Qua Ga, Có Một Bữa CơmCh.5 / 12
Chapter 5

Cánh cửa đóng ở Huế

Chuyến tàu đêm mang số hiệu chậm rãi trườn qua khúc cua gắt trước khi rúc lên một hồi còi dài, uể oải thả Thư xuống ke ga Huế lúc trời đất còn chìm trong một thứ sương sớm đùng đục, nặng trĩu hơi nước của vùng châu thổ miền Trung. Hơi ẩm luồn qua cổ áo khoác, bám ráp trên da thịt và ngưng tụ thành từng hạt bụi nước li ti trên những lọn tóc mai bết dính sau một đêm dài vật vã. Thư đứng chôn chân trên nền ke ga lát đá rửa xám xịt, hai tai lùng bùng bởi tiếng rít kim loại chói tai từ những bánh xe thép miết trên mặt đường ray và tiếng loa phóng thanh rè rè phát đi thông báo về những chuyến hàng dồn toa buổi sớm.

Không khí ở đây mang một mùi vị rất riêng biệt, vừa uể oải vừa nồng nặc: mùi khói than đá chưa cháy hết quyện với mùi dầu mazut khét lẹt bốc lên từ gầm những đầu máy diezen già nua, pha trộn thứ mùi ẩm mốc của những kiện hàng bọc bao tải gai chất đống dọc sân ga và mùi sương lạnh ngâm rêu phố cổ. Thư khẽ rùng mình, xốc lại chiếc ba lô du lịch to bản đang ghì trĩu một bên vai, rồi lần theo dòng người thưa thớt bước ra phía cổng kiểm soát vé.

Cô không đón xe ôm, cũng không vội vã bắt taxi vào khu phố trung tâm sầm uất phía bờ nam sông Hương. Mục tiêu của Thư là tìm một chỗ ngả lưng tạm bợ, một góc trú chân rẻ tiền nhất có thể trong vành đai quanh ga để rửa mặt, cất bớt mớ hành lý nặng nề trước khi thong thả đi bộ theo con đường ven đường sắt tìm ra quán ăn của chị Lê Thanh Bình.

Dãy nhà trọ bình dân mà cô chọn nằm nép mình sau một khoảng sân hẹp phủ đầy rêu ẩm, cách cổng ga chừng ba trăm mét, nằm lọt thỏm giữa những bức tường ngăn bằng gạch ba banh xám xịt và những lùm chuối dại còi cọc. Mái nhà lợp tôn xi măng lượn sóng xỉn màu vì mưa nắng lâu năm, mép tôn sứt mẻ nham nhở như hàm răng lược gãy. Một mùi ẩm mốc đặc quánh của tường vôi ngấm nước mưa lâu ngày phả ra từ con ngõ hẹp dẫn vào khoảng sân trong.

Người đàn ông trông coi nhà trọ trạc ngoài năm mươi tuổi, thân hình gầy gò trong chiếc áo may ô ố vàng và chiếc quần đùi bộ đội bạc phếch. Ông ta ngồi gục đầu bên chiếc bàn con kê sát cửa ngách, mắt nhắm mắt mở cầm chiếc chìa khóa nhôm gắn miếng nhựa ghi số bốn. Gã đàn ông không buồn ngẩng lên nhìn cô quá ba giây, chỉ liếc xéo qua chiếc ba lô to tướng của Thư rồi chìa bàn tay chai sạn, móng tay cáu bẩn ra nhận trọn gói tiền thuê nửa ngày: một trăm hai mươi nghìn đồng, thu tiền trước, trả phòng đúng mười hai giờ trưa, quá giờ tính thêm buổi.

Thư đứng đếm từng tờ tiền giấy đã sờn mép đưa cho ông ta. Đôi bàn tay cô hơi run vì lạnh và đói. Nhận đủ tiền, người đàn ông nhét tọt xấp tiền vào túi quần rồi hất hàm về phía dãy hành lang tối om om không có bóng đèn:

— Phòng số bốn cuối dãy bên tay trái. Nước nôi thì tự vặn trong buồng, dùng tiết kiệm giùm, máy bơm hỏng một bên rồi đó. Đúng mười hai giờ trưa là tui gõ cửa lấy chìa.

Thư gật đầu lí nhí, xách chiếc ba lô nặng trĩu men theo dãy hành lang hẹp hòi lát gạch hoa xi măng trơn trượt để lên căn phòng ẩm mùi vôi cũ.

Gian phòng số bốn chỉ rộng chừng bảy mét vuông, trần nhà thấp tè áp sát lớp tôn xi măng hun hút hơi lạnh. Bên trong chỉ kê vừa một chiếc giường đơn bằng gỗ dán ọp ẹp trải tấm chiếu cói đã sờn rách ở bốn góc viền, một chiếc quạt treo tường ba cánh bằng nhựa xanh bám đầy bụi xám ngoét và một góc nhà tắm con con chỉ ngăn bằng một tấm rèm nilon rách bươm, bên trong gắn chiếc vòi nước bằng đồng đã rỉ xanh đang rỉ từng giọt tong tỏng xuống chiếc xô nhựa thủng đáy.

Thư đặt ba lô xuống mặt chiếu cói nghe một tiếng *huỵch*. Cô cúi xuống vặn vòi nước, ghé sát mặt vào mép bồn rửa bằng xi măng trần. Dòng nước máy buốt ngắt phụt ra thành tia yếu ớt, Thư vục hai vốc nước lạnh ngắt ấy vỗ thẳng lên mặt để xua đi cơn váng vất, nhức nhối sau một đêm dài lắc lư trên toa ghế cứng từ Vinh vào. Nước buốt thấu tận chân tóc, làm da mặt cô căng rát buốt giá, nhưng sự buốt lạnh ấy tuyệt nhiên không gột rửa được cảm giác nơm nớp lo sợ vẫn đang thắt nghẹn nơi cuống họng cô từ lúc nửa đêm.

Hình ảnh bản tin giới thiệu âm thanh bị cô cắt xén thô bạo với phát biểu cụt ngủn “Phải bớt đi một chút...” của bà Oanh cứ lởn vởn trong đầu cô như một bóng ma dai dẳng. Giờ này, đoạn âm thanh ấy đã nằm yên ổn trên hệ thống xuất bản tự động của tòa soạn, sẵn sàng lên trang theo lịch hẹn giờ. Từ lúc chuyến tàu đêm lăn bánh qua cầu Hiền Lương cho tới khi dừng hẳn lại ở đất Cố đô, Thư không hề dám mở lại hộp thư nội bộ hay liếc nhìn mục tin nhắn của Thu Hạnh trên màn hình điện thoại. Cô sợ phải đối diện với sự thật, sợ những lời khiển trách sắc lạnh của ban biên tập, sợ cả sự xấu hổ trước cái lương tâm nghề nghiệp mà cô đã tự dẫm đạp lên để kịp tiến độ bàn giao.

Đứng trước tấm gương soi ố mốc treo xiêu vẹo trên tường, Thư tự ru ngủ mình bằng suy nghĩ rằng chuyến đi thực tế ở Huế này sẽ bù đắp lại tất cả những sai sót trước đó. Cô tự huyễn hoặc rằng chỉ cần mình có được một bản ghi âm thật đầy đủ, ấm áp và chân thực tại quán ăn ven đường sắt của chị Bình, chuyên mục du ký sẽ lập tức lấy lại được thăng bằng, và ban biên tập sẽ bỏ qua cái lỗi cắt gọt cẩu thả kia như một tai nạn nghề nghiệp nhỏ nhặt. Huế với những con người đôn hậu, nhẫn nại và những món ăn đậm đà vị mồ hôi bên đường tàu chắc chắn sẽ là cứu cánh cho cô.

Thư lau khô mặt bằng vạt áo khoác gió. Cô mở ba lô, lấy chiếc máy tính xách tay và bộ dây cáp sạc lằng nhằng nhét sâu vào đáy chiếc tủ gỗ ép ọp ẹp kê ở góc phòng rồi bấm khóa cẩn thận. Trong chiếc túi vải thô đeo chéo, cô chỉ mang theo những thứ tối cần thiết: chiếc máy thu âm Marantz chuyên dụng mượn của ông Lộc với đầu bọc micro lông xù chống gió, cuốn sổ tay bìa cứng màu nâu đã sờn gáy và một cây bút bi mực đen. Dắt then cửa phòng trọ, cô bước nhanh ra ngõ, bỏ lại sau lưng tiếng nước rỉ tong tỏng và mùi ẩm mốc của gian phòng trọ rẻ tiền.

Trời Huế sáng sớm đùng đục một màu xám chì như một vũng thiếc nóng chảy vừa nguội đi. Hơi ẩm từ dòng sông An Cựu phía xa bốc lên, quyện đặc với khói than tổ ong từ những ngõ ngách lao động và mùi dầu máy nồng nặc của những đầu máy xe lửa đang nằm chờ dồn toa ngoài bãi hàng của ga. Con đường nhựa ven đường ray loang lổ những ổ gà và những vũng nước đọng sau trận mưa rào rải rác hồi khuya, soi bóng những cột đèn tín hiệu sắt rỉ sét đứng chơ vơ.

Thư bước đi thật nhanh theo lộ trình đã vẽ tỉ mỉ trên mẩu giấy nháp kẹp trong cuốn sổ tay: rẽ trái từ cổng chắn đường ngang có gác chắn thủ công, đi dọc theo bức tường bao quét vôi vàng bong tróc từng mảng lớn của phân xưởng đầu máy toa xe, qua hai ngách nhỏ san sát những mái hiên cơi nới bằng bạt rách và những đống tà vẹt gỗ mục chất cao quá đầu người là sẽ tới số nhà ba mươi bảy, quán cơm nhỏ của chị Lê Thanh Bình.

Theo lời giới thiệu chắp nối từ những người thợ đường ray quen biết mà Thư từng bắt chuyện dọc tuyến miền Trung, quán của chị Bình là một trong những điểm dừng chân lặng lẽ, khiêm nhường nhất của cánh thợ máy, lái tàu và dân phu khuân vác quanh ga. Một nơi chốn không hề có biển hiệu màu mè, không có thực đơn in giấy bóng loáng, chỉ có vài ba món kho mặn mòi kho bằng nồi đất, nồi canh cá chuồn nấu khế chua thanh mát và cái tình đôn hậu, nhẫn nhịn của một người phụ nữ xứ Huế đã gắn bó hơn nửa đời mình với nhịp còi tàu xuôi ngược. Thư đã hình dung ra cảnh tượng ấy suốt cả đêm qua trên tàu: một gian bếp ấm áp với ánh lửa hồng le lói, tiếng mỡ xèo xèo trên chảo gang, tiếng chị Bình đon đả mời chào bằng giọng Huế ngọt ngào, và cô sẽ ngồi đó, kín đáo bật chiếc máy Marantz để thu trọn vẹn những âm thanh đời sống thuần khiết nhất ấy.

Thư dừng chân trước con hẻm cụt rải đá dăm dẫn vào địa chỉ ghi trên giấy. Tấm biển số nhà bằng tôn rỉ sét dập nổi con số ba mươi bảy đập ngay vào mắt cô.

Nhưng trước mặt Thư không có một quán ăn nào đang mở cửa.

Không có một sinh hoạt nào của một buổi sáng buôn bán thường nhật. Cánh cửa sắt xếp màu xanh xám của ngôi nhà kéo kín mít từ trần bê tông xuống sát mép thềm xi măng, hai mép then sắt gỉ ngoàm chặt vào nhau và được khóa lại bằng một ổ khóa đồng to tướng, xỉn màu vì mưa nắng và sương gió. Trên nền hiên lát gạch tàu ẩm ướt lấm tấm lá rụng, không hề có một chiếc bàn nhựa nào được kê ra. Không có tiếng muôi thìa va quẹt loảng xoảng vào đáy xoong gang, không có làn khói mỏng thơm mùi hành phi hay củi đượm bốc lên từ ống khói tôn, và tuyệt nhiên không có chút ánh lửa bếp đỏ nào le lói qua khe cửa sắt. Toàn bộ căn nhà chìm trong một sự tĩnh lặng lạnh lẽo, trơ trọi và khép kín như một khối bê tông vô hồn nằm nép mình bên cạnh thanh ray xe lửa rỉ sét.

Thư đứng sững sờ giữa ngõ, hai bàn tay vô thức bấu chặt lấy quai chiếc túi vải thô, lồng ngực phập phồng vì một nỗi hoang mang bất ngờ ập đến như cơn gió lạnh thốc qua sườn đồi.

Cô bước chậm rãi lên mép thềm xi măng ẩm ướt, ngập ngừng đưa mắt nhìn qua khe cửa sắt hẹp hòi chỉ rộng chừng một ngón tay. Bên trong bóng tối bao trùm đặc quánh, chỉ lờ mờ thấy mấy chồng ghế nhựa màu xanh xếp chồng ngược lên nhau ở góc tường vôi mốc thếch, chiếc xe đẩy đựng thức ăn bằng khung nhôm kính phủ kín một tấm bạt nilon xám xịt buộc dây dù chằng chịt. Một vài tờ rơi quảng cáo dịch vụ hút hầm cầu, khoan cắt bê tông nhét xiêu vẹo qua khe sắt nằm rơi rụng vương vãi dưới nền nhà đầy bụi, chứng tỏ cánh cửa này đã không được kéo ra, không hề có bàn tay người chạm vào từ ít nhất một hai ngày trước.

Thư vội vàng rút chiếc điện thoại từ túi áo khoác ra. Bàn tay cô lạnh ngắt đến mức chạm vào màn hình cảm ứng hai lần mới ăn. Màn hình đồng hồ báo bảy giờ mười lăm phút sáng. Cô lướt nhanh danh bạ, tìm tên chị Bình rồi bấm nút gọi.

Từng hồi chuông dài tút tút vang lên khô khốc, đều đặn qua ống nghe, kéo dài dằng dặc trong sự sốt ruột tột cùng của cô, rồi vụt tắt thành một chuỗi âm báo bận ngắn ngủn và lạnh lùng. Không có ai nhấc máy. Thư cắn chặt môi dưới đến bật máu, ngón tay cái run rẩy bấm gọi lại lần thứ hai. Lần này, chuông chỉ reo đúng ba tiếng ngắn ngủi thì bị dập ngang một cách dứt khoát từ đầu dây bên kia.

Chưa đầy ba mươi giây sau, màn hình điện thoại trong tay Thư sáng bừng lên với một tin nhắn văn bản ngắn gọn gửi đến từ số máy ấy:

*“Chào em Thư. Gia đình chị có việc riêng đột xuất dưới quê nên chị phải đóng cửa nghỉ bán mấy ngày nay, chưa biết khi nào mới mở lại được. Lịch hẹn đành hủy, chị rất xin lỗi vì không thể đón tiếp em như dự tính. Mong em thông cảm giúp chị.”*

Những dòng chữ tiếng Việt không dấu hiện lên rành mạch, ráo hoảnh và dứt khoát trên nền màn hình phát sáng, khép lại hoàn toàn mọi hy vọng và mọi khả năng thương lượng. Thư đứng chết trân dưới mái hiên, đọc đi đọc lại tin nhắn đến bốn lần, từng con chữ như nhảy múa trêu ngươi trước mắt cô. Việc riêng đột xuất. Đóng cửa nghỉ bán mấy ngày. Lịch hẹn đành hủy. Xin lỗi.

Gió từ phía bãi dồn toa xe lửa thổi thốc qua con ngõ hẹp, mang theo mùi kim loại han rỉ và hơi đất ẩm lạnh buốt tạt thẳng vào mặt Thư. Chiếc ba lô vô hình của những lo toan dường như lại trĩu nặng trên vai cô, nặng như thể người ta vừa nhét thêm vào đó hàng chục tảng đá hộc nhặt từ đường tàu. Một cảm giác hụt hẫng cay đắng trào dâng, bóp nghẹt lấy lồng ngực cô gái trẻ.

Tâm trí Thư bắt đầu bị bủa vây bởi những con số trần trụi của một bài toán kinh tế thất bại thảm hại. Một khoản tiền vé tàu ghế cứng ba trăm hai mươi nghìn đồng từ Vinh vào Huế đổi lấy một đêm đau nhừ xương sống và mất ngủ. Một trăm hai mươi nghìn đồng tiền thuê phòng trọ ẩm thấp vừa thanh toán trọn gói không hoàn lại cách đây chưa đầy nửa tiếng đồng hồ. Vài chục nghìn đồng tiền xe ôm trung chuyển vụn vặt, cùng chiếc dạ dày đang bắt đầu sôi réo dữ dội vì đói lả sau gần hai mươi tiếng đồng hồ chỉ cầm hơi bằng nửa ổ bánh mì khô khốc mua vội ở ga Nam Đàn.

Tất cả những con số ấy bỗng chốc hiện lên rõ mồn một trong đầu Thư, biến thành một bài toán chi phí thâm hụt nặng nề mà quỹ dự phòng eo hẹp của một cộng tác viên tự do như cô không cách nào bù đắp nổi. Chuyến đi Huế này coi như trắng tay hoàn toàn: không có một bữa cơm dân dã nào để nếm, không có một câu chuyện đời nào để ghi chép, không có một tiếng động âm thanh chân thực nào để thu vào chiếc máy Marantz của ông Lộc, và tệ hại hơn cả là một khoảng trống hoác trong tuyến bài du ký mà cô đã mạnh miệng cam kết với ban biên tập tuần này.

Trong khoảnh khắc của sự giận dỗi và ấm ức con trẻ, những ngón tay của Thư run rẩy lướt trên bàn phím điện thoại. Cô đã định soạn một tin nhắn thật dài, thật gay gắt để giãi bày về việc cô đã phải vượt hàng trăm cây số đường tàu đêm vất vả ra sao, đã tốn kém biết bao nhiêu tiền bạc và công sức để đến đây chỉ vì một buổi hẹn miệng giữa hai người xa lạ. Cô muốn người phụ nữ kia phải cảm thấy có lỗi, phải day dứt vì sự thất hứa đột ngột của mình.

Thế nhưng, ngón tay Thư bỗng dừng lại lơ lửng trên mặt kính khi cô vô tình lướt ngược lại lịch sử tin nhắn của ba ngày trước, lúc cô gọi điện xin được ghé thăm quán.

Dòng tin nhắn cũ của chị Bình hiện ra rõ ràng trên nền xám mờ:

*“Nếu hôm đó mở quán thì em cứ ghé qua ăn bữa cơm thường.”*

Từng chữ, từng dấu câu đập thẳng vào mắt Thư như một gáo nước lạnh buốt tạt giữa ngày đông giá rét: *Nếu hôm đó mở quán.*

Chị Bình chưa từng dùng một từ ngữ nào mang tính cam kết chắc chắn hay hứa hẹn đanh thép. Chị không bảo “chị sẽ chờ em”, chị càng không hứa hẹn sẽ đỏ lửa hay dành riêng một mâm cơm sốt dẻo cho một người lạ hoắc làm nghề thu âm từ tận Hà Nội lặn lội bước vào. Chị chỉ nói một câu nước đôi, một lời xã giao đầy dè dặt và thận trọng của những người mưu sinh lam lũ bên đường ray xe lửa—nơi mà mọi kế hoạch buôn bán, mọi nồi cơm manh áo đều có thể bị bẻ gãy, bị xáo trộn bất cứ lúc nào bởi một cơn ốm đau bất ngờ của đứa con nhỏ, một trận mưa lụt ngập đường ray hay một biến cố gia tộc đột xuất dưới quê.

Chính là cô. Chính Thư đã tự ý biến một khả năng lỏng lẻo, bấp bênh thành một cái đinh đóng cột chắc nịch trong lịch trình du ký đầy tham vọng của mình. Cô đã tự khoác lên vai một người xa lạ cái trách nhiệm nặng nề phải đứng yên ở đó, phải đỏ lửa, phải mở toang cánh cửa sắt đón rước cô, chỉ vì cô là kẻ lặn lội đường xa tới với chiếc micro trên tay.

Thư thở ra một hơi dài thườn thượt, làn hơi mỏng manh vừa thoát ra khỏi lồng ngực đã lập tức tan biến vào không khí ẩm đục của đất Thần Kinh. Cô cất chiếc điện thoại vào túi áo khoác, lùi lại hai bước nhìn cánh cửa sắt màu xanh xám khóa chặt lần cuối rồi lặng lẽ quay lưng bước ra khỏi con hẻm rải đá dăm. Tiếng đá lạo xạo dưới đế giày cao su vang lên khô khốc, trơ trọi giữa không gian im lìm của buổi sớm.

Cơn đói cồn cào lúc này bắt đầu biến thành những cơn co thắt nhức nhối nơi thượng vị. Bụng Thư sôi lên từng cơn ùng ục, nhắc nhở cô một cách tàn nhẫn rằng sự thất vọng hay những triết lý vụn vặt không thể làm no một kẻ vừa bước xuống từ tàu đêm. Không thể để cái bụng đói meo mà đi lòng vòng suy nghĩ viển vông được. Thư rảo bước đi bộ dọc theo vành đai ven ga Huế, men theo con đường Bùi Thị Xuân chạy dài song song với tuyến đường sắt Bắc - Nam.

Khu vực này vào đầu buổi sáng nhộn nhịp một cách ngột ngạt và lộn xộn. Khách bộ hành vội vã với những bước chân gấp gáp, tiếng xe máy cà tàng nổ giòn giã nhả khói xanh mù mịt, những xe đẩy bán bánh mì thịt nguội và xôi bắp dạo dừng đỗ chớp nhoáng bên lề đường rồi lại hối hả hòa vào dòng người mưu sinh. Thư không muốn ăn bánh mì khô khốc, cô cũng không muốn nuốt những nắm xôi dính răng. Cô cần một cái gì đó nóng rẫy, có nước dùng, có hơi ấm tỏa ra nghi ngút để xua bớt cái lạnh ẩm đang ngấm dần qua lớp áo gió mỏng dính vào tận da thịt.

Đi được chừng bốn trăm mét dọc theo bức tường rào phân xưởng đầu máy, ánh mắt mệt mỏi của Thư bắt gặp một góc hiên nhà lợp tôn fibro xi măng nhô hẳn ra sát mép rãnh thoát nước công cộng ven đường. Nơi đó không hề có biển hiệu, không có bảng giá hay đèn hoa trang trí, chỉ có một tấm bạt dứa sọc xanh đỏ rách rưới treo nghiêng sang một bên để chắn gió lùa và một làn khói trắng đục nghi ngút bốc lên từ chiếc nồi nhôm cỡ bốn mươi lít đặt trên chiếc lò trấu đang rực than đỏ.

Mùi thơm nồng nặc, gắt gao của sả cây đập dập, mắm ruốc chưng chín kỹ và váng mỡ ớt xộc thẳng vào mũi Thư, xua tan ngay lập tức cái mùi khét lẹt của dầu máy xe lửa. Một hàng bún bò bình dân ven đường tàu.

Thế nhưng, khung cảnh ở quán lúc này hoàn toàn không giống một nơi chốn đang mở rộng cửa đón khách vào ăn. Người phụ nữ đứng bán bún—một bà trạc ngoài năm mươi tuổi, dáng người đậm chắc, quấn chiếc khăn rằn sờn mép quanh cổ, hai ống tay áo thun màu đen cáu bẩn xắn cao quá khuỷu tay—đang thoăn thoắt dọn dẹp với nhịp điệu hối hả, cuống cuồng như người chạy giặc. Bà vừa cầm chiếc giẻ lau đen sì lau miết mặt bàn tôn loang lổ váng mỡ ớt, vừa lớn tiếng giục một cậu thiếu niên trạc mười lăm mười sáu tuổi đang lúi húi úp rổ bát nhựa ven góc tường:

— Gom hết mấy cái ghế cao lại đem vô buồng mau lên con! Chút nữa xe rác tới đầu kiệt là họ không có chờ mình mô nghe! Nhanh cái tay lên kẻo trễ giờ xe tải họ chở đá dăm tới sửa cái cống thoát nước chừ!

Thư đứng ngập ngừng ở mép hiên tráng xi măng nứt nẻ, chân ngập ngừng không dám bước hẳn vào trong:

— Dạ... bác ơi, quán mình còn bún không ạ?

Người đàn bà không buồn quay đầu lại, tay vẫn tì mạnh chiếc giẻ lau xuống mặt bàn tôn kêu kin kít, giọng Huế trầm đục, dứt khoát và khô khốc bắn ra từng tràng như pháo nổ:

— Hết rồi con ơi! Bán từ năm rưỡi sáng tới chừ, nước dùng cạn sát đáy nồi rồi, đang dọn hàng đặng trả mặt bằng cho người ta sửa cái ống cống đây nè! Đi quán khác giùm tui đi!

Thư ngước nhìn vào chiếc nồi nhôm to đùng đặt trên bếp than. Đáy nồi quả thực chỉ còn lại một lớp nước lờ đờ màu đỏ cam xâm xấp, vài cọng sả già đập nát nổi lập lờ cùng mớ xương vụn và mấy miếng vụn tóp mỡ. Nỗi thất vọng của buổi sáng một lần nữa lại chực dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng, nhưng chiếc dạ dày đang co thắt dữ dội không cho phép cô bỏ cuộc một cách dễ dàng như thế. Cô không còn sức lực đâu để lê bước đi tìm một quán ăn khác giữa cái thị trấn đường tàu xa lạ này nữa.

— Bác xem giúp con với... Con vừa đi tàu đêm từ ngoài Bắc vào tới nơi, đói lả người mà mấy quán cơm quanh ga đóng cửa hết trơn... Còn chút nước vét nồi nào cho con xin một tô nhỏ thôi cũng được ạ. Bác tính giá thế nào con xin trả đủ thế ấy.

Người phụ nữ dừng tay giẻ lau lại một nhịp. Bà ngước đôi mắt thâm quầng vì thức khuya nhìn thẳng vào Thư. Ánh mắt soi xét của bà lướt nhanh qua chiếc túi vải dính bụi than đường ray, đôi giày vải lấm lem bùn đất và gương mặt nhợt nhạt, bơ phờ vì thiếu ngủ của một kẻ tha hương cô độc. Bà tặc lưỡi một cái rõ to, quệt mồ hôi trán bằng mu bàn tay đầy dầu mỡ:

— Răng mà đi tàu sớm dữ rứa con? Thôi được rồi, còn đúng một vắt bún với lưng tô nước xáo xương vụn với mấy miếng chả cua còn sót lại dưới đáy đây. Bán thì bán, nhưng nói trước là ăn thì ngồi vô cái ghế đẩu nớ, ăn cho nhanh đặng tui dọn hàng. Tui chỉ còn mười lăm phút nữa là phải dẹp sạch cái hiên ni rồi, không có ngồi nhâm nhi nói chuyện rề rà được mô nghe!

— Dạ dạ, con cảm ơn bác nhiều lắm! Con ăn nhanh lắm ạ!

Thư mừng như bắt được vàng, vội vã lách người qua đống ghế nhựa đang xếp chồng ngổn ngang bên vách tường, ngồi thụp xuống chiếc ghế đẩu duy nhất còn sót lại ở góc bàn tôn ẩm ướt.

Bà chủ quán đặt mạnh chiếc giẻ lau xuống chiếc xô nhựa màu đỏ đục, cầm chiếc muôi nhôm dài cán sục mạnh xuống đáy nồi nước dùng. Tiếng kim loại cạo vào đáy nồi xoong xoảng vang lên khô khốc, chát chúa. Bà vớt ra một nắm bún sợi to đã chần sơ qua nồi nước sôi bốc khói, chan ngập vá nước dùng nóng bỏng sủi bọt ớt đỏ au, dùng đầu muôi vét nốt hai miếng chả cua vo tròn nhỏ thó và một mẩu gân bò dai nhách còn sót lại dưới đáy, rắc vội một nhúm hành tây thái mỏng cùng ít cọng rau răm rồi bưng thẳng tới đặt *cạch* một tiếng trước mặt Thư.

— Ba mươi nghìn. Ăn lẹ giùm tui nghen!

Tô bún không hề đầy đặn hay đẹp mắt như những bát bún bò đắt tiền nơi phố thị lộng lẫy, nhưng hơi nóng bốc lên ngùn ngụt mang theo một luồng nhiệt cay nồng xộc thẳng vào xoang mũi khiến Thư suýt nữa thì sặc. Váng ớt đỏ quạch nổi lềnh bềnh trên mặt nước dùng lóng lánh mỡ màng, thơm nồng mùi sả già và mắm ruốc đậm đặc—thứ mắm ruốc Huế nguyên chất không lẫn vào đâu được, mặn mòi, gắt gao, nồng nặc và đầy gai góc.

Thư cầm đôi đũa tre đã sờn mòn hai đầu, gắp một đũa bún lớn đưa vào miệng. Sợi bún to trơn tuột, nước dùng cay xé lưỡi nhưng ngọt đậm vị tủy xương ninh rục qua nhiều giờ đồng hồ. Vị cay nồng và mặn mòi gắt gỏng ấy như một dòng điện chạy dọc khắp cơ thể, đánh thức toàn bộ các giác quan đang tê liệt vì đói và mệt mỏi của cô. Mồ hôi bắt đầu rỉ ra râm ran hai bên thái dương và trên sống mũi.

Chung quanh cô, không gian hoàn toàn không có lấy một chút êm ả hay thi vị của một bữa ăn thưởng thức. Cậu thiếu niên đang hối hả kéo từng chồng ghế nhựa lê quèn quẹt trên nền xi măng thô ráp, tiếng kim loại va chạm loảng xoảng, tiếng chổi chà quét rác rào rạt cuốn theo bụi bặm và lá khô bay là là sát mép chân Thư. Bà chủ quán vừa thu dọn rổ ớt xắt, rổ chanh héo vừa lớn tiếng giục con trai chuyển cái thùng rác bằng nhựa màu cam ra đầu ngõ. Mùi nước dùng cay nồng hòa lẫn với mùi xà phòng giặt rẻ tiền từ chậu rửa bát và mùi cống rãnh bốc lên nồng nặc từ rãnh nước hở ngay bên cạnh hiên nhà.

Trong khung cảnh nhốn nháo, bề bộn và gấp gáp ấy, một cảm giác cô đơn cay đắng bất thần siết chặt lấy cổ họng Thư. Cô vừa nhai mẩu gân bò dai ngoét đến trẹo cả quai hàm, vừa thấy khóe mắt mình cay xè—không chỉ vì vị ớt cay nồng của xứ Huế, mà vì một nỗi tủi thân âm ỉ không tên đang dâng lên nghẹn ứ. Một mình cô trơ trọi giữa đất ga Huế, quán hẹn phỏng vấn thì đóng cửa then cài, tiền thuê phòng trọ thì mất toi vô ích, và giờ đây phải ngồi co ro ăn một tô bún vét đáy nồi giữa tiếng chổi chà quét rác hối hả như muốn đuổi khách đi cho rảnh nợ.

Thư đặt đôi đũa tre xuống mép bát tôn, bàn tay run run rút chiếc điện thoại từ túi áo khoác ra. Cô cần nghe một giọng nói quen thuộc. Cô cần một ai đó biết mình là ai, một điểm tựa đời thường để trút bỏ cái gánh nặng thất bại và nỗi cô đơn đang đè nặng lên lồng ngực.

Không đắn đo, cô bấm số gọi cho Lê Tường Vy.

Chuông reo kéo dài đến hồi thứ tư thì đầu dây bên kia mới có tín hiệu kết nối. Tiếng ồn ào đặc trưng của một văn phòng công ty hiện đại lập tức vọng qua ống nghe: tiếng máy in rập rình chạy đều đặn, tiếng gõ bàn phím cơ lách cách rộn rã và tiếng mấy người đồng nghiệp đang lớn tiếng tranh cãi về số liệu quyết toán cuối tháng.

— A lô, Thư hả? — Giọng Vy vang lên qua điện thoại, nhanh, dồn dập và hơi thở có phần gấp gáp, lẫn trong tiếng lật giấy tờ sột soạt. — Mày tới Huế chưa? Tàu chạy êm không mày?

Nghe thấy giọng nói thân quen của cô bạn thân, Thư như kẻ sắp chết đuối vớ được chiếc cọc rào, bao nhiêu mạnh mẽ giả tạo sụp đổ hoàn toàn. Giọng cô chùng hẳn xuống, méo mó và nghẹn ngào vì xúc động:

— Tao tới nơi từ sớm rồi Vy ơi... Nhưng mà tệ lắm mày ạ. Tao vừa cuốc bộ tới nơi thì quán chị Bình khóa trái cửa, then cài kín mít từ bao giờ rồi. Chị ấy nhắn một cái tin bảo bận việc gia đình đột xuất dưới quê nên hủy hẹn rồi. Tao mất toi tiền vé tàu đêm ghế cứng ba trăm hai mươi nghìn, lại còn vừa nộp một trăm hai mươi nghìn tiền thuê phòng trọ gần ga mà chẳng được tích sự gì... Giờ đang phải ngồi ăn tô bún vét nồi ở một xó đường ray tồi tàn, người ta đang quét rác đuổi tao đi đây này...

Thư vừa nói vừa như muốn trút hết bao nhiêu ấm ức, bao nhiêu uất nghẹn và cay đắng của buổi sáng khốn khổ này vào từng câu chữ, hy vọng Vy sẽ cùng cô thở dài một tiếng, cùng cô chửi đổng vài câu cho bõ tức, hoặc ít nhất là kiên nhẫn lắng nghe cô than thở về cái số phận hẩm hiu, bấp bênh của một đứa làm du ký tự do không nơi bấu víu.

Thế nhưng, đầu dây bên kia bỗng im bặt mất hai giây dài dằng dặc. Chỉ có tiếng đầu bút bi gõ cộc cộc xuống mặt bàn gỗ ép theo nhịp sốt ruột, rồi tiếng Vy nói chen ngang vào ống nghe, giọng điệu vừa vội vã vừa mang đầy vẻ phân trần, áy náy nhưng không giấu nổi sự mệt mỏi:

— Trời đất ơi, khổ thân mày ghê chưa... Nhưng mà Thư ơi, tao đang dở tay chốt cái bảng kê thuế quý này cho sếp ký trước mười giờ sáng nay đây, số liệu bên kế toán kho đang lệch mất mấy triệu bạc mà tao rà từ sáng tới giờ chưa ra đây này! Với lại tí trưa anh Sơn hẹn qua cơ quan tao chở đi ra chợ Trời mua cái van nước máy giặt thay cho cái van cũ bị vỡ, rồi hai đứa tranh thủ ăn trưa luôn ngoài quán, lão ấy chiều lại phải vào ca sửa máy bên xưởng Gia Lâm rồi, bận tối mắt tối mũi. Mày ăn tạm cái gì nóng nóng đi rồi về trọ ngủ một giấc lấy lại sức, có gì tối muộn về phòng trọ tao gọi lại tâm sự sau nghen, giờ tao không buôn dưa lê được đâu, sếp đang đứng lườm tao cháy cả mặt ngoài cửa kính rồi đây này! Thôi nha mày!

Tiếng “tút... tút... tút...” vang lên khô khốc và dứt khoát, cắt đứt cuộc gọi trước cả khi Thư kịp mấp máy môi nói thêm một chữ “ừ”.

Thư từ từ hạ cánh tay cầm điện thoại xuống. Cô đặt chiếc máy lên mặt bàn tôn lạnh ngắt, ngay bên cạnh tô bún đang bốc khói nhạt dần và nguội đi từng phút.

Màn hình điện thoại tắt ngúm, chuyển sang một màu đen đặc quánh, phản chiếu khuôn mặt cô trong đó—một khuôn mặt nhợt nhạt, bơ phờ, đôi mắt trũng sâu vì mệt mỏi và một giọt mồ hôi đục ngầu còn đọng lại bên cánh mũi.

Tiếng chổi chà của người phụ nữ bán bún vẫn rào rạt quét qua sau lưng cô, kéo lê một đống cọng rau muống dập nát và giấy ăn bẩn thỉu vào chiếc xẻng hót rác bằng tôn, phát ra một tiếng *keng* chát chúa, chói tai khi chiếc xẻng chạm xuống mặt đường nhựa.

Thư cầm đôi đũa tre lên, gắp một miếng bún đưa vào miệng, nhai thật chậm rãi. Nước dùng lúc này đã nguội bớt, không còn độ nóng bỏng để át đi vị giác nữa. Vị mặn mòi gắt gao của mắm ruốc lắng xuống đáy tô trở nên chát chúa, đọng lại một vị nồng hắc, ngai ngái nơi cuống họng.

Một cảm giác bẽ bàng, nhưng tỉnh táo đến mức tàn nhẫn, từ từ thấm sâu vào từng ngóc ngách trong tâm trí cô gái trẻ.

Cô đã trông đợi điều gì ở cuộc đời này cơ chứ?

Cô đã trông đợi Vy—người bạn thân đang phải vật lộn từng phút với bảng cân đối kế toán khô khốc, với áp lực cơm áo gạo tiền của đời sống công sở văn phòng và những toan tính vun vén rất đỗi đời thường cho mối quan hệ tình cảm với một người thợ máy như Sơn—phải dừng toàn bộ guồng quay cuộc sống của mình lại chỉ để ngồi nghe cô than thở về một trăm hai mươi nghìn đồng tiền phòng trọ ẩm mốc và một buổi sáng lỡ hẹn hay sao? Vy có cuộc đời của riêng Vy, có những con số thuế má chết tiệt phải nộp đúng hạn định nếu không muốn bị trừ lương, có một người yêu đang tranh thủ từng giờ nghỉ trưa ít ỏi giữa hai ca làm việc nặng nhọc để cùng nhau giải quyết một cái van nước máy giặt bị hỏng trong căn nhà thuê chật hẹp.

Và chị Bình cũng vậy. Chị Bình có một gia đình ruột thịt dưới quê, có những nỗi lo toan, những biến cố máu mủ đột ngột mà một người phụ nữ lam lũ bán quán ăn ven đường tàu buộc phải gác lại nồi cơm mưu sinh để chạy về lo liệu. Chị Bình có toàn quyền đóng sập cánh cửa sắt màu xanh xám lại, tra chiếc ổ khóa đồng to tướng vào then cửa mà không cần phải giải trình, không cần phải cảm thấy tội lỗi hay thanh minh phân trần với một kẻ đi tàu xa lạ chỉ vì người đó tình cờ mang theo một chiếc máy thu âm và một kế hoạch viết bài du ký tự biên tự diễn trong đầu.

Nhịp sống của cả cái thế giới rộng lớn, ồn ào và bụi bặm này chưa từng, và sẽ không bao giờ, xoay quanh cuốn sổ tay du ký hay chiếc micro của Phạm Minh Thư.

Người ta không sinh ra và lao động để làm nhân vật minh họa cho những trang viết của cô. Người ta bận rộn mưu sinh, bận yêu đương, bận lo toan từng bữa ăn, manh áo và bận giải quyết những rắc rối vụn vặt nhưng nặng tựa ngàn cân của chính cuộc đời họ. Chiếc máy Marantz bọc đầu lông xù trong chiếc túi vải thô của cô, xét cho cùng, chỉ là một thứ đồ chơi vô nghĩa và ích kỷ nếu nó cứ khăng khăng đòi hỏi người khác phải hi sinh nhịp sinh hoạt thường nhật, phải tạm dừng nỗi đau hay gánh nặng của họ lại chỉ để phục vụ cho sự hào hứng văn chương nhất thời của kẻ cầm máy.

Thư múc một thìa nước dùng cuối cùng dưới đáy bát đưa lên miệng. Vị ớt cay xè làm sống mũi cô cay ran, nhưng lồng ngực cô bỗng nhiên nhẹ bẫng đi một cách kỳ lạ. Nỗi tức tối, ấm ức và cảm giác hụt hẫng ban nãy dường như đã tan biến sạch trơn, chỉ còn lại sự thấu hiểu trần trụi, sòng phẳng và bình thản của đời sống hiện thực. Cô cúi đầu, ăn hết vắt bún còn lại, nhai nốt miếng chả cua dai dai rồi đặt đôi đũa tre ngay ngắn lên miệng bát tôn.

— Bác ơi, con ăn xong rồi ạ. Con gửi tiền bác.

Thư rút tờ tiền ba mươi nghìn đồng phẳng phiu từ ví đưa cho người phụ nữ bán bún. Bà chủ quán nhận lấy tờ tiền giấy, nhét vội vào chiếc túi vải dù đeo trước bụng, ánh mắt nhìn Thư có phần dịu lại và bớt đi vẻ gắt gỏng ban đầu khi thấy cô gái trẻ ăn sạch sẽ và đứng dậy đúng giờ không làm phiền việc dọn dẹp:

— Cảm ơn con gái nghe. Đi tàu xa mệt mỏi thì ghé ga rửa cái mặt bằng nước mát cho tỉnh táo rồi tính tiếp. Huế mùa ni hay mưa ẩm ương thất thường lắm, lo mà giữ cái thân kẻo cảm lạnh đó nghe con.

— Dạ, con cảm ơn bác nhiều lắm ạ. Chúc bác dọn hàng nhanh.

Thư bước ra khỏi góc hiên nhà lợp tôn, xốc lại quai chiếc túi vải trên vai. Gió sớm từ phía bãi dồn toa xe lửa vẫn thổi rười rượi qua con đường Bùi Thị Xuân, mang theo hơi sương lạnh nhưng đã xua tan bớt mùi khói than tổ ong nồng nặc. Đúng lúc cô chuẩn bị cất bước đi ngược về hướng dãy nhà trọ ẩm mốc để tính toán lại lịch trình và kiểm tra lại số tiền còn lại trong ví, chiếc điện thoại nằm sâu trong túi áo khoác bỗng rung lên một hồi ngắn.

Có tin nhắn mới.

Thư dừng chân bên mép đường ray, mở máy ra xem. Là tin nhắn từ số điện thoại của chị Bình.

Dưới dòng tin nhắn hủy hẹn lạnh lùng lúc sáng sớm, có thêm một đoạn văn bản mới được gửi đến cách đây chừng hai phút:

*“Thư ơi, chị áy náy với em quá. Nếu em có đi tiếp vào trong mạn Đà Nẵng, em ghé qua ga Đà Nẵng tìm thằng Hòa em trai chị nhé. Nó bán cơm hộp bình dân ở ngay khúc đường ray ngoài cổng ga, số điện thoại nó đây: 0914... Chị có nhắn trước với nó một tiếng rồi. Cơ mà thằng Hòa em chị tính nó bộc trực, ruột để ngoài da dữ lắm, em đến ăn thì nhớ hỏi kỹ giá cả thực đơn trước nghe, chứ không lại cự cãi nhau phiền lòng.”*

Thư nhìn dãy số điện thoại và những dòng chữ dặn dò cẩn thận, mộc mạc của người phụ nữ xứ Huế hiển thị trên màn hình nhỏ. Một nụ cười tự giễu khẽ nở trên môi cô, nhẹ nhõm và ấm áp hơn bất cứ lúc nào. Người ta dẫu có bận việc nhà, dẫu có phải đóng sập cửa từ chối một cuộc hẹn vì những trắc trở của số phận, thì cái tình nghĩa tối thiểu của những người lao động nghèo quanh đường ray xe lửa vẫn cứ lấp lánh theo cách thô mộc, vụng về và chân chất nhất của họ.

Cô lưu ngay số điện thoại của người tên Hòa vào danh bạ máy, rồi bấm gửi lại cho chị Bình một dòng tin nhắn ngắn gọn:

*“Dạ, em cảm ơn chị Bình nhiều lắm ạ. Chị cứ yên tâm lo việc gia đình cho chu toàn nhé. Em nhất định sẽ ghé quán anh Hòa ạ.”*

Thư cất chiếc điện thoại vào túi áo khoác, ngẩng đầu nhìn về phía tòa nhà ga xe lửa sơn màu vàng nhạt cổ kính phía trước mặt. Trên tấm bảng giờ tàu điện tử treo ở tiền sảnh xa xa qua làn sương mỏng, dòng chữ điện tử màu đỏ thông báo chuyến tàu SE hướng vào phương Nam chuẩn bị mở cửa bán vé cho chặng ban ngày.

Tiếng còi tàu hướng vào Đà Nẵng bỗng gióng lên từng hồi dài trầm hùng, xé toạc màn sương ẩm của đất Cố đô, mang theo lời dặn của chị Bình qua điện thoại: *“Thằng Hòa em chị tính nó bộc trực, em đến ăn thì nhớ hỏi kỹ giá cả thực đơn.”*

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories