Bữa cơm không có lời phỏng vấn
Tiếng bánh sắt nghiến ken két trên mặt ray đưa đoàn tàu chầm chậm bò vào ga Vinh giữa cái nắng hanh rát đặc trưng của dải đất miền Trung; Thư kéo chặt khóa chiếc balô con cóc đẫm bụi than, sải bước dứt khoát về phía dãy nhà trọ bình dân nằm nép bên hông bãi hàng hóa để gửi hành lý trước giờ hẹn với bà Oanh.
Gió phơn từ mạn tây dãy Trường Sơn thổi tràn qua những khoảng sân ga mênh mông, quất từng luồng khí khô khốc bỏng rát lên những bãi dăm đá xám xịt dọc tuyến ray dồn dịch. Hơi nóng hầm hập bốc lên từ mặt thép nung rẫy, quyện cùng mùi dầu diezen khét lẹt của những cỗ đầu máy đang xả từng cuộn khói xám nặng nề chờ lệnh dồn toa, tạo nên một thứ bầu không khí đặc quánh như thể có thể dùng dao cắt ra từng mảng. Dãy trọ Thư tìm được nằm lọt thỏm trong một con hẻm lở loét đá sỏi lổm chổm, chỉ cách cổng kho hàng số hai chừng hai trăm mét đi bộ. Căn phòng cô thuê ẩm sực mùi vôi rữa lâu năm không người ở, trần lợp fibro-xi măng thấp lè tè hấp trọn vẹn luồng nhiệt dữ dội của buổi trưa xứ Nghệ, phả xuống căn phòng một thứ hơi nóng râm ran da thịt.
Thư vội vã múc một gáo nước từ chiếc lu xi măng đặt góc sân giếng khoan để rửa mặt. Dòng nước ngầm còn vương vị phèn chua chát chúa buốt nhẹ nơi đầu lưỡi chẳng xua bớt được bao nhiêu cái hâm hấp của gió Lào, nhưng ít nhất cũng rửa trôi được lớp bụi than đá bết dính quanh vành mắt sau trọn một đêm lắc lư trên chuyến tàu chợ từ mạn bắc vào. Cô thay vội chiếc áo sơ mi cộc tay bằng vải thô màu cỏ úa đã sờn mép gấu, kiểm tra lại cuốn sổ tay bọc bìa da đen nhét sâu trong túi chéo cùng hai chiếc bút bi mực đậm.
Chiếc máy thu âm cũ kỹ hiệu Marantz mượn của ông Lộc nằm im lìm trong góc túi chống sốc dày cộp. Đầu giắc canon ba chấu nối với thân micro định hướng vẫn hơi có độ rơ nhẹ sau cú va quẹt vào cánh cửa sắt toa xe ở ga Nam Định đêm hôm trước, nay đã được Thư dùng băng dính đen cách điện quấn chằng lại nhiều vòng chắc chắn. Đầu ngón tay cô dừng lại bên mép lớp băng keo dính ráp một thoáng, ngập ngừng vân vê mép gờ rồi dứt khoát kéo kín khóa miệng túi bảo hộ.
Lời dặn dò ngắn gọn, đanh chắc như một nhát búa đóng tà vẹt của bà Oanh qua điện thoại tối hôm trước vẫn còn văng vẳng bên màng nhĩ cô, rành rẽ từng âm sắc trọ trẹ đanh thép: *“Đến thì đến đúng mười một giờ trưa, không đón tiếp ngoài giờ bán cơm. Quán tui là quán thợ, không phải nơi tiếp khách nhàn rỗi.”*
Màn hình chiếc điện thoại cũ nhảy sang con số mười giờ năm mươi phút. Thư xốc lại quai túi chéo, bước nhanh ra khỏi cổng xóm trọ, men theo bờ tường rào xây bằng gạch chỉ đỏ cắm đầy miểng chai sắc nhọn bao quanh khu kho bãi liên vận.
Quán cơm của bà Oanh nép mình dưới một hàng hiên lợp tôn xi măng dài ngoẵng đã ngả sang màu xám xịt của muội khói tàu hỏa, nằm chếch ngay cổng phụ số hai dẫn thẳng vào bãi dồn toa hàng hóa ga Vinh. Đó thực chất là một gian nhà cấp bốn cũ kỹ trổ cửa chính rộng hoác ra khoảng sân đất nện lồi lõm sỏi đá, không hề có biển hiệu căng bạt lòe loẹt hay đèn led nhấp nháy, chỉ có độc một tấm bảng gỗ ghép từ ván cốp pha cũ cắm xiêu vẹo bên mép hiên, trên đó quét ba chữ sơn đỏ đã bong tróc vảy: *Cơm bình dân*.
Đúng mười một giờ kém hai phút.
Bên dưới hàng hiên tôn đang hấp thụ luồng nhiệt hừng hực từ đỉnh trời, những khay thức ăn bằng inox dày dặn đã được sắp đặt tươm tất, tăm tắp trên một dãy bàn gỗ dài bọc tôn phẳng lì, sáng bóng loáng vì được lau chùi kỹ lưỡng bằng nước sôi pha dấm. Mùi thức ăn mặn mòi bốc lên ngùn ngụt, lấn át triệt để cái nồng nặc của dầu máy và bụi đường sắt bay lẩn khuất ngoài sân: mùi cá nục kho nghệ tươi vàng ruộm thơm gắt vị ớt chỉ thiên phơi tái, đĩa thịt ba chỉ luộc thái mỏng xếp đều tăm tắp như nan quạt xòe, khay tép đồng rang khế chua dậy mùi mỡ lợn phi hành tăm nức mũi, và góc trong cùng là lọn rau muống luộc xanh mướt mát vừa vớt ra khỏi nồi nước sôi hãy còn nghi ngút khói trắng. Ở sát vách tường gạch mộc, một chiếc nồi nhôm cỡ đại loại bốn mươi lít dùng để ninh canh đang ủ trên miệng chiếc bếp than tổ ong đậy nắp kín mít, thỉnh thoảng lại phì ra từng luồng hơi nước mỏng qua mép vung kim loại cong vênh.
Một người đàn bà trạc chừng năm mươi lăm tuổi, vóc người đậm chắc, lưng thẳng, tóc bới cao túm gọn sau gáy bằng một chiếc cặp lưới cước màu đen, đang thoăn thoắt dùng mảnh khăn bông sạch miết lại mép khay nhôm đựng cá kho. Bà mặc chiếc áo cộc tay may bằng vải hoa sam sẫm màu, bên ngoài khoác chiếc tạp dề bằng vải bạt công nhân xanh sẫm đã giặt nhiều lần đến mức bạc phếch hai bên mép sườn. Đôi bàn tay của bà thô ráp, các khớp ngón to bè, mu bàn tay nổi rõ những đường gân xanh ngoằn ngoèo của người đã quen bưng bê nồi niêu nặng nhọc suốt mấy mươi năm dọc theo tiếng còi tàu.
Nghe tiếng bước chân Thư giẫm lạo xạo trên lớp đá dăm trước sân hiên, bà Oanh khẽ ngước mắt lên nhìn. Ánh mắt bà sắc lẻm, rà một đường dứt khoát từ chỏm tóc buộc gọn gàng của Thư xuống đôi giày vải bám đầy vệt bụi đỏ đường ray, rồi liếc thật nhanh lên chiếc đồng hồ tròn vỏ nhựa treo trên mảng tường vôi tróc lở phía sau lưng.
Kim dài của đồng hồ vừa chạm khít vạch số mười hai.
— Cháu chào bác Oanh ạ. Cháu là Thư, người tối qua có gọi điện xin phép bác ghé quán…
Bà Oanh không đợi Thư dứt câu dạo đầu. Bà dằn mạnh chiếc khăn lau xuống mặt bàn tôn, phát ra một tiếng *bộp* khô khốc, dứt khoát. Nét mặt bà không hề có vẻ cau có hay xua đuổi, nhưng toát lên sự rành mạch đến lạnh lùng của một người phụ nữ cả đời sống theo từng hồi còi tàu và lịch chạy dồn toa, nơi mà một phút chậm trễ có thể làm tắc nghẽn cả một đường ray ga chính.
— Tui nhớ rồi. Lão Thành dưới Nam Định có gọi điện vô từ sáng sớm tinh mơ. Lão dặn tui đón tiếp cô tử tế, bảo cô là chỗ người quen dưới ga cũ. Nhưng tui nói thẳng trước cho cô khỏi mất công trông đợi điều gì to tát ở cái xó ni.
Bà Oanh bước vòng qua góc quầy thức ăn, đôi dép lê cao su quẹt trên nền xi măng phát ra những tiếng xàn xạt khô khốc. Bà đứng sừng sững trước mặt Thư, hai tay khoanh trước ngực tạp dề, ánh mắt găm thẳng vào chiếc túi chéo vắt ngang người cô:
— Quán ni là quán cơm thợ dồn toa. Mười một giờ mười lăm phút là tốp thợ dồn toa với công nhân bốc vác kho ba họ tan ca bước sang đây. Họ chỉ có đúng ba mươi phút đồng hồ để cuốc bộ qua bãi đá, lùa cho xong bát cơm dằn bụng rồi lập tức quay về nhận lệnh chạy dồn cho chuyến tàu hàng mười hai giờ kém. Chỗ này không phải quán nước sân ga, không phải phòng trà máy lạnh để cô ngồi nhâm nhi hỏi chuyện làm phóng sự hay triển lãm tranh ảnh nghệ thuật chi hết. Cô muốn ăn cơm thì xếp hàng, gọi món, trả tiền sòng phẳng như người ta. Muốn ngồi nhìn thì nép vô một góc đằng trong, đừng có đứng ngáng lối đi của mấy đứa bưng canh. Còn cái thứ máy móc thu âm, chĩa mic gì ở trong cái túi kia…
Bà Oanh dừng lại một nhịp, ngón tay trỏ thô ráp với móng tay cắt sát ngắn ngủn chỉ thẳng vào góc đáy túi chống sốc của Thư:
— Tuyệt đối cấm tiệt. Không có bật máy, không có chĩa cái đầu bọc mút xốp vô mặt ai hết. Thợ thuyền người ta đi làm đổ mồ hôi ướt đẫm lưng áo, mồm nhai hột cơm chan vội miếng nước canh cho trôi để lấy sức bốc hàng, kéo cáp dồn toa. Không ai rảnh rỗi mà ngồi trả lời cô xem miếng cơm hôm nay nhai có cảm xúc ra răng, hay đời thợ sắt khổ sở thế nào. Cô làm được mấy điều đó thì ở lại ăn một suất. Không làm được thì quay ra cổng chính ga Vinh, đằng nớ có hàng nước chè chén, ra đó mà ngồi hứng gió Lào chờ tàu.
Từng câu, từng chữ của bà Oanh rơi xuống không gian như những thanh ray thép nện thẳng xuống đệm đá ba-lát: chắc nịch, dứt khoát, không chừa ra dù chỉ nửa ly cho bất kỳ sự thương lượng hay nài nỉ nào. Thư đứng im, hít một hơi thật sâu. Hơi nóng hầm hập của buổi trưa xứ Nghệ cùng vị cay xè của ớt chỉ thiên và nghệ già từ nồi kho xộc thẳng lên sống mũi cô cay sè. Trong tâm trí Thư, cuộc trò chuyện qua điện thoại đầy gay gắt ngày hôm qua với biên tập viên Thu Hạnh về việc tôn trọng hiện trường và ranh giới nghề nghiệp bất chợt dội về rõ mồn một.
Thư không đưa tay chạm vào mép khóa túi đựng chiếc máy thu âm nữa. Cô đứng thẳng người, hai tay buông tự nhiên dọc thân mình, khẽ cúi đầu chào bằng một thái độ điềm đạm nhất:
— Dạ, cháu hiểu hết những điều bác vừa dặn ạ. Bác Thành ở Nam Định cũng có nói với cháu từ trước là bác rất nghiêm cẩn trong giờ giấc bán hàng. Cháu chỉ xin phép được ăn một suất cơm như tất cả những người khách khác và ngồi ở một góc quan sát nhịp sinh hoạt của quán thôi ạ. Cháu xin hứa danh dự sẽ tuyệt đối không lôi máy móc hay sổ sách ra làm phiền bất kỳ ai trong giờ ăn.
Bà Oanh nheo mắt nhìn Thư thêm vài giây đăm đăm. Cái nhìn của bà như cái nhìn của một người gác ghi dạn dày kinh nghiệm đang kiểm tra từng mắt xích và then cài của toa xe trước khi kéo cần gạt cho tàu thông qua. Cuối cùng, khóe môi thô ráp của bà khẽ giật nhẹ một cái—chưa hẳn là một nụ cười, nhưng sự đề phòng sắc nhọn ban đầu đã hạ bớt đi vài phần rõ rệt.
— Biết điều rứa là được. Vào rửa tay ở cái thùng tôn góc hiên đằng kia rồi lại đây lấy đĩa. Suất cơm hai mươi lăm nghìn. Trả tiền trước cho xong việc.
Thư thò tay vào túi quần vải, rút ra một tờ hai mươi lăm nghìn đồng đã được cô vuốt phẳng phiu từ sáng sớm, trân trọng đặt lên mặt khay nhôm cạnh ống đũa tre. Bà Oanh đón lấy tờ tiền bằng những ngón tay khô ráp, nhét gọn ghẽ vào chiếc túi vải dù thắt ngang bụng, rồi với lấy chiếc đĩa sứ sâu lòng màu men trắng ngà đã có vài đường rạn chân chim mờ mờ quanh vành.
— Ăn chi? — Bà Oanh hỏi cộc lốc, chiếc muôi xới cơm bằng gỗ bạch đàn trên tay bà đã sẵn sàng nâng lên bên miệng thùng cơm lớn.
— Dạ, cho cháu xin một suất cơm cá nục kho nghệ với rau muống luộc ạ. Bác cho cháu xin thêm một chút nước kho rưới lên cơm.
Bà Oanh thoăn thoắt xới một muôi cơm đầy có ngọn. Những hạt cơm gạo Khang Dân trắng đục, nở xốp tơi bời chứ không dẻo dính như nếp mạn bắc, rào rào rơi xuống lòng đĩa sứ sâu. Bằng hai nhát gắp dứt khoát và chuẩn xác đến từng phân, chiếc kẹp sắt trên tay bà nhấc bổng một con cá nục gai tròn lẳn, bóng nhẫy sắc vàng sẫm của nghệ tươi và phủ kín những lát ớt đỏ rực đặt gọn ghẽ sang một mép đĩa. Tiếp đó là một lọn rau muống luộc xanh mướt đã ráo kiệt nước, rồi bà hơi nghiêng chiếc muôi nhôm múc nửa thìa nước kho cá màu cánh gián sanh sánh, kéo một đường dứt khoát qua đỉnh ngọn cơm trắng.
— Bát canh dưa cải góc bàn kia tự ra mà múc lấy. Cái bàn góc trong cùng sát vách tường còn trống đấy. Vô đó mà ngồi. Đừng có ngồi xớ rớ ở lối đi.
Thư cẩn thận đỡ lấy đĩa cơm nóng rẫy bằng cả hai bàn tay, cảm ơn bà Oanh một tiếng rồi chậm rãi bước về phía góc phòng.
Đó là một chiếc bàn gỗ ghép tạp bốn chân đã cập kênh theo năm tháng, chân bên trái được chêm bằng một mảnh gỗ tà vẹt xẻ mỏng đã ngả màu xám tro. Mảng tường vôi sát chỗ cô ngồi loang lổ những vệt ẩm mốc hình tròn và vô số những dòng chữ số viết vội bằng mẩu than củi khô—có lẽ là số hiệu toa tàu, tải trọng tấn hoặc giờ vào ban của những người thợ bốc vác từng ngồi lại đây ghi chép trong những ca trực vội vã. Thư đặt đĩa cơm xuống mặt bàn gỗ bọc tôn mát lạnh, từ từ tháo chiếc túi chéo đựng bộ máy thu âm cũ của ông Lộc ra khỏi vai, cẩn thận đặt sâu nó xuống gầm chiếc ghế đẩu bằng gỗ, kẹp chặt giữa hai bàn chân mình. Cô kiểm tra lại khóa kéo một lần nữa, kéo sát miệng túi lại như một sự tự nhắc nhở nghiêm ngặt về lời cam kết với không gian sống này.
Không có chiếc tai nghe kiểm âm chụp nặng trĩu trên vành tai. Không có màn hình tinh thể lỏng nhỏ xíu nhấp nháy những vạch sóng âm thanh xanh đỏ báo mức tín hiệu vào. Lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu chuyến tàu dọc tuyến đường sắt xuyên Việt, Thư bước vào một bữa ăn ga tàu hoàn toàn bằng đôi tai trần của mình và trọn vẹn mọi giác quan mộc mạc nhất.
Mười một giờ mười lăm phút.
Đúng như từng lời bà Oanh đã cảnh báo, tiếng còi của chiếc đầu máy xe lửa ngoài bãi dồn vừa rúc lên ba hồi dài gắt gao xé toạc không gian oi bức báo hiệu giờ chuyển ca thì ngoài khoảng sân đất nện lập tức rộ lên tiếng bước chân rầm rập của những đôi ủng cao su nặng nề và giày vải bạt bảo hộ lao động. Một luồng không khí đặc quánh mùi dầu diezen, bụi xỉ than đá và mồ hôi mặn chát của những thân hình vạm vỡ đồng loạt tràn vào bên dưới mái hiên tôn.
— Bác Oanh ơi, sáu suất như cũ nhé! Bới nhiều cơm trắng vô, trưa ni bốc dỡ hai toa đạm Phú Mỹ đói hoa cả mắt rồi!
— Cho đĩa thịt luộc nhiều mỡ tí bác hè, nuốt cho trôi cơm!
Tiếng gọi món, tiếng gõ đũa, tiếng kéo ghế rào rào vang lên rộn rã, đặc sệt chất giọng miền Trung trầm đục, trèo trẹo với những thanh âm sắc lẹm mà nếu như chỉ nghe lướt qua một chiếc micro định hướng, Thư chắc chắn sẽ phải toát mồ hôi hột khi ngồi gõ lại phụ đề phỏng vấn. Nhưng tại đây, dưới mái tôn đang rung rinh theo từng cơn gió phơn, những âm thanh ấy đan bện vào nhau thành một nhịp điệu sinh hoạt thô ráp, trần trụi và chân thật đến nao lòng.
Bà Oanh đứng sừng sững sau quầy thức ăn như một người chỉ huy dạn dày trận mạc đang điều tiết một ngã tư đường ray giờ cao điểm. Hai cánh tay thô ráp của bà chuyển động thoăn thoắt, nhịp nhàng không một giây ngơi nghỉ: một tay vung muôi xới từng ngọn cơm trắng phau vun cao ngất, tay kia cầm kẹp sắt lia lịa gắp thịt, cá, đậu phụ rán giòn và những muôi tép đồng rang khế. Những chiếc đĩa sứ va chan chát vào mặt bàn bọc tôn kêu lách cách, tiếng muôi nhôm gõ vào thành thùng cơm điện kêu *cheng cheng*, tiếng bát sành chan nước canh dưa chua xoong xoảng. Nhịp điệu phục vụ diễn ra với một tốc độ chóng mặt, không có một động tác thừa thãi, không một lời đãi bôi khách sáo.
Chỉ vỏn vẹn trong vòng năm phút đồng hồ, sáu chiếc bàn gỗ dưới hàng hiên đã chật ních người ngồi. Những người đàn ông mặc áo xanh bảo hộ bạc phếch hai bên vai, trên lưng áo còn loang lổ những vệt bụi trắng của bao tải phân bón hoặc những vệt dầu đen sì từ xích kéo dồn toa, ngồi chen chúc sát sạt nhau trên những chiếc ghế nhựa thấp lè tè.
Một người thợ dồn toa trạc ngoài bốn mươi tuổi bước nhanh về phía chiếc bàn góc trong cùng của Thư. Thấy chiếc ghế đẩu đối diện cô hãy còn trống, anh khựng lại nửa nhịp, liếc mắt nhìn đĩa cơm của Thư rồi cất tiếng hỏi, giọng khàn đặc vì hít phải quá nhiều bụi than và khói dầu:
— Chỗ ni có ai ngồi chưa cô?
— Dạ chưa ạ, anh ngồi đi ạ, — Thư vội vã co hai cánh tay lại, nhích đĩa cơm của mình sát vào chân vách tường vôi để nhường khoảng trống rộng rãi nhất có thể.
Người thợ gật đầu cộc lốc tỏ ý cảm ơn rồi ngồi phịch xuống ghế. Chiếc ghế gỗ cũ kỹ khẽ rên lên một tiếng *két* khô khốc dưới sức nặng của thân hình lực lưỡng nhưng tấm lưng hơi còng xuống vì lao động nặng. Anh đặt đĩa cơm của mình lên bàn. Suất cơm của anh cũng có giá hai mươi lăm nghìn đồng như suất của Thư, nhưng khẩu phần lại mang một cấu trúc hoàn toàn dị biệt: một ngọn cơm trắng cao ngất ngưởng chiếm trọn hai phần ba diện tích đĩa sứ, xung quanh rìa đĩa chỉ có một nắm rau muống luộc úa màu và vài miếng chả mỏng dính kho mặn chát, bên trên rưới ngập ngụa thứ nước kho màu nâu đen sẫm để lấy vị mặn mòi đưa cơm. Tuyệt nhiên không có một lát cá nục hay miếng thịt ba chỉ luộc nào. Đĩa cơm ấy hiển hiện rõ ràng mục đích duy nhất và trần trụi của nó: cung cấp tối đa lượng tinh bột rẻ tiền để bù đắp lại số calo đã bị thiêu đốt cạn kiệt suốt sáu tiếng đồng hồ trên bãi ray rực lửa.
Người công nhân rút phắt đôi đũa tre từ chiếc ống nhựa cắm trên bàn. Anh không buồn lau qua khăn giấy hay giấy ăn, chỉ đưa hai đầu đũa quẹt mạnh một đường dứt khoát vào mặt trong của cổ tay áo bảo hộ lao động, rồi lập tức cúi gập người xuống sát mép đĩa.
Anh ăn với một tốc độ khiến Thư không khỏi sững sờ. Đôi đũa tre trong tay anh thoăn thoắt lùa từng tảng cơm lớn vào miệng. Tiếng đũa tre va liên hồi vào lòng đĩa sứ kêu *lách cách, lách cách* gấp gáp như nhịp gõ của một chiếc đồng hồ bấm giờ trong cuộc chạy đua tiếp sức. Tiếng thở của anh phì phò, nặng nhọc qua hai cánh mũi bám đầy bụi đen, từng thớ cơ nổi rõ trên gò má xạm đen giật giật theo từng nhịp nhai ngấu nghiến. Anh hầu như không nhai kỹ; từng hạt cơm khô xốp quyện chặt với nước kho mặn chát được nuốt ực xuống cổ họng cùng với những cọng rau muống giòn sần sật.
Thư cầm đôi đũa của mình lên, khẽ gắp một miếng cá nục kho nghệ đưa vào miệng. Thịt cá nục săn chắc, ngấm sâu vị muối hạt mặn mòi của vùng biển Cửa Hội, vị cay nồng xé lưỡi của ớt hiểm và mùi thơm ấm nóng nồng nặc của nghệ già giã dập. Vị mặn của món ăn ở đây đậm hơn rất nhiều so với bát phở bò Nam Định của ông Thành hay đĩa thịt rang cháy cạnh mà cô từng ăn ở quán Đèn Hiên ngoài Hà Nội—đó là một thứ vị mặn gắt gao, thực tế và trần trụi, một công thức được tính toán chính xác để bù lại từng lít mồ hôi đã túa ra trên những phiến thép đường ray dưới cái nắng miền Trung bỏng rẫy.
Nhìn người công nhân đối diện đang cắm cúi ăn từng miếng lớn, một sự thôi thúc nghề nghiệp âm ỉ trỗi dậy trong lòng Thư. Đó là thói quen thâm căn cố đế của một người làm báo phát thanh du ký: luôn muốn bóc tách một chi tiết đời tư, muốn biết người đối diện tên là gì, quê quán ở huyện nào mạn Hà Tĩnh hay Quảng Bình ra đây làm thợ, tại sao lại chọn một suất cơm toàn tinh bột nghèo nàn chất đạm thế này, và liệu có một gia đình nhỏ nào đang trông ngóng những đồng lương bốc vác của anh nơi quê nhà hay không.
Cô khẽ hắng giọng, cố gắng điều chỉnh âm lượng giọng nói sao cho thật mềm mại, tự nhiên và thân thiện nhất có thể:
— Anh làm ở bên bãi dồn toa hay kho hàng vậy ạ? Ca trưa nay ngoài bãi nắng rát quá anh nhỉ?
Người công nhân hơi khựng đũa lại trong tíc tắc. Anh ngước mắt lên nhìn Thư. Ánh nhìn của anh không hề lộ vẻ khó chịu, bẳn gắt hay đề phòng gay gắt như anh thợ máy Trần Văn Đức ở quán Đèn Hiên đêm nọ, nhưng nó lại chứa đựng một sự mệt mỏi trần trụi đến kiệt cùng và một khoảng cách vô hình không thể lấp đầy. Đôi mắt ấy trũng sâu hoắm, đuôi mắt hằn in những nếp chân chim sớm vì thói quen phải nheo mắt liên tục suốt nhiều giờ liền dưới ánh nắng chói chang phản chiếu từ những viên đá ba-lát xám xịt.
Anh nuốt vội ngụm cơm lớn trong miệng, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười mỏng manh—một nụ cười xã giao hiền lành, thật thà nhưng đã cạn kiệt sinh lực:
— Ừ, bên dồn toa hàng hóa cô nợ. Nắng quen rồi.
Chỉ vỏn vẹn đúng bảy chữ. Dứt lời, anh với tay chụp lấy chiếc cốc nhôm đựng nước chè xanh om đặc cắm cọng lá trôi lơ lửng ở góc bàn, ngửa cổ uống ực một ngụm lớn để trôi nghẹn nơi thực quản, rồi lập tức cúi gập đầu xuống tiếp tục lùa cơm. Tốc độ đưa đũa của anh dường như còn gấp gáp hơn cả lúc trước, tựa hồ như việc thốt ra bảy chữ ngắn ngủi vừa rồi đã vô tình đánh cắp mất vài giây đồng hồ quý giá trong quỹ thời gian nghỉ ngơi quá đỗi eo hẹp của anh.
Thư im bặt. Cổ họng cô bỗng nghẹn đắng lại, miếng cá nục cay nồng vừa đưa vào miệng bỗng trở nên nặng trĩu tựa hồ như một khối chì.
Cô liếc nhìn chiếc đồng hồ đeo tay. Mười một giờ hai mươi phút. Bữa ăn của người thợ dồn toa đối diện mới chỉ bắt đầu vỏn vẹn được năm phút. Và trong mười phút ngắn ngủi còn lại của ca nghỉ, anh phải tống hết ngọn cơm khổng lồ kia vào dạ dày, húp cạn bát nước canh dưa, quẹt miệng và rảo bước vượt qua hai trăm mét đường đá dăm bỏng rẫy để kịp có mặt tại chòi ghi nhận lệnh chuyển bánh lúc mười một giờ ba mươi phút.
Thư cúi đầu nhìn trân trân vào đĩa cơm của mình. Suốt nhiều tháng ngày qua, khi ôm khư khư chiếc máy thu âm đi khắp các nhà ga dọc tuyến đường sắt, cô luôn tự huyễn hoặc bản thân rằng mình đang thực hiện một sứ mệnh nghệ thuật đầy tính nhân văn: ghi lại âm thanh của đời sống lầm than, lắng nghe tiếng lòng thầm kín của những số phận nhỏ bé nép bên đường tàu. Cô luôn nung nấu ý định biến tiếng va chạm lách cách của bát đũa, tiếng thở dài nhọc nhằn sau ca trực, hay những mảnh đời éo le thành những câu chuyện truyền thanh truyền cảm, giàu chất thơ, có kịch tính và chiều sâu để những thính giả ngồi trong các căn phòng máy lạnh có thể rưng rưng xúc động và vỗ tay tán thưởng.
Nhưng ngay lúc này, khi ngồi đối diện với một con người bằng xương bằng thịt đang cắm cúi nhai cơm như thể đang chạy đua từng giây với sự kiệt sức, Thư bàng hoàng nhận ra sự nông cạn, ích kỷ và tàn nhẫn vô hình của chính mình.
Mười lăm phút ăn cơm vội vã này không phải là chất liệu nghệ thuật của cô. Mười lăm phút này là khoảng không gian sinh tồn duy nhất của một con người sau sáu tiếng đồng hồ quăng quật thân xác giữa sắt thép nung nóng, dầu mỡ khét lẹt và bụi than mù mịt. Anh không ngồi ở đây để giãi bày tâm sự cho ai nghe, không ngồi đây để trở thành một nhân vật trữ tình minh họa cho bài ký sự ẩm thực của một cô phóng viên tự do từ thủ đô hoa lệ bước xuống ga. Anh cần mười lăm phút này để nhét thức ăn vào bụng, để cơ bắp của đôi chân không bị co rút, chuột rút khi lát nữa phải nhảy thoăn thoắt lên những bậc thang sắt bỏng rát của toa xe chở hàng trăm tấn phân lân.
Cô không có quyền, và vĩnh viễn không bao giờ có quyền, biến mười lăm phút ăn cơm sống còn ấy thành những câu hỏi phỏng vấn vô duyên chỉ để thỏa mãn sự tò mò nghề nghiệp hay chỉ tiêu trang viết của bản thân. Việc chĩa một chiếc đầu thu âm bọc mút xốp vào gương mặt đầm đìa mồ hôi kia, hay gặng hỏi một câu chuyện đời tư lâm ly vào lúc này, không phải là sự thấu cảm nhân đạo—đó là một sự xâm phạm thô bạo, tước đoạt đi sự yên tĩnh tối thiểu của người lao động.
Thư lặng lẽ cắm cúi ăn nốt phần cơm của mình. Cô nhai từng miếng thật chậm rãi, lắng nghe thật kỹ tiếng lạo xạo của hạt gạo Khang Dân, tiếng đũa tre miết vào lòng đĩa sứ, tiếng gió phơn lùa làm rung bần bật những tấm tôn fibro trên mái nhà, và cả tiếng thở dốc nặng nhọc đều đặn của người thợ đối diện. Tất cả những âm thanh ấy được cô khắc ghi trọn vẹn vào tâm thức, không phải bằng những vi mạch của thẻ nhớ kỹ thuật số, mà bằng chính sự kính trọng câm lặng của một người quan sát biết rõ vị trí của mình: lùi lại phía sau và giữ gìn sự nguyên vẹn cho đời sống.
Đúng mười một giờ hai mươi tám phút.
Người thợ dồn toa buông đũa xuống bàn. Đĩa cơm của anh sạch bóng, không còn vương lại dù chỉ một hạt gạo trắng hay một mẩu cuống rau muống úa. Anh rút chiếc khăn tay bạc màu vắt ngang cổ áo, quẹt mạnh qua khóe miệng một cái thật nhanh, uống cạn nốt nửa cốc nước chè xanh còn lại rồi đứng phắt dậy.
Anh nhìn Thư, khẽ gật đầu chào một lần nữa bằng vẻ mặt chân chất:
— Tôi đi ca đây cô nhé.
— Dạ, chúc anh làm việc an toàn ạ, — Thư ngước lên, khẽ đáp lại bằng một giọng trầm ấm, chân thành.
Người thợ mỉm cười nhẹ rồi quay lưng bước thoăn thoắt ra khỏi hàng hiên tôn. Tấm lưng áo bảo hộ bạc phếch in hình vệt mồ hôi hình cánh cung nhanh chóng chìm lấp vào quầng nắng chói chang, bỏng rát ngoài bãi ray. Chiếc ghế đẩu bằng gỗ anh vừa ngồi vẫn còn vương lại hơi ấm hầm hập của lớp vải bạt thô dày.
Quán cơm bắt đầu vơi khách dần khi chiếc kim dài của chiếc đồng hồ treo tường nhích qua số chín, điểm mười một giờ bốn mươi lăm phút. Tốp thợ bốc dỡ ở kho ba cũng đã lần lượt thanh toán tiền cơm xong xuôi, lục tục kéo nhau thành từng tốp nhỏ băng qua con đường đá cuội để quay trở lại cổng kho. Dưới mái hiên tôn lúc này chỉ còn lại trơ trọi vài người khách đi chuyến tàu chợ muộn đang ngồi ăn nốt phần cơm nguội và một bác tài xế xe ôm già ngồi rít từng điếu thuốc lào sòng sọc bên ấm chè đặc.
Chính lúc này, từ phía góc bếp sâu bên trong gian nhà cấp bốn, tiếng càu nhàu bực dọc của bà Oanh bỗng chốc rộ lên gay gắt, chen lẫn tiếng muôi nhôm va loảng xoảng vào nắp nồi canh lớn:
— Đã bảo dặn nhà xe từ đêm hôm qua rồi cơ mà! Đường tránh lũ mạn Thanh Hóa ngập úng thì phải điện báo sớm từ chập tối để người ta còn liệu bề xoay xở chứ! Cứ ậm à ậm ừ rồi chừ ni hàng họ vẫn nằm chết dí ở đầu cầu Bến Thủy thì tính mần răng cho kịp?
Thư ngẩng đầu lên khỏi đĩa cơm đã cạn. Bà Oanh đang đứng sừng sững bên chiếc nồi canh bốn mươi lít, tay cầm chiếc muôi dài đảo một vòng tròn vô vọng trong đáy nồi chỉ còn xâm xấp nước luộc rau. Khuôn mặt bà đỏ gay vì hơi nóng hừng hực bốc lên từ hai miệng bếp than tổ ong và sự bực bội hiện rõ mồn một trên từng nếp nhăn sâu hoắm nơi đuôi mắt.
Cô gái trẻ phụ bếp—đứa cháu họ xa của bà Oanh—đang lúi húi nhặt mấy quả cà chua dập úng ở góc chiếc rổ sề, lí nhí thanh minh bằng giọng run rẩy:
— Nhà xe họ bảo đoạn đường tránh lũ nước từ thượng nguồn đổ về ngập sâu quá nửa bánh xe tải lớn, công an giao thông cấm đường từ bốn giờ sáng để phân luồng xe con qua ngả đường 1 cũ. Chuyến xe chở rau củ với bí xanh từ mạn ngoài gửi vào bị kẹt cứng ngắc ở thị xã Hồng Lĩnh từ sớm tinh mơ, trưa trật trưa trầy thế ni mới bò tới đầu cầu Bến Thủy được bác à.
— Bò tới nơi thì thợ người ta ăn xong về bãi hết cả rồi! — Bà Oanh gắt lên thành tiếng, nhưng hai bàn tay vẫn thoăn thoắt đậy sập nắp nồi canh nhôm lại rồi dùng chân đá nhẹ cửa gió của bếp than để hãm lửa. — Nồi canh sườn hầm củ từ với bí xanh người ta ngóng cả tuần ni, chừ không có rau củ phụ liệu thì nấu bằng niềm tin à? Lại phải lấy nước luộc rau muống dầm me chua nấu tạm cho thợ ca trưa húp qua bữa! Bán buôn kiểu trễ nải ni có ngày người ta bỏ sang quán khác ăn hết!
Bà Oanh vừa làu bàu vừa xăm xăm sải bước ra quầy thức ăn, bắt đầu dọn dẹp những chiếc khay inox đã vơi quá nửa. Những lát cá nục kho nghệ cuối cùng còn sót lại dưới đáy khay được bà gạt cẩn thận vào một chiếc đĩa sứ nhỏ, nước kho cá keo lại vàng óng ánh như mật mía. Sự bực bội của người đàn bà này hoàn toàn không phải là cơn thịnh nộ vô cớ của một kẻ bán buôn đanh đá, chua ngoa, mà đó là nỗi day dứt, ức chế rất đỗi thực tế của một người đang gánh vác trách nhiệm lo từng miếng ăn chắc dạ cho hàng chục con người lao động nặng nhọc. Một chuyến xe tải chở hàng trễ hẹn vì thiên tai lũ lụt nơi đường tránh không chỉ là sự xáo trộn về mặt chuỗi cung ứng giao thông đơn thuần, mà nó giáng một đòn trực tiếp, cụ thể vào chất lượng bữa ăn của những người thợ đường sắt nghèo nàn ven bãi ray ga Vinh.
Thư lặng lẽ đứng dậy. Cô cầm chiếc đĩa sứ sạch bóng cùng chiếc cốc nước nhôm của mình mang ra chậu rửa đặt ở góc sân sau theo đúng nền nếp của những người khách quen nơi đây. Khi cô quay trở lại hiên trước để gửi lời chào bà Oanh, người đàn bà chủ quán đã ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ ép, một tay cầm chiếc quạt nan phe phẩy lấy chút gió mát ít ỏi, tay kia cầm cuốn sổ tay bìa cứng đã sờn rách bốn góc để ghi chép lại những khoản tiền thu chi lặt vặt trong buổi trưa.
Thấy bóng Thư bước lại gần, bà Oanh ngước mắt lên. Ánh mắt nghiêm nghị của bà dường như đã dịu lại đôi phần sau cơn giận dữ với nhà xe:
— Ăn xong rồi à? Có no cái bụng không?
— Dạ, cháu ăn no lắm rồi ạ. Cá nục kho nghệ của bác kho đậm đà và ngon lắm, cháu ăn hết sạch cả đĩa cơm trắng, — Thư mỉm cười nhẹ nhàng, giọng điệu đầy lòng biết ơn.
Bà Oanh khẽ “hừ” một tiếng nhẹ qua cánh mũi, nhưng khóe mắt lộ rõ vẻ bằng lòng:
— Gớm, cá nục gai tươi mua từ thuyền đánh lưới mạn Cửa Hội về từ lúc bốn giờ sáng, kho với nghệ củ giã tay và ớt hiểm phơi tái, không ngon răng được. Cơm thợ thì phải mặn mòi, đậm vị mới giữ được sức mà kéo cáp. Mà nãy chừ cô ngồi im lìm cả buổi, không thấy chường cái máy thu âm ra thật đấy nhỉ?
— Dạ, cháu đã hứa danh dự với bác từ đầu rồi mà. Với lại… cháu thấy các anh công nhân dồn toa ăn vội vã quá. Mười lăm phút nghỉ trưa của người ta quý giá từng giây từng phút, cháu mà chen ngang hỏi han làm phiền thì có tội lớn lắm ạ.
Bà Oanh nhìn sâu vào mắt Thư một thoáng thật lâu. Chiếc quạt nan trên tay bà khẽ khựng lại giữa không trung. Lần đầu tiên kể từ lúc Thư bước chân vào quán, người đàn bà nổi tiếng khó tính bậc nhất khu ga Vinh khẽ gật đầu với cô một cái thật chậm rãi và dứt khoát:
— Biết nghĩ được như rứa là có cái đầu óc biết điều đấy. Khối đứa nhà báo, phóng viên dưới thị xã mò lên đây, cứ nhè đúng lúc thợ người ta đang mồm ngậm cơm nghẹn ứ họng mà dí cái máy ảnh to tổ bố với cái máy ghi âm vô tận mặt hỏi chuyện vượt khó với cảm tưởng lao động, tui vác đòn gánh đuổi thẳng cổ ra khỏi hiên không tha đứa mô. Người ta cần một miếng ăn yên tĩnh cho trôi hột cơm chứ không cần lên tivi nói ba cái điều sáo rỗng.
Bà Oanh thở dài một hơi sườn sượt, đưa mắt nhìn về phía chiếc nồi canh lớn bốn mươi lít hãy còn đang ủ than âm ỉ ở góc bếp:
— Nhưng mà cô tính ở lại đất Vinh ni mấy ngày?
— Dạ, theo lịch trình ban đầu thì cháu dự định sáng sớm mai sẽ bắt chuyến tàu chợ tiếp tục vào Huế ạ.
Bà Oanh tặc lưỡi một tiếng, ngón tay trỏ gõ cộc cộc lên mặt bàn bọc tôn:
— Thế thì chưa chắc đã kịp nếm cái món canh sườn nấu củ từ với bí xanh của tui đâu. Chuyến xe chở rau củ trễ hẹn trưa nay làm nguyên liệu tồn ứ lại, sáng mai tui phải lùi giờ nấu canh muộn hơn để chờ hàng mới dỡ từ xe tải lúc rạng sáng. Đổi giờ nấu canh là đổi luôn cả giờ chia cơm ca sáng mai đấy. Có muốn ở lại ăn bữa thứ hai cho trọn vẹn vị cơm ga Vinh trước khi rời tàu vô Huế không?
Lời đề nghị bất ngờ của bà Oanh khiến Thư sững người lại trong vài giây ngắn ngủi. Đó hoàn toàn không phải là một lời chèo kéo mua bán của một người làm dịch vụ kiếm lời, mà là một sự chấp nhận kín đáo—một sự mở lòng đầy trân trọng của một người đàn bà nấu bếp đường ray dành cho một kẻ lữ hành biết cúi đầu và biết tôn trọng ranh giới mưu sinh của họ.
— Cháu… cháu sẽ cân nhắc lại lịch tàu chạy đêm nay rồi báo sớm với bác ạ, — Thư đáp lời, lòng bỗng dâng lên một cảm giác ấm áp lạ kỳ.
— Tùy cô. Muốn ăn thì cứ đúng mười một giờ trưa mai quay lại đây, — Bà Oanh phẩy mạnh chiếc quạt nan xua đàn ruồi đang vo ve bên mép bàn, rồi cúi đầu quay trở lại với những con số chi tiêu dang dở trong cuốn sổ tay.
***
Đêm hôm đó, trong căn phòng trọ chật chội bên hông bãi dồn ga Vinh, tiếng còi tàu đêm rúc lên từng hồi dài tê tái xé toạc màn đêm tĩnh mịch của thành phố. Hơi nóng gay gắt tích tụ suốt cả ngày dài trong những mảng tường xi măng ẩm mốc vẫn tỏa ra hầm hập, biến căn phòng thành một chiếc lò xông hơi ngột ngạt. Chiếc quạt trần cũ kỹ trên trần nhà quay cọt kẹt từng vòng uể oải, chỉ phả xuống giường từng luồng gió hanh khô bỏng rát.
Thư ngồi xếp bằng trên chiếc phản gỗ tạp, đặt chiếc máy tính xách tay lên đùi. Chiếc máy thu âm Marantz của ông Lộc vẫn nằm yên vị trong góc bàn con, nút công tắc nguồn vẫn gạt ở nấc tắt. Trọn vẹn cả chặng dừng chân tại ga Vinh ngày hôm nay, cô không hề có lấy một giây file âm thanh nào được thu vào bộ nhớ kỹ thuật số. Thư không có giọng nói khàn đặc vì khói bụi của người thợ dồn toa, không có tiếng muôi nhôm gõ leng keng vào thành thùng cơm của bà Oanh, và càng không có một câu thoại bộc bạch xúc động nào về nỗi nhọc nhằn của phận người đường sắt để dựng thành cao trào cho bài phát thanh.
Thế nhưng ngay trước mặt cô, những trang sổ tay bọc da đã được lấp đầy bằng những dòng ghi chép chi tiết, sắc lạnh và chân thực đến từng milimet:
*“11:00 – Khay cá nục gai kho nghệ tươi, mỡ lợn sánh vàng màu mật mía, vị ớt chỉ thiên phơi tái cay xộc lên hốc mũi. Nồi cơm Khang Dân trắng xốp, không dẻo, nở bung. 11:15 – Tiếng ủng cao su nện rầm rập trên nền đá dăm. 6 suất cơm được chia trong đúng 5 phút. Không động tác thừa, không lời đãi bôi. 11:20 – Khẩu phần của thợ dồn toa: 2/3 đĩa là cơm trắng vun ngọn, rưới nước kho mặn chát, không cá, không thịt. Thời gian ăn trọn vẹn: 15 phút. Tiếng đũa tre gõ vào đĩa sứ dồn dập, liên hồi như đồng hồ đếm ngược. Nhịp thở nặng phì phò qua hai cánh mũi bám bụi than đá. Bảy chữ duy nhất được thốt ra: ‘Ừ, bên dồn toa hàng hóa cô nợ. Nắng quen rồi.’ 11:45 – Chuyến xe tải chở rau củ trễ hẹn do ngập đường tránh lũ mạn Thanh Hóa, ách tắc tại cầu Bến Thủy. Nồi canh sườn 40 lít buộc phải chuyển sang nấu tạm bằng nước luộc rau muống dầm me chua. Sự bấp bênh của chuỗi vận tải giáng trực tiếp vào chất lượng bữa ăn của thợ lao động.”*
Thư lướt ngón tay trên màn hình điện thoại, mở hòm thư điện tử nội bộ của ban biên tập. Một thông báo từ chuyên mục ký sự đường dài hiện lên: Đỗ Anh Quang vừa xuất bản kỳ phát thanh mới về ẩm thực ga Đồng Hới. Bài viết và phóng sự âm thanh của Quang mang một tiêu đề vô cùng giật gân, đính kèm những đoạn ghi âm phỏng vấn đẫm nước mắt của một bà lão bán bánh bột lọc dạo bên ke ga, cùng những câu trích dẫn mượt mà, trau chuốt về nỗi nhớ quê hương da diết và kiếp sống trôi nổi bấp bênh theo những chuyến tàu đêm. Sản phẩm truyền thông của Quang lập tức nhận được hàng trăm lượt chia sẻ và vô số bình luận ngợi ca về sự nhân văn, chiều sâu lay động lòng trắc ẩn của tác giả.
Một áp lực vô hình và nặng nề đè chặt lên lồng ngực Thư. Cô biết rất rõ biên tập viên Thu Hạnh đang ngồi chờ bản thảo đầu tiên của cô về chặng dừng ga Vinh. Nếu bài viết của cô chỉ là một bản tường thuật thuần túy về thị giác, khứu giác và thính giác trần trụi mà không có lấy một đoạn trích dẫn âm thanh của nhân vật chính, liệu nó có bị quy kết là một sự thất bại thảm hại trong việc tiếp cận hiện trường? Liệu cô có bị coi là một phóng viên non nớt, bất lực trước những cánh cửa khép kín của đời sống thực tế?
Thư nhắm nghiền hai mắt lại, hít một hơi thật sâu lồng ngực đầy ứ hơi nóng phơn. Trong tâm trí cô, ánh mắt trũng sâu vì kiệt sức của người thợ dồn toa ban trưa lại hiện về rõ mồn một. Nụ cười mệt mỏi nhưng thật thà vỏn vẹn bảy chữ, và nhịp đũa lùa cơm gấp gáp để kịp giờ vào ca trực nguy hiểm ngoài bãi ray. Đó chính là sự thật. Một sự thật trần trụi, nhọc nhằn và không bao giờ có chỗ cho những màn kịch truyền thông hay những câu từ bóng bẩy được dàn dựng. Cô không thể và dứt khoát không cho phép mình chà đạp lên mười lăm phút nghỉ ngơi thiêng liêng của họ chỉ để đổi lấy vài tràng vỗ tay tán thưởng hay những con số thống kê lượt nghe vô hồn.
Mười ngón tay của Thư bắt đầu gõ dứt khoát trên bàn phím máy tính. Cô viết một bài ký sự dựa hoàn toàn trên những quan sát chuẩn xác và các giác quan trần trụi nhất: miêu tả cái ngột ngạt khủng khiếp dưới mái tôn xi măng hấp nhiệt, vị mặn gắt gao của món cá nục kho nghệ như một liều thuốc bù muối sinh tồn cho thợ đường sắt, nhịp ăn mười lăm phút tàn nhẫn không có chỗ cho sự giãi bày, và sự phụ thuộc nghiệt ngã của nồi canh quán cơm bình dân vào một chiếc xe tải chở bí xanh đang nằm bất động giữa dòng nước lũ ngoài đường tránh Hồng Lĩnh.
Cô hoàn thành bản thảo lúc đồng hồ điểm một giờ sáng và gửi kèm một dòng ghi chú ngắn gọn gửi thẳng tới Thu Hạnh: *“Chặng ga Vinh không có file thu âm giọng nói nhân vật. Đối tượng lao động từ chối xuất hiện trên truyền thông vì giới hạn giờ ăn ca, và tôi tôn trọng quyền được ăn cơm yên tĩnh của họ. Toàn bộ chi tiết trong bài đều dựa trên quan sát trực tiếp, ghi chép hiện trường và kiểm chứng thực tế tại quán.”*
Chỉ mười lăm phút sau, màn hình điện thoại của Thư khẽ rung lên bần bật.
Tin nhắn phản hồi từ biên tập viên Thu Hạnh hiện ra ngắn gọn nhưng đanh thép:
*“Đã đọc toàn bộ bản thảo chặng ga Vinh. Rất tốt. Việc cô kiềm chế không chĩa máy thu âm vào bữa ăn ca của người thợ dồn toa là quyết định nghề nghiệp đúng đắn nhất của cô kể từ ngày bắt đầu chuyến hành trình này. Tôi duyệt nguyên vẹn khung bài này mà không cần sửa chữa chi tiết nào. Hãy tiếp tục giữ vững ranh giới giữa việc mắt thấy tai nghe với việc đầu óc tự tô vẽ, suy diễn. Một người làm du ký chân chính có trách nhiệm phản ánh trung thực không gian sống, không phải bịa đặt ra kịch bản để thỏa mãn sự hiếu kỳ dễ dãi của độc giả.”*
Đọc từng dòng chữ của Hạnh, Thư ngả đầu tựa hẳn vào bức tường vôi nứt nẻ của căn phòng trọ, thở phào ra một hơi thật nhẹ nhõm. Một khối đá tảng vô hình dường như vừa được nhấc bổng khỏi lồng ngực cô. Ranh giới đạo đức nghề nghiệp mà cô chật vật, hoang mang gìn giữ suốt từ quán Đèn Hiên ở ga Hà Nội qua quán phở bò Nam Định của ông Thành, đến đêm nay tại mảnh đất Nghệ An nắng lửa này, cuối cùng đã tìm được một điểm tựa vững chãi và kiên định nhất.
Bên ngoài khung cửa sổ con con của phòng trọ, một đoàn tàu hàng siêu trường nữa lại rầm rập lăn bánh qua bãi ray ga Vinh. Tiếng bánh sắt miết nghiến ken két trên mặt thép làm rung chuyển cả những chấn song gỗ mục nát. Ánh đèn pha vàng vọt từ đầu máy xe lửa quét một vệt sáng dài, sắc lẹm qua vách tường vôi tróc lở, chiếu rọi vào chiếc ba lô hành lý đã được cô gói ghém gọn gàng đặt ở góc phản.
Thư đưa mắt nhìn tấm vé tàu đi Huế nằm im lìm trên mặt bàn con, rồi hình ảnh người đàn bà quàng tạp dề xanh bạc phếch với khuôn mặt đỏ bừng vì khói than trưa nay lại hiện lên rõ nét trong tâm trí cô. Lời càu nhàu về chuyến xe tải chở rau củ kẹt lại trong nước lũ, và câu hỏi cộc lốc nhưng mở lòng của người đàn bà nấu cơm ga Vinh bỗng dội về, văng vẳng bên tai cô: ngày mai quán sẽ phải đổi giờ nấu canh vì nguồn hàng trục trặc, và lời hẹn lửng lơ—*“Có muốn ở lại ăn bữa thứ hai cho trọn vẹn vị cơm ga Vinh trước khi rời tàu vô Huế không?”*—vẫn đang nằm đó, đòi hỏi ở cô một quyết định dứt khoát trước khi chuyến tàu xuôi nam cất tiếng còi chuyển bánh.