kho hàng số hai của ga Vinh.

Không khí ngột ngạt, oi nồng của buổi trưa dường như vẫn còn ứ đọng nguyên vẹn trong bốn bức tường gạch trát vôi quét ve vàng đã tróc lở từng mảng lớn. Chiếc quạt trần cũ kỹ trên đỉnh đầu quay chầm chậm, phát ra những tiếng cọt kẹt rệu rã, khô khốc như tiếng những khớp xương rỉ sét của một cỗ máy hết thời. Dưới ánh sáng nhờ nhợ của bóng đèn tuýp nhấp nháy liên hồi, Thư ngồi khoanh chân trên chiếc phản gỗ tạp ọp ẹp, chiếc máy tính xách tay đặt ngay trên đùi đang phả ra một luồng hơi nóng hầm hập phả thẳng vào bụng cô.

Màn hình chiếc điện thoại thông minh đặt bên cạnh liên tục sáng đèn, rung lên bần bật trên mặt gỗ.

Một thông báo từ trang cá nhân của Đỗ Anh Quang hiện ra ở đầu bảng tin: Phóng sự âm thanh mang tên “Bát cháo đêm và tiếng còi tàu ga Đồng Hới” của Quang vừa chính thức cán mốc năm nghìn lượt chia sẻ chỉ sau ba giờ đăng tải. Không dừng lại ở đó, Quang lập tức tung tiếp một bài viết ngắn giới thiệu chặng tiếp theo với một tựa đề đầy tính giật gân, đính kèm đoạn clip âm thanh dài mười lăm giây được cắt gọt vô cùng kịch tính, đẩy sự cùng cực của một người phu xe kéo già nua lên đỉnh điểm bi kịch. Lượt tương tác nhảy số liên tục theo từng giây, những dòng bình luận tán dương sự nhạy bén, tốc độ và “tính nhân văn sắc sảo” của Quang tràn ngập khắp diễn đàn nội bộ của tòa soạn.

Ngay sau thông báo ấy là chuỗi tin nhắn dồn dập, sắc lạnh từ Nguyễn Thu Hạnh xuất hiện trên màn hình trò chuyện:

*“Thư, bài viết phản ánh hiện trường ga Vinh hôm qua của cô rất tốt, giữ được chiều sâu thực tế, nhưng ban biên tập cần một bản giới thiệu (teaser) âm thanh dài đúng 30 giây để đưa lên trang chủ ngay sáng mai nhằm giữ chân độc giả và đối trọng với chuỗi bài của nhóm khác.”*

*“Đỗ Anh Quang đang hút toàn bộ lưu lượng của chuyên mục đường sắt tuần này. Nếu cô không có một trích dẫn âm thanh thật đắt, thật giật gân và chạm đúng vào nỗi đau thời sự để kéo lại sự chú ý cho chuỗi bài của mình, ban biên tập sẽ cân nhắc dồn toàn bộ ngân sách tài trợ chặng miền Trung còn lại cho nhóm của Quang.”*

*“Hạn chót gửi file teaser và tiêu đề dự kiến là 23 giờ 30 đêm nay. Tôi cần một cái tít bám sát vào tình hình thời sự nóng nhất: bão giá, cắt giảm khẩu phần ăn của lao động đường sắt trong bão lũ. Phải có tiếng nói thực tế của người bán cơm ga để bảo đảm tính xác thực. Nhanh lên, tôi đang trực duyệt trang ca đêm.”*

Thư nhìn xuống góc phải của màn hình máy tính: đồng hồ đã điểm 23 giờ 12 phút.

Đầu óc Thư ong lên dữ dội vì thiếu ngủ triền miên, vì hơi nóng hầm hập của ngọn gió phơn vẫn còn tích tụ trong căn phòng trọ kín mít, và vì áp lực đè nặng đến nghẹt thở từ phía ban biên tập tòa soạn. Cô mở hòm thư điện tử, đọc lại dòng tin nhắn ban chiều từ chị Lê Thanh Bình gửi ra từ ga Huế:

*“Nếu hôm đó mở quán thì ghé, chị chưa chắc nấu được nhiều...”*

Lời nhắn dè dặt, ngắn ngủi và hoàn toàn không có lấy một sự bảo đảm chắc chắn nào về giờ giấc hay sự tiếp đón chu đáo, nhưng trong cơn bấn loạn vì áp lực lịch trình và chỉ tiêu bài vở, Thư đã mặc định xem đó là một cái hẹn đinh ninh không thể thay đổi. Cô đã vét những đồng tiền cuối cùng để mua chiếc vé tàu đêm nay, đã lên kế hoạch chi tiết để có mặt ở cố đô vào rạng sáng ngày mai. Mọi chi phí ăn ở, đi lại, tư liệu đều đang cạn kiệt dần theo từng kilômét đường ray mà cô đi qua. Nếu bị cắt toàn bộ ngân sách chuyên mục vào tay Đỗ Anh Quang ngay lúc này, chuyến hành trình dọc tuyến đường sắt của cô sẽ buộc phải dừng lại trong ê chề ngay tại dải đất miền Trung khô cằn này.

“Một trích dẫn đắt... bão giá... cắt giảm khẩu phần...” Những lời thúc giục ráo riết của Thu Hạnh lặp đi lặp lại như những nhát búa gõ liên hồi vào màng nhĩ Thư.

Thư vội vã đeo chiếc tai nghe kiểm âm vào, khởi động phần mềm cắt dựng âm thanh trên máy tính. File ghi âm giọng nói của bà Oanh trưa nay hiện lên trên màn hình dưới dạng những dải sóng âm nhấp nhô màu xanh lục. Cô kéo thanh trượt thời gian đến đoạn thu quan trọng nhất, đoạn trần tình mà cô đã phải dùng cả bàn tay tê dại để cứu vãn:

*“...khi hàng khan hiếm, giá cả leo thang, mình phải bớt đi một chút số suất nhận trước chứ tuyệt đối không được bớt phần ăn của người đã nhận lời...”*

Ngón tay Thư rê chuột liên tục trên bàn phím. Cơn mệt mỏi thể xác làm mờ đi sự tỉnh táo và lương tri nghề nghiệp thường ngày của cô gái trẻ. Cô phóng to dạng sóng âm trên màn hình, nhìn vào đoạn đứt gãy ngắn ngủi do chân cắm micro bị chập chờn trưa nay. Nếu lấy toàn bộ câu nói dài dằng dặc gần hai mươi giây của bà Oanh, đoạn teaser sẽ trở nên rườm rà, thiếu tính kịch tính, bằng phẳng và hoàn toàn không đủ sức giật gân để cạnh tranh với những câu thoại đẫm nước mắt, bi kịch hóa trong bài phóng sự của Đỗ Anh Quang.

Thu Hạnh cần một tiêu đề gây sốc về bão giá. Ban biên tập cần một góc nhìn khốc liệt, trần trụi về cuộc mưu sinh bên đường ray xe lửa.

Đồng hồ hệ thống tiếp tục đếm ngược từng phút nghiệt ngã: 23 giờ 20 phút.

Trong một khoảnh khắc mất kiểm soát hoàn toàn vì hoảng loạn, sợ hãi và sốt ruột tột độ, ngón trỏ của Thư run rẩy bấm phím “C” trên bàn phím để kích hoạt công cụ cắt lát (razor tool).

Cô đặt con trỏ chuột vào ngay giữa câu nói của bà Oanh.

Nhát cắt thứ nhất rơi xuống dứt khoát ngay trước chữ “phải”.

Nhát cắt thứ hai hạ xuống tàn nhẫn ngay sau chữ “chút”.

Dải sóng âm biểu thị giọng nói của người đàn bà bị chia cắt một cách tàn nhẫn. Thư dùng chuột quét chọn rồi bấm phím xóa sạch toàn bộ vế sau: *“...số suất nhận trước chứ tuyệt đối không được bớt phần ăn của người đã nhận lời.”* Cô cũng tiện tay lược bỏ luôn toàn bộ vế trước giải thích về nguyên nhân giữ chữ tín và việc người thợ phải có đủ cơm no canh nóng.

Đoạn âm thanh dài vỏn vẹn ba giây được cô tách riêng ra, kéo thả vào khung xuất file thành phẩm. Khi Thư bấm phím cách để phát lại qua tai nghe, giọng nói đanh thép, trầm đục và đặc sệt chất Nghệ của bà Oanh vang lên cụt lủn, trơ trọi giữa một khoảng lặng rợn người:

*“...Phải bớt đi một chút...”*

Tách rời hoàn toàn khỏi bối cảnh đạo đức làm nghề và sự tự trọng của một người bán quán suốt mấy mươi năm, bốn chữ ngắn ngủi ấy bỗng nhiên mang một hàm nghĩa hoàn toàn trái ngược: nó nghe như một sự thừa nhận cay đắng, hoặc tệ hại hơn gấp bội, một thủ thuật gian lận, xén bớt khẩu phần ăn của những người thợ đường sắt nghèo khổ để đối phó với cơn bão giá thị trường.

Thư rùng mình một cái thật mạnh. Một cảm giác bất an mơ hồ, lạnh toát cồn cào dội lên từ đáy lồng ngực. Cô nhớ lại ánh mắt cương nghị, sòng phẳng của bà Oanh khi đứng chặn trước cửa quán trưa nay để bảo vệ quyền lợi cho khách ăn ca. Cô nhớ lại lời răn dạy gan ruột của bà: *“bớt xén trên đĩa cơm của người thợ cực nhọc là cái tội thất đức nhất trần đời.”*

Lẽ ra cô phải dừng lại. Lẽ ra cô phải gõ một tin nhắn gửi cho bà Oanh, giải thích cặn kẽ cách cô dự định sử dụng câu nói này để minh họa cho bài viết. Lẽ ra cô phải gửi toàn bộ bản thảo ngữ cảnh cho bà nghe lại trước khi công bố ra công chúng. Nhưng bà Oanh không dùng điện thoại thông minh, căn quán cơm ga giờ này chắc chắn đã tắt đèn đi ngủ từ lâu, và chiếc đồng hồ trên màn hình máy tính đã lạnh lùng điểm 23 giờ 26 phút.

Chiếc điện thoại trên phản gỗ lại rung lên bần bật, màn hình nhấp nháy điên cuồng:

*“Thư! Còn đúng 4 phút. Có bài chưa? Đưa file audio teaser và tít bài ngay lập tức!”* Tin nhắn của Thu Hạnh hiện lên đỏ rực như một lệnh trừng phạt không thể trì hoãn.

Thư cắn chặt môi dưới đến mức ứa máu, vị tanh mặn lan ra đầu lưỡi. Cô mở khung nhập liệu của hệ thống quản trị bài viết nội bộ của tòa soạn, run rẩy gõ nhanh dòng tiêu đề cho bản giới thiệu âm thanh:

**Quán cơm ga tàu thời bão giá: “Phải bớt đi một chút...”**

Bên dưới dòng tiêu đề giật gân ấy, cô đính kèm đoạn trích âm thanh ba giây đã bị cắt cụt ngữ cảnh, kèm theo vài dòng lời dẫn vội vã, quy kết về sự chật vật và những toan tính đối phó của những quán ăn bình dân dọc tuyến đường sắt trước cơn lốc tăng giá nguyên liệu thời bão lũ.

Cô không dám để mắt đọc lại dòng chữ ấy lần thứ hai. Đầu ngón tay trỏ run rẩy đưa con trỏ chuột đến nút lệnh màu đỏ: “GỬI DUYỆT”.

Tiếng “tách” của chuột máy tính vang lên khô khốc, cô độc trong căn phòng trọ tĩnh mịch.

Thanh tiến trình tải dữ liệu chạy vụt qua rồi chuyển sang màu xanh lá cây: *Tải lên thành công lúc 23:29. Bản thảo đã chuyển vào danh sách chờ xuất bản tự động.*

Thư đổ gục toàn bộ nửa thân trên xuống mặt bàn gỗ tạp, hai bàn tay ôm chặt lấy đầu. Những giọt mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm trán và hai bên thái dương cô. Từ một góc xa xăm ngoài bãi hàng, tiếng chuông báo hiệu đường ngang và một hồi còi tàu hú dài xé toạc màn đêm tĩnh mịch của thành phố Vinh, báo hiệu đoàn tàu đêm đang tiến dần vào sân ga.

Cô đã nộp bài đúng hạn định. Cô đã giữ được suất cạnh tranh kinh phí với Đỗ Anh Quang. Nhưng trong sâu thẳm lồng ngực, một nỗi sợ hãi đen tối, lạnh lẽo và nhức nhối bắt đầu lan tỏa, bóp nghẹt chút nhẹ nhõm mong manh vừa mới lóe lên.

Thư vội vã nhét chiếc máy thu âm chập chờn, mớ dây cáp lằng nhằng và chiếc máy tính xách tay còn nóng rực vào balô, kéo khóa lại thật nhanh, rồi xách hành lý bước ra khỏi phòng trọ, chìm vào màn đêm mù mịt của bãi ga vắng.

Đoàn tàu sắt rầm rộ rời ga Vinh, lao vun vút về phương Nam trong đêm đen đặc quánh, trong khi bản tin giới thiệu đã cắt xén trơ tráo câu nói của bà Oanh đã nằm sẵn trong danh sách chờ xuất bản của tòa soạn, chuẩn bị bung ra trước mắt hàng vạn độc giả vào sớm mai.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories